arrow
Trang Nhà arrow Hội Họa - Nhiếp Ảnh arrow Họa arrow NÉT MÀU SẮC KHÔNG TRONG TRANH CỦA HỌA SĨ VÕ ĐÌNH (1933-2009)
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
NÉT MÀU SẮC KHÔNG TRONG TRANH CỦA HỌA SĨ VÕ ĐÌNH (1933-2009) PDF Print E-mail

                                                       

                                                      Họa Sĩ Võ Đình (1933-2009)

 Nhà văn, họa sĩ Võ Đình sinh năm Quí Dậu, 1933, tại Huế. Chánh quán huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Những năm 50 du học ở Lyon và Paris. Học Văn Khoa ở Sorbonne, họa ở Académie de la Grande Chaumière và École Nationale des Beaux-Arts ở Paris. Năm 1961, triển lãm họa phấm đầu đời ở New York City. Từ đó, hơn 40 triển lãm cá nhân và nhiều triển lãm tập thể ở Âu Châu, Á Châu, Gia Nã Đại, và Hoa Kỳ.

Năm 1970, hai văn phẩm đầu tiên được xuất bản: "The Jade Song and other Fables of Vietnam" (Chelsea House, New York) và "The Toad Is the Emperor's Uncle" (Doubleday & Co., New York). Tất cả, hơn 40 tác phẩm: sáng tác, dịch thuật, minh họa. Công trình văn học nghệ thuật của Võ Đình được ghi nhận trong "Nhân Vật Việt Nam" (Sài Gòn, 1974), "Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, 1975-1995" (Đại Nam, California, 1995), và những ấn bản hàng năm của "Who's Who In American Art", Contemporary Authors, Printworld, The New York Art Review...
Năm 1975: Nhận giải Christopher Awards, New York.
Năm 1984: Nhận Literature Program Fellowship từ National Endowment for the Arts, Washington, D.C.
Năm 1992: Bằng hữu bốn phương trưng bày tranh và sách Võ Đình ở Montréal, Canada.
Năm 2000: triển lãm ở Pháp, kỷ niệm 50 năm về trước đặt chân đến Paris.
Năm 2002: ra mắt tác phẩm "Huyệt Tuyết" (Văn Nghệ, California, 2002).
Năm 2004: ra mắt tác phẩm "Mây Chó" (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2004)
Năm 2008: ra mắt tác phẩm "Trời Đất" (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2008)

Nhà văn, họa sĩ Võ Đình qua đời tại West Palm Beach, Florida ngày 31 tháng 5, 2009.

                 > Tiểu Sử với đầy đủ chi tiết (pdf) - Trần Thị Lai Hồng biên soạn (2009)

              

                                            Hương thơm một nén bay nghi ngút
                                  Chuông từng ba tiếng gióng thênh thang (Võ Đình)

                             Vết Hồng Chim Bay
                                   Tâm Chân Nguyên Trần thị LaiHồng

                

                            Biển Hải Biên, hình LaiHồng, 31 tháng 5, 2012, Giỗ Võ Đình năm thứ ba

Tâm một dòng
một dòng nguồn trong
sông mở lòng trong Tâm tìm tuôn ra biển

biển gọi chim về
nghe lời Bát Nhã
Vạn Pháp mở Tâm Từ
Hoa Khai
Nhất Chơn phi Sắc phi Không

Nét nét màu màu
Sắc sắc Không không

Quê hương thăm thẳm đôi lòng
Đông Tây ngăn nổi vết hồng chim bay

biển ôm sông ôm trọn cả trời mây
ôm trọn cánh chim bay
từ Đông sang Tây
chim cùng mây bay
bay

bóng in trên cát
mà hồn trên mây
theo ngọn sóng dâng dầy …

về
về đi
chim ơi !
chim bay về núi
túi rồi chim ơi
chim vẫn còn bay
bay
còn bay ...

                             Một số tranh của Họa Sĩ Võ Đình

                     

                      

    

    

    

    

    

   

    

    

    

   

                      

               

                      

  

                       

                 

                         

                          

                        

                               

                              

                       Con Diều Rơi (1968)

        

                   

 

                 

         

              

                                          Tự họa - mộc bản

                          

                                          

                         

                               

     

                   Vài Vần Thơ của Võ Đình

DẤU ĐEN
Dấu đen trên tuyết một mình
Ngõ xa lưng dặm, dáng hình bao la
Chim kêu một tiếng sa đòa
Tai còn âm vọng, nét nhòa mực đi

RA VƯỜN
Ra vườn bứt cải vô ăn
Ngó lên thấy cái sao băng trên trời
Ô hay! mới đó tối rồi
Cơm ngày ba bữa, ai mời ta đây

