arrow
Trang Nhà arrow  Thơ arrow Thơ arrow RA MẮT SÁCH "MỘT HÀNH TRÌNH THƠ" CỦA CUNG TRẦM TƯỞNG Ở VIRGINIA - 28/10/2012
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
RA MẮT SÁCH "MỘT HÀNH TRÌNH THƠ" CỦA CUNG TRẦM TƯỞNG Ở VIRGINIA - 28/10/2012 PDF Print E-mail

                     

                          

                             Để mua sách, xin liên lạc:

                           

          Hoàng Song Liêm nói về buổi hội ngộ với Cung Trầm Tưởng (Youtube)
                                Thực hiện: Bùi Dương Liêm - Đài Truyền Hình Việt Nam tại HTĐ

                           

        Phỏng Vấn Nhà Thơ Cung Trầm Tưởng (Youtube) Thực hiện: Bùi Dương Liêm

 

                                                                        Tiểu sử

           

Cung Trầm Tưởng tên thật là Cung Thức Cần. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1932 tại Hà Nội. Nguyên quán: Làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Đông.

Năm 15 tuổi (1947), bắt đầu làm thơ, và có tập thơ đầu tay tên là "Sóng Đầu Dòng" (chưa in).

Năm 1949, ông rời Hà Nội vào Sài Gòn, học tiếp trung học tại trường Chasseloup Laubat (Trường Trung học Lê Quý Đôn).

Năm 1952, sau một năm học đại học, ông sang Pháp du học, tốt nghiệp Kỹ Sư tại Trường Võ Bị Không Quân ở Salon-de-Provence.

Năm 1957, ông trở về nước phục vụ trong Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong năm này, hai bài thơ của ông là Mùa thu Paris và Vô đề (thơ trường thiên) xuất hiện trong tuyển tập Đất Đứng của nhóm Quan Điểm (gồm Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng).

Năm 1958, ông chủ trương tờ "Văn Nghệ Mới" và cộng tác thường xuyên với các tạp chí: Sáng Tạo, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Văn, Khởi Hành ...

Trong khoảng thời gian này, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc một số bài thơ của ông: Mùa thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế (Phạm Duy đổi tên thành Tiễn Em), Tương Phản (Phạm Duy đổi tên thành Bên Ni Bên Nớ), Khoác Kín (Phạm Duy đổi tên thành Chiều Đông), Kiếp Sau, Về Đây...

Năm 1962, ông tốt nghiệp Cao Học Khí Tượng tại Đại học Saint Louis University, Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về Sài Gòn tiếp tục phục vụ trong Không Quân với cấp bực cuối cùng là Trung Tá (1975).

Năm 1993, ông sang Hoa Kỳ định cư sau khi bị tù khổ sai của Cộng Sản 10 năm.

Tác phẩm của Cung Trầm Tưởng đã in:

Tình Ca (Nxb. Công Đàn, Sài Gòn, 1959)
Lục Bát Cung Trầm Tưởng (Nxb. Con Đuông, Sài Gòn, 1970)
Lời Viết Hai Tay (Nxb. Imn, Bonn, 1994)
Bài Ca Níu Quan Tài (tác giả tự xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ, 2001)
Một Hành Trình Thơ (Nxb. Tiếng Quê Hương, Virginia, Hoa Kỳ, 2012)

(Nguồn: theo wikipedia và sách "Một Hành Trình Thơ")

           Ăn trưa và hàn huyên với Thi sĩ Cung Trầm Tưởng
                                         Người viết: Lê Nam

Tại nhà hàng Harvest Moon ở Falls Church, Virginia ngày Chủ nhật vào lúc 11 giờ trưa ngày 28 tháng 10, năm 2012 có hơn ba trăm đồng hương yêu thơ đã đến dự bữa ăn trưa và hàn huyên với Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, nhân dịp nhà thơ cho phát hành thi tập “Một Hành Trình Thơ 1948-2008” của ông.
 
Mặc dù thông tin cho biết bão Sandy có thể tới vùng Hoa Thịnh Đốn bất cứ lúc nào, và trời có mây vần vũ báo hiệu mưa to, gió lớn, khách tham dự đã vượt quá dự trù, và ban tổ chức phải yêu cầu nhà hàng kê thêm bàn. Sân khấu được trang trí đẹp và nghệ thuật bởi kiến trúc sư Bùi Dương Liêm.

Chương trình khởi đầu với nghi lễ chào Quốc kỳ Việt và Mỹ rất trang nghiêm. Sau đó, nhà thơ Hoàng Song Liêm đại diện ban tổ chức lên sân khấu cám ơn khách tham dự và giới thiệu thành phần ban tổ chức gồm nhà thơ Hoàng Song Liêm, Luật sư Phạm Đức Tiến, nhà văn Lê Thị Nhị, và diễn giả Trần Văn Thế.

Tiếp theo là bữa ăn trưa gồm 8 món thịnh soạn. Sau bữa ăn trưa, MC Nam Anh bắt đầu chương trình, giới thiệu LS Phạm Đức Tiến là người điều hợp chương trình. Ông đã tóm lược về nét đặc thù của nhà thơ Cung Trầm Tưởng là tác giả đã dấn thân trong chiến tranh như một chiến sĩ và đã chia sẻ với những người cùng thời đại trong tù đầy khi chiến tranh chấm dứt. Sau đó, ông giới thiệu chương trình gồm: hai diễn giả, phần nhạc phổ thơ Cung Trầm Tưởng và phần hàn huyên với nhà thơ.

Tiếp theo MC Nam Anh giới thiệu diễn giả đầu tiên là nhà thơ Hoàng Song Liêm, nói về con người và tình bạn. Nhà thơ Hoàng Song Liêm kể lại mối thâm giao giữa ông và thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Ông cho biết nhà thơ Cung Trầm Tưởng sinh năm 1932, tại Hà Đông, thuộc Hà Nội. Cả hai người đều bắt đầu có thơ đăng trên các báo Hà Nội ở tuổi 16. Sau khi tốt nghiệp Trung Học ông gia nhập không quân QLVNCH.  Ông được gửi đi Pháp và tốt nghiệp kỹ sư Không Lưu Khí Tuợng ở Trường Võ Bị Không quân Pháp Salon de Provence. Sau đó ông qua Mỹ, tốt nghiệp ở Đại học St. Louis/MO.
Năm 1959 Cung Trầm Tưởng ra mắt tập thơ đầu tiên “Tình Ca”, trong đó có nhiều bài do Phạm Duy phổ nhạc như Tiễn Em, Mùa Thu Paris, Bên Ni Bên Nớ… Năm 1975, Cung Trầm Tưởng bị tù cải tạo mười năm thêm ba năm quản chế. Ông qua Mỹ 1993, định cư ở Minnesota. Nhà thơ Hoàng Song Liêm kể lại những mẩu giai thoại vui giữa hai người trong tình bạn lâu năm nghe rất thú vị.

