arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow EM ĐẾN THĂM ANH MỘT CHIỀU MƯA - Tưởng nhớ Nhạc sĩ Tô Vũ
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
EM ĐẾN THĂM ANH MỘT CHIỀU MƯA - Tưởng nhớ Nhạc sĩ Tô Vũ PDF Print E-mail

    EM ĐẾN THĂM ANH MỘT CHIỀU MƯA - Tưởng nhớ Nhạc sĩ Tô Vũ - Biên soạn: Phan Anh Dũng

                                   Nhạc sĩ Tô Vũ qua đời

                                  

3h30 sáng 13/5, tác giả "Em đến thăm anh một chiều mưa" ra đi tại nhà riêng, trong vòng tay người thân. Ông hưởng thọ 91 tuổi.

Chị Hoàng Hương, con gái của nhạc sĩ Tô Vũ cho biết,  khoảng thời gian cuối đời, nhạc sĩ Tô Vũ thường rơi vào tình trạng hôn mê nên không trò chuyện nhiều. Dù vậy, từ khi thấy sức khỏe mình có dấu hiệu yếu đi, ông đã dặn dò con cháu mọi chuyện hậu sự cũng như nhắn gửi tất cả những điều cần thiết. "Bố tôi nằm xuống rất thanh thản", chị Hương bộc bạch.

Lễ phát tang nhạc sĩ Tô Vũ được thực hiện tại nhà riêng vào 14h ngày 13/5. Sau đó linh cữu ông được đưa đến Nhà tang lễ của Thành Phố. Lễ viếng bắt đầu từ 8h đến 17h ngày 14/5. Linh cữu ông được đi hỏa táng ở Nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Ngoài ra, lễ viếng nhạc sĩ còn được thực hiện ở nhà riêng tại Hà Nội vào ngày 16 và 17/5. Sau đó, vào 8h sáng 18/5, hài cốt ông được an táng tại nghĩa trang Phi Liệt, thành phố Hải Phòng.

Nhạc sĩ Tô Vũ sinh năm 1923 tại Bắc Giang nhưng từ khi còn nhỏ ông đã chuyển đến sống tại Hải Phòng cùng bốn người anh em ruột. Ông tên thật là Hoàng Phú, là một nhạc sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu âm nhạc đương đại của Việt Nam. Cùng người anh là nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả ca khúc "Cô láng giềng" nổi tiếng), Hoàng Phú góp mặt từ những ngày đầu tiên của tân nhạc Việt Nam.

Trong số các anh em, Hoàng Quý và Hoàng Phú đặc biệt say mê âm nhạc. Hai anh em học được những kiến thức âm nhạc đầu tiên (violin) qua một phụ nữ người Pháp tên là Leprêtre - chủ cửa hiệu Orphée, chuyên bán nhạc cụ và sách nhạc Tây ở Hải Phòng thời đó. Tuy nhiên, người tích cực khuyến khích hai anh em họ Hoàng đi theo “âm nhạc cải cách” (tân nhạc) là thầy dạy môn văn chương Pháp tên là Ngô Đình Hộ (tức nhạc sĩ Lê Thương), để cùng thầy biểu diễn trong các tiết mục văn nghệ của trường.

Năm 1939, Hoàng Quý và Hoàng Phú quy tụ một số bạn bè trong đó có Phạm Ngữ, Canh Thân và Văn Cao để lập ra nhóm nhạc Đồng Vọng. Nhóm Đồng Vọng sinh ra từ phong trào hướng đạo sinh do Hoàng Quý làm trưởng nhóm với ý nghĩa như là tiếng gọi tập hợp thanh niên lại với nhau. Từ phương châm này, nhóm Đồng Vọng đã góp phần cổ súy cho nền tân nhạc Việt Nam. Nhóm sáng tác được khoảng 60 ca khúc mang nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng dân tộc. Ngoài ra, một số tình khúc của nhóm như"Cô láng giềng" của Hoàng Quý và "Bến xuân" của Văn Cao cho đến nay vẫn được coi như những tuyệt phẩm của nền tân nhạc Việt Nam.