THỨC GIẤC
Nửa đêm thức giấc giọt mưa rơi
Trên mái tôn nghe ruột rã rời
Nước chảy trên trời vô tận họng
Tế bào mà cũng xót đầy vơi

XUÂN
Sáng dậy, ô kìa, hoa mẫu đơn
Tay em mười ngón đẹp ngời son
Nắng trào trời đất, ôi ngang ngửa
Ta gửi lòng em một chiếc hôn

HẠ
Tháng tám em ngồi ướt tóc mai
Mồ hôi em ướt giọt châu trai
Hé môi ta liếm mùi sông biển
Muối ngọt ngàn năm chẳng nhạt phai

THU
Uy nghi mái ngói dáng vàng thu
Tùng quan đà khép cánh mây ngàn
Bỗng dưng áo tím em đi tới
Má đỏ ta thờ nét nữ tu

ĐÔNG
Đạp tuyết tìm hoa theo cổ nhân
Mi đen e ấp nụ trong ngần
Dang tay đón lấy cành mai gãy
Băng rớt hồn ta cử cháy bừng

NÀNG THU PHONG
Từ miền xa, ta đến chốn này
Rừng phong xơ xác, lá vàng bay
Ngồi coi mây trắng bay qua núi
Cười cuộc ba sinh, luống tháng ngày
Ngày đêm mây trắng ngủ trên ghềnh
Trời thở dài, đất cũng làm thinh
Lá rừng phong, lá không bay nữa
Lá rụng tơi bời, lối tử sinh

     

                  VÕ ĐÌNH - chùm truyện cực ngắn


TRỜI ĐẤT

Bà bạn tên Ngọc.  Chồng Ngọc là René, Mỹ gốc Pháp.  Mới tháng trước, René chết, thình lình.   Không bệnh hoạn, không tai nạn chi cả.  Hôm qua, gặp Ngọc.  Bà khóc.  Mếu máo cái gì mà “chẳng ai thương mình cả...”  Một bà già trong bữa cơm đặt tay lên vai Ngọc:  “Đừng tưởng vậy.  Trên đầu có Trời thương.  Dưới chân có Đất thương.  Cứ nhớ vậy nhé.”
                                                                                              
2004

TRẮNG ĐEN

Tân và tôi là bạn “cố tri”.  Biết nhau, chơi với nhau từ hơn nửa thế kỷ. Nói cho đúng, sáu mươi năm.   Từ ngày chúng tôi còn ở tiểu học.

Hoàn cảnh đẩy đưa, Tân cư ngụ bên Pháp, tôi ở Mỹ, lâu lắm mới có cơ hội thăm nhau một lần.  Thời gian trôi qua, cả hai nay đã trở thành hai ông già.  Lần cuối gặp nhau ở Pháp, Tân về Paris đón tôi và bà xã, đem về nhà ở ngoại ô, đãi một bữa cơm hoàn toàn Việt nam, tự tay nấu lấy – bà Tân là một người Pháp.  Tân khoe:  “Cá thu nướng qua rồi mới kho đó!”  Chúng tôi khen ngon, Tân đắc ý lắm.

Tân có mái tóc bạc phơ; tóc tôi không bạc bằng nhưng râu tôi trắng xóa.  Tóc bạc, má phính, dáng Tân có vẻ “đẫy”.  Tôi chế nhạo bạn:   “Cứ ca-măm-be, ba-ghét, pi-na* vào cho lắm!”  Tân cười, xoa xoa bụng.

     Vài năm sau, Tân qua Mỹ chơi.  Có mấy cô em ruột, người chồng Việt ở Maryland, kẻ chồng Mỹ ở Florida.  Các em lái xe đưa Tân đến thăm tôi.  Chúng tôi đều là dân gốc Huế:  Nhà tôi làm “cơm hến”.  Trước khi ăn cơm hến, mọi người được nhâm nhi món “ mít  trộn ”:  Mít non, luộc, xé nhỏ, trộn tôm thịt, đậu phụng, mè rang nguyên hột, rắc rau răm hoặc húng quế, rưới nước mắm pha chanh, đường, ớt, tỏi.  Bẻ bánh tráng dòn, xúc mít mà ăn.  Ngon chết bỏ!

