arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow TRƯỜNG SA, LƯƠNG TRI THẾ GIỚI - Nhạc & lời: Nguyễn Văn Đông
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
TRƯỜNG SA, LƯƠNG TRI THẾ GIỚI - Nhạc & lời: Nguyễn Văn Đông PDF Print E-mail

Ngày 19/1, tưởng niệm trận hải chiến trên biển Đông, Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông với ca khúc “Trường Sa, lương tri thế giới” 

Hằng năm đến ngày 19 tháng Giêng, người Việt trong xứ hay hải ngoại tưởng niệm trận hải chiến trên biển Đông năm 1974, cùng thắp nén hương tưởng nhớ những anh hùng vị quốc vong thân, đã nằm xuống vĩnh viễn nơi biển đảo biên cương của Tổ quốc.

Trận hải chiến 40 năm về trước trên quần đảo Hoàng Sa, các chiến sĩ Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã kiên cường nối tiếp truyền thống cha ông chống giặc ngoại xâm, những con kình ngư lao mình trong lửa đạn, ngẩng cao đầu đạp lên triều sóng dữ, thề quyết tử bảo vệ từng tấc đất quê hương. Vẻ vang thay truyền thống trận Hàm Tử diệt Toa Đô, hùng khí thay sông Bạch Đằng nhấn chìm Ô Mã, chiến tích cha ông ta qua bao triều đại sáng ngời đến nghìn thu. Ngày xưa, vua Lê Thánh Tôn truyền xuống lời thề giữ nước ghi trong Đại Việt sử ký rằng: “Một tấc đất biên cương của Thái tổ để lọt vào tay giặc là có tội muôn đời với tổ tiên”. Qua bao triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn, xã tắc có lúc cường, lúc nhược, song hào kiệt nước Nam đời nào cũng có trang tuấn kiệt, anh thư ra gánh vác giang sơn. Cho nên từ xa xưa, thế nước lòng dân chưa bao giờ đánh mất nền tự chủ cùng sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải.

Ngày nay, những trang sử oai hùng đó vẫn nối tiếp truyền thống cha ông làm rạng rỡ thời đại chúng ta, không hổ thẹn với tiền nhân cùng quốc tổ. Tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa năm xưa trên biển Đông, là để ghi ơn mãi mãi về sự hy sinh bất khuất của những con người viết nên lịch sử Bạch Đằng, Đống Đa, Chi Lăng... trong thời đại của chúng ta, là những anh linh của 74 tử sĩ Hải Quân QLVNCH bảo vệ chủ quyền lãnh hải mà gương hy sinh anh dũng của Hạm trưởng Ngụy văn Thà tuẫn tiết theo tàu, cùng anh hùng bất khuất Hạm phó Nguyễn Thành Trí trọng thương vẫn cố thủ dựng cờ chủ quyền trên biển đảo cho đến lúc kiệt tàn hơi thở. Những chiến hạm đi vào huyền thoại như Lý Thường Kiệt, Nhật Tảo, Trần Bình Trọng, Trần Khánh Dư... ngày ấy quần thảo cùng quân thù trong chảo lửa Hoàng Sa, có chiếc nằm lại trên biển Đông mà từng lớp sóng triền miên xô nhau vỗ về qua thân xác như ru mãi ngàn năm chiến tích Chương Dương, Hàm Tử.

Vào những ngày đầu năm Giáp Ngọ, dịp lễ tưởng niệm 40 năm trận hải chiến Hoàng Sa, có người bạn ở tiểu bang California gởi tặng tôi ca khúc “Trường Sa Lương Tri Thế Giới” của nhạc sĩ Nguyễn văn Đông do Ban Hợp Ca Xuân Điềm thực hiện. Còn nhớ vào thời điểm biển Đông nổi sóng do quân bành trướng phương Bắc đe dọa xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam thì Cộng đồng Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ chống quân xâm lược, nhất loạt cử hành lễ tưởng niệm anh linh của 74 tử sĩ hải quân trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, làm dấy lên tinh thần quật khởi từ hải ngoại đến nhân dân trong nước, với quyết tâm lấy lại Hoàng Sa và kêu gọi lương tri thế giới cho sự bảo toàn biển đảo Trường Sa của Việt Nam nói riêng và vùng biển Đông nói chung của những quốc gia thuộc Đông Nam Á, trước mưu đồ xâm chiếm của Trung Quốc.

Ca khúc “Trường Sa, lương tri thế giới” do Ban Hợp Ca Xuân Điềm thực hiện ra đời trong hoàn cảnh đó, thôi thúc dấn thân, dâng mình cho Tổ quốc, làm lay động tình cảm lương tri toàn thế giới. Đẹp làm sao khi Tổ quốc gọi tên vào trận chiến đối mặt với quân thù và hào hùng thay khi muôn lòng một dạ cùng đứng lên đáp lời sông núi lúc lâm nguy! Nhớ linh xưa, kình ngư lướt sóng, Vạn Kiếp dọc ngang, hào khí ngất trời như đọng lại trong lời ca khúc Trường Sa lương tri thế giới:

“Còn nghe sóng Bạch Đằng reo vang, còn nghe vó ngựa dồn Chi Lăng, trang sử vàng nghìn thu ngời sáng hồn quân Nam”
“Còn nghe trống Ngọc Hồi Quang Trung, còn hương phấn Nhị Hà Trưng Vương, luôn ngẩng cao đầu đạp sóng dữ cho an nhà Nam
”.

Gương tiết liệt muôn đời ghi tạc, đấng hiếu trung sáng nghĩa nghìn thu, lời chính khí làm thức tỉnh quân xâm lược như sấm vang sét dậy trong ca khúc Trường Sa:

Trường Sa ơi!  Đường ta đi chân lý rạng ngời trong tim.
Hoàng Sa ơi! Tiền nhân ta vun đắp bằng bao xương máu.
Hãy thắp sáng bằng lửa tim ta.
Hãy đánh thức lời lẽ điêu ngoa, cho thấy lại đạo lý lương tri con đường ta đi.
Tổ quốc hỡi! Uy linh xưa trong tim ta Trường  Sa ơi, Việt Nam ơi".

Tổ quốc là trên hết, qua bao triều đại hay chánh thể, dù chính kiến có khác nhưng muôn đời trách nhiệm bảo toàn chủ quyền đất nước vẫn là sứ mạng thiêng liêng chung của toàn dân tộc. Khi sóng gió biển Đông chưa tan cơn hung hãn và mộng bá quyền xâm lược còn ngấp nghé ngoài cửa ải biên cương hải đảo thì một ca khúc đánh động lương tri nhân loại là vũ khí cực kỳ hữu hiệu trong đấu tranh chống lại quân tham tàn cướp nước.

Xin giới thiệu đến thân hữu gần xa Ban Hợp Ca Xuân Điềm với ca khúc “Trường Sa Lương Tri Thế Giới” và mong tất cả cùng góp tay phổ biến cho bay xa.

Phan Anh Dũng
Richmond, Virginia USA - 8 tháng 4, 2014

               

                                TRƯỜNG SA, LƯƠNG TRI THẾ GIỚI
                                       Nhạc và lời: Nguyễn văn Đông

                                         

Hịch Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

***

Tiếng sóng biển Đông lương tri thế giới.
Tiếng hát Trường Sa tuôn qua sóng gió.
Dân nước ta dòng hùng anh, sông núi ta từ ngàn năm,
trang sử xanh oai hùng anh dũng diệt ngoại xâm.

Còn nghe sóng Bạch Đằng reo vang, còn nghe vó ngựa dồn Chi Lăng,
Trang sử vàng nghìn thu ngời sáng hồn quân Nam.
Còn nghe trống Ngọc Hồi Quang Trung, còn hương phấn Nhị Hà Trưng Vương,
Luôn ngẩng đầu đạp sóng dữ cho an nhà Nam.

Trường Sa ơi! Đường ta đi chân lý rạng ngời trong tim.
Hoàng Sa ơi! Tiền nhân ta vun đắp bằng bao xương máu.
Biển đảo ấy là trái tim ta, tấc đất ấy nhuộm máu ông cha,
cho biển trời Tổ quốc vươn xa tươi đẹp quá.

Hãy thắp sáng bằng lửa tim ta. Hãy đánh thức lời lẽ điêu ngoa,
cho thấy lại đạo lý lương tri đường ta đi.

Hồn sông núi dáng đứng đất nước bên bờ biển Đông.
Thuyền ra khơi ta đi mang theo hồn thiêng sông núi.
Trong phong ba bão táp sấm sét tiến lên không lui.
Cất cao ngọn cờ Tổ quốc Trường Sa yêu.

Đã thấy rồi lòng dân hôm nay, đã thấy ngày bàn tay trong tay,
Tiếp bước đường tiền nhân chung xây nhà Nam ta.
Tổ quốc hỡi! Uy linh xưa trong tim ta. Trường Sa ơi!

-----------------------------------------------------------------------------------------------

Hịch của Lý Thường Kiệt - Bài dịch của Trần Quốc Bảo (Richmond, VA)

Giang Sơn nước Việt Nam
 
Hiển nhiên phân định bởi Trời
Giang sơn nước Việt của (*) người Việt Nam
Nhược bằng địch quốc xâm lăng
Truyền đời chúng sẽ bại vong tan tành

 
 (*) Dịch theo xưa:
Giang sơn nước Việt vua người Việt Nam

      Mời quý vị nghe và hát theo: "Trường Sa, Lương Tri Thế Giới(mp3)   Youtube
                                        Ban Hợp Ca Xuân Điềm trình bày

                      Nhạc không lời:   hòa tấu (mp3)       hòa âm (mp3)

 

 

                                          > Bản nhạc (pdf)

 

     Nhớ lại 1974: TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA - HỒ VĂN KỲ THOẠI

(Tài liệu lịch sử sau đây trích một phần từ chương 16, từ ngày 18/1/1974 tức một ngày trước khi xảy ra cuộc hải chiến Hoàng Sa, trong sách “CAN TRƯỜNG TRONG CHIẾN BẠI” của tác giả Hồ Văn Kỳ-Thoại xuất bản năm 2007. Ông nguyên là Phó Đề Đốc Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải, Quân khu I, Việt Nam Cộng Hoà, từ năm 1970 đến năm 1975.)