Dù nhận được học bổng du học Pháp, do anh trai là nhạc sĩ Hoàng Quý mất sớm nên Hoàng Phú quyết định ở lại Hải Phòng để lo cho những người em còn lại. Ông xin vào dạy hợp đồng ở trường Bình Chuẩn (tiền thân là Trường Bonnal, sau này đổi tên là PTTH Ngô Quyền). Năm 1948, Hoàng Phú được chọn là đại biểu của Chiến khu 3 đi dự Đại hội Văn hóa Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất. Năm 1950, Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật được thành lập, ông được mời tham gia trong ban nghiên cứu âm nhạc do nhạc sĩ Văn Cao làm trưởng ban.

Ông cũng từng đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện âm nhạc cơ sở 2 tại Sài Gòn, Thư ký Đoàn Nhạc sĩ Khu 3 đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam (Học viện Âm nhạc Quốc gia sau này). Ông còn là một nhà nghiên cứu có thâm niên và uy tín trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc (nhạc truyền thống) cũng như âm nhạc hiện đại. Bên cạnh đó, ông cũng có công lớn trong việc đào tạo nhiều tài năng thế hệ sáng tác nhạc sau này. Sau khi nghỉ hưu, ông sống tại Sài Gòn.

Một số nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Tô Vũ gồm có: Em đến thăm anh một chiều mưa (1947), Tạ từ, Tiếng chuông chiều thu, Ngày xưa ...

Ông còn viết nhạc cho sân khấu (Tuồng, Chèo, Cải lương, Múa rối) và điện ảnh. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về chèo, cồng chiêng, đàn đá, thang âm - điệu thức và âm nhạc dân gian Việt Nam…

Đã xuất bản cuốn sách: Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (Nxb. Âm nhạc, 1995), Băng nhạc Tô Vũ và Tuyển chọn ca khúc Tô Vũ (DIHAVINA và Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

(Nguồn: theo Ngoisao.net)

                                   

                                                        Gia Đình của Nhạc sĩ Tô Vũ

                  

         

     

Em đến thăm anh một chiều đông
Em đến thăm anh một chiều mưa
Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều
Em đến thăm anh người em gái
Tà áo hương nồng
Mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh
Em đến thăm anh chiều đông giá
Em đến thăm anh trời mưa gió
Đường xa lạnh lùng

Mặt nhìn mặt, cầm tay bâng khuâng không nói một câu
Lời nghẹn ngào, hồn anh như say như ngây, vì đâu ?
Gió đưa cánh chim trời
Đó đây cách xa vời
Chiều vui mưa ướt cánh

Khá thương kiếp bềnh bồng
Dẫu khắng khít đôi lòng
Chiều nào em xa anh!
Có hay lúc em về
Gót chân bước reo âm thầm
Trên đường một mình ngoài mưa
mưa như mưa trong lòng anh

Lòng bồi hồi nhìn theo chân em, chìm trong ngàn xanh
Ta ước mơ một chiều thêu nắng
Em đến chơi quên niềm cay đắng
Và quên ... đường về

     Nhạc sĩ Tô Vũ nói về lai lịch bản nhạc "Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa":   MP3    Youtube

 

 

                              CÂU CHUYỆN VỀ BẢN NHẠC 'TẠ TỪ"

                                      (Tô Vũ kể - Nhật Hoa Khanh ghi - 05/12/2010)

                                

Sáng hôm ấy tại nhà riêng nhạc sĩ Tô Vũ (299 Bis, Nguyễn Văn Trỗi, Tân Bình, TP. Sài Gòn), tôi được ông tiếp chuyện lần thứ ba.

Câu chuyện lần này xoay quanh việc sáng tác lời và nhạc bản "Tạ từ".

-Thưa anh - tôi nói - Tạ từ đến với tôi lần đầu tiên qua giọng hát truyền cảm của nữ danh ca Minh Đỗ tại Nhà hát Lớn Hà Nội cuối năm 1949. Tôi sinh năm 1937, lúc đó mới 15 tuổi. Mới 15, nhưng tôi đã bị cuốn hút vào từng lời ca, từng điệu nhạc, nhất là câu kết "Muôn kiếp cô liêu ngàn năm còn reo". Minh Đỗ hát câu này với tất cả sự thiết tha, nồng cháy qua giọng ca trong trẻo và ngân vang của chị. Âm thanh của nhiều loại đàn đệm nổi lên đúng mức lúc ấy, càng làm cho lời ca xoáy sâu vào trái tim tôi. Từ đó Tạ từ cứ vang vọng trong tôi trên những bước đường đời.

Nhạc sĩ Tô Vũ gật đầu mỉm cười. Ông bắt đầu kể...