Tiếp theo diễn giả Hoàng Song Liêm là chương trình ca nhạc gồm những bài thơ của Cung Trầm Tưởng do Phạm Duy, Phạm Mỹ Lộc, và Bùi Kim Cương phổ nhạc. MC Nam Anh giới thiệu ban nhạc với Hoàng Cung Fa, keyboard; Quế Hương, guitar và piano; Bùi Trường, guitar; Đàm Xuân Linh và Phạm Dương Hiển, violin; Vũ Phương, sáo; và GS Kim Oanh, đàn tranh; qua các tiếng ca truyền cảm đã từng có mặt trong các sinh hoạt cộng đồng người Việt ở tại vùng Virginia:  Sĩ Tuấn trong nhạc phẩm Tiễn Em, Tuyết Lan trong Kiếp Sau, Nguyễn Xuân Thưởng ngâm thơ Vô Vàn,  Bạch Cúc trong Bên Ni, Bên Nớ, Thái Ninh trong Mùa Thu Paris, Nguyễn Cao Thăng trong Chiều Đông, Hoàng Bạch Mai ngâm thơ Lũng Kín, Hoàng Cung Fa trong Còn Yêu Ta, và cuối cùng là Tam ca do ba giọng nam trong bài Vạn Vạn Lý. Đây là bài thơ tác giả làm trong tù để tặng một người bạn tù trẻ đã tự tử để bảo toàn danh dự do Bùi Kim Cương phổ nhạc nghe rất bi tráng. MC Nam Anh đã ngắn gọn giới thiệu hoàn cảnh tác giả sáng tác mỗi bài thơ làm người nghe thấy thấm thía hơn khi nghe nhạc.
Được biết những nhạc sĩ và ca sĩ đều là những người đi làm toàn thời gian, nhưng vì nhiệt tình yêu thơ nhạc, đã tình nguyện họp lại tập dượt những bài nhạc phổ thơ để trình diễn cho quan khách nghe những bài nhạc đã một thời làm rung động bao lòng người.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng rất xúc động khi nghe qua những bài thơ phổ nhạc nổi tiếng một thời. Sau khi nghe bài cuối ông đã lên sân khấu bắt tay từng người. Nhiều quan khách tỏ ý tiếc là phần văn nghệ quá ngắn. Chương trình dài 4 tiếng mà chỉ có 7 bài hát với 2 bài thơ. 

Diễn giả thứ hai là ông Trần văn Thế, một cựu sĩ quan trong QLVNCH, tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Ông cho biết ông nhận xét về thơ Cung Trầm Tưởng không phải như một nhà phê bình văn học mà như "một chiến sĩ nhận xét về thơ một chiến sĩ". Ông Thế nói, đằng sau trái tim nồng ấm, dáng dấp hào hoa, phong cách đa tình, Cung Trầm Tưởng là một chiến sĩ kiên cường qua “Dòng Sử - Thi Trong Đời Tù Cộng Sản”. 
Theo Diễn giả Trần văn Thế, từ trước người ta biết tới Cung Trầm Tưởng như môt khuôn mặt, một nhà thơ, trong thập niên 60, với những giòng thơ lãng mạn. Nhắc đến Cung Trầm Tuởng thời đó, là nhắc tới  “Mùa Thu Paris rưng rưng rượu đỏ”, “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế, với ga Lyon đèn vàng…”
Nhưng hôm nay ông muốn giới thiệu với khán thính giả, những dòng thơ tù, những dòng sử-thi viết trong tù của một người lính, một người tù. Đó là những dòng thơ viết để khóc cho dân tộc Việt Nam trầm luân, khóc cho gia đình ly tán, cho những người vợ, cho những đứa con thơ bơ vơ trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước.

Phần cuối là một chương trình hấp dẫn, thân tình và thích thú, đó là phần hàn huyên, hỏi đáp với nhà thơ Cung Trầm Tưởng do Luật sư Phạm Đức Tiến điều hợp.  Trong 45 phút, nhà thơ đã có dịp tâm sự, và trả lời những câu hỏi của những người tới dự trong đó có nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà báo Nguyễn Minh Nữu, nhạc sĩ Đàm Xuân Linh, phóng viên TV Bùi Dương Liêm, ca sĩ Sĩ Tuấn, chiến hữu Bùi Mạnh Hùng, phóng viên Hoàng Dung, GS Lê Tống Mộng Hoa, GS Phạm Gia Hưng,…

Một buổi ăn trưa và hàn huyên với nhà thơ Cung Trầm Tưởng là một buổi ra mắt sách đặc biệt rất đông đảo mà chiến hữu Bùi Mạnh Hùng, người đã từng tổ chức và tham dự thường xuyên các sinh hoạt của cộng đồng, nhận xét là chưa bao giờ có tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Không khí ấm cúng và thân mật giữa các quan khách tham dự yêu văn học nghệ thuật và nhà thơ Cung Trầm Tưởng đã làm mọi người quên cả sự đe dọa của bão tố. Tập thơ “Một Hành Trình Thơ, 1948-2008” đã bán hết ngay trước khi chương trình bắt đầu và sau đó vì rất nhiều người muốn mua nên tác giả đã phải ghi địa chỉ để gửi sau.

Chương trình được chấm dứt vào lúc 3:30 giờ chiều đã để lại trong lòng mọi người đến dự niềm hân hoan và thoải mái.

                           Một số hình ảnh ngày ra mắt sách

                                   (Nguồn: Nguyễn Văn Đặng - > Mời xem: toàn bộ 160 hình)

            

            

              Ngồi: Dương Tâm Đạt, Cung Trầm Tưởng, Trúc Mai -  Đứng: Đỗ Diễn Nhi, Nguyễn Văn Đặng

                                

                                          Cung Trầm Tưởng, Hoàng Song Liêm, Uyên Thao

       

      

      

Diễm Hoa, ÔB Nguyễn Văn Thành, Đăng Nguyên, Lê Minh Thiệp - Đứng: Nguyễn Lân, Ngọc Dung, Vũ Hối, Phan Khâm

        

                     MC Nam Anh, Lê Thị Nhị, Phạm Đức Tiến, Trần Văn Thế, Hoàng Song Liêm

       

           

                    

           

           

           

           

           

                              

             

           

        

            

                      Đoàn Hải Yến, Dương Tâm Đạt, Cung Trầm Tưởng, Trúc Mai, Đào Hiếu Thảo

 

      Cung Trầm Tưởng và dòng sử thi trong đời tù cộng sản
                                           Diễn giả: Trần Văn Thế

                                

Cung Trầm Tưởng là một khuôn mặt, một danh vị nổi tiếng trong thế giới thơ của Việt Nam, nhất là trong thập niên 60 với những dòng thơ lãng mạn. Nhắc đến Cung Trầm Tưởng thời đó, mọi người đều biết nhà thơ với những “Mùa Thu Paris, hoặc Chưa Bao Giờ Buồn Thế và Lên Xe Tiễn Em Ði, Ga Lyon đèn vàng,...”

Hôm nay, chúng tôi những người lính VNCH, những người tù Cộng Sản, muốn nói đến những dòng thơ TÙ, những dòng sử-thi viết trong tù của một người lính, một người tù. Người lính và người tù đó chính là thi-sĩ Cung Trầm Tưởng. Người đã hy sinh ở lại trong quốc nạn 1975, để được chứng kiến những đau thương, những oan khiên của dân tộc VN dưới một chế độ đối xử con người như những trò chơi, một trò chơi ngu xuẩn và vô nhân đạo. Và chính Cung Trầm Tưởng đã là một trong những trò chơi đó: 10 năm tù không bản án, qua 8 trại tù Cộng Sản, và không biết bao nhiêu lần còng tay biệt giam. Ông đã ví ông như những con thú bị vây hãm bởi lũ thợ săn hung bạo nhất:

Ta như con thú bị vây,
Khổ sai trong cũi chúng bầy chúng chơi

Ở lại với quốc nạn. Ðó là sự lựa chọn của ông và ông giải thích như sau: “Lựa chọn ở lại với lịch sử, áp sát vào lòng thời đại để nghe bằng mắt, nhìn bằng tai và nói bằng trái tim đập, nhịp đập của cộng đồng.” Và dòng lịch sử của dân tộc đã đưa ông đến những trại tù Cộng Sản để nghe chính trái tim mình muốn nổ tung ra vì căm thù.