                      

                                             
      Mười giờ sáng ngày 18 tháng 1, trung tá San, hạm trưởng khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ 4) cho toán đổ bộ lên bờ gồm một trung úy và mười ba đoàn viên để thám sát đảo Cam Tuyền vì thấy có chiến hạm Trung Cộng thả trôi gần đó. Toán này cắm cờ Việt Nam khi lên tới đảo.
      Khi hải đội của đại tá Ngạc đến Hoàng Sa thì tôi được biết là có ít nhứt bốn chiến hạm của Trung Cộng đã có mặt tại vùng đảo. Các chiến hạm của Trung Cộng và Việt Nam hải hành rất gần nhau. Chiến hạm Việt Nam ra dấu hiệu đuổi chiến hạm Trung Cộng ra ngoài lãnh hải. Trên chiến hạm Trung Cộng thì các thủy thủ của họ cũng ra dấu yêu cầu chiến hạm Việt Nam phải ra xa các đảo.

      Chiều ngày hôm đó, tình hình tại Hoàng Sa càng thêm căng thẳng. Các chiến hạm hai bên chạy kế bên nhau và chĩa súng vào nhau. Ngày hôm sau, tôi liên lạc điện thoại về Bộ Tư Lịnh Hải Quân tại Sàigòn để hỏi vị trí các đơn vị của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Đại tá Kiểm, giám đốc Trung tâm hành quân Hải Quân, theo dõi và thông báo cho tôi kịp thời mọi tin tức về phía Hoa Kỳ và xác nhân rằng các chiến hạm Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam. Ông nói với tôi: “Cứ yên trí.” Tôi nói với đại tá Kiểm rằng tôi không biết việc gì sắp xảy ra, có lẽ chỉ yêu cầu chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội cứu vớt thủy thủ Việt Nam nếu có tổn thất. Tôi không nghĩ rằng họ sẽ can thiệp vào chiến trận.
      Đại tá Ngạc báo cáo tiếp theo là các chiến hạm Trung Cộng đến quá gần chiến hạm Việt Nam, có ý khiêu khích và đôi khi làm cho các chiến hạm Việt Nam vận chuyển khó khăn vì chung quanh các đảo lại có rất nhiều đá san hô. Tôi gọi máy về Sàigòn thì đô đốc Chơn đang trên phi cơ trên đường ra Đà Nẵng, nhưng không biết lúc nào ông sẽ đến Đà Nẵng. Tôi nói chuyện âm thoại với đại tá Ngạc và ông nói rằng việc chạm súng chắc là không sao tránh khỏi. Tôi và đại tá Ngạc rất khó xử. Nếu Trung Cộng nổ súng trước thì chúng tôi không có gì phải tính toán và phải nổ súng tự vệ. Nhưng lúc ấy tổn thất sẽ rất nặng nề về phía Hải Quân Việt Nam. Không còn ai có thể giúp tôi quyết định. Tôi nghĩ là nếu Hải Quân Việt Nam nổ súng trước thì rất có lợi vì địch bị bất ngờ và ta làm chủ được tình hình. Trong đêm đại tá Ngạc và tôi nói chuyện với nhau rất nhiều vì cả hai đều lo âu, dù không nói ra, cả hai đều đoán là Trung Cộng sẽ không nhượng bộ như mấy lần trước khi chiến hạm ta đuổi tàu đánh cá của họ.

      Sáng ngày 19, tôi và đại tá Ngạc ở thường xuyên trên hệ thống âm thoại. Đến khoảng 10 giờ sáng, các chiến hạm Trung Cộng vẫn không thay đổi vị trí và bám sát chiến hạm Việt Nam. Tôi nhắc đại tá Ngạc chỉ thị là nếu dùng tín hiệu mà chiến hạm Trung Cộng không thi hành thì nhớ bắn trước mũi tàu họ trước chớ đừng bắn trúng họ. Đại tá Ngạc trả lời với tôi là không thể bắn dọa được vì các chiến hạm đôi bên đang ở vị trí quá gần nhau và ở thế “cài răng lược” tức là bạn địch ở vị trí xen kẻ với nhau, nếu tác xạ có thể trúng bạn.
      Toán đổ bộ của chiến hạm HQ 16 được lịnh trở ra chiến hạm. Nhân viên xuống xuồng cao su, nhưng xử dụng được có một chiếc cho nên nhân viên bơi giỏi, hy sinh và níu vào bè mà bơi theo.
      Tôi cảm thấy là không còn giải pháp nào khác, hoặc tấn công trước hoặc rời khỏi lãnh hải của mình để tránh đụng chạm. Lúc ấy tôi lại nghĩ ngay đến thủ bút của Tổng Thống. Nếu rời lãnh hải quốc gia bỏ đi là lịnh Tổng Thống sẽ không được thi hành. Rồi tôi sẽ trả lời ra sao với thượng cấp?

      Tôi với đại tá Ngạc bàn đi bàn lại nhưng không biết phải làm thế nào và rồi tôi chỉ nói với đại tá Ngạc là khi tình hình quá căng thẳng thì mình phải khai hỏa trước để giảm thiểu thiệt hại. Đại tá Ngạc đồng ý với tôi là chiến hạm Việt Nam phải khai hỏa trước. Tôi nhắc thêm đại tá Ngạc: “Anh nhớ hãy chỉ thị cho tất cả chiến hạm khai hoả cùng một lúc khi anh bắt đầu khai hoả!” với mục đích phân tán sự phản pháo của địch. Đại tá Ngạc trả lời: “Nhận rõ 5 trên 5.” Tâm trạng bồi hồi, một cảm giác mà tôi không bao giờ quên, nhưng vì không rõ vị trí của từng chiến hạm, qua máy âm thoại, tôi nói tiếp: “Tùy nghi khai hỏa khi nào anh sẵn sàng!”

      Vài phút sau, tiếng nổ chát chúa của các hải pháo vang dội trong máy truyền tin, dường như đại tá Ngạc hoặc nhân viên truyền tin cố tình bấm nút “on” để tôi có thể nghe, làm tôi vừa hãnh diện cho Hải Quân Việt Nam vừa lo sợ cho Hải Đội của đại tá Ngạc. Giọng đại tá Ngạc rất là bình tĩnh và nhà binh: “Báo cáo đã bắt đầu khai hoả!” Tôi trả lời ngay: “Tôi nghe tiếng súng rồi anh Ngạc”, và sau đó là một sự yên lặng trong khoảng năm mười phút, nhưng đối với tôi nó kéo dài như hằng giờ.

      Toán đổ bộ của HQ 16 trên xuồng cao su đang chèo ra khơi thì trận hải chiến bắt đầu, thình lình một tiếng nổ lớn vang rền, nhìn kỹ thì họ thấy đó là một tàu Trung Cộng bị trúng đạn của chiến hạm Việt Nam. Cả toán reo lên và vị trung úy chỉ huy kêu gọi cả toán cùng hát bài: “Việt Nam, Việt Nam!”
      Tôi không kể lại chi tiết trận hải chiến vì có những nhân chứng tại chỗ như trung tá Vũ Hữu San, Phạm Trọng Quỳnh, Lê Văn Thự, Ủy Ban Hải Sử cùng chiến sĩ Hải Quân khác đã kể chi tiết trong những tài liệu khác.

      Sau một thời gian mất liên lạc vô tuyến, đại tá Ngạc bắt đầu báo cáo tổn thất cả đôi bên. Về phía tàu Trung Cộng thì một chiến hạm bị bốc cháy và khi bỏ chạy bị rướn lên đá san hô. Về phần Hải Quân Việt Nam thì chiếc hộ tống hạm Nhựt Tảo bị trúng đạn ngay đài chỉ huy. Hạm trưởng bị tử thương và chiến hạm đang bốc cháy. Chiếc Lý Thường Kiệt cũng bị trúng đạn hải pháo bắt đầu nghiêng một bên. Đại tá Ngạc cho biết tình trạng chiếc Nhựt Tảo rất nguy ngập. Tôi chỉ thị nếu có thể được thì cho chiếc nầy chạy thẳng và ủi vào bờ để ít nhứt xác tàu là một chứng cớ chúng ta bảo vệ hải đảo. Tại chỗ chiếc Nhựt Tảo chìm thì một số thủy thủ đang lềnh bềnh trên mặt nước, người thì đeo phao, người thì bám vào tất cả những gì đang nổi trên mặt nước. Dã man nhứt là khi một số thủy thủ thuộc chiến hạm Nhựt Tảo đa số bị thương, bị tàu Trung Công bất chấp quy lệ về hải chiến tiếp tục bắn xối xả vào các chiếc bè, rất may chỉ có một nhân viên bị thương nhờ tất cả nằm sát xuống bè để tránh đạn. Tôi điện thoại về Bộ Tư Lịnh Hải Quân tại Sàigòn để xin cố vấn Hoa Kỳ can thiệp với Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ đến nơi để cứu vớt các thủy thủ Việt Nam đang bị nạn. Mãi đến mấy ngày sau, chiến hạm Mỹ vẫn không đến mặc dù các thủy thủ đang trôi trên biển trong hải phận quốc tế. Điều đó cho thấy là họ không muốn tham dự vào vụ tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng và hơn thế nữa họ cũng không có một hành động gì dù là một hành động nhân đạo.