*

"Tạ từ" nói về một cuộc chia ly, cuộc chia ly của một người bạn tôi, anh Nguyễn Văn Huấn.

Đầu năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bùng nổ được ít lâu, tôi quen nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Lúc đó, anh Châu là nhóm trưởng nhóm nhạc sĩ tự do ngoài biên chế nhà nước chuyên phục vụ quân đội. Lương Ngọc Châu vốn là sinh viên kiến trúc Đại học Mỹ thuật Đông Dương nhưng đã bỏ khoa này, chuyển sang âm nhạc. Anh nhanh chóng trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng và là một trong những người kéo vi-ô-lông hay nhất Hà Nội thời ấy.

Tôi (tức Tô Vũ) sinh năm 1923. Châu sinh khoảng năm 1919, hơn tôi khoảng bốn tuổi. Vì đã học vi-ô-lông và đàn nguyệt từ nhỏ, cho nên tôi biết rõ danh tiếng Lương Ngọc Châu.

Nhóm nhạc tự do của Châu còn có hai nam thành viên nữa, đó là Ngọc Bích và Nguyễn Văn Huấn. Huấn cũng giỏi về vi-ô-lông. Anh buộc phải bỏ ngành y do phát xít Nhật giải thể một số khoa thuộc Đại học Đông Dương trong đó có Đại học Y khoa. Còn Ngọc Bích thì nổi tiếng về ghi-ta xuynh (guitare swing).

Khoảng cuối năm 1947, tại một huyện thuộc tỉnh Thái Bình (lúc đó, tôi đang công tác ngắn ngày tại huyện này), Lương Ngọc Châu giới thiệu tôi làm quen với Nguyễn Văn Huấn.

Mấy hôm sau, Huấn đưa tôi đến một huyện khác cũng thuộc Thái Bình (hình như huyện Đông Quan thì phải) để thăm Ánh Hà, người bạn gái rất thân của anh.

Ánh Hà là con một ông công chức khá giả người Hà Nội. Cô và bố mẹ cùng các anh chị em trong gia đình tản cư về đây. Ánh Hà là một nữ sinh Hà Nội có sắc đẹp, tính tình hiền dịu, chơi đàn Hạ-uy-di (tức guitare hawaienne) rất giỏi, đồng thời đã từng sáng tác một vài bài hát.

Trong cuộc gặp gỡ thân mật này, người nữ sinh tài hoa ấy đánh Hạ-uy-di cho tôi và Huấn cùng nghe một nhạc phẩm khá hay do cô tự sáng tác cả nhạc lẫn lời. Bài ca nói về nỗi đau của một nữ sinh thủ đô khi cô phải xa Hồ Hoàn Kiếm để tản cư về một miền quê hẻo lánh.

Phải nói rằng sắc đẹp của một nữ sinh tiểu tư sản Hà Nội và tâm hồn của cô trong lời và nhạc bài ca do cô sáng tác, vừa dạo đàn vừa hát, đã lập tức gieo vào trái tim tôi một cảm xúc rộn ràng.

Xế chiều hôm ấy, Huấn và tôi chia tay Ánh Hà trong một nỗi nhớ nhung thầm lặng.

Hai chúng tôi cùng đứng lặng nhìn Ánh Hà quay gót trở lại mái tranh nơi cô và bố mẹ cô tạm tản cư về đó. Dáng mảnh mai, dòng tóc chảy dài xuống lưng và hai bờ vai thon thả, bước đi buồn bã của Ánh Hà, tất cả... tất cả khuất dần sau lũy tre xanh trên đường làng, rồi nhanh chóng khuất chìm...

Một tháng sau, Huấn bảo tôi (tức Tô Vũ): Ánh Hà đã theo bố mẹ trở về Hà Nội (lúc đó gọi là "dinh tê" hoặc "về thành") do gia đình cô cạn kiệt về kinh tế. Ánh Hà rủ mình về cùng, nhưng mình không nhận lời. Lúc chia tay, Huấn kể tiếp, Ánh Hà hát tặng mình một bài, cũng do cô sáng tác. Lời và nhạc phẩm này nói về nỗi đau của Hà khi phải xa nơi tản cư và xa mình, người bạn trai thân nhất của Hà, để trở về Hà Nội.

Chần chừ một lát, Huấn tâm sự với tôi, đại ý: vì không có khả năng viết một nhạc phẩm đáp lại bài ca chia ly nói trên của Ánh Hà, cho nên anh nhờ tôi sáng tác một bài ca về cuộc chia ly ấy, sao cho anh có thể kéo được vi-ô-lông.