Một câu hỏi thường được đạt ra là: Tại sao Cộng Sản lại sợ văn sĩ, thi sĩ? Tại sao Cộng Sản lại muốn triệt tiêu tư tưởng văn nghệ sĩ? Vì, đúng như nhà thơ Viên Linh đã viết: “Trong bất cứ một cuộc vận động nào, một thay đổi nào, thơ đi trước và thi sĩ là kẻ tiền hô... thi sĩ luôn đi hàng đầu...” Bởi lý do đó, mới có vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, mới có những Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang, v.v. đã bị Cộng Sản triệt tiêu cả tư tưởng lẫn thể xác, trong chính chế độ của họ.

Trong 10 năm tù, Cộng Sản nghĩ rằng cũng sẽ làm được như thế với các văn nghệ sĩ Miền Nam, đặc biệt với Cung Trầm Tưởng, Nhưng họ đã không làm được điều đó với Cung Trầm Tưởng, mặc dù họ đã sáng tạo ra những phương pháp tân kỳ nhất để bầm giập cả thể xác lẫn tinh thần con người, để con người tự hủy diệt tư tưởng của chính mình.

Trước những đe dọa, trước sự cheat, ông đã kiên trì, can đảm để sống và làm một cái gì cho lịch sử trong giai đoạn bi thương nhất của dân tộc. Và vì thế, chúng ta đã có được hai tập thơ tù: Lời Viết Hai Tay và Bài Ca Níu Quan Tài. Cộng Sản tìm mọi cách để cấm ông viết, nhưng ông đã quyết tâm:

Giấy bút tôi ai cướp giật đi,
Tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá
.”

Là thi sĩ, nàng thơ là mạch sống, là tim là máu của ông đã hối thúc ông phải viết. Thêm vào đó, ý chí bất khuất của ông đã thôi thúc ông phải làm thơ. Những con chữ của ông, những con chữ có sinh thể, phải được sống và phải được nhẩy múa trong đầu ông, và con chữ của ông đã nhiều lần rớm máu. Do đó, ông đã viết bằng đầu, bằng tim, vì hai tay đã bị còng thường xuyên. Nhưng viết gì? Làm sao viết? Và ông đã mang nặng rất nhiều nỗi băn khoăn, tự vấn với một tâm trạng chao động, phẫn nộ, căm giận, khắc khoải, thao thức:

Tim nào xót xáy tìm ra chữ,
Ngang tầm thảm họa thế kỷ hung
.”

Và cũng vì:

Ðịa ngục trần gian đất nước này
Một phường nga quỷ máu đầy tay
Bàn thờ Phật nó ngồi chồm hổm
Phóng uế ngay trên định nghĩa người
.”

Trong lời mở đầu tập Tù Sử-Thi Lời Viết Hai Tay, Cung Trầm Tưởng viết:

“...Bởi cuộc hành trình dài hơn lịch sử. Lịch sử chỉ là một trạm quá cảnh đóng con dấu máu đỏ của tang thương lên quyển hộ chiếu của thi-lữ khách. Cơ bản thơ vượt lịch sử... Và Lời Viết Hai Tay hình thành từ và muốn thể hiện quan điểm này qua thơ.” Có lẽ Cung Trầm Tưởng và Ernest Hemingway đã cùng có cái nhìn giống nhau về sự kiên cường và can đảm của con người. Hemmingway viết: “Con người có thể bị giết chết, nhưng không thể bị đánh bại.”

Cung Trầm Tưởng đã không bị đánh bại, đã phấn đấu để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một người tù, một người thơ, luôn luôn đi tiên phong. Muốn vậy, Ông phải tự lập cho mình một vòng đai tự bảo vệ cho mình để làm thơ:

Ta cất cho ta một pháo đài
Giăng vòng gai kẽm, lập vành đai
Sáng nghe, chiều ngóng, đêm phòng ngự
Dõi tiếng chân ai rảo lén ngoài

Và cứ thế, nghe Nàng Thơ lại réo rắt gọi:

Ngữ điệu ngân nga, vần réo rắt
Nàng Thơ gióng trống giục ran lòng
Ðau thương mồi bén lên tư tưởng
Thép đã tôi rồi, đố bẻ cong

Khi thép đã tôi rồi, thì ông chẳng còn gì để lo sợ và vì thế chúng ta có được những dòng sử-thi hôm nay.
 
Rồi khi viết “Bài Ca Níu Quan Tài”, Cung Trầm Tưởng lại viết: “Cách trừng phạt của Cộng Sản là một thứ bạo lực nguội vì không có khói, không có lửa. Một thứ lăng trì tân thời, có kế hoạch và làm chảy máu trắng, hữu hiệu hơn một phát súng tại pháp trường...” Trước bao nhiêu nhà tan cửa nát, bao nhiêu nước mắt, ông đã dùng cái tâm của mình để viết sử-thi mà ông gọi là Tâm Sử Thi, chúng tôi gọi là Tù Sử-Thi. Ðây là tập thơ viết để khóc cho dân tộc Việt Nam trầm luân, oan khiên, khóc cho gia đình ly tán, những người mẹ già, những người vợ, những đứa con thơ, những người tù, những người nữ tù khốn cùng mà Cung Trầm Tưởng gọi là “Những Nữ Thần Huyền Sử.” Trước cảnh tang thương ly tán tình nghĩa phu thê, Cung Trâm Tưởng viết về những người vợ tù như sau:

Có chồng mà tưởng như chồng chết,
Hương nhang đã cháy ở trong lòng.
Em là dòng dõi nàng Tô Thị
Nghìn năm hóa đá vẫn chờ mong
.”

Chứng kiến những cảnh tượng như vậy, Cung Trầm Tưởng đã không ngăn được những dòng nước mắt, vì đã được nghe và thấy:

Tiếng khóc của nàng thiếu phụ có chồng chết trong tù,
Tiếng khóc của những bà cụ đòi xác con.
Tiếng khóc của bần cố nông đòi lại ruộng vườn.
Tiếng khóc của trí thức đòi lại quyền tự do tư tưởng
.

Tiếng khóc của những trẻ thơ mất cha, mất mẹ, bị mang danh hiệu ngụy quyền.

Tiếng khóc của những người vợ, những nàng Tô Thị thời đại:

Trĩu gánh đời em theo bước chị,
Bầy con chia gửi mấy cô dì
Em thành thiếu phụ của sầu ly

Hơn 600 trang sách trong thi phẩm “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ” gồm 7 tập thơ gom lại, trong quá trình 60 năm làm thơ. Từ những ngày son trẻ với thơ tình lãng mạn, rồi đến thơ làm trong thời kỳ oan khiên của dân tộc, và thơ làm ở hải ngoại. Người đọc cũng như chúng tôi đã chú ý nhiều đến hai tập “Lời Viết Hai Tay và Bài Ca Níu Quan Tài.” Ðó là hai tập Tù Sử-Thi.

Martin Heidegger có nói rằng: “Tác phẩm phải là một biểu tượng.” Biểu tượng của thơ Cung Trầm Tưởng là biểu tưởng lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn đau thương nhất, nỗi oan khiên không bao giờ xóa nhòa trong tâm khảm của những người Việt Nam.

Chúng tôi những người lính VNCH, những người tù Cộng Sản rất hãnh diện về chiến sĩ văn hóa Cung Trầm Tưởng, đã hy sinh gần suốt cuộc đời mình để viết lên những dòng sử-thi, đã để lại cho chúng ta, chúng tôi, và thế hệ hậu sinh những chứng tích hùng hồn nhất về lịch sử Việt Nam trong giai đoan khổ cùng nhất, một bản cáo trạng mạnh mẽ nhất, trung thực nhất về chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Chúng tôi nguyện sẽ cùng Cung Trầm Tưởng:

Hãy mài cho sắc lưỡi dao tông,
Hãy nung cho tốt quắm tôi hồng
Thù này góp gió, mai làm bão
Về xáp tăng thù hất chổng mông
.”