      Tôi thấy tình hình sau đó trở nên bi đát ví như châu chấu đá voi, tới không được mà lùi cũng chết. Giải pháp duy nhứt mà một cấp chỉ huy tối thiểu phải làm là xin tăng viện. Bộ Tư Linh tăng phái thêm cho vùng I Duyên Hải hai chiến hạm nữa là tuần dương hạm Trần Quốc Toản (HQ 6) và hộ tống hạm Chí Linh (HQ 11).
      Sau khi nghe trận hải chiến bắt đầu, trung tướng Trưởng đáp trực thăng đến trung tâm hành quân của Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải và gặp tôi tại đó để nghe tôi trình bày tình hình. Lúc đó cố vấn Mỹ tại Sài gòn cho tôi biết, qua cố vấn của Hải Quân Vùng I Duyên Hải, có khoảng 17 chiến hạm Trung Cộng trong đó có 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa từ phía Bắc. Sau này theo tài liệu hải sử thì không có ghi là có tàu ngầm.
      Được tin trên, tôi có cảm giác ngay là nếu không khéo quyết định thì sẽ có một sự đụng độ lớn lao mà lần nầy sẽ là một thảm kịch cho lực lượng Hải Quân Việt Nam vì sự hiện diện của tàu ngầm. Ngay lúc đó, cố vấn trưởng Hoa Kỳ của Hải Quân Vùng I Duyên Hải bước vào Trung Tâm Hành Quân cho tôi biết phản lực cơ chiến đấu của Trung Cộng sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công hai chiến hạm vừa được tôi chỉ định hướng về Hoàng Sa để gia nhập Hải Đội của đại tá Ngạc. Tôi rất lo ngại vì nếu 5 chiến hạm Việt Nam còn lại bị hạm đội và phi cơ Trung Cộng đánh chìm và thêm 5 thủy thủ đoàn nữa bỏ mình theo chiến hạm thì phần trách nhiệm của tôi quá nặng nề để tôi có thể lấy quyết định một mình, trong khi đó đô đốc Chơn vẫn chưa thấy đến Đà Nẵng. Rồi tự nhiên tôi chợt nghĩ tới một người, không ai khác hơn là Tướng Nguyễn Đức Khánh. Từ Trung Tâm Hành Quân Hải Quân tại Tiên Sa, trước sự hiện diện của Trung Tướng Trưởng tôi gọi điện thoại cho Chuẩn Tướng Khánh, tư lịnh Sư Đoàn I Không Quân. Tướng Khánh xuất thân là phi công khu trục. Khánh và tôi là bạn thân và chúng tôi không ngần ngại mà giúp đỡ lẫn nhau khi hữu sự. Khánh đã chở tôi theo phản lực cơ oanh tạc A-37 trong các phi vụ tập dượt của ông. Khi được điện thoại của tôi, ông nói để ông bàn lại với đơn vị khu trục của ông rồi sẽ gọi lại.
      Khi Chuẩn Tướng Khánh gọi lại thì Trung Tướng Trưởng còn ngồi trong trung tâm hành quân. Ông Khánh bằng một giọng nói buồn cho tôi biết rằng ông có nói chuyện với vị chỉ huy Không Đoàn Khu Trục và được biết khu trục cơ F-5 của ông nếu ra Hoàng Sa chỉ chiến đấu được 15 phút vì sẽ không đủ xăng ở lâu hơn nữa. Tôi xoay qua hỏi Trung Tướng Trưởng nghĩ sao thì ông chỉ trả lời ngắn: “Tùy ông Thoại.” Tôi còn sợ một việc nữa là cuộc không chiến rất bất lợi về phía ta vì phi cơ Trung Cộng cất cánh từ Hải Nam gần hơn phi cơ của Không Quân Việt Nam cất cánh từ Đà Nẵng và cuộc chiến sẽ leo thang với mức độ mà chúng ta không lường trước được.

      Trận hải chiến thật sự chỉ kéo dài hơn ba mươi phút. Khi phi cơ của Đô đốc Chơn và sĩ quan tùy viên của ông chạm đất tại phi trường Đà Nẳng thì trận hải chiến đã coi như kết thúc. Chiến hạm Việt Nam không đuổi theo tàu địch mà chiến hạm Trung Cộng cũng không đuổi theo chiến hạm Việt Nam.
      Tôi gọi điện thoại về Bộ Tư Lịnh Hải Quân xin can thiệp với cố vấn Mỹ yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ vớt các thủy thủ Việt Nam, nhưng dường như họ được chỉ thị nên không một chiến hạm Mỹ nào đến gần nơi xảy ra cuộc hải chiến.
      Với những đe dọa từ phía Trung Cộng, sự không tham dự của quốc gia mà chúng ta gọi là “đồng minh”, sự từ chối của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ trong việc cứu người trôi trên biển, tôi cảm thấy ê chề, đau đớn cho các thủy thủ đang trôi trên biển với những vết thương mà máu ra là dấu hiệu cho cá mập. Và trong sự chán nản tột cùng, tôi chỉ thị các chiến hạm bị thiệt hại rời chiến trường để đưa các thủy thủ tử thương và thương binh lên bờ tại Đà Nẵng.

      Trớ trêu nhứt là 23 thủy thủ Việt Nam trôi dạt trên biển được tàu Skopionella của hãng Shell mang quốc kỳ Hòa Lan vớt, ngay sau trận hải chiến. Thương thuyền này đang trên đường từ Hong Kong đi Singapore. Trên tàu, các phu nhân của thuyền trưởng và thuyền phó chăm sóc các thủy thủ lâm nạn hết sức tận tình và tặng một số quà cho mỗi thủy thủ khi họ được giao lại cho đơn vị của Hải Đội I Duyên Phòng thuộc Vùng I Duyên Hải. Lúc ấy các nhân viên Hải Quân tham chiến đặt câu hỏi ai là “đồng minh” của ai?
      Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ 16) bị trúng đạn nghiêng một bên sau trận hải chiến nên rút ra ngoài và được lịnh về Đà Nẵng, nên mất liên lac với toán đổ bộ. Mười ngày sau, 15 thủy thủ trên xuồng cao su sống lây lất trên bè, thiếu thức ăn nước uống, trôi dạt về đến Qui Nhơn và được một thuyền đánh cá cứu vớt mà chỉ có một thủy thủ chết vì kiệt sức, làm như nhờ một phép lạ mà các bác sĩ lúc đó không giải thích được.
      Về phần trên đảo thì người nhái Hải Quân Việt Nam cũng chạm súng với toán đổ bộ của Trung Cộng bằng súng nhỏ. Trung úy Đơn, sĩ quan người nhái bị tử thương ngay lúc đầu khi xuồng cao su vừa đến bờ. Vì lực lượng người nhái Việt Nam quá ít nên sau cùng phải đầu hàng và bị bắt làm tù binh.

      Sáng sớm ngày 20 tháng 1, một hải đội tiếp viện hùng hậu của Trung Cộng trên mười chiến hạm bắt đầu đổ quân lên bờ tràn ngập hai đảo Cam Tuyền và Hoàng Sa. Toán đổ bộ của khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ 4) trên đảo Cam Tuyền cũng như nhân viên Đài khí tượng, địa phương quân và biệt hải trên đảo Hoàng Sa bị bắt làm tù binh, tổng cộng 43 người được đưa về tỉnh Quảng Châu, Trung Cộng. Viên cố vấn Hoa Kỳ đi theo chiến hạm cũng được đưa đi Trung Hoa Lục Địa. Tất cả được trao trả lại cho chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà, qua Hồng Thập Tự Quốc Tế, sau 27 ngày bị giam giữ nhưng họ được đối xử tương đối nhân đạo. Đề Đốc Lâm Nguơn Tánh được cử sang Hong Kong để tiếp nhận. Sự hiện diện của người Mỹ nói trên là một sự bối rối cho chánh phủ Hoa Kỳ kể cả chánh phủ Trung Cộng.

      Tại tân cảng Tiên Sa (hải cảng sâu), trong khi chờ chiến hạm Lý Thường Kiệt cập bến đưa thương bịnh binh về Đà Nẵng, tôi nói với đô đốc Chơn: “Tư Lịnh, sao tôi có linh tính là Mỹ sẽ bỏ Việt Nam, nếu không tại sao họ biết Hoàng Sa là của Việt Nam mà đài khí tượng tại đó đã được quốc tế công nhận từ mấy chục năm nay, mà ngày giờ nầy họ tuyệt đối yên lặng để Trung Cộng cưỡng chiếm. Phải chăng là trước khi bỏ miền Nam, họ không muốn Hoàng Sa lọt vào tay Nga Sô?” Đô Đốc Chơn, một tướng lãnh hết sức hiểu biết nhưng dè dặt trong mọi việc, khi nghe tôi nói ông lặng thinh một hồi rồi trả lời: “Tôi không nghĩ như vậy.” Rồi ông xoay qua đề tài khác.

      Khi chiến hạm Lý Thường Kiệt cập vào cầu tàu của tân cảng tại Tiên Sa, thì một cảnh tượng hết sức đau buồn diễn ra khi các băng ca đưa các nhân viên bị tử thương cũng như bị thương được đưa lên các xe cứu thương.
      Tôi đích thân ra tận phi trường Đà Nẵng để tiển đưa một số thương binh bị thương nặng lên máy bay về các bịnh viện ở Sàigòn.
      Vài ngày sau, Đại tướng Trần Thiện Khiêm, thủ tướng chánh phủ hướng dẫn một phái đoàn đến ủy lạo các thương binh còn lại tại bịnh xá Hải Quân Sơn Chà.
      Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị cũng đề cử một phái đoàn dưới sự hướng dẫn của Đại tá Trần Văn Triết, tham mưu phó chiến tranh chính trị của Bộ Tư Lịnh Hải Quân, ra Đà Nẵng phỏng vấn và quay phim, được tôi và đại tá Ngạc tiếp đón, thuyết trình diễn tiến trận hải chiến, trên sân thượng của tuần dương hạm Trần Bình Trọng.
      Thế là kết thúc một sự xâm lăng bằng võ lực của một cường quốc đối với một quốc gia nhỏ bé.

Sự tổn thất của đôi bên gồm:

Hải Quân Trung Cộng:
- Hộ tống hạm Kronstad 274 bị chìm, chiến hạm này do hạm trưởng đại tá Quan Đức chỉ huy, tử trận. Vì chiến hạm này là soái hạm nên hầu hết bộ tham mưu đều tử trận gồm:
Đô đốc Phương Quang Kính, tư lịnh phó của Hạm Đội Nam Hải của Hải Quân Trung Cộng, 4 đại tá, 6 trung tá, 2 thiếu tá, 7 sĩ quan cấp uý và một số đoàn viên.
- Hộ tống hạm Kronstad 271 hư hại nặng, ủi bãi sau đó phải phá hủy, hạm trưởng đại tá Vương Kỳ Uy tử trận.
- Trục lôi hạm 389 bị hư hại nặng, hạm trưởng trung tá Triệu Quát tử trận.
- Trục lôi hạm 396 bị hư hại nặng do đại tá Diệp Mạnh Hải tử trận, chỉ huy.

Hải quân Việt Nam Cộng Hòa:
- Hộ tống hạm Nhựt Tảo(HQ 10) bị chìm do Thiếu tá (truy thăng cấp trung tá) Ngụy Văn Thà chỉ huy, tử thương với 24 chiến sĩ khác hy sinh và 26 chiến sĩ mất tích. Hạm phó Đại uý Nguyền Thành Trí tử thương trên xuồng cao su sau khi chiến hạm chìm.
- Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ 4) bị hư hại với 2 chiến sĩ tử thương.
- Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ 5) bị hư hại với 2 chiến sĩ hy sinh.
- Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ 16) có một chiến sĩ hy sinh và 14 chiến sĩ khác trôi dạt trên xuồng cao su về Qui Nhơn.
- 2 nhân viên người nhái tử thương trên hải đảo.
28  quân nhân Hải Quân, Lục Quân và Địa Phương Quân Việt Nam bị bắt làm tù binh và đưa về Trung Hoa Lục Địa.