Tôi nhận lời.

Ngay đêm đó, thức trắng trong gió đông ù ù thổi, dưới mái tranh cô quạnh giữa một làng quê tỉnh lúa Thái Bình, tôi viết xong "Tạ từ" cả lời lẫn nhạc.

"Tạ từ" là lời chia tay giữa Huấn với Ánh Hà. Tâm trạng và hoàn cảnh của đôi bạn trong nhạc phẩm tiêu biểu cho tâm trạng và hoàn cảnh nhiều học sinh, sinh viên, thanh niên trí thức tiểu tư sản và tư sản đi kháng chiến chống Pháp hồi ấy.

Câu kết "Muôn kiếp cô liêu ngàn năm còn reo", tôi chịu ảnh hưởng hai câu thơ của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ viết về cây thông:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
.

Trong nhạc phẩm còn có câu "Khi về son thắm lồng người, thu cánh tạ mây trời". Câu này có nghĩa là: việc Ánh Hà cùng bố mẹ trở về Hà Nội dưới ách thực dân Pháp khác nào việc chui vào "lồng người", chui vào "lồng son cóng sứ" (tức lồng đẹp nhốt chim quý họa mi), mất hết tự do, chỉ còn biết nhìn ra mây trời để mà nhớ thương, để mà Tạ từ mây trời, Tạ từ người bạn trai thân thiết Nguyễn Văn Huấn còn ở lại với cuộc kháng chiến.

Vì vậy, hai chữ "Tạ từ" được tôi dùng để đặt tên cho nhạc phẩm.

Nhiều ca sĩ không hiểu ý nghĩa hai chữ "lồng người" cho nên đã hát lầm thành "lòng người".

Sáng hôm sau, tôi chuyển bản thảo cho Huấn. Huấn tập khoảng một tiếng, rồi kéo ngay vi-ô-lông cho tôi nghe, với một kỹ thuật điêu luyện, dạt dào cảm xúc. Khi kéo hết bài, mắt ngấn lệ, Huấn buông đàn, lặng im ôm chặt lấy tôi.

Rất đồng cảm với Tạ từ, cả nhạc lẫn lời, Lương Ngọc Châu, Ngọc Bích và Nguyễn Văn Huấn lập tức đi biểu diễn ở nhiều nơi trong tỉnh Thái Bình và mấy tỉnh xung quanh.

Người hát đầu tiên và cũng là người hát hay nhất bài này là Đoàn Minh. Đoàn Minh là nhạc sĩ kiêm ca sĩ nghiệp dư nổi tiếng khắp Hải Phòng với giọng hát cao sang.

Sau những buổi biểu diễn của Đoàn Minh, Tạ từ nhanh chóng được truyền bá rộng rãi trong vùng kháng chiến và cả vùng địch tạm chiếm.

Văn Cao và Hoàng Quý (anh ruột tôi) đều quen Đoàn Minh từ khoảng những năm 1941, 1942.

Tuy nhiên, Đoàn Tòng, anh ruột Đoàn Minh, hát còn hay hơn Đoàn Minh. Giọng Đoàn Tòng vừa trong suốt, vừa ngân vang, vừa lôi cuốn mãnh liệt người nghe. Nhưng Đoàn Tòng hát ít hơn Đoàn Minh. Em trai ruột Đoàn Minh là Đoàn Thêm hát cũng khá hay. Cả ba anh em đều biểu diễn Tạ từ mấy chục buổi suốt hai năm 1948, 1949.

Để đưa Tạ từ vào đời sống âm nhạc hồi ấy, còn có công của Tử Phác và Tạ Phước.

Mùa thu 1948, tại Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình), hai nhạc sĩ tài năng đó đã chung sức tổ chức biểu diễn Tạ từ lần đầu tiên trong lễ ra mắt Chi hội Văn nghệ Liên khu 3. Liên khu 3 gồm Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình và Hà Nội. Chi hội Văn nghệ Liên khu 3 gồm một số văn nghệ sĩ bốn ngành văn, họa, nhạc, kịch. Trong chi hội, Tạ Phước được bầu làm trưởng ngành nhạc Liên khu 3, Tử Phác được bầu làm một trong ba người lãnh đạo Việt Minh (tức là một trong ba thành viên chi bộ Đảng) của Chi hội Văn nghệ Liên khu 3.