Xin chúc thi sĩ Cung Trầm Tưởng sống vui để tiếp tục sáng tác thơ, tiếp tục đi tìm một trường phái thơ cho riêng mình, để những đêm trăng Thi Bá không còn phải ngồi nói chuyện với con Tắc-Kè mà buồn cho thế sự:

Chứng câm này mắc do nhân định,
Người chẳng buồn nghe chuyện của người
..."

                        VẠN VẠN LÝ - Cung Trầm Tưởng
                             (Tưởng nhớ những tù hùng tuẫn tử)

Ngồi trùm lần bóng tối
Nhìn mây đi lang thang
Mây giăng xám hàng hàng
Trời vào đông ảm đạm

Chấn song đan u ám
Sần sùi nhớp nhúa đen
Ran ran nhạc dế mèn
Nhởn nhơ cười chẫu chuộc

Vỗ vỗ rơi tàn thuốc
Phà khói vào hơi sương
Xa xưa... trống lên đường
Tiếng quân hô hào sảng

Nẻo cồn vàng bãi trắng
Sa trường hề sa trường!
Tiết tháo quắc đao thương
Chinh nhân ngàn dặm ruổi

Gió lên như địch thổi
Đưa ai qua trường giang
Nay cô liêu bạt ngàn
Tiễn ta vào bất tử

Đau thương là vinh dự
Chân đi hất hồng trần
Anh hùng phải gian truân
Hy sinh là tất yếu!
Ngựa khua dòn nước kiệu…

Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở về?

Vỗ vỗ rơi tàn thuốc
Phà khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt

Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu xe làm chỉ

Đã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
Về làm đá hoa cương
Gửi đời sau tạc tượng

Uống uống nguyên hàm lượng
Sương trong cất đầy vò
Sầu này thước nào đo
Khi đao rơi kiếm gẫy

Gió về lay lau dậy
Sơn khê khói mịt mù
Ngà ngà nhấp thiên thu
Bay…bay…vạn vạn lý...
Tráng sĩ hề tráng sĩ!

Cung Trầm Tưởng
Hoàng Liên Sơn, 1977

         

                                                    Vạn Vạn Lý - Phổ nhạc: Bùi Kim Cương
     Tiếng hát: Hoàng Cung Fa, Nguyễn Xuân Thưởng và Thăng Nguyễn (mp3) - Piano: Quế Hương

                    Một số hình ảnh của Cung Trầm Tưởng

                           

                            Cung Trầm Tưởng trước tư gia              Cung Trầm Tưởng, Viên Linh

                                          

                                                             Du Tử Lê, Cung Trầm Tưởng

                  

                                    Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng

                                           

                                          Cung Trầm Tưởng, Nhạc sĩ Phạm Duy, Họa sĩ Ngy Cao Uyên

                        Mời quý vị nghe Phạm Duy phổ nhạc từ một số bài thơ của Cung Trầm Tưởng:

                                     Mùa Thu Paris - Sĩ Phú          Tiễn Em - Tuấn Ngọc
                                     Chiều Đông - Thái Thanh         Kiếp Sau - Thái Thanh
                                    Bên Ni, Bên Nớ - Thái Hiền     Về Đây - Thanh Lan

                                               

                

                               Cung Trầm Tưởng
                                       Mặc Lâm - phóng viên RFA -  2010-01-05

                                                   Chương trình phát thanh (mp3)

Cung Trầm Tưởng là một nhà thơ rất quen thuộc từ đầu thập niên 60. Tên tuổi Ông nhanh chóng tràn vào giới thanh niên trí thức thời bấy giờ khi ông từ Pháp trở về Việt Nam cùng không khí lãng mạn của phong trào thơ mới, lúc đó vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thanh niên trí thức Việt Nam.

Ngay cái tên của ông cũng đã ấn tượng đối với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung Trầm Tưởng.

“Tôi là Cung Trầm Tưởng vào khoảng 50-51 tôi du học tại Pháp..sau đó tôi thi đỗ vào trường không quân của Pháp học chung với ông Nguyễn Xuân Vinh, ông Nguyễn Ngọc Loan…Đến năm 1957 tôi trở lại Sài Gòn và phục vụ trong binh chủng không quân cho đến ngày 30/4/1975 tức là được 23 năm.

Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế được tôi sáng tác trong khoảng thời gian này. Có những bài thơ tôi chưa từng đăng bất cứ báo nào thì bây giờ nó sẽ được tập trung lại trong toàn tập thơ của tôi trong 60 năm mang tên Cung Trầm Tưởng và Hành Trình Thơ, sẽ được xuất bản trong năm tới.”

“Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như: Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế… Cung Trầm Tưởng.

Cung Trầm Tưởng vừa sơ lược cho chúng ta biết về đời sống sáng tác của ông mà trong đó phần quan trọng nhất làm nên một Cung Trầm Tưởng từ một bài thơ sống rất lâu trong trí nhớ nhiều người đó là tác phẩm Mùa Thu Paris. Tác phẩm này được đem tới người nghe qua tài năng của Nhạc sĩ Phạm Duy khi ông phổ nó thành thơ và giới thiệu trên đài phát thanh Sài Gòn.

Ngôn ngữ trong bài thơ thật ra không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, bài thơ được giới trẻ đón nhận một cách thích thú vì một chi tiết trước đó chưa bao giờ xảy ra, đó là:

Một chàng thanh niên Việt Nam du học có người yêu bên Pháp với tóc vàng mắt xanh… hai người yêu nhau và chính những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành một mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ. Bài thơ như một trang sách mới cùng những con đường lạ lẫm bên trời Tây mở ra cho giới trẻ và đâu đó người đọc cảm thấy phần nào hả hê bù đắp lòng tự ái dân tộc đã bị mất mát khá nhiều dưới gót giày được gọi là khai hóa văn minh của thực dân Pháp.

Mùa thu Paris

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâm

Mùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì

Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù

Mùa thu !... Trời ơi ! Tình thu !

              

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ với chúng ta kỷ niệm về bài thơ này:
“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó đánh giá những kỷ niệm đầu đời của mình.”

“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Cung Trầm Tưởng.

Kỷ niệm đầu đời cùng các mối tình tóc vàng mắt xanh ấy đã là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng vào thời mới lớn. Những chiếc ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao cuộc chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình dị chủng giữa một chàng trai một đất nước bị trị và một cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây.

Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Và cũng bắt đầu một vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Sài Gòn thời bấy giờ.

Chưa bao giờ buồn thế

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly

Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Ga Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng

Hôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em. khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em...

Ôi đêm nay
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly

Tàu em đi tuyết phủ
Toa anh lạnh gió đầy
Làm sao anh không rét
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy !

Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có sao

Trời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế !

           

Cung Trầm Tưởng không phảỉ chỉ làm thơ tình với những khuông mẫu yêu đương trai gái. Dù lãng mạn hay cổ điển thì thơ tình không thể chia sẻ được hết mọi khổ đau của một người bị đày đoạ trong vòng tù ngục. Cung Trầm Tưởng như hàng trăm ngàn người khác sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã cùng với đồng đội vào những nhà tù tập trung cải tạo để trả lời cho bài học lịch sử về ý nghĩa cuộc chiến tranh mà ông và đồng đội là những người thua cuộc.