       Vào tháng 2 năm 1999, sau 25 năm mất liên lạc với nhau từ trận chiến Hoàng Sa, tôi có dịp sắp đi công tác tại Dallas thuộc tiểu bang Texas, tôi sực nhớ nghe nói đại tá Ngạc đang cư ngụ tại Dallas. Tôi hỏi thăm số điện thoại và liên lạc nói chuyện với đại tá Ngạc. Qua điện thoại tôi nói nguyên văn như sau: “Tôi rất mừng tìm được anh sau bao nhiêu năm chúng ta xa cách. Mỗi người nhìn sự việc xảy ra tại Hoàng Sa khác nhau, chỉ tôi và anh thấu rõ hoàn cảnh lúc bấy giờ, sự khó khăn của cấp chỉ huy trực tiếp chịu trách nhiêm trên mặt pháp lý cũng như quân sự. Tôi cám ơn anh giúp tôi thi hành trách nhiệm của tôi lúc bấy giờ trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và nguy hiểm. Anh là một anh hùng trong lịch sử hải chiến.” Đại tá Ngạc bằng một giọng bình thản trả lời tôi qua điện thoại từ Dallas: “Đã là ở trong quân ngũ, đô đốc là cấp chỉ huy chiến thuật mà tôi thấy đô đốc lúc đó cần tôi và tin tôi, đó mới là điều quan trọng, tôi cố gắng làm tối đa cái gì tôi làm được nhưng hậu quả nhiều khi mình không biết trước được.”
      Cuộc điện đàm rất là thân mật và cảm động, tôi cho Đại tá Ngạc biết là ngày 27/2 tôi sẽ đi công tác tại Dallas và sẽ gặp ông ngày hôm đó. Đại tá Ngạc rất mừng và nói: “May quá, vì cuối tháng này chúng tôi sẽ dọn đi California.” Tôi không dè đại tá Ngạc qua đời một cách đột ngột vài ngày sau khi nói điện thoại với tôi và đúng 15 ngày trước ngày hẹn gặp tôi. Có lẽ tôi là người hải quân cuối cùng mà đại tá Ngạc nói chuyện  trước khi rời gia đình và chiến hữu để ra đi vĩnh viễn.

       Niềm an ủi của tôi là được nói những gì tôi muốn nói với đại tá Ngạc từ Tết năm 1974, hai mươi lăm năm về trước. Sự hy sinh của các thủy thủ can trường vẫn còn là một bằng chứng bằng xương bằng máu để con cháu chúng ta tranh đấu trước toà án quốc tế, để đòi hỏi Trung Cộng phải giao trả các đảo này cho Việt Nam.
      Ai là người Việt Nam có quyền hãnh diện là trận hải chiến Hoàng Sa là một trận hải chiến duy nhất của Việt Nam và của thế kỷ, chống ngoại xâm, và bảy thế kỷ sau khi Tướng Trần Hưng Đạo đánh bại quân Mông Cổ từ phương Bắc, trên mặt nước.
      Còn những ai nghĩ là Việt Nam Cộng Hòa còn lệ thuộc Mỹ phần nào thì đây là bằng chứng rõ rệt là việc tấn công lực lượng Trung Cộng là hoàn toàn do tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lịnh, không có sự đồng ý của Hoa Kỳ và không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ dù là nhân đạo tối thiểu như vớt người trôi trên biển cả.

     Sau này, rất nhiều báo chí sách vở bình luận về hải đảo Hoàng Sa và trận hải chiến và phê phán nhiều, kẻ kể công người buộc tội, riêng tôi thì chúng ta không nên quên là dù chúng ta có bốn thủy thủ đoàn can trường tham gia cuộc hải chiến nhưng các chiến hạm của ta vừa cũ kỷ (từ Đệ Nhị Thế Chiến) không có đầy đủ vũ khí tối tân, kể cả đầy đủ phương tiện cấp cứu và cũng không có một lực lượng trừ bị để tăng cường khi cần. Việc súng bất khiển dụng bất thần hoặc đạn bạn bắn trúng bạn là chuyện không sao tránh khỏi trong mọi chiến trận dù là trên đất liền, trên không trung hay trên mặt biển trong lúc chạm địch.

      Đại tá Hà Văn Ngạc, vị hải đội trưởng trầm lặng, các hạm trưởng Nguỵ Văn Thà, Vũ Hữu San, Phạm Trọng Quỳnh, Lê Văn Thự cùng thủy thủ đoàn cũng như các người nhái và biệt hải tham dự trận Hoàng Sa xứng đáng là những anh hùng của Quân Lực Việt Nam.
      Hải Đội Việt Nam Cộng Hòa nổ súng chỉ là một hành động “tượng trưng nhưng cứng rắn” để chứng tỏ sự bảo vệ chủ quyền các đảo Hoàng Sa chớ không có mục tiêu hủy diệt hải đội của Trung Cộng.
      Tổng thống Thiệu bị ở trong thế “chẳng đặng đừng.” Không phản ứng gì hết thì lịch sử sẽ kết tội hèn nhát, mà đụng độ với hải quân của một cường quốc như Trung Cộng thời bấy giờ là một quyết định táo bạo và can trường.

      Tinh thần yêu nước không cần được biểu lộ bằng những lời tuyên bố mát tai của những chính trị gia, mà được biểu lộ một cách cảm động và hùng hồn nhất, bởi những thủy thủ của toán đổ bộ của tuần dương hạm Lý Thường Kiệt vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 19 tháng giêng năm 1974 tại Hoàng Sa trên xuồng cao su, khi 15 chiến sĩ hải quân can trường đồng ca bài “Việt Nam, Việt Nam” khi thấy chiến hạm Trung Cộng bị trúng đạn của chiến hạm Việt Nam. Bài hát này cũng là bài hát cuối cùng của hạ sĩ Nguyễn văn Duyên, vì sau mười ngày trên biển cả, ngày thì nóng cháy da, đêm thì lạnh thấu xương, hết lương thực, hết nước uống, đuối sức, anh Duyên đã trút hơi thở cuối cùng khi trôi dạt về tới Qui Nhơn...

                                             

   > Phỏng Vấn Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (youtube) - SBTNDC - Nam Anh thực hiện

         Hoa Thịnh Đốn: Lễ Tưởng Niệm 40 Năm Trận Hải Chiến Hoàng Sa

IMG_0164_1

" Hội Hải Quân và Hàng Hải Miền Đông Hoa Kỳ với sự phối hợp của Cộng Đồng Hoa Thịnh Đốn, Maryland và Virginia, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn và phụ cận, với sự hỗ trợ của nhiều hội đoàn trong vùng đã trang trọng tổ chức "Lễ Tưởng Niệm bốn mươi năm trận hải chiến Hoàng Sa". Buổi lễ được tổ chức vào lúc 11 giờ trưa ngày 18 tháng 1 năm 2014 tại Jewish Community Center, Fairfax, Virginia.

Hiện diện có hơn ba trăm quan khách tham dự, trong đó có Trung Tướng Lữ Lan, Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Hoà Thượng Thích Tâm Thọ, Linh Mục Hoàng Văn Thiên, Chánh xứ Nhà Thờ Các Thánh tử đạo ở Arlington, VA, các Đạo hữu thuộc Giáo Hội Cao Đài Hải Ngoại, HQ Đại Tá Ngô Khắc Luân, Niên trưởng Bùi Ngọc Hương, Hàng Hải Thương Thuyền, HQ Đại Tá Bùi Cửu Viên, HQ Đại Tá Đặng Trần Du, HQ Đại Tá Bùi Hữu Thư, Ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch CĐVN/HTĐ, MD&VA, Tiến sĩ Tạ Cự Hải, Chủ tịch LHCCS/VNCH/HTĐ & Phụ Cận, nhiều quân nhân các Quân Binh Chủng của QLVNCH như Gia Đình Mũ Đỏ, Thủy Quân Lục Chiến, Cảnh Sát Quốc Gia, Xây Dựng Nông Thôn, Hội Cựu sinh viên sĩ quan Thủ Đức, Hội cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị Quốc Gia… cùng rất nhiều niên trưởng và quân nhân Hải Quân, các chị trong Hội Bà Mẹ VN, Gia đình nữ sinh Trưng Vương, Hội “Cư An Tư Nguy” (Gia đình cựu Sinh Viên Trừ Bị Thủ Đức), các chị Hội Phụ nữ Lâm Viên… (Gia đình cựu Sinh Viên SQ Võ Bị Quốc Gia Việt Nam).

Mở đầu, linh vị 74 anh hùng tử sĩ Hải Quân được các quân nhân Hải Quân trong quân phục trắng và quốc phục Việt Nam trang trọng rước lên an vị trên bàn thờ. Trên bàn thờ có 74 ánh nến lung linh tương trưng cho anh linh của các chiến sĩ đã hy sinh trong trận Hải Chiến Hoàng Sa. Sau nghi lễ chào  quốc kỳ rất trang nghiêm, ông Nguyễn Văn Thành, Hội trưởng hội Hải Quân & Hàng Hải Miền Đông Hoa Kỳ, kiêm Trưởng Ban tổ chức Lễ Tưởng Niệm chào mừng quan khách và ông nói, trận hải chiến khốc liệt Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974 là niềm hãnh diện không riêng của quân chủng Hải Quân VNCH mà là của dân tộc Việt Nam. Mặc dù so sánh tương quan lực lượng thì Hải Quân VNCH chống lại Hải quân Trung Cộng là “châu chấu đá voi” nhưng châu chấu đã đá voi đến hơi thở cuối cùng!

 Sự chiến đấu anh dũng đó thể hiện lòng quyết tâm bảo vệ vẹn toàn lảnh thổ của dân tộc Việt Nam. Nhân dịp này, ông xin phép tất cả cùng tưởng niệm đến các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vị quốc vong thân."