Đối với tôi và nhiều đồng nghiệp cùng thế hệ, Tử Phác là một tấm gương về lòng trung thành trong bất cứ hoàn cảnh nào đối với Tổ quốc và cách mạng. Bão táp tới tấp dội xuống cuộc đời anh suốt mấy chục mùa xuân. Mặc tất cả những khó khăn to lớn ấy, Tử Phác cứ lặng lẽ và bền bỉ đội bão táp mà tư duy, mà sáng tạo!
 
*

Tác giả "Tạ từ" chợt ngừng lời, rồi im lặng cúi đầu. Lát sau, ông ngẩng đầu lên, nói khẽ:

-Tử Phác, Tử Phác, Tử Phác, cảm ơn anh, cám ơn vạn bội về những gì anh đã góp phần cùng Tạ Phước, Đoàn Minh, Lương Ngọc Châu, Ngọc Bích, Nguyễn Văn Huấn và các đồng nghiệp khác đưa "Tạ từ" vào tâm hồn và trái tim biết bao học sinh, sinh viên, thanh niên trí thức tiểu tư sản và tư sản trong lửa đạn cuộc kháng chiến chống Pháp ngày ấy.

Giọng nồng nàn và ấm áp, Tô Vũ khe khẽ hát: "Muôn kiếp cô liêu ngàn năm còn reo". Sau đó, nhìn vào không gian phía trước, nhạc sĩ nghẹn ngào:

-Xin ngàn lần cảm ơn Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ. Không có Người, tôi không thể viết nổi câu hát vừa rồi. "Khi về son thắm lồng người, thu cánh tạ mây trời"... Tạ từ chính là lời tạ từ của đông đảo học sinh, sinh viên, thanh niên trí thức tiểu tư sản và tư sản quyết tâm ở lại với kháng chiến, trong giờ phút chia ly với một số ít bạn trẻ vì hoàn cảnh gia đình phải rời kháng chiến để trở về thành phố, tạm sống dưới gót sắt thực dân Pháp.

Tạ từ là một cuộc chia ly như thế...

(Nguồn: theo vnmusic.com)


                                 Một Số Nhạc Phẩm Nổi Tiếng 

                                                 

                                                  (Nhạc sĩ Tô Vũ lúc trẻ)

Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa: 

 Quang Tuấn    Khánh Hà    Tuấn Ngọc   Hà Thanh 

 Anh Ngọc       Xuân Thu    Elvis Phương   Lê Tấn Quốc (saxo)      Piano 

 Nhạc sĩ Tô Vũ nói về lai lịch bản nhạc "Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa":   MP3    Youtube

Tạ Từ:

Anh Ngọc (phụ họa: Mộc Lan, Kim Tước, Mai Hương)   Lệ Thu    Sĩ Phú    Duy Trác

Tiếng Chuông Chiều Thu:

Duy Trác      Lê Dung       Mai Hương 

Hoài Nam (SBS Úc Châu - 70 Năm Tình Ca Việt Nam) - nói về Tô Vũ : MP3 

Ngày Xưa:

Thanh Lan        Tam Ca Áo Trắng 

 

                              

                                           Nhạc sĩ Tô Vũ & Nhạc sĩ Phạm Duy




 

 

 

    Nhạc sĩ Tô Vũ nói về Tây hóa và Việt hóa ca khúc Việt

"Tình hình âm nhạc hiện nay tuy có hỗn loạn, nhưng không có gì khiến mọi người phải quá hốt hoảng. Chúng ta cần cảnh báo những lệch lạc, lai căng, mất gốc nhưng đừng bị kịch hóa", nhạc sĩ Tô Vũ khẳng định.

                          

 - Dư luận vừa qua xôn xao về chuyện nhiều ca khúc Việt lai nhạc nước ngoài. Nhưng chuyện này đã xảy ra tại Việt Nam vào thời kỳ đầu Tân nhạc, khoảng năm 1930 với những ca khúc "bài ta điệu tây"?