Thơ của Cung Trầm Tưởng  từ đây trở thành lạnh lẽo và chai cứng hơn. Chữ nghĩa ông sử dụng trong các bài thơ tù trở nên sắc sảo đến kỳ lạ. Sắc sảo và đớn đau như kim châm vào tim giữa mùa đông miền Bắc:

Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa em thân xác thấy mùa thu qua

Môi cằn má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén canh pha nước bùn
Đêm nằm ruột rỗng vai run
Đầu kề tiếng súng chân đùn bóng đêm…

Bài thơ được làm tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977 cách bài Mùa Thu Paris hơn 25 năm. Khoảng cách thời gian không làm bài thơ lạnh hơn mà chính khoảng cách con người làm bài thơ gần như hóa đá.
Ngôn ngữ thơ trong bài này bàn bạc những ẩn ức rất đời thường của người tù và người đọc cảm nhận ngay tính chất cay nghiệt của nó.
Thế nhưng Cung Trầm Tưởng lại có những bài thơ tù thấm đậm chất triết học. Nhà thơ tĩnh tại nhìn ngắm biến thiên của đời sống và thiền định tâm tưởng mình với những câu tuyệt đẹp:

Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở về

Vỗ, vỗ rơi tàn thuốc
Thả khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt

“Nụ hôn khốc liệt” dành cho đời phải chăng là một cách phản ứng thụ động trong thế giới bừng bừng thống nhục mà nhà thơ đang trải nghiệm?

Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉ

Đã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
về làm đá hoa cương
Gởi đời sau tạc tượng

Nguồn sống hồi sinh

Cung Trầm Tưởng trở về với cuộc sống sau khi đã nếm trải đầy đủ mọi thứ mùi vị của tù nhân như hàng trăm ngàn người khác.

Trong không khí gia đình, ông có những dòng thơ gợi mở tinh khiết hơn sau nhiều năm tháng thiếu vắng. Tiếng chuông nhà thờ và những nhành huệ trắng đã giúp ông gội rửa tâm tình để tâm hồn ngày một tươi tắn hơn, Ông tìm ra được nguồn suối trong ngay tại nhà mình hay nói đúng hơn, ngay tại lòng mình, một cõi lòng đang chuyển mình cùng với thiên nhiên để tạm quên cõi tục.

Huệ trắng trinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các huệ ngoài thềm
Sớm nay Chủ Nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng em

Chủ Nhật niềm tin màu huệ trắng
Hiền từ xoạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Dẫy tóc đen mềm ánh sao xanh…

Sài Gòn dưới mắt nhà thơ đã dần dần lấy lại được hình ảnh tinh khôi của nó vào những sớm mai trong trẻo. Người con gái trong thơ ông từ từ sống lại, khác với cô tóc vàng khi xưa, cô gái Sài Gòn bây giờ trắng như huệ và trong như ban mai trinh nguyên của một Sài Gòn ấm áp.

Tuy thế, người yêu thơ Cung Trầm Tưởng không dễ gì quên cô gái tóc vàng bên trời Tây cách đây hơn 50 năm để chia sẻ những cảm nhận của nhà thơ những hình ảnh của các cô gái Sài Gòn ngày nay.

Tiếng còi tàu vẫn chứng tỏ ma lực của nó quyến rũ người đọc thơ đến mức sau bằng ấy năm, hình như mỗi lần nghe lại bản nhạc Tiễn Em do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” của ông, người nghe vẫn cảm thấy hình như đang dấy lên nỗi buồn man mác.

Nỗi buồn không tên nhưng có thật. Và nó vẫn ở đấy trong bất cứ người nào nếu từng thừa nhận rằng sự chia tay nào cũng đều rơi nước mắt…

          

             Nói chuyện với nhà thơ Cung Trầm Tưởng
                                    Thực hiện: Thụy Khuê (10/1999)

                                           

Bù em góp núi chung đồi,
thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
...

Thơ Cung Trầm Tưởng. Phạm Duy phổ nhạc. Thái Thanh diễn tả mà "xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu". Câu thơ dội lên như một gắn bó cổ âm với hiện tại, như một biệt sắc Cung Trầm Tưởng. Đó là Cung Trầm Tưởng những năm 55-60.

Cung Trầm Tưởng còn đúc kết niềm đau lưu vãng của người tù cải tạo. Tình yêu, hiện sinh, tù ngục trở thành những thực tại trong thơ Cung Trầm Tưởng và nhà thơ, trong dịp ghé Paris đã dành cho thính giả RFI hai buổi nói chuyện về hành trình thơ và đời của ông.
Trong phần đầu, Cung Trầm Tưởng nói về thời kỳ Tình ca Paris trong hành trình sáng tạo của mình.
 

Thụy Khuê: Thưa anh Cung Trầm Tưởng, trở lại Paris sau gần nửa thế kỷ xa cách, anh thấy thế nào? Có bỡ ngỡ không?
Cung Trầm Tưởng: Trước khi đến Paris cách đây khoảng 47, 48 năm, tôi đã được hấp thụ nền văn hóa Pháp bởi vì tôi xuất thân từ một trường trung học Pháp; cho nên khi trở lại Paris, tôi cũng bỡ ngỡ nhưng không bỡ ngỡ như những người không biết gì về quá trình văn hóa Pháp. Nhưng đồng thời tôi là người Việt Nam, cho nên tôi vẫn nhìn Paris từ chỗ đứng của một người Việt Nam. Tôi không thấy mâu thuẫn giữa hai điều đó. Lẽ dĩ nhiên thời trẻ, bồng bột, tôi chỉ nhìn -Paris- phảng phất qua bối cảnh một tình quê hương -tôi không dám nói là tình yêu nước- từ xuất phát điểm đó, tôi có thể nói là tôi yêu Paris vô vàn. Yêu Paris nào? Cảnh vật? Đồng ý. Nhưng còn yêu Paris qua con người. Lúc ấy tôi mới trưởng thành, đầy sự sống, tôi chỉ nhìn thấy tình yêu đôi lứa. Đó là xuất xứ thầm kín nhất, bí mật nhất của những Chưa bao giờ buồn thế, Mùa Thu Paris...

TK: Những "Chưa Bao Giờ Buồn Thế" (tức là Tiễn Em), "Mùa Thu Paris", "Kiếp Sau" và "Khoác Kín" (tức là Chiều Đông) là những bài thơ của anh mà anh Phạm Duy đã phổ nhạc. Những tác phẩm này phần nào đã ghi dấu một thời kỳ, thời kỳ mà những nhà thơ như Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng... từ Pháp, đem theo tư tưởng Tây phương về như món quà tặng cho lớp trẻ. Và những tư tưởng này đã gây dấu ấn sâu đậm trong đời họ?
CTT: Lúc làm những bài đó, tôi rất hồn nhiên, nhưng sau mất đi rồi, đặc biệt là ở trong tù, khi tôi gặp những anh bạn, tuổi tác vào bậc đàn em tôi, xuất thân từ Đại Học Văn Khoa -Sàigòn- bảo rằng: "Anh đã du nhập vào Việt Nam một kích thước về Tây phương khác hẳn với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường.... Chính chúng em đã yêu văn hóa Pháp chỉ vì những bài thơ Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế" (mà anh Phạm Duy đã phổ nhạc thành bài Tiễn Em). Nếu Thụy Khuê bảo rằng nó đánh dấu một giai đoạn hay một thời đại, thì có lẽ cũng đúng thôi. Lúc đó Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn,... chúng tôi làm rất hồn nhiên. Vậy nếu có gì tốt đẹp, và có gì không tốt đẹp, làm hư cả một thời đại trong giai đoạn cực kỳ hung man của đất nước Việt Nam thì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

TK: Thưa anh, những sáng tác đầu tiên của anh đã nẩy sinh trong những hoàn cảnh nào?
CTT: Tôi là người Bắc vào Sàigòn. Tôi cũng đã có một khái niệm mơ hồ nào đó về nước Pháp và đặc biệt là văn hóa Pháp. Sang Paris tôi không ngỡ ngàng lắm. Nhưng càng sang Paris tôi thấy rằng tôi không thể là người Pháp nổi. Tôi là người Việt Nam. Dù đã được hấp thụ nền giáo dục, văn hóa Pháp từ lúc nhỏ. Điều đó, đối với tôi là một tiếng gọi vô cùng da diết: Tôi phải tìm đủ mọi cách để trở về nguồn.
Khi sang Paris, tôi gặp một thiếu nữ Pháp, gọi là cùng cung bậc tình cảm với mình. Đó là một chuyện có thể gọi là phối hợp, phối ngẫu rất hồn nhiên. Có thế thôi. Nhưng tôi phải diễn tả bằng tiếng Việt.
Đấy là những xuất xứ của những bài thơ đầu đời -nếu có thể được- của sự nghiệp thi ca của tôi. Và tôi không ngờ rằng nó có những hệ lụy với cả một thời đại.