                   > Mời đọc: toàn bài tường thuật (nguồn: website VietDC.org)

   

                                   TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA
                     DƯỚI MẮT MỘT NGƯỜI CÒN SỐNG SÓT
                    Chuyện thật xảy ra vào trung tuần Tháng Giêng năm 1974
                                              Phó thịnh Đường

Lời Giới Thiệu:
Tất Ngưu là người bạn cùng lớp (Khóa 20) trường Hàng Hải Thương Thuyền (HHTT) - Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, Việt Nam.  Chúng tôi tốt nghiệp vào lúc nước nhà thất điên bát đảo, kiệt quệ trong khói lửa chiến tranh.   Mộng tìm việc làm trên các thương thuyền tan theo mây khói.  Cùng một số bạn cùng khóa chẳng hạn như Nguyễn Văn Kết, Trần Minh Trung, Phạm Tánh Dược, Nguyễn Chánh Nghĩa ,… chúng tôi đành lên đường nhập ngũ tòng chinh.   Một số anh em cùng với tôi đã gia nhập Hải Quân và Quân Vận VNCH với hy vọng có cơ hội áp dụng những kỹ thuật hải hành hấp thụ được ở trường HHTT.  Thế rồi trong một trận hải chiến, chiến hạm bị đánh đắm.   Lênh đênh trên biển cả ba đêm, bốn ngày không thực phẩm và nước uống,  Tất Ngưu đã chết đi rồi sống lại.
Là người may mắn được xem bài tường thuật trong quyển nhật ký được cẩn thận giữ gìn hơn 32 năm qua, tôi đã xin và được anh cho phép đăng tải nguyên văn.
Xin nói thêm là đối với một người đã một lần chết đi rồi sống lại như anh, danh lợi chỉ là chuyện phù phiếm.  Anh đang có một cuộc sống bình dị, thoải mái, không màng đến vinh hoa phú quý. Đăng tải bài tường thuật này là việc ngoài ý muốn của anh, nhưng bởi sự yêu cầu khẩn khoản của tôi,  anh đã đồng ý.   Dẫu sao đây cũng là một dịp để xác nhận chiến công của những chiến sĩ vô danh và các đồng đội mà anh còn nhớ tên trong đó có Trung Sĩ Trọng Pháo (TSTP) Xuân, Hạ Sĩ Nhất Vận Chuyển (HS1VC) Tây, Hạ Sĩ vận Chuyển (HSVC) Sáu, và còn nữa...
Cũng nhân tiện chúng tôi thuộc khóa đàn em Hàng Hải Thương Thuyền (HHTT) xin được cảm kích chiến công của HQ Tr/úy Cơ Khí (CK/HHTT) Huỳnh Duy Thạch là đàn anh (thuộc khóa 13 HHTT), nguyên Cơ khí Trưởng của Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ10 đã đi theo chiến hạm vào lòng đại dương.
Xin độc giả dành cho anh Tất Ngưu và các đồng đội của anh sự tri ơn thành thật nhất.  Riêng tôi, xin "thẩm quyền nước Việt" trao đến các anh bằng Tưởng Lục cao quý nhất, Anh Dũng Bội Tinh, và Đệ Nhất Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, và hằng mong Thượng Đế, Trời, Phật luôn theo sát phò hộ các anh.
Phó Thịnh Đường (nguyên Hải Quân Thiếu Úy Hàng Hải Thương Thuyền)
Florida, Spring 2006

Bổ túc chi tiết:
Trước trận hải chiến, Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11 hiện diện tại quân cảng Đà Nẵng.   Lúc trận chiến diễn ra, HQ11 đã rời bến đi tăng viện Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10.  Khi rời bến HQ11 đã nhận giữ thư từ của HQ10.  Giữa đường đến quần đảo Hoàng Sa,  để tránh không tập của địch và bảo toàn lực lượng, HQ11 đã được lệnh gọi quay trở về.  Trên HQ11 có HQ Th/úy HHTT Nguyễn văn Kết.  Mới đây Kết có gởi cho Tất Ngưu một điện thư như sau.
(E-mail ngày 30 tháng 3 năm 2006)
Không biết là Tất Ngưu có biết  (hay có nhớ) rằng tớ là người đầu tiên nghe danh sách các chiến sĩ của HQ10, được tầu buôn Hòa Lan vớt lên …
Hôm đó tớ đi ca đêm trên Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11, khi anh hạ sĩ trực máy truyền tin nhận được tín hiệu từ tầu buôn Hòa Lan, tớ liền lên máy. Bên kia là một giọng nói Việt Nam, đọc cho tớ nghe tên của các chiến sĩ được vớt lên tầu …
Tớ không thể nào diễn tả được cảm xúc của mình lúc đó khi nghe tên của Chuẩn úy Tất Ngưu được đọc lên trong máy …
Ký tên,             
Nguyễn văn Kết 

Sau đây là tên các chiến sĩ sống sót được chép lại từ quyển nhật ký của Tất Ngưu:
Danh sách thủy thủ đoàn thuộc Hộ Tống Hạm NHẬT TẢO HQ10 đã trở về sau trận hải chiến Hoàng Sa:
 
1 Trung sĩ Bí Thư TSBT Võ văn Bằng
2 Trung sĩ Tiếp Vụ TSTV Đỗ kim Hoàng
3 Hạ sĩ 1 Trọng Pháo HS1TP Nguyễn văn Tám
4 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Trần ngọc Sơn
5 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP  Phạm văn Lợi
6 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Võ văn Tuấn
7 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Lê tấn Hưng
8 Hạ sĩ Trọng Pháo HSTP Vương văn Và
9 Hạ sĩ 1 Cơ Khí HS1CK Lưu tố Nữ
10 Hạ sĩ Cơ Khí HSCK Nguyễn hồng Cứng
11 Hạ sĩ Cơ Khí  HSCK Huỳnh văn Hòa
12 Hạ sĩ Tiếp Vụ HSTV Nguyễn văn A
13 Thủy thủ 1 Cơ Khí TT1CK Trần văn Hà
14 Hạ sĩ Bí Thư HSBT  Đỗ văn Thành
15 Thủy thủ 1 Thám Xuất TT1TX Trương văn Long
16 HQ Trung úy K8/OCS Hà đăng Ngân
17 HQ Trung úy K20/NT  Phạm văn Thì
18 HQ Trung úy K1/70 ĐB Ngô văn Hòa
19 HQ Trung úy  K25/VBĐL Nguyễn đông Mai
20 HQ Thiếu úy  K24/NT  Phạm thế Hùng
21 HQ Chuẩn úy  K1/IOCS Tất Ngưu

 

                                      TRẬN  HOÀNG  SA

                                                
                                      Nhật Ký của Tất Ngưu

Sài Gòn ngày 30 tháng 5 năm 1974,

 Tôi đã sống lại một kiếp sống thứ hai.  Phải, tôi đã thoát chết, đã kinh nghiệm một cái sống khi tôi không còn một tia hy vọng trong trí não.  Nhưng thật sự tôi đang còn đây, và tôi sẽ thuật lại một trận chiến hãi hùng đầy cam go, và một cuộc sống lênh đênh trên mặt biển liên tục bốn ngày ba đêm trên một con bè với một túi thực phẩm chỉ gồm kẹo và nước uống.