- Tân nhạc Việt Nam là một điển hình về chuyện chịu ảnh hưởng âm nhạc nước ngoài. Lúc đó, người thì gọi ảnh hưởng, người thì cho rằng học tập. Ở đây học tập nghĩa là học ngôn ngữ thể hiện của âm nhạc Tây phương, vốn đã rất khác với những yếu tố trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Nhưng trước khi học tập được như thế, có một cách làm dễ dàng hơn là lấy toàn bộ nhạc tây rồi viết vào đó lời mới bằng tiếng Việt, với nội dung khác bài hát cũ. Nhưng người viết phải nói rõ bài hát này theo điệu gì, ở đâu. Khuynh hướng này thời kỳ đầu (1935-1936) phát triển mạnh thành phong trào. Nhưng chỉ rầm rộ khoảng 2 năm đó. Về sau chủ yếu là ca khúc nhạc ta lời ta, hoặc có chịu ảnh hưởng của nhạc Tây nhưng không theo điệu tây.

- Vậy sự chuyển biến từ "bài ta điệu tây" sang "bài ta điệu ta" có chịu sự tác động từ phía công chúng không?

- Ngay khi tân nhạc xuất hiện đã có nhiều xì xào. Giới trẻ thì thích, nhưng lớp người lớn tuổi thì phê phán là tây quá. Người ta cũng đặt nhiều câu hỏi: Như vậy có giá trị nghệ thuật không? Tính Việt Nam có bị mất hết không? Nhưng chỉ là những lời xì xào, không có sự phê phán mạnh mẽ hay công kích, vì lúc đó chuyện tương tự cũng đang diễn ra với Thơ mới. Người ta xì xào những bài nhạc quá áp dụng những thang âm điệu thức phương Tây, khi ghép lời Việt vào thành ra lơ lớ. Tuy nhiên, có những người sáng tác, ngay từ thời kỳ đầu đã tìm cách học tập đã tìm cách chế biến, hạn chế dùng bán âm để hát rõ lời Việt. Có nhiều bài không tìm thấy một bán âm nào cả, nó đã được Việt hóa hoàn toàn.

- Ca khúc Việt trong thời kỳ kháng chiến (1946-1975) có còn bị chịu ảnh hưởng của nhạc nước ngoài?

- Miền Bắc trong kháng chiến chịu 2 luồng ảnh hưởng: nhạc Nga và nhạc Trung Quốc. Nhiều bài hát hùng mạnh, nhịp điệu vui tươi trong thời kỳ này có giai điệu từ hành khúc Nga. Còn miền Nam, giai đoạn này vẫn nhiều người thích âm hưởng dân tộc, gần với dân ca. Một số ảnh hưởng âm nhạc Tây Âu, nhiều nhất là theo nhạc Mỹ với các phong trào nhạc jazz và blues, sau này là rock và phát triển lên nhiều trường phái nhỏ như rap, soul...

- Vậy theo ông, âm nhạc truyền thống có còn đất phát triển nữa không?

- Chúng ta đã khai thác hết từ âm nhạc truyền thống đâu. Những bài hay của Trần Tiến, Nguyễn Cường cũng chỉ là mới bóc được cái vỉa nổi của mỏ vàng âm nhạc dân gian Ê Đê, Ba Na thôi. Âm nhạc truyền thống còn nhiều thứ mới chưa có người khai thác. Nhiều người viết nhạc ở ta lười nhác, thích ngồi nhà ăn sẵn những giai điệu có sẵn trên đĩa, trên mạng, chứ thực tế họ không có ý ăn cắp nghệ thuật. Chúng ta đang quá lạm dụng và lạm phát danh từ "nhạc sĩ". Nhạc sĩ phải là người làm nhạc chuyên nghiệp, được công nhận có "nghề" và có đẳng cấp "sĩ".

=============================================================

Nhạc sĩ Tô Vũ: “Việt Nam làm gì có phê bình âm nhạc!”

Cả hai ông Viện phó Viện nghiên cứu Âm nhạc Tô Vũ và Trưởng ban lý luận Hội nhạc sĩ Thế Bảo đều có chung nhận định “buồn” rằng Việt Nam không có phê bình âm nhạc. Hiện nay các cây bút có khả năng thì hoặc là tuổi già sức yếu, hoặc bận túi bụi, còn những tay khỏe viết thì lại mù tịt về âm nhạc hoặc chỉ biết lăng xê lẫn nhau để kiếm tiền.

- Tại sao các ông cho rằng Việt Nam chưa có phê bình âm nhạc?