Gặp lại Tân, tôi giật mình.  Mái tóc bạc phơ đã biến mất, tóc Tân đen nhánh như mấy chục năm về trước.  Những nét nhăn cũng biến mất.  Một anh Tân thanh niên, mới ngoài 30!  Tôi nghĩ bụng:  Không ngờ thằng này lại là tín đồ của thuyết “trẻ mãi không già” qua ngả nhuộm tóc và giải phẫu thẩm mỹ!  Nhưng mải ăn uống trò chuyện, tôi không đả động đến chuyện này.  Mọi người cư xử bình thường.  Chẳng ai mảy may tỏ vẻ ngạc nhiên thấy ông già Tân nay lại trẻ ra quá nửa tuổi.

 Cơm nước xong, lâu sau đó, hai ông bạn mới có cơ hội ngồi thủ thỉ với nhau trong bóng mát của tàng cây bàng.

Lúc ấy, tôi mới hỏi Tân:

- Này, ông làm chi mà ngó trẻ rứa?  Tóc đen thui, mặt không một nét nhăn.  Chừng 30!

Tân cười:

- Làm chi mô.  Tự nhiên thôi.  Không làm chi hết.

- Thật à?

- Thật.  Cam đoan. Trước, mình cũng thấy lạ.  Sau, quen đi.

-    Lạ thật chớ.  Mình nhớ mới lần trước gặp nhau, tóc ông bạc phơ.  Nay đen nhánh.  Như chàng Tân mấy chục năm về trước.  Lạ!  Khó tin.

-    Ông tin mình đi.  Mình thề!  Mặt, không giải phẫu, giải phiếc chi cả.  Tóc, không nhuộm nhiếc chi cả.  Tuyệt đối.

-  Ông nói thì mình tin.  Khỏi phải thề thốt!  Ông không thấy kỳ cục à?

- Có, kỳ cục chớ.  Tóc bạc cứ dần dần sẫm lại, đen dần, rồi đen hẳn, khi mô không biết.  Mặt mũi cũng rứa. 
Mấy đường nhăn từ từ mất dạng, rồi một ngày gương mặt trẻ hẳn.

- Đúng là “cải lão hoàn đồng” rồi đó.

- Đúng rứa.  Kỳ cục thấy cha!

- Rứa trong người thấy sao?  Có thấy trẻ lại không?

- Không, trong người vẫn vậy.  Không có chi thay đổi.  Vẫn là ông già Tân.  Vẫn loay hoay một lát đã chóng mặt.  Vẫn đi đâu cũng ngó tới ngó lui tìm chỗ đi tiểu.  Vẫn đau xương mỏi chắc khi trái gió trở trời.

- Mấy đứa em không thấy sự thay đổi nơi ông à?

- Chắc là có.  Nhưng chúng không nói chi cả.  Lịch sự Tây phương mà.  Chỉ có ông là “cố tri”, lại là “Mít”, mới tọc mạch!

Tân và các em ăn xong, uống trà nói chuyện thêm một hai tiếng, rồi lên đường.  Hôm sau, tối hôm sau, Tân đã phải bay về Pháp.  Đêm đó, tôi nằm mơ thấy Tân.  Mái tóc hắn, trắng đen, đen trắng, thay đổi liên miên như giây đèn nô-en đỏ tắt, đỏ tắt, kỳ cục hết sức.

                                                            ***

Nói chuyện với Tân, tôi thấy người bạn thuở thiếu thời là một người chơn chất.  Trước, còn thanh niên, hắn đỏm dáng.  Tóc vén lên, chải phồng thành một cái vòm trên đầu, kiểu mấy anh tài tử xi-nê những năm đầu thập niên năm mươi.  Bây giờ, hắn xuề xòa, giản dị.  Tóc bạc, cắt ngắn.  Áo gió nâu đậm, sơ-mi vải thô, quần khaki cũ kỹ.  Trông Tân có dáng dấp một anh thợ về hưu.  Một người ăn chắc mặc bền.  Một người không hơi đâu bỏ công bỏ của vào việc sửa mặt, sửa mũi, xóa vết nhăn, nhuộm tóc, v.v...
Tân có một chung cư ở ngoại ô Paris, nhưng thích về ở ngôi nhà xưa cũ nơi thôn dã xa cách phố thị.  Ưa cuốc đất, trồng rau.  Dựng được mấy giàn nho.  Tính một ngày sẽ sản xuất lấy rượu vang mà uống.  Một “ông Tây” gốc “Mít”.  Tôi tin lời Tân là hắn đã không nhuộm tóc, không giải phẫu nâng cằm, căng cổ, kéo má, v. v... Tôi tin là hắn đã nói thật.  Và tôi càng bàng hoàng về sự “cải lão hoàn đồng” kỳ dị nơi hắn.


Mới đây, chỉ hai năm sau ngày ăn “mít trộn”  với nhau, một tối, chuông điện thoại reng.  Tôi miễn cưỡng bốc ống nghe:

- Anh Võ đấy há?  Em đây.  Giao Chi đây.