TK: Thời kỳ 50-60 là thời kỳ của Hiện Sinh. Và ảnh hưởng của Tượng Trưng, Siêu Thực vẫn còn. Trong lúc anh làm thơ, anh cứ làm tự nhiên thôi hay là có sự tìm hiểu về những lý thuyết mới của thi ca hoặc tìm hiểu những con đường mới của tư tưởng lúc bấy giờ?
CTT: Có chứ. Tôi đã đọc những thơ của René Char, Paul Eluard,... cái hồi quang của Mallarmé. Tôi rất sợ. Điều hớp hồn tôi nhất là Eluard! Tôi đọc Whitman, tất cả.... Lúc học lycée tôi đã nghiến ngấu những thứ như Sartre, Camus,... Chủ nghĩa Hiện Sinh của thời hậu chiến Âu Châu ngấm vào tôi. Tôi hoàn toàn bị hớp hồn bởi chủ nghĩa Hiện Sinh. Lúc đó tôi chỉ phát hiện được Sartre, nhất là L'être et le néant. Sau này tôi đọc Heidegger. Có thể nói là tôi đã xuất phát từ chủ nghĩa Hiện Sinh. Đấy là mặt lý luận. Nhưng khi vào thơ, tôi phải hóa sinh nó, phải luyện kim nó, luyện đan nó. Lúc đó tôi không hiểu, nhưng có thể là tôi đã mang vào thơ ảnh hưởng của tư trào Pháp quốc và Âu Châu thời đó. Tôi mang vào thơ qua nẻo tình yêu đôi lứa. Tôi nghĩ, trong đó cũng có ảnh hưởng gốc gác của tôi một chút. Tôi không theo đạo, nhưng tôi tin vào một sức mạnh siêu hình. Ví dụ có người hỏi tôi là không em buốt giá từ tâm tức là từ tim? Nhưng sau tôi nghĩ từ tâm có thể là một thuật ngữ Phật giáo đúng hơn chứ Thụy Khuê? Có chủ nghĩa Hiện Sinh bởi lúc đó mình sống với thời đại. Lúc đó, Tây học về mà tôi nói tôi không bị ảnh hưởng của Sartre, Camus thì không đúng.
Tôi đã từng đi xem Huis Clos. Có cả những cô tóc vàng sợi nhỏ. Chúng tôi không hư cấu 100%. Thơ của tôi không xuất phát từ le non-être mà từ l'anti-être, hay gọi theo thuật ngữ thới đó, le néant là mặt nào đó của l'être. Tôi hoàn toàn hệ lụy với những điều đó.

TK: Giữa Sartre và Camus anh gần ai hơn?
CTT: Sartre và Camus? Tôi nói thật, lúc đó tôi là ông cụ non. Tôi thích Sartre vô cùng. Mà thích nhất là L'être et le néant chứ không phải La nausée. Tôi đọc đến những cái cuối cùng của cuối cùng, tận cùng của tận cùng. Dù tôi học Bac Math nhưng tôi rất thích philo. Đọc L'être et le néant, tôi thấy ghê gớm quá. Tôi thấy ông này có nhiều xảo thuật quá. Tôi biết chứ nhưng mình không lý luận được. Cách hành văn của ông ấy ghê gớm quá, tôi sợ quá.
Lúc đó tôi phát hiện ra là style của Sartre bị ảnh hưởng văn phong của Marx. Nhưng vấn đề là mình phải nhuyễn hóa để thành thơ Việt Nam. Tôi đã từng làm thơ Pháp, tôi xé hết.

TK: Trở lại thời kỳ anh về nước, anh và các bạn anh đã có những đóng góp trong việc làm mới lại thi ca Việt Nam. Bây giờ, nhìn lại thời kỳ ấy, anh thấy những gì anh đã làm được, và những gì anh chưa làm được?
CTT: Bây giờ xét lại tôi cũng có một đóng góp khiêm tốn, tích cực về việc làm mới thơ Việt Nam như Thụy Khuê vừa nói. Đối với tôi, thơ là căn bản của ngôn ngữ, cũng như căn bản của cuộc sống là hơi thở, oxy, khí trời. Tôi còn nhớ trong một buổi thảo luận tại tòa soạn Sáng Tạo khoảng năm 1960, anh Thanh Tâm Tuyền hỏi tôi sao bây giờ ông vẫn còn làm thơ lục bát. Tôi không muốn lý luận, tôi bảo rằng: Tôi thấy thơ lục bát vẫn chưa hoàn tất, tôi muốn tiếp tục con đường ấy. Bây giờ nghĩ lại, sau những lục bát của Nguyễn Du, Huy Cận, Bùi Giáng v.v... tôi cũng có một đóng góp thật khiêm tốn. Và chưa xong. Chưa xong. Nhưng ô hỡi, thi ca còn mắc nợ lịch sử. Tôi có bổn phận phải trả món nợ lịch sử đó. Vì thế năm 75, tôi quyết định ở lại! Tôi muốn ở lại. Đó là một quyết định với tất cả những hệ lụy của nó. Tôi nghĩ rằng nếu không có những năm tạm gọi là gian truân, thống khổ... thì ngôn ngữ Cung Trầm Tưởng chưa tới độ mà hôm nay tương đối tôi đã có thể thỏa hiệp với mình, mình đã đạt tới một mốc điểm nào đó. Tôi sợ rằng nếu không có sự hội nhập, dấn thân nhầy nhụa vào lịch sử để thăng hoa lên thì có thể nói rằng tôi đã tới ngõ cụt của thi ca. Tôi vẫn thắc mắc ở một điểm: Thi ca là gì? Đối với tôi, Thi ca là một ngữ sự. Không giải quyết được ngữ sự đó thì xé tất cả đi.

*
* *

Trong bài Tựa tập thơ "Lời Viết Hai Tay", Ainsi parlait le poète, Cung Trầm Tưởng viết:

"Đời tù là phi lý của phi lý. Để đương đầu với nghịch cảnh sàm sỡ, trớ trêu dị hợm, để không bị kéo xuống tầm tất yếu, ngã vào hư vô, để không tự tử, người thơ tù phải học làm con vật siêu hình, đào tìm ý nghĩa sâu thẳm nhất, cơ bản nhất, cụ thể nhất của sự việc trần gian.
Thơ là một đam mê, một lao về, một rượt đuổi khôn nguôi những cánh chim hồng khó bắt, những câu hỏi xanh lớn hơn bất cứ trả lời nào
."

Những lời trên đây có thể xem như một tuyên ngôn của Cung Trầm Tưởng về thơ và tù. Sau đây Cung Trầm Tưởng nói chuyện về cái phi lý của phi lý đã gầy dựng nên thơ.

*
TK: Sau 75, tự ý anh quyết định ở lại. Ở lại và bị đi tù mười năm. Bây giờ nhìn lại, anh thấy người ta "cho" anh đi tù vì anh là phi công hay vì anh là nhà thơ?
CTT: Cả hai cái đó cụm lại. Phi công chỉ là mặt nổi của vấn đề. Cái mà người cai tù của chúng tôi khó chịu nhất, họ ghét nhất, dị ứng nhất là văn học nghệ thuật. Cái họ gọi là phản động của phản động.
Thì hai cái đó cộng lại và tôi có được mười năm tù. Tôi nói chữ có, bởi vì có lẽ phải vậy thì mới chín muồi.