 “Te-Tít … Te-Tít … Te-Tít …Te-Tít … Te-Tít … Nhiệm sở vận chuyển.”
Hạm trưởng hiên ngang đứng trên đài chỉ huy ra lệnh tháo giây.  Một số anh em khấp khiểng chạy về chiến hạm.  Họ vừa đi nhậu về, hôm nay mới lãnh lương mà. Nhân viên trên tầu chỉ có thế, lãnh lương ra thì lại đi uống rượu.
“Nhanh lên, tầu rời bến, nhanh lên !”
“Tủm !”
“Ối !”
Anh HS1TP Tám chếnh choáng rơi tùm xuống nước.  Tôi thấy hạm kiều náo động, nghe tiếng hối thúc:
“Thả phao”,  “Vớt người”, …
Đó phải chăng là một điềm chẳng lành.
Chiến hạm chúng tôi (HQ10) sau một đêm lình bình tuần tiễu tại cửa Đà Nẵng, nhận lệnh theo HQ 5 trực chỉ quần đảo Hoàng Sa.  Nhiệm vụ của chúng tôi là yêu cầu các thuyền đánh cá của Trung Cộng rời khỏi thềm lục địa của đảo Quang Hòa (Duncan).
 “Chuẩn Úy,  Chuẩn Úy, tới giờ đổi ca”.   Mắt nhắm mắt mở tôi nhìn đồng hồ.   Đã 2345H (11 giờ 45 đêm) rồi, nhanh nhỉ.  Thời tiết tháng Giêng còn hanh lạnh, tôi khoác thêm một chiếc áo choàng mầu navy blue.   Nhận ca, tôi được biết chiến hạm đang thả trôi tại quần đảo Hoàng Sa.  Cùng có sự hiện diện của cả khu trục hạm HQ4, hai tuần dương hạm HQ5, và HQ16.
Trong suốt ca trực từ 2400H đến 0400H, tôi cùng HSTP Lợi nói chuyện vui với nhau.  Anh này vừa mới tân đáo và đây là chuyến công tác đầu.  Tôi nghe anh ta kể lại những ngày huy hoàng sống ở giang đoàn.  Nào là bắt những con tôm càng, thịt, bánh mì sandwich, v.v… Nghĩ mà thú nhỉ !
Vào khoảng 0100H, tôi nhận được chỉ thị - không đúng - một công điện khẩn thì đúng hơn:  “0600H GIỜ THI HÀNH”.  Tôi trình công điện lên hạm trưởng.  Đêm đó hạm trưởng an giấc tại phòng vô tuyến phụ, cạnh đài chỉ huy.  Thời gian đi như chợp mắt,  mới đó mà đã đến gần 0400H rồi.  Tôi gọi:
“Anh Lợi ơi, xuống gọi Th/úy Mai lên đổi ca giùm đi!”
Thế rồi hạm trưởng thức giấc.  Đứng trên đài chỉ huy, ông ngó nhìn xung quanh để quan sát vị thế, rồi ra lệnh kéo còi nhiệm sở tác chiến.   Một hồi còi rợn người nổi lên:   “ Tít … Tít … Tít … Tít … Tít … Tít…”  Tiếng của hạm trưởng vang trên hệ thống nội thông :
“Đây là Hạm Trưởng”
“Nhiệm sở tác chiến, nhiệm sở tác chiến”
“Tất cả vào nhiệm sở tác chiến”
“Nhiệm sở tác chiến”
“Tất cả vào nhiệm sở tác chiến”.     “Tít … Tít … Tít … Tít … ……”
Tất cả anh em thủy thủ đoàn vội vã thức giấc.  Ai nấy vào nhiệm sở của mình.  Riêng tôi, vừa đi xong ca cách mạng (phiên trực hải hành từ nửa đêm đến tờ mờ sáng) lại vướng vào nhiệm sở tác chiến, cảm thấy mệt đừ.  Ngay sau đó:
“Nhiệm sở phòng không”   “Nhiệm sở phòng không”
Tôi thấy ngay lập tức những nòng súng rợp rợp hướng lên trời góc 45 độ,  nào là các đại bác 76 ly 2, bô-pho 40 ly, 20 ly, đại liên 30, súng cối 81 ly.
“Đài chỉ huy, đây sân mũi, 76 ly,  2 cò điện bất khiển dụng”
“Thôi được, cho dùng cò chân”
“Đài chỉ huy, đây 41, 42  tôi phát hiện một phi cơ bay từ ánh trăng hướng về phía ta, hướng 3 giờ.”
“Đài chỉ huy nghe rõ, tất cả các khẩu hướng về hướng 3 giờ”
“Đài chỉ huy, phi cơ bay vào mây và mất dạng”
Toàn thể nhân viên chiến hạm cứ luôn ở vào một tình trạng căng thẳng.  Chắc hẳn mọi người, ai cũng đang linh cảm rằng một cuộc hải chiến sẽ xảy ra. Có lẽ cũng giống như các bạn đồng đội, đầu óc tôi đang nghĩ đến một chiến thắng huy hoàng, một ngày về với bộ tiểu lễ trắng tinh, hiên ngang đứng giữa hàng quân, trên ngực đầy những huy chương. Tất nhiên, không ai nghĩ đến hậu qủa của một cuộc chiến:  thương vong.
 Khoảng thời gian từ 4 giờ sáng đến 6 giờ sáng ngày 19 tháng Giêng, chiến hạm vẫn tiến, và nhân viên vẫn cảnh giác trước phi cơ của địch.   Trời lờ mờ, chưa tỏ hẳn ánh dương, hải đội của ta lập thành một đội hình.  Bên địch (Trung Cộng) cũng gồm bốn chiến đỉnh 389, 396, 271, và 274, vẫn chạy đan qua đan lại có vẻ như muốn khiêu khích.  Lắm lúc như muốn đâm thẳng cả tầu vào chiến hạm của ta.  Sau một thời gian kèm sát bên nhau, địch và ta dường như đang tìm những vị thế thích hợp để công kích nhau.
Sau một loạt đèn hiệu được choé sáng, từ đảo nọ bốn chiếc tầu đánh cá hướng về phía Bắc, di tản, và bốn chiến  đỉnh  của họ  vận  chuyển  song song  để bảo vệ.
Thế rồi anh em trên chiến hạm thoáng nét vui mừng.
Ồ! họ đã chịu lui bước, trả lại mảnh đất cho chúng ta.  Nào ngờ sau khi bốn tầu đánh cá đi khá xa, bốn chiến đỉnh địch quay đầu trở lại với lối vận chuyển đầy khiêu khích.   Chiến hạm lại nhận được lệnh chuẩn bị tác chiến.  Tất cả nòng súng hướng vào phiá đảo để tránh sự khiêu khích với tàu địch.  Trên tầu anh em xôn xao căng thẳng, chỉ chờ một hiệu lệnh tác xạ ban ra là những viên đạn vô tri này sẽ phá tan một hòn đảo nhỏ bé ngoài khơi, và bao nhiêu nhân mạng trên đảo sẽ bị chôn vùi dưới lòng đại dương.
Trông chờ mãi, khẩu lệnh vẫn chưa được ban hành,  thủy thủ đoàn có phần nản chí, không còn vẻ hăng say của thoạt đầu, xem những cuộc quần thảo giữa địch và ta như trò đùa.   Anh em trở nên chán ngán, quên hẳn sự căng thẳng giữa địch và ta, bẵng đi việc sẵn sàng của nhiệm sở tác chiến.   Một số nhỏ hớ hênh để súng cá nhân xuống sàn tầu rồi cùng trò chuyện vui đùa với nhau.  Thức dậy từ lúc tờ mờ sáng đến giờ không có gì lót dạ,  anh em chúng tôi cảm thấy đói, riêng tôi như thấy kiến bò trong bụng, may quá chúng tôi được lệnh luân phiên nhau vào nhà ăn để dùng cháo.
“Th/úy Mai. Anh vào dùng trước, tôi sẽ ăn sau.”
Khi  Th/úy Mai  vừa  dùng  diểm  tâm  xong, chúng  tôi được lệnh tác xạ mà mục tiêu là các chiến hạm địch:  Bất kể nơi nào, thấy chiếc nào trong tầm thì cứ bắn, mục tiêu chính yếu là chiếc dương tốc đỉnh 396.
Và rồi những nòng súng nay đã được hướng vào chiến hạm địch.  Rồi những chiến hạm của địch và ta lại tiếp tục quần thảo nhau.
Vào khoảng sau 0900H, một lệnh “BẮN” được ban hành mà tôi nghe được qua chiếc headphone.  Riêng tôi, trong nhiệm sở tác chiến là sĩ quan đảm trách 2 khẩu 20 ly và súng cối 81 ly ở sân sau.  Tôi vội vã hô to:
“Bắn, bắn nhanh lên”.
Những tiếng súng ầm ầm vang dội, những tia sáng thi nhau bay về phía địch, những đóm lửa lần lượt bao chụp lên chiến hạm địch.
TSTP Xuân hiên ngang đưa khẩu 20 ly qua lại,  bắn liên hồi.
“Tạch … Tạch … Tạch …”
“Ối ! sao khẩu 20 ly không bắn nữa ?”
“Thưa Ch/úy, súng trở ngại tác xạ”
“Trở ngại thế nào ?”
“Kẹt đạn”
“Bắn một nòng”
“Tạch … Tạch … Tạch …”
“Hết đạn”
“Nằm xuống, để tao”,  Hạ sĩ nhất vận chuyển Tây thét lên, gạt Xuân ra, dựt lấy khẩu 20 ly.
“Tạch … Tạch …Tạch ..”
Trong khi đó HSVC Sáu lom khom chạy qua chạy lại lấy đạn 81 ly nạp vào khẩu súng cối.
 “Ầm!”  “Ầm!”
Tầu địch bốc cháy.  Tôi thấy những viên đạn trọng pháo lớn nhỏ đua nhau bám vào tầu địch.
“Rầm !!!”
Có giọng nói giữa đám anh em đang hỗn loạn:
“Tàu Trung Cộng đổ bộ, anh em cẩn thận”.
Một loạt đạn M16 túa bay ra từ đài chỉ huy.  Nhìn phía trước, tôi thấy mũi tầu của ta đâm vào tầu địch.  Thế rồi hai tàu từ từ dang ra.  Tàu ta bất khiển dụng cả hai máy chánh, cứ vậy mà  trôi lênh đênh.
 Sau khi hai chiếc tàu đụng nhau, tiếng súng lớn dường như im bặt, chỉ còn nghe những tiếng súng nhỏ.  Giai đoạn hải chiến hình như chấm dứt.  Anh em đồng đội chuẩn bị cứu thương lẫn nhau.  Hầm máy đang cháy, nhân viên phòng tai lo cứu hỏa.  Một số nhân viên cơ khí chết thui dưới hầm máy.  Những anh còn tỉnh thì được kéo lên boong chánh.  Trung úy Huỳnh Duy Thạch (cùng là đàn anh của tôi xuất thân từ trường Việt Nam Hàng Hải Thương Thuyền, cũng là Cơ Khí Trưởng của chiến hạm HQ10, chẳng may đã tử trận trong hầm máy.  Ôi ! tiếng rên la áo não ngần nào.  Đài chỉ huy hoàn toàn tê liệt, cả cầu thang từ trung tâm chiến báo (CIC) lên đài chỉ huy cũng bay mất một góc.