- Chi đó há?  Mọi người khỏe há?

Chi ngập ngừng vài giây, rồi nói tiếp, giọng run run:

- Em tin anh biết là anh Tân mất rồi.  Được tin, gấp quá, vợ chồng em bay ngay qua Pháp tiễn anh ấy.  Có một chuyện lạ...

Tôi biết chuyện lạ của Chi rồi.  Từ lâu, tôi đã ngờ rằng thế nào chuyện đó cũng xảy ra.  Tôi im lặng thấm thía sự ra đi của một “cố tri”.

- Tụi em được tin thì anh Tân đã đi rồi nên chỉ nghĩ đến việc qua Pháp ngay để đưa đám anh ấy, không còn đầu óc đâu để tin cho bạn bè anh Tân biết.

Anh có nhớ hồi anh Tân qua Mỹ, tụi em đưa đến thăm anh chị không?  Anh Nam và em cũng vô cùng ngạc nhiên và sợ hãi thấy sự  đổi thay của anh ấy.  Tóc anh Tân trước trắng phau đã hoàn toàn đen lại,  và cả khuôn mặt anh, nước da anh, là của một thanh niên bằng nửa số tuổi thật của anh ấy.  Kỳ dị hết sức, nhưng phận em út, tụi em không dám nói chi cả.  Anh Tân ngồi bên anh, thấy như con ngồi với cha, không phải hai ông bạn đồng tuế!  Rứa mà anh biết không, khi tụi em đến nơi thì được đưa ngay vào nhà quàn thăm anh ấy.  Tụi em được thấy mặt anh Tân lần nữa, thật kỹ.  Kinh hoàng quá, anh ơi!  Anh Tân  lại thay đổi hoàn toàn.  Mái tóc đen đã biến mất.  Thế vào là đầu tóc bạc phơ.  Những đường nhăn nơi trán, nơi má, nơi cằm, nơi cổ... rõ nét vô cùng.  Hồi qua Mỹ, tụi em đưa đi thăm anh, anh Tân trông chừng mới ngoài 30.  Răng lại có chuyện kỳ cục rứa?  Nay chết rồi, anh ấy lại trở về đúng tuổi của anh ấy.  Một ông già trên 70.  Như anh rứa...

                                                          ***

“Như anh rứa”!  Đến nay, mấy năm đã trôi qua, tôi vẫn không hiểu chuyện đã xảy ra.  Tại sao mái tóc bạc phơ của Tân lại tự nhiên trở nên đen nhánh?  Tại sao bao nhiêu đường nhăn trên mặt một ông già lại biến đi mất tiêu?  Tại sao Tân chết, những sợi tóc bạc và những đường nhăn lại trở về?  Không hiểu được.  Không thể hiểu được.
 
Tôi chỉ biết một điều.  Tôi biết rằng mọi sự có thể là thế này mà cũng có thể là thế khác.  Hiện hữu trùng trùng điệp điệp, không biết đâu mà lường.  Trắng trở thành đen, đen rồi lại trắng, có không, không có, liên miên chập chùng, dễ như lật bàn tay.

Chú thích:
*phó mát camembert, bánh mì baguette, rượu vang (pinard là tiếng lóng) Pháp

VỀ NHÀ

Ba mươi Tết, đoàn xe lửa dừng ở Huế lúc mặt trời mới lên.  Bao nhiêu năm xa Huế, bây giờ tôi thấy ga Huế nhỏ xíu lại, và người dân Huế còn gầy gò hơn người dân Hà nội nữa.  Cái nét tiêu điều của Huế, tôi từng biết, nhưng thấy lại Huế, hai mắt tôi rưng rưng.

Cu Hảo còn ngủ khì, co quắp một góc ghế.  Thằng bé đi với cha từ Hà nội, ăn uống, ngủ ngáy thật vất vả.  Cũng vất vả lắm tôi mới chạy được cái giấy phép vào Trung.  Đất nước thống nhất từ cuối xuân năm ngoái mà mãi đến bây giờ, tôi mới được lên đường về nhà cũ.  Ôi chao, nghĩ đến giây phút thấy lại cha mẹ mà tôi muốn trào nước mắt.  Như vậy là gần 30 năm đã trôi qua.  Năm tôi ra đi, mới 20, nay, 1975, đã xém 50 tuổi.  Trên đầu đã muối nhiều hơn tiêu.