TK: Nhưng thơ anh, phần lớn là thơ tình, thì có gì mà phải hệ lụy, mà phải nặng tội?
CTT: Đúng. Nhưng chỉ lúc đầu thôi. Thật ra lúc Thụy Khuê đọc Mùa Thu Paris Chưa Bao Giờ Buồn Thế, kể cả Khoác Kín... đã có một cố gắng mò mẫm tới một chân trời, một ngôn ngữ khác. Tôi jeter một cái base là lề lối sống hiện sinh, mình tự chọn cho mình một lối sống trong một bối cảnh tuyệt đối tự do. Như Sartre nói, nếu tôi không lầm, Con người bắt buộc phải tự do. Và tôi mang hệ lụy đó. Ở trong tù, lời đó vẫn còn giá trị. Vì thế trong bài Ainsi parlait le poète của tôi, viết cho lần tái bản Lời Viết Hai Tay, tôi muốn, qua đó, đục phá những cánh cửa để nhìn vào những phương trời như là kính vạn hoa. Kính vạn hoa ở đây là vấn đề ngôn ngữ. Đối với tôi, ngôn ngữ là máu mủ của tôi. Hơn thế nữa, đó là phương tiện để giải thoát. Hơn thế nữa, đó là phương tiện mà nếu không có nó, tôi đã phải tự tử.

TK: Trong mười năm tù, anh sáng tác trong những điều kiện như thế nào? Cả về vật chất lẫn tinh thần? Vì có lần, anh cho biết, lúc đó anh gầy lắm, còn có 30kg?
CTT: Đầu tiên về vật chất thì tôi thấy rằng tôi không có bút, không có giấy. Bởi vì tôi không được quyền. Nếu tôi ăn cắp thì nguy hiểm lắm. Trong hoàn cảnh, có thể nói là nghịch cảnh, như vậy, tôi phải sáng tác bằng cái đầu. Lúc ấy tôi có nói rằng: "Làm thơ như chơi cờ tưởng." Tôi chơi cờ với tôi. Tôi chơi cờ với nàng thơ. Nhưng sức tôi có hạn. Cho nên một hôm có anh bạn bảo tôi rằng:
- "Ông phải sống để làm thơ cho chúng tôi."
Tôi trả lời:
- "Tôi có thể đảm nhận trách nhiệm ấy. Tôi phải làm thơ. Nhưng còn sống thì tôi biết thế nào? Đời tù như ngọn đèn yếu ớt, leo lắt trước cơn bão thổi. Tôi cố làm thơ cho các ông. Nhưng tôi chỉ xin các ông một điều: Sức tôi có hạn, trí nhớ tôi có hạn. Ai nhớ cho tôi?"
"Ông cứ làm thơ, chúng tôi sẽ có một bộ trí nhớ tập thể."
Vì vậy trong Lời Viết Hai Tay, 50% là nhờ bộ nhớ tập thể đó. Tôi vô vàn cám ơn.

TK: Thưa anh, như vậy, các bạn nhớ hộ, rồi sau đó, mọi sự tiếp diễn ra sao?
CTT: Sau đó mình phải viết trên giấy trong một hoàn cảnh éo le là sau mười năm tù, tôi bị tám năm quản chế. Lúc nào trước cửa nhà tôi cũng có một ông công an, giả vờ làm thợ sửa xe đạp, phu xích lô. Nhưng không hiểu tại sao, lúc đó tôi mê thơ hơn là tôi sợ. Tôi viết, sau đó có người mang tôi đến chỗ khác, người ta nhớ hộ. Chính trong lúc đó tôi viết thêm hai tác phẩm cuối cùng. Bộ ba đó tôi gọi là Tâm Sử Thi. Tôi viết lịch sử bằng tâm thức qua nẻo của thơ. Tôi phải làm bằng lục bát vì không những đó là sở trường của tôi mà lại dễ nhớ. Và tôi đưa cho một anh bạn, nguyên là tình báo quân đội. Và anh ấy có một "bộ nhớ" tuyệt vời hơn cả bộ nhớ của computer/ordinateur. Anh thuộc làu. Anh đã đem ra ngoài.

TK: Thưa anh, bài Nguyệt Thực mang những hình ảnh đẹp và có dấu ấn của đời tù, anh đã làm trong bối cảnh như thế nào?
CTT: Ở một dẫy núi đá vôi, lạnh lắm của vùng Hòa Bình, có một cánh đồng chiêm. Ban đêm anh em đói quá, không biết làm gì. Ở cánh đồng chiêm cách đó mấy trăm mét, họ đang tát nước. Mình nghe. Mấy anh bạn bảo:
"Ông Cung Trầm Tưởng, ông có thấy cái này không? Ông làm hộ một bài thơ."
Thì tự nhiên mình thấy có nhiệm vụ. Lúc đó mình chỉ đọc một vài câu thôi, sau đó phải hoàn chỉnh lại. Đó là cảnh một đêm tù đói lắm, một số anh bạn lại bị phù thủng. Vậy mình phải hư cấu để sống! Mình nói: Đói quá mà lại không có thực phẩm, ta ăn trăng! Đây là bài Nguyệt Thực:

Tiếng ai tát nước đồng đêm
Vơi vơi nước cạn, thêm thêm sóng lòng
Ánh trăng quện nước gầu sòng
Trời loang loãng cháo dưới dòng sao Tâm
...

Lúc đó chỉ nhìn thấy cái gì sền sệt: Cháo. Nhìn trăng chỉ thấy cháo. Phản xạ!

...
Gầu ai cứ tát nước vơi
Men trăng đầy hũ, ta mời ta tôi
Ngày xưa uống rượu hương hồi
Ngày nay loãng máu, ta bồi dưỡng trăng.

TK: Thưa anh, có phải kinh nghiệm tù đầy đã làm anh thay đổi quan niệm thơ của anh? Từ thời kỳ đầu, thơ có đối tượng là tình yêu, và bây giờ, thơ phải dính liền với lịch sử, thơ anh dấn thân hơn?
CTT: Tất nhiên thôi. Ở lại, tôi phát giác ra thêm một kích thước gọi là lịch sử. Nhưng ô hỡi, thơ đâu phải chỉ là lịch sử. Cho nên kể cả ngay trong Lời Viết Hai Tay đã có những cố gắng mò mẫm để đi ra khỏi cái mà tôi gọi là "ngục tù lịch sử". Lịch sử là gì? Lịch sử là cái gì thật là ngu xuẩn, con người tạo ra để nhốt giam chính mình! Nhưng tôi cũng khá hiểu được là: "Cái này không được", phải tìm ra cái khác. Vì thế cho nên tôi có viết rằng: cơ bản, thơ vượt lịch sử.

Thơ mà không vượt lịch sử thì chưa phải là thơ. Phải nhầy nhụa trong lịch sử! Nếu nhân loại, hay đặc biệt dân tộc Việt Nam phải đau khổ thì người thi sĩ phải đau khổ cùng với dân tộc. Ở tù! Nhà tù ấy là nhà tù của lịch sử chứ không phải của chế độ. Nhưng lịch sử đâu có phải là cứu cánh của nghệ thuật. Đây tôi chỉ nói về nghệ thuật thôi, tất nhiên còn nhiều vấn đề khác nữa. Lịch sử nhiều khi nó là cái bêtise. Rất buồn là con người tạo ra lịch sử để rồi bị giam tù bởi lịch sử. Tôi đủ thông minh để vượt qua. Tôi không có niềm tin về siêu hình tôn giáo, tôi phải dùng con đường nghệ thuật mà trong đó tôi thấy, là thơ.