 
Phòng y tá hoàn toàn thiêu trụi.  Trong phòng ăn sĩ quan (được sử dụng làm trung tâm phòng tai), sĩ quan phòng tai HQ Thiếu Úy Bửu (Khóa 25/Võ Bị Đà Lạt) đang rên la với một chân trái bị bay mất, máu ướt đẫm người. Vừa được đưa ra đến sân sau, anh đã trút hơi thở cuối cùng.  Các anh em bị thương khác không có thuốc men cấp cứu gì hơn, chỉ dùng vạt áo để băng bó.
“Ồ ! HQ16 , anh Thương hãy đánh SOS cho họ đến tiếp cứu!”
Chúng tôi đánh hiệu bằng cờ, nhưng HQ16 đã quay đầu đi thẳng trong sự thất vọng hoàn toàn của chúng tôi.  Những tiếng súng lại bắn vang, cùng với những tiếng nổ trên tàu.  Chính lúc này Thiếu Tá Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà đã anh dũng hy sinh trên đài chỉ huy.  Tôi còn nhớ là đài chỉ huy trước khi bị tê liệt hoàn toàn đã ra lệnh cho chúng tôi đào thoát.  Những giòng tư tưởng quay cuồng trong tôi.  Thế còn tàu?  và nếu có đào thoát, chắc hẳn có sống không? Rồi tôi tự nhủ rằng HQ16 sẽ quay lại cứu mình.
Những tiếng súng lại vang lên, tiếng nổ trên tàu lại tiếp diễn.  Nhìn  ra  phía  sau, hai  chiến  hạm  địch  lù lù tiến đến, hướng về phía mình.  HQ16 di tản càng ngày càng xa.  Trên boong thây xác ngổn ngang, chiến hạm trơ trơ mặc sóng gió đẩy đưa. Trên mặt biển, đồng đội lô nhô trên những bè cấp cứu.  Ôi thay! tôi tự hỏi mình có nên đào thoát hay không.
 Hạ sĩ nhất cơ khí Nữ chạy đến với giọng rung rung:
“Ch/úy.  Ch/úy biết bơi có gì Ch/úy kéo hộ tôi nhé!”
“Rồi cứ nhẩy đi, tôi sẽ kéo ra bè cho.”
“Ch/úy, phao này cho hơi vào cách nào ?”
Tôi bèn kéo chốt cho hơi vào phao và nói anh ấy nhẩy đi.  Một chốc sau ngó xuống nước tôi lại không thấy anh ta đâu nữa.  Tôi đoán có lẽ vì sóng to quá nên anh ta dạt vào thành tàu.  Ngay lúc đó, anh TSVC Đa và HSCK Hòa hấp tấp chạy đến:
“Ch/úy nhẩy nhanh lên, kho đạn 20 ly và 40 ly nổ, nhẩy nhanh lên!”
TSVC Đa, HSCK Hòa, và tôi cùng nhảy xuống.  Tôi hoảng khi thấy bè thì quá xa, sóng lại to, ngẩm không biết mình có thể bơi ra đến nơi không.
Xin mở ngoặc nơi đây là: Trước khi đào thoát, tôi có gọi luôn cả HS1VC Tây cùng nhẩy, nhưng anh ta trả lời rằng: “Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với Trung Cộng. Ch/úy cứ nhẩy đi.”
Thật đúng y như câu nói của người xưa:  “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.  Chẳng biết HS1VC Tây có được đến trường để học và thấu hiểu câu nói thâm thúy này không?  Anh có nghe ai bàn về câu nói ấy không?  !! Thế mà anh đã thực hiện được sự việc đó mới là hay chứ.  Việc mà chỉ có những đại anh hùng, các bậc trượng phu không biết “tham sinh úy tử” là gì họa may mới làm được.  Thật là anh hùng.  Tôi xin ngã mũ.
Lớp ngớp trên mặt biển, bơi mãi vẫn không đến bè được, tôi mới tiếc rẻ: “Ối ! phải biết ở lại tàu còn hơn!”  Chất thuốc mầu vàng của bao thuốc trị cá mập trong phao cá nhân của tôi đã được bật ra,.  Thuốc hòa lẫn với nước biển biến thành một vũng mầu xanh lá cây.  Tôi cứ bơi, bơi mãi, bè cứ dạt xa. Mỗi lần sóng đánh đến, nước biển lại tràn vào miệng cùng với thuốc trị cá mập, có vị đắng đắng cay cay,  Ôi ! hơi sức nào để ý  đến nữa, mục đích là sự sống.  Chỉ làm cách nào bám vào được bè, mạng sống mới có thể vãn hồi.  Nhưng mệt nhừ rồi, còn sức đâu nữa mà bơi ra bè.  Không, ta phải sống, bản năng sinh tồn lúc đó không cho phép tôi ngừng, cứ bơi, bơi mãi, đến khi bám được bè, nhìn thấy mặt anh em, tôi ngất đi trong giây lát.  Phải chăng lực tiềm tàng trong cơ thể đã cạn, hay là ta đã tìm thấy sự sống nên lực đó không cần thiết nữa.  Khi được kéo lên bè, người tôi lã đi vì đói khát mệt mỏi.
Thật là “họa bất đơn hành”, sau khi ngồi yên trên bè, kéo chung những bè lại, nhìn về hướng tàu, trong khi hai chiếc tốc đỉnh của Trung Cộng sân sân tiến tới, khẩu 20 ly trên HQ10 cứ nổ vang.  Hai chiến hạm của TC cũng không vừa, cứ vừa tiến vừa tác xạ, thế rồi khẩu 20 ly đành im bặt.  Những tiếng súng sau cùng đó...  Hỡi ơi ! anh Tây, anh Sáu, các anh đã hy sinh đền nợ nước cùng một số đông các chiến sĩ bất tử của HQ10.  Các anh ngã mình một cách anh dũng, nhưng có ai biết đến, chỉ có những đồng đội cùng tàu với hai anh mới thấu hiểu.  Nói đến sự hy sinh chiến đấu vô vọng, tôi biết rằng giá trị còn tùy thuộc quan niệm của mỗi con người.  Có người cho rằng: “Quân tử phục thù, thập niên vị vãn”.  Nhưng theo tôi, các anh là những tấm gương anh dũng rạng ngời.  Đúng như vậy, anh Tây rất xứng với dòng chữ xâm trên tay “Mặc Thế Nhân”.  Thân xác hai anh giờ này đã chôn vùi dưới đáy biển Hoàng Sa cùng với chiếc tàu thân yêu HQ10.  Ước gì tên tuổi của hai anh HS1VC Tây và HSVC Sáu được lưu mãi trong sử xanh.

 

Hai chiến hạm của dòng khát máu Cộng Sản Trung Cộng vẫn không buông tha một chiến thuyền đã đang bốc cháy và bất khả vận chuyển.  Chúng cứ luân phiên nhau vây đánh chiếc HQ10, sau đó quay đầu tiến đến bè của chúng tôi.  Chúng tôi nghĩ là nếu họ tác xạ mình thì anh em lại đào thoát lần thứ hai.  Mắt Thượng Đế vẫn còn đây, bầu trời xanh lồng lộng còn đó, mọi sự đã an bài sẵn.  Tôi tự nhủ hãy phó thác mạng sống mình cho Trời Phật.  Số đã sống thì không thể chết, số chết thì không sao cứu vãn được. May thay họ lại bỏ đi.  (Tôi nghĩ rằng không phải họ vì nhân đạo - cộng sản làm gì có nhân đạo - lý do chính là chung quanh đây chỉ có những đảo mà họ chiếm và cả một mặt biển rộng mênh mông.  Họ chẳng cần vớt người làm chi cho nhọc công, để chúng tôi chết dần mòn khỏi phải mang tiếng với quốc tế.)
Qua cơn bỉ cực đầu tiên, tôi phải đương đầu với đại dương trùng sóng và đói khát.  Người đã mệt lã đi, lại cứ nôn mửa suốt hơn cả tiếng đồng hồ.  Tôi say sóng cũng thường rồi, nhưng lần này uống nhằm mấy ngụm nước có thuốc trị cá mập, tôi ói ra hết mật xanh, mật vàng. Vừa ói vừa rên, tôi cảm thấy người không còn chút sức lực nào.
Nhìn lại xung quanh, tôi thấy tất cả có năm chiếc bè, bốn lớn và một nhỏ, hầu hết đã bị bắn thủng.  Chúng tôi cột chung các bè lại với nhau. Nhưng vì sóng to gió lớn, một cái bè bị tản mác. Mặc dù chúng tôi đã tìm mọi cách nhưng không thể lại gần nó được.  Bè đông người và được cột chum nhau, chìm xuống mặt nước. Chúng tôi không có một dụng cụ nào khác để chèo ngoài những bàn tay hết sinh lực. Trôi đến chiều hôm đó (ngày 19 tháng giêng), chúng tôi thấy một hoang đảo có nhiều cây cối.  Mắt trông thật rõ nhưng lấy tay khoát nước mãi vẫn không sao lại gần đảo được, vì hôm đó sóng quả rất to.
Sau khi kiểm điểm lại chúng tôi chia làm bốn bè:
Bè số 1: coi như bè hướng dẫn, gồm có tôi, Tr/úy Thì, Tr/úy Hòa, Th/úy Mai, HSBT Thành, HSCK Hòa, và TS1GL Thương.
Bè số 2: bè hậu bị tiếp sức, gồm có Th/úy Hùng, TSBT Bằng, TSTV Hoàng, HSTV A, HSTP Lợi, HSTP Tuấn và TT1CK Hà.
Bè số 3: bè tản thương, gồm HS1TP Hưng, HSTP Và, TSQK Tuấn, ThSTP Châu, TSĐT Thọ.
Bè số 4: bè dưỡng thương, đó là một bè nhỏ có hai mảnh ván bé kê lên để bệnh nhân có thể nằm cho không ướt người.  Bè gồm có TSVC Đa, và TSTP Nam.
Riêng về bè trôi dạt không thể cột chùm được kia gồm có: Hạm Phó Trí, Tr/úy Ngân, HS1CK Nữ, HSTP Sơn, HSCK Cứng, TT1TX Long.
Bầu trời đã tối mịt, sóng lại to hơn.  Anh em mệt lã người phần vì đói khát, phần vì mệt nhọc sợ hãi.  Chúng tôi cứ mặc cho bè trôi quanh đây với hy vọng sáng sẽ bơi vào đảo được.  Đêm hôm đó Hạm Phó Trí đã trút hơi thở cuối cùng.  Thân xác Hạm Phó cũng đành giao cho thủy thần định liệu.
Suốt đêm cơn lạnh đã hành hạ cơ thể của tôi, với bộ quân phục ướt như chuột lột.  Anh em cứ ôm gồng lấy nhau mà rung rẩy chờ đêm qua.  Đêm sao qua chậm thế!  Giờ này mới ba giờ đêm, bốn giờ, năm giờ, … trời bắt đầu sáng.  Thật là quái dị.  Đêm vừa qua lại không trăng sao, sáng nay mặt trời lại không mọc.  Phải chăng ông Trời cũng không dám diện kiến một cảnh tượng thê lương trên biển của thủy thủ đoàn HQ10?
Thân mệt nhừ, tôi quay qua quay lại nhìn dáo dác, rồi lẩm bẩm:
“Ủa ! đảo hôm qua đâu ?! Thôi rồi anh em ơi, chúng ta không biết đã trôi về đâu?!”
Ai nấy đều lộ vẻ thất vọng. Khi TS1GL Thương mang ra được một la bàn cầm tay thì chúng tôi mới hỡi ơi là hiện tại luồng nước xoáy đang đưa bè theo hướng Đông Bắc, nếu muốn vào đảo anh em phải chèo ngược lại theo hướng Tây Nam.
Cơn đói khát lại hành hạ.  Sau khi kiểm điểm thì thấy bè số 1 không có bao thực phẩm nào cả dù rằng dây buộc vẫn còn đó.  Bè số 2, 3 mỗi bè gồm một bao thực phẩm chứa 20 lon nước (cỡ chai coca-cola) và 12 bao kẹo, mỗi bao gồm 8 miếng kẹo.   Thế rồi phải lấy ra gom lại chia đều ra.  Trong đó có 6 bao kẹo không thể sử dụng được, nhưng cũng để dành lại đó.  Chúng tôi khui những lon nước, mỗi người hớp một ít, và ăn một miếng kẹo.
Những người bị thương nặng như TS1GL Thương, TSQK Tuấn, có lẽ bị mất quá nhiều máu nên họ cứ đòi nước mãi.  Ngày đầu tiên trôi dạt trên biển chúng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ lên được một đảo nào đó gần đây, hay có thể được chiến hạm của ta ra cứu vớt, nên vấn đề uống nước ngọt chưa bị hạn chế.  Nhất là nghe các anh bị mất nhiều máu rên rỉ gọi khát chúng tôi chúng tôi không đành nên cho họ uống cả lon.  Khoảng 9 giờ sáng ngày 20 tháng Giêng, TSQK Tuấn đã ra đi một cách âm thầm không một lời trối trăn,  mà cách đó ba bốn giờ đồng hồ miệng cứ kêu la khát, khát quá…. Ý thức được rằng sẽ còn nhiều ngày lênh đênh trên biển nữa, nước ngọt rất cấp thiết, chúng tôi tự hạn chế trong việc sử dụng nước ngọt và kẹo. Bè cứ mặc cho dòng nước đưa trôi. Sáng hôm nay lại nghe những tiếng súng nổ vang.  Chúng tôi thắc mắc phải chăng chiến hạm tăng phái của ta đã đến và một cuộc hải chiến lại tiếp diễn?
“Anh em hãy gắng sức chèo về hướng Tây Nam, đúng hướng đó rồi, hướng của những hòn đảo hôm qua ta tranh giành.”...
“Cố lên anh em, chúng ta sẽ sống nếu gặp lại tầu bạn.”...
Khoát nước, chèo mãi vẫn không đi tới đâu.
“Thôi chúng ta tháo hai miếng ván của bè nhỏ để chèo đi, chèo mãi theo hướng Tây Nam sẽ đến đảo ngay.”
“Anh em cứ cố gắng lên, đừng nghỉ tay, nếu không công trình khoát chèo, bơi từ sáng đến gìờ coi như hoang phí.  Đêm nay chúng ta luân phiên chèo nhé!”...
Bè nay đã được cột chùm vào nhau; lúc đầu cột ngang nhau, nhưng sóng đập mạnh, các bè cứ va đập vào nhau.  Bè lật, vỡ bể thêm ra.  Sau cùng đành cột theo hàng dọc nối đuôi nhau.  Bè của tôi dẫn đầu, sau đến bè số 2, số 3, rồi bè nhỏ.  Những bè sau đa số là anh em bị thương, mệt mỏi, chán nản, nên chỉ còn chúng tôi (Tr/úy Thì, Th/úy Mai, Th/úy Hùng, Tr/úy Hòa, HSTV A, và tôi) là những người còn đủ sức để chèo.   Đêm đó cứ luân phiên nhau mà chèo. Lúc đầu dựa vào hướng của la bàn, nhưng trong đêm tối la bàn đã bị đánh mất, phải nhờ các vị sao định hướng để chèo.  Suốt đêm anh em chỉ được nghỉ ngơi đôi chút.
Khoảng sáu bảy giờ sáng ngày 21 tháng Giêng, thình lình tôi thấy hướng Tây Bắc có hỏa châu lóe lên rồi mất hẳn.  Tôi mới hô to:“Có hỏa châu, một là chiến hạm tìm kiếm ta, hai là lính địa phương quân trên đảo.  Anh em hãy chèo về hướng đó nhanh lên!”
Nhưng trời chưa tha bọn người hoạn nạn như chúng tôi. Sáng hôm đó sóng quá to, hơn nữa lại phải chèo ngược sóng, cho nên cứ chèo mãi mà hình như bè vẫn ở tại chỗ.  Buồn thay, buổi sáng nay thêm một bạn đồng nghiệp nữa lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt - TS1GL Thương.  Buổi chiều, thêm TSĐT Thọ từ giã anh em.  Xin được mỹ miều chua xót ghi là “Sáng, thủy thần lại gọi thêm trình diện thủy cung. Chiều, thêm người theo hạm trưởng đi công tác đáy biển bằng tàu ngầm HQ10.”
Có lẽ trước vài tiếng đồng hồ mà thủy thần gõ cửa kêu tên, mọi người đều nghe văng vẳng bên tai một cách yếu ớt “Khát quá … khát quá …”  Tinh thần của anh em lúc này có vẻ giao động, nghĩ đến giây phút thần chết sắp gọi tên mình, nghĩ đến những bạn đồng đội đã đi “công tác trên tầu lặn với hạm trưởng.” Nếu không muốn nói là mọi người như sắp điên loạn.  Chiều hôm đó Thượng Sĩ Châu hỏi tôi:
“Đây cách Đà Nẵng bao xa?”.
“Khoảng trăm mấy, hai trăm hải lý.”, tôi nói.
Thế là ông tuyên bố ai muốn cùng đi với ông ta về Đà Nẵng thì đi, nếu không ông sẽ đi một mình!  Đoạn ông đẩy những anh bị thương trên bè xuống biển.  Thế rồi chúng tôi lại phải thất công lần lượt kéo từng người lên.   Thượng Sĩ Châu đã mất trí !!
Ban ngày nhìn thấy chim hải âu bay qua lượn lại, chúng tôi cứ hy vọng gần đây sẽ có đảo.  Nhưng nhìn dáo dác, biển cả vẫn hoàn toàn biển cả.  Kẹo và nước ngọt đều dùng cạn.  Anh em bắt buộc phải dùng những lon không đã hết nước, pha nước tiểu với nước biển để uống.  Lúc bấy gìờ không ai để ý đến đói, nhưng cơn khát hoành hành cảm thấy thấm thía.  Đêm đó ai nấy đều mệt nhừ, đến nỗi các giây cột các bè lại với nhau đứt hồi nào không hay.
Sáng hôm nay, ngày 22 tháng Giêng, tỉnh dậy tôi không còn thấy một bè nào cột bên cạnh bè mình.  Nhìn về trước, một bè trôi khá xa.  Ngó về phía phải cũng thấy một bè, nhưng cố gắng chèo mãi mà không sao tới nổi.  Dần dần những bè đó khuất dần ngoài tầm mắt của tôi  Trưa rồi lại chiều.  Chân tôi giờ này sưng thủng, không sao cử động được, miệng cứ tự động thều thào hai tiếng “khát quá … khát quá”.  Mắt, miệng đã sưng vù lên.  Th/úy Mai đã nói lâm râm:
“Ch/úy Ngưu chắc không qua khỏi đêm nay.”
Tai tôi vẫn nghe thấy những tiếng đó, đầu óc tôi cũng biết rằng mình không thể nào thoát khỏi tử thần trong đêm nay - có lẽ giờ này hạm trưởng đang cứu xét mình có đủ điều kiện đi tàu lặn HQ10 chăng?
 Chiều hôm đó, khoảng sáu giờ, anh em chuẩn bị ôm lấy nhau để qua đêm rét buốt.  Thình lình HSCK Hòa thét lên: “Có tàu!”
“Ôi ! tàu đâu, tàu đâu?”
Một cứu tinh hiện trước mặt.  Lúc đó tự dưng tôi bật đứng lên trên bè được, tay gỡ áo phao đỏ mà phất.  Tôi hy vọng họ sẽ phát giác ra mình, dù rằng chiếc tàu cứu tinh còn cách bè mấy hải lý.