Tằn tiện, hai cha con không kêu xích-lô mà đi bộ.  Qua trường cũ trên đại lộ Lê Lợi.  Khi tôi ra đi, đường còn mang bảng tên anh thực dân đầu sỏ Jules Ferry.  Không qua cầu Trường tiền như xưa mà qua cầu Phú xuân.  Cầu này mới quá, tôi đi rồi mới được xây.  Rồi vào cửa Thượng tứ.  Cứ dọc theo đường thẳng mà về đến nhà.  Ngày trước, khi còn vua, con đường đầy bóng nhãn này gọi là đường Hộ thành.  Nay là đường Đinh Tiên hoàng.  Ba mươi tháng chạp, đường sá vắng hoe.  Lác đác một vài người đi nhanh như không muốn ai thấy mình. Tôi và thằng con đi ngoài đường, có vẻ ngơ ngáo.  Hai bên đường, nhựa đã rã, để lộ đất cằn, có dấu chổi quét.  Thành phố chuẩn bị ăn Tết đây.  Rời đường Đinh Tiên hoàng, vào con hẻm nhỏ, nước mắt trào đẫm mặt.  Hảo lắc lắc tay tôi:  “Bố ơi, Bố, tại sao Bố khóc?”  Tôi ậm ừ:  “Bố mừng quá, con ạ”

Đứng trước ngôi nhà, tôi không tin mắt mình.  Đây, chính đây rồi.  Mặc dù không còn cái cổng tre ngày trước.  Thế vào là cái cổng sắt bề thế, hai bên hai trụ xi-măng quét vôi vàng.  Một bà già, đầu chít khăn lam như một ni sư, đang lúi húi ở sân trước.

- Cụ ơi, cụ, cho tôi hỏi thăm...

Bà già nhìn ra, hấp háy.  Trời ơi, mẹ tôi đó, trời ơi...

Tay còn cầm cây chổi dài, mẹ tôi tiến lại gần cổng.

-  Ông hỏi ai?  Ông...  Phải Huy đó không con?

Cổng mở ra, tôi lọt vào, ôm lấy mẹ.

- Con đây, Huy đây mẹ...

Hai mẹ con ôm nhau, khóc.  Vừa khóc mẹ tôi vừa mếu máo vào tai tôi:

- Con vô chào Thầy đi.  Con xin Thầy tha tội đã bỏ nhà ra đi đi...

Qua màn nước mắt, tôi thấy một người mặc áo xám nhạt ngồi ở nhà trên.  Trong một tích tắc, tôi nhớ lại hết.  Những năm sôi sục sau Cách Mạng Tháng Tám 1945.  Không khí u uất của vùng còn nằm trong tay thực dân.   Khí thế bừng bừng của lòng “yêu nước” và “trai thời loạn”.  Cha tôi có một con dao nhỏ ông rất quí.  Lưỡi dao có thể xếp vào cán; tiếng Pháp là ca-níp (caniffe)  Toàn thân con dao là loại i-nốc sáng loáng.  Trên vỏ cán, có khắc con gà trống.  Ghét thực dân thì cứ ghét, nhưng hình khắc đó không làm cho chúng tôi nghĩ đến con gà trống “Gô-loa”, hình ảnh tượng trưng của nước “Đại Pháp”.  Ra đi theo kháng chiến, tôi chỉ đem theo một bảo vật duy nhất, con dao của cha.  Những năm lang bạt rừng rú, rồi sau Giơ-neo, ngoài Bắc, không biết con dao đã đi vào đâu. Tiếc nó trong bao năm trời...

Trong một tích tắc, tôi nhớ lại cả.  Gần 30 năm tưởng như không thay đổi gì nơi con người của tôi.  Mẹ tôi quì xuống, ôm lấy Hảo, khóc:

- Cháu nội đây hả cháu.  Cháu ơi!

Hốt nhiên, tôi không đứng vững nữa, hai chân tôi sụm xuống.  Cứ thế, tôi lết, tôi bò về phía cha tôi.
Cha tôi ngồi bất động bên bàn trà.  Tóc râu bạc trắng, mặt đỏ.  Áo xám dài và rộng như áo người tu hành.  Về sau, tôi mới biết gọi đó là “áo tràng”.  Cha tôi nói:

- Huy đó hả.  Con vô lạy ông bà.  Rồi ngồi xuống đây.

Tôi lết lên tam cấp.  Cha tôi đứng dậy, quẹt diêm, thắp hai cây hoàng lạp lớn trên bàn thờ, rồi nghiêm chỉnh vái dài trước khi ngồi xuống bàn trà.  Bàn thờ sáng lòa, trầm hương nghi ngút.  Thấp thoáng sau mấy chân hương, tôi thấy di ảnh của ông bà, của đứa em mất sớm.  Tôi lấy hết sức đứng dậy, chắp tay lạy.  Mấy chục năm rồi tôi mới làm lại cử chỉ đó.  Nước mắt đã khô, nay lại trào ra.  Tôi đến ngồi gần cha tôi ở bàn trà, mặt đẫm ướt.