Thơ là phương tiện để tôi tự giải thoát tôi. Lúc đó tôi đã ý thức được nhờ kích thước lịch sử của triết học. Tôi không sợ Sartre bằng Heidegger. Về cái historicité, Sartre chỉ nói một câu theo kiểu mẫu văn hoa của Pháp là: L'homme est un animal historique. Nhưng Heidegger nói về cái temporité. Tôi thấy thơ bắt buộc phải như vậy.
Nhưng cuối đời, Heideger không tìm ra ngôn ngữ. Tôi thử dùng ngôn ngữ thơ để nói cái tính cách vượt qua lịch sử. Có thế thôi. Bởi rằng thực ra, lịch sử là gì? Lịch sử là trạm quá cảnh đóng con dấu máu đỏ của tang thương trên quyển hộ chiếu của thi lữ khách. Xong rồi lại lên đường.

TK: Vì thế mà ra nước ngoài anh vẫn tiếp tục làm thơ, tức là tiếp tục dấn thân theo một nghĩa khác?
CTT: Vẫn có với tôi một tiếng gọi: Tôi phải tiếp tục lên đường. Và muốn như vậy, tôi phải tìm về ngọn nguồn của ngọn nguồn. Là Paris. Tôi phải trở lại. Tôi đã tự nói với tôi ngay từ năm 1976, khi tôi vào tù, rằng tôi sẽ trở lại. Và đến hôm nay, 1999, tức là 33 năm sau, tôi đã đạt được ý nguyện đó. Và nếu xét từ bối cảnh đáy địa ngục đó, hôm nay ngồi đây nói chuyện với Thụy Khuê. Đó là một phép lạ.

TK: Rút cục môi trường ngục tù đã đem lại những gì cho thơ anh?
CTT: Thơ tù đối với tôi là một quá độ cần thiết phải có, không có cái đó thì không tiếp tục nổi. Bởi sau cuộc rong chơi của tình yêu lứa đôi, chủ nghĩa hiện sinh... mình thấy đó vẫn chỉ là những cuộc rong chơi. Nhưng nếu dân tộc bị rớm máu, người thi sĩ phải bị đổ máu.
Tôi cám ơn vô cùng lịch sử đã giăng cho tôi cái bẫy là tôi phải mười năm ở tù, để thơ tôi có những kích thước khác, có hệ lụy và có trách nhiệm

TK: Kinh nghiệm của anh đã khó khăn, anh có nghĩ rằng những ngày sắp tới, người làm văn, làm thơ có thể vượt qua được những khó khăn hiện nay không?
CTT: Khó khăn hơn nhiều! Tôi nghĩ rằng muốn đạt tới địa đàng phải đi tới từng thứ chín của địa ngục rồi làm cái xẹt xuyên ánh tinh cầu. Ngộ. Ngộ trong nghịch cảnh của lịch sử. Của thời gian.
Bên này nó ru ngủ ta bằng đủ thứ, dễ dãi quá. Thừa mứa quá. Tôi không dám nói là tôi thù ghét, nhưng tôi cảm thấy rằng con người tôi dị ứng với cái đó. Thành ra, thơ trong tù, khi tôi nói về vấn đề muốn trở lại cái nôi thứ hai của tôi là nếp sống, lối suy nghĩ của Tây phương, là tôi muốn nhìn qua khung cảnh Paris. Dù rằng tôi đã đi học cả Mỹ nữa. Tôi vẫn si mê Paris.
Nhưng tôi đến Paris không phải vì cô đầm Michèle. Tôi đến Paris qua nẻo đường của diaspora vietnamien à Paris một thuở nào, và vẫn muốn tiếp tục con đường đó.

TK: Thưa anh, câu chuyện đã dài, xin anh một lời kết trong ý nghĩa thơ Cung Trầm Tưởng.
CTT: Thơ phải có quan hệ máu mủ, quan hệ ruột thịt với lịch sử. Nhưng xong rồi, mình phải lên đường. Siêu hình xuất phát từ thân phận. Thân phận phủ đầy sử tính, đúng không? Ô hỡi, sử tính là gì? Là khốn khổ. Là nhầy nhụa. Là đau thương. Và lịch sử hiện đại tù đầy. Phải qua nẻo đó thì may ra thơ mới thoát được. Không phải là thơ anh với em, lứa đôi.
Người thi sĩ phải đảm nhận cái đau khổ của dân tộc mình. Qua ngôn ngữ. Tạo ra ngôn ngữ. Ngôn ngữ của đau khổ. Thành ra tôi có làm bốn câu thơ -Tôi luôn luôn rất dại. Tôi luôn luôn bị lừa. Nhưng phải bị lừa thì mới biết được là bị lừa- Cuối cùng là bốn câu thơ lục bát:

Mai sau thịt thắm da mềm
Cái yêu khác trước cái nhìn khác xưa
Cái tin vô cớ xin chừa
Sống sao cho xứng lũy thừa thương đau

Tôi phải tích cực chứ. Tôi muốn có một câu kết, không phải đi đến chỗ nowhere. Tất cả những sự tạm gọi là hy sinh là để hái gặt được một mùa: Mùa gặt mười năm. Tất cả là một récolte, mùa gặt mà người ta đọc. Mà đọc là gì? Theo tiếng latin, grec là đi cấy một mùa màng mà cái thằng poète nó trồng hộ anh.

TK: Xin cám ơn anh Cung Trầm Tưởng.
(Paris, tháng 10/1999)

                      Lục Bát Cung Trầm Tưởng,
              Một Đóng Góp Lớn Cho Văn Học
Du Tử Lê

                                            

" ... Giữa thập niên (19)90, trong một buổi ra mắt sách ở quán café Tao Nhân, nằm trên đường Westminster, thành phố Garden Grove, miền Nam tiểu bang California, mở đầu phần phát biểu của mình, cố nhà văn Mai Thảo đã làm một so sánh chói gắt về sự xuất hiện của tác giả thi phẩm được giới thiệu trong đêm, với sự xuất hiện của hai tác giả nổi tiếng rất sớm, trong sinh hoạt văn chương miền Nam, trước tháng 4, 1975.

Ðại ý tác giả “Ta thấy hình ta những miếu đền” nói rằng, vào những năm cuối thập niên (19)50, có hai tiếng thơ đã tạo chấn động vang dội, ngay khi những bài thơ thứ nhất.

Trừ những người trẻ, tham dự buổi giới thiệu tác phẩm vừa kể, vốn không có cơ hội biết nhiều về sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam những năm (19)50, (19)60; kỳ dư, các tân khách còn lại, khi nghe nhắc tới Cung Trầm Tưởng, đa số đã liên tưởng tới thơ bốn chữ, năm chữ và, lục bát của họ Cung. (1)

Liên tưởng tức thì này, không có nghĩa tất cả những vị đó đều đọc, nhớ thơ Cung Trầm Tưởng qua tạp chí Sáng Tạo. Họ biết, nhớ, thuộc và, yêu mến tiếng thơ này, qua một số ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ thơ Cung Trầm Tưởng. Thí dụ, ca khúc “Mùa thu Paris,” hay “Tiễn em” (Phạm Duy đổi từ nhan đề gốc “Chưa bao giờ buồn thế”...

                                                 > Mời đọc : toàn bài (pdf)

 

        RA MẮT SÁCH "MỘT HÀNH TRÌNH THƠ" CỦA CUNG TRẦM TƯỞNG Ở VIRGINIA - 28/10/2012

- Bài viết từ Du Tử Lê, Thụy Khuê, Trịnh Bình An, Bùi Mạnh Hùng, Mặc Lâm ...

- Hình ảnh, nhạc, video, phỏng vấn v v từ Radio Free Asia, Bùi Dương Liêm, websites: Tiếng Quê Hương, Du Tử Lê và trên internet  

                Xin vui lòng gởi ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com