 

“Phải rồi ! Chúng ta đã sống, tàu đang ngừng!”
“Có lẽ họ đã phát hiện chúng ta, anh em cố chèo về hướng tàu nhanh lên, nếu đêm tối họ sẽ không nhìn thấy để cứt vớt ta, la lớn lên anh em.”
“ Một hai ba... Ô!”  “ Một hai ba... Ô!”  “123...Ah!”  “123... Ah!”, một mặt lo chèo, mặt khác la to lên.
“Hình như bè không tiến tới chút nào cả, và tàu họ cũng không vận chuyển!”
“Anh em ơi, nhẩy xuống bơi!”
Nhưng hơi sức đâu mà bơi nữa.  nhất là vùng này đầy cá mập, nay thuốc chống cá mập lại không còn.
“Ô kìa! tàu quay đi đâu? thôi chết rồi, hết hy vọng rồi,  cố lên anh em!”
Hy vọng xen lẫn thất vọng.  Màn đêm đang dần dà bao phủ thì bỗng xa kia ánh sáng đèn tàu rực lên.  Ôi chao! Trông chiếc tàu dễ thương biết bao!  Sau đó một ánh đèn pha rọi sáng và từ từ di chuyển.
“À ! họ đã thả dzu dzu ra để vớt chúng ta.  Sao họ chạy đường kia?”
“Có lẽ họ đang vớt đồng đội mình.  Kìa, họ tới mình, la lên cho họ biết anh em!”
 “Ah ! Oh ! help us sir, please help us.”
“Okey, take it easy, be careful.  Are there any wounded ?”
“Yes sir, most of us are wounded.”
“All right …”
Chiếc dzu dzu từ từ cặp sát bè và đưa chúng tôi lên. Dzu dzu chạy một cách chậm chạp về tàu.  Trên dzu dzu ngoài một nhân viên lái, và hai nhân viên phụ tá còn có vị thuyền phó người Hòa Lan, tay cầm một máy truyền tin đang liên lạc với thuyền trưởng,.  Chiếc dzu dzu cặp sát vào tàu.  Trên tàu, các thủy thủ người Hồng Kông đang thả dây xuống, móc vào dzu dzu.  Thế rồi dzu dzu được nhẹ nhàng kéo lên.  Khi thành của dzu dzu ngang với boong tàu, một cầu thang bật ra, lần lượt cứ hai nhân viên lại dìu một người chúng tôi lên tàu.
Họ đưa chúng tôi vào một phòng ngủ, cởi tất cả quần áo ướt  ra, đắp cho mỗi người một tấm chăn, rồi cho chúng tôi luân phiên đi tắm rửa bằng nước ấm.  Cùng lúc đó họ đem cho chúng tôi sữa tươi, cà phê, soup, thuốc lá.  Sau đó thuyền phó hỏi tôi là hình như trong nhóm có một lieutenant.  Tôi đáp lại rằng chỉ có Lieutenant Junior Grade (tức là trung úy) và chỉ Tr/úy Thì.  Ông  đưa Tr/úy Thì đi tắm rửa và lên phòng  ông để liên lạc với Hải Quân Việt Nam.
Chúng tôi đã thật sự sống lại.  Ngay khi đó đồng hồ tôi chỉ đúng 12 giờ khuya, tôi hô to lên với anh em:
“Chúng ta đang qua đêm giao thừa trên chiếc tàu Hòa Lan Kopionella, vị ân nhân của chúng ta!”...

 Ghi chú:  Th/úy Nguyễn đông Mai là một sĩ quan hiện dịch, xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trước khi xảy ra trận chiến anh đã có nghị định và sắp đến ngày đeo lon Trung Úy; sau khi trở về, Tr/úy Mai được đặc cách thăng cấp lên chức Đại Úy. 
Tác giả: HQ Th/úy HHTT Tất Ngưu HQ10
Bổ túc chi tiết: HQ Th/úy HHTT Nguyễn văn Kết HQ11
Sửa kỹ thuật: HQ Th/úy K25NT Lê văn Kim
Giới thiệu và đánh máy: HQ Th/úy HHTT Phó thịnh Đường
Yêu cầu:  Tất cả bạn hữu và chiến hữu Khóa 25 SQ/HQNT và IOCS

                                     

           Võ Thành Nhân SBTN-DC phỏng vấn cựu HQ Chuẩn Úy Tất Ngưu - Tampa, Florida 2015


Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com