 Mẹ tôi đã vào nhà, còn ôm lấy thằng Hảo.  Cha tôi mở cái hộp nhỏ, viên một bi thuốc, cho vào nõ (ngày tôi ra đi, cha tôi đã quen hút cái ống điếu bạc này), châm lửa, rít một hơi dài, thở khói ra trắng xóa, rồi hỏi, giọng bình tĩnh:

- Ngoài nớ, ngoài Hà nội, con có xe đạp không?

- Dạ có.  Con có chiếc Phụng Hoàng, Trung quốc làm, khá tốt.

- Với xe đó, giả sử con đạp cả ngày thì đi được mấy cây?

- Dạ, ít nhất cũng 35- 40 cây.

- Con có biết Hà nội – Huế, cách xa bao nhiêu cây không?

- Dạ, mới mua vé xe lửa nên con còn nhớ.  Dạ, chừng 700 cây số.

- Rứa thì con đạp xe từ Hà nội vô Huế, mất hết mấy ngày?

- Dạ, chậm lắm cũng chừng hai mươi ngày...

- Hai mươi ngày là ngót ba tuần lễ.  Đất nước bình yên từ cuối tháng tư dương lịch năm ngoái , đến nay sắp Tết ta.  Để coi... Rứa là đã 9 tháng trời.  Tại răng con lâu lắc rứa?  Tại răng con để Thầy Mẹ chờ lâu rứa?

- Dạ, im tiếng súng là con xin đi Huế ngay.  Nhưng cơ quan, họ nói phải chờ...

- À, thì ra cơ quan nói chi con cũng vâng dạ à?   Kệ họ chớ!  Nhảy lên xe, con đạp đêm ngày thì đoàn tụ với cha mẹ sớm biết mấy!

...

Tôi xa nhà gần 30 năm.  Đã sống qua những năm kháng chiến “thần thánh”.  Đã trải qua giai đoạn “thành lũy thượng tầng không gian B52” oanh tạc “trải thảm” miền Bắc.  Đã sống qua bao nhiêu ngày “hầm cá nhân”, bao nhiêu đêm “nhà tập thể” ở thủ đô Hà nội.  Và hôm nay, tôi mới thấy hết cái chông chênh của vị trí trái tim con người trong sự bình thản nghiệt ngã của một guồng máy.

Võ Đình

                               Tiếng sóng - Trương Vũ

              

" Chiều Thứ Sáu 29 tháng 5, Hoàng Ngọc Hòa đón tôi với chị Hoàng Bắc từ phi trường West Palm Beach, Florida về nhà anh Võ Đình. Một căn nhà nhỏ xinh xắn xung quanh là vườn cây um tùm khá rộng. Khi theo chị Lai Hồng vào phòng, thấy anh nằm yên, thở mạnh, mắt nhắm. Gọi, không trả lời. Mắt không mở. Một chút cử động nơi môi. Khi nắm tay, anh bóp nhẹ. Chúng tôi nói vài lời với anh, coi như anh vẫn nghe, vẫn biết. Và, im lặng.
Anh được đưa về nhà hôm trước, Thứ Năm ngày 28, sau thời gian nằm trong Trung tâm Phục hồi và Dưỡng lão ManorCare, từ tháng 10 năm ngoái. Mỗi ngày, chị Lai Hồng vào từ chiều, ngủ lại đêm trong đó. Chị chuyện trò, chăm sóc, kể chuyện, đọc emails, đọc sách cho anh nghe, giúp bón anh ăn. Ban ngày, chị về nhà mấy tiếng đồng hồ rồi trở lại.
Tuần trước đây, anh viết xuống vài chữ ngỏ ý muốn về nhà. Anh muốn hưởng những ngày cuối cùng trong nhà mình. Anh muốn nghe Kinh Cầu an, và Bát Nhã Tâm Kinh. Về thăm anh, ngoài chúng tôi, có cháu Quang Minh (con trai chị Lai Hồng), anh Đinh Cường và Eddie Ramsburg. Hai người con gái của anh là Phượng Nam và Linh Giang, ngày mai Thứ Bảy đến. Một vài bạn bè thân, như anh chị Trần Đình Hoành/Túy Phượng, trên đường lái xe từ Virginia. Những người bà con, như chị Xuân Lan, chị Phú Lộc, anh Phan Nhật Nam, đến vào tuần tới.
....

Chúng tôi lần lượt nói lời vĩnh biệt. Khoảng 10 giờ tối, tất cả ra về, chỉ còn lại chị Lai Hồng với các cháu…và anh.
Tôi nhớ lại rất rõ, nét mặt anh, điệu bộ anh, giọng sang sảng của anh, khi ngâm Tống Biệt Hành của Thâm Tâm. “Đưa người ta không đưa qua sông…”

                                              > Toàn bộ bài viết của Trương Vũ (pdf)

            c

                                                   (Shadows - Ảnh: Nguyễn Thị Lệ Liẽu)

         Ca sĩ Quang Tuấn trình bày TỐNG BIỆT HÀNH -  Thanh Trang phổ nhạc từ thơ của Thâm Tâm

                           kỷ niệm cùng VÕ ĐÌNH
                                                                       ĐINH CƯỜNG

                                                 

                                      Đinh Cường & Võ Đình - Triển lãm ở Huế 1974

" Thân như chớp sáng, có rồi không, câu thơ anh dịch của Vạn Hạnh trong Hương Thiền (1) tự nhiên trở lại trong hồn tôi, chiều nay. Chiều mùa xuân Virginia bỗng trở lạnh, mưa lâm râm, có anh chắc anh sẽ nói … buồn thúi ruột. Làm sao quên được giọng ngâm thơ trầm ấm, đặc Huế của anh, nhất là sau khi có bữa ăn gọi là đạm bạc mà anh thích, rau dền đỏ chấm nưóc tôm kho đánh, cá bống thệ kho khô …đuôi ngó lui. Như khi đi xa nửa vòng trái đất về, mệ (thân mẫu anh) hỏi ưng ăn chi, anh chỉ thèm …ăn canh mít non có bỏ lá sân lá lốt.
Kỷ niệm đầu tiên với anh là Tết Giáp Dần,1974 anh về nước sau trên hai mươi năm xa cách. Ôn (thân sinh anh) đưa anh ra thăm chúng tôi ở ngôi nhà phía sau trường Cao đẳng Mỹ Thuật Huế, tôi đang dạy ở đó, và vì nhà tôi dạy cùng trường Nữ trung học Thành Nội với chị Võ thị Nga, em gái anh … "

                                   > Toàn bộ bài viết của Đinh Cường (pdf) 

                     > Thắp Cây Hương Nhớ Võ Đình, Giỗ Năm Thứ Ba - 2012 - Đinh Cường (pdf)

                               Học trò ruột của Họa Sĩ Võ Đình

 “An Artist’s Journey”

Calvin Edward Ramsburg's art, as we know it today, might be entirely different if it were not for a few fateful twists in his journey as an artist. Ramsburg grew up in rural Frederick County, MD, where the farmlands surrounding his family home served as his playground and it's resident wildlife, a subject of study. As a teenager, Ramsburg had already established a reputation for his highly realistic illustrations of birds rendered in pen and ink. "I was doing a lot of drawing," says the artist who began sketching soonafter he could hold a pencil. "I was fascinated by birds, their color and interplay."

As a senior in high school and the recipient of a perfect score on a Princeton Portfolio Review, he was introduced to Vo-Dinh Mai, a Vietnamese abstract artist, who was assigned to teach a two week workshop to Ramsburg and other advanced placement art students. While Ramsburg had studied impressionism and cubism along with classic representational styles, he knew nothing of abstract art and failed in his first attempts.

Working one on one with Vo-Dinh while the other students attended a school pep rally, the artist encouraged Ramsburg to try again, telling him to be 'at one with the brush and stay in the moment.' "It was my first glimmer," recalls Ramsburg who admired the working artist. "I learned that abstract art wasn't a technique or style, but the ability to think and execute abstractly."

The workshop experience had a profound effect on Ramsburg, who was now being courted by a number of high profile colleges and universities for his represenational work. Ramsburg, who disliked school, decided to forgo college and be an artist. By day, he worked in a bookstore and at night painted, often attempting the new art form with which he was becoming obesssed. "I made it my life's ambition to do abstract."

A chance encounter with Vo-Dinh resulted in additional night time study with he and other local abstract painters, Margaret Kennedy and Truda Head. "Vo-Dinh taught me that 'painting was more important than the picture I was painting'. It was heavy stuff for me. He said, 'you keep doing it and it will come'." During one of these many sessions Vo-Dihn spotted Ramsburg at work. "He told me to stop painting - that I had one," Ramsburg still fondly remembers. Equally significant during these sessions from 1987 - 1989, was Ramsburg's switch from watercolor to acrylics.

Continued exploration resulted in Ramsburg's realization of another element that would result in his next breakthrough - the incorporation of drawing. In the mid-90s, Ramsburg kept an illustrated journal, a "Night Diary," whereby people, events, emotions and more were depicted in the form of a symbol language he developed. His marriage of drawing and painting in "Street Harvest," a series of large canvases, was met with positive response upon exhibition. After seeing the paintings, Vo-Dinh wrote Ramsburg a letter of congratulations, acknowledging his achievement as a painter. "Vo-Dinh was truly my mentor," says Ramsburg. "I will always feel a karmic debt for all that he did."

Ramsburg has continued to employ and advance the many approaches he discovered during these early years. In 2007, Ramsburg celebrated his 40th birthday and the 20th anniversary of his first exhibit with a solo show at the Washington County Art Council Gallery in Hagerstown, MD. "Painting is a celebration," he says.

With many exhibitions, awards, and commissions, Ramsburg still feels there is more to learn. "You never arrive," he says, "you are always exploring. I hope I live to be an old man so that I can do the kind of paintings you can only do based on living and life experience at that age."

     

                                               Tranh của Calvin Edward Ramsburg

                                               (Võ Đình vẽ Hoàng Quốc Bảo)

"Tôi ngồi lặng giữa đêm, không biết là bao lâu nữa, sau khi đọc tin trên internet, một người bạn tài hoa đã qua đời. Võ Đình. Không còn nữa. Anh ra đi chiều 31 tháng 5, 2009 tại nhà riêng ở Florida. Gió im sững, không gian đặc sánh lại. Hai chân bắt tréo trên toạ cụ, bồ đoàn, tôi cố điềm tĩnh, giữ cho thân xác được vững chãi và duy trì cho hơi thở khỏi hụt hẫng. Đời sống, Vô thường. Vẫn biết, mà sao nghe như có tiếng sóng ở trong lòng.

Tôi quen Võ Đình từ ngày thực hiện bộ băng nhạc và sách Tịnh Tâm Khúc, 1984. Xin anh vẽ cho những bức tranh Thuỷ Mặc. Sau đó chỉ gặp anh đôi lần mà sao lòng thầm quý kính. Làng Hồng bên Pháp đã hụt nhau. Anh sang năm trưóc - 1984; năm sau tôi mới sang -1985. Nghe tăng thân trong làng thuật lại, chú Võ Đình sang đây là đi sục xạo, hỏi thăm tìm chú, ai là Hoàng Quốc Bảo? ai là Hoàng Quốc Bảo? , khiến tôi nghe mà cảm động. Cái tình văn nghệ vốn thế, khi không mà đã quý nhau. Kiểu Đinh Hùng và Phạm Đình Chương, Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có nàng thiếu nữ đẹp như trăng …"

                                    > Võ Đình và Nét Màu Sắc Không - Hoàng Quốc Bảo (pdf)

                                   > Mời nghe bản nhạc: Nét Màu Sắc Không - tiếng hát: Mỹ Tâm

          

Ba câu thơ trong tranh Nét Màu Sắc Không ở trên:
Đông-Tây ngăn nổi vết Hồng chim bay?
Nhiệm màu là tuyết sương rơi…
Cánh hoa Mai nở, vấn người tịnh tâm

(Hoàng Quốc Bảo)

                                      

                 Hình Ảnh Kỷ Niệm Với Gia Đình & Bằng Hữu

 

                                                              Lai Hồng & Võ Đình 1997

               

                      

                                                         Hồ Đình Nghiêm & Võ Đình

                            

Đinh Cường, Võ Đình, Đại tá Lê Khắc Lý, Trung Tướng Lâm Quang Thi, Khoa Trưởng Dương Đình Khôi (Huế 1974)

                                      Đinh Cường, Võ Đình, Đinh Trường Chinh (1990)

                     

                                       Trương Bình, Doãn Quốc Sỹ, Võ Đình (Sài Gòn 1974)

                                 

                                               Alice Loan Webb & Võ Đình (Paris 1958)

                    

   

Thiền Sư Nhất Hạnh, con gái Linh Giang, Cao Ngọc Phượng, Helen Huệ Liên Webb, con gái Phượng Nam (Brunswick, MD 1986) 

      

                     Ra Mắt Sách "Mây Chó" năm 2004 - Trương Anh Thụy & Ngô Vương Toại

                         NÉT MÀU SẮC KHÔNG TRONG TRANH CỦA HỌA SĨ VÕ ĐÌNH (1933-2009)

         Tham Khảo: Tài liệu từ internet, nhất là từ website http://www.gio-o.com/, Nguyễn Thị Lệ Liễu ...

                              Xin gởi ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com