- Tô Vũ: Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại ngại phê bình âm nhạc đến thế. Chỉ có viết giới thiệu nhau, khen tụng nhau. Nếu phê bình thì là theo kiểu đố kỵ, rất ít khi có phê bình nghiêm túc. Ngày xưa, nhờ có lời phê bình của Schumann mà khẳng định được tài năng của J. Bach và Beethoven. Ý nghĩa của phê bình âm nhạc là phục hồi những giá trị mẫu mực của người xưa và tìm ra những hạt ngọc trong đời sống âm nhạc hôm nay. Thế nhưng ở ta, chỉ có nghiên cứu mà không có phê bình. Mà nghiên cứu thì chẳng động chạm ai. Còn phê bình thì gay đấy. Bởi ai cũng đặt sự an toàn lên trên hết.

- Vậy nếu không “ngại”, ông sẽ “phê bình” thế nào về đời sống âm nhạc hiện nay?

- Tô Vũ: Tôi thường nói với các bạn già của tôi rằng có hai việc cần làm. Một là phải chỉ ra thế hệ kế tục lớp nhạc già của chúng tôi. Theo tôi, thế hệ này có 4 nhạc sĩ có thể khẳng định được là Nguyễn Cường, Trần Tiến, Dương Thụ, Thanh Tùng. Họ có nhiều điểm đã vượt được thế hệ đi trước. Về khí nhạc có nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam, một tài năng hiếm hoi trong lĩnh vực này. Cả 5 nhạc sĩ nên được dư luận tập trung đánh giá nhiều về chuyên môn để tìm ra sự kế tục và phát triển. Hai là phải quét rác bằng cách chống sự lăng xê bậy, vạch ra sự ngộ nhận, chống ăn cắp nhạc nước ngoài, đặt ca từ bừa bãi, reo rắc độc hại về tư tưởng, thẩm mỹ. Làm những việc này một cách nghiêm túc và công tâm mới gọi là có phê bình âm nhạc.

- Theo các ông, người làm phê bình âm nhạc phải hội tụ được những yếu tố nào?


- Thế Bảo: Người làm phê bình âm nhạc phải hội đủ những điều kiện: có kiến thức âm nhạc tốt, có nền tảng văn hoá cơ bản vững, có sự nhạy cảm, tinh tế khi thụ cảm tác phẩm, lăn lộn với đời sống âm nhạc và có khả năng diễn đạt bằng ngôn từ. Bởi thế mà nhiều người không dám hoặc không đủ khả năng cầm bút mặc dù được đào tạo cơ bản tại khoa lý luận nhạc viện.

- Theo ông, làm thế nào để có được một đội ngũ phê bình âm nhạc chuyên nghiệp?


- Thế Bảo: Theo tôi, phải bắt đầu từ khâu đào tạo. Hiện nay, công việc đào tạo của chúng ta không ổn. Trong chương trình đào tạo âm nhạc không hề có môn phê bình. Vì vậy, nên lập một viện đào tạo âm nhạc đại chúng và tách khoa dân tộc ra khỏi nhạc viện để thành lập một trường Quốc nhạc. Các viện hoặc trường này phải có khoa lý luận phê bình riêng. Người học nhạc viện thì phải biết phê bình nhạc giao hưởng, thính phòng, còn xuất thân từ trường Quốc nhạc thì phê bình được nhạc dân tộc, tốt nghiệp Viện âm nhạc đại chúng thì phê bình nhạc trẻ, chứ không thể một người có đủ khả năng và thời gian để ôm đồm hết cả.

- Có đủ khả năng để làm phê bình, nhưng tại sao hai ông không trở thành cây bút phê bình âm nhạc chuyên nghiệp?

- Tô Vũ: Tôi chuyên sáng tác và nghiên cứu âm nhạc truyền thống và dân tộc. Vả lại, tôi đã già, không đủ sức khoẻ và thời gian cho công việc phê bình – một công việc đòi hỏi phải dốc sức và làm một cách chuyên nghiệp.

Thế Bảo: Tôi không đủ thời gian để sống với âm nhạc hiện nay. Một tuần tôi phải hướng dẫn 6 người làm luận văn cao học, rồi còn phải dành thời gian viết tác phẩm. Như thế không thể làm phê bình được.

(Nguồn: Theo Thể Thao Văn Hóa)

     Trích trong bài "Tuấn Khanh, Chiếc Vĩ Cầm Không Có Tuổi" của Lê Hữu

Những người yêu nét đẹp trong nhạc tiền chiến cũng sẽ dễ dàng yêu thích những khúc "nhạc tình muôn thuở" của Tuấn Khanh như là "dòng nhạc tiền chiến nối dài". Không ngạc nhiên khi tác giả "Hoa soan bên thềm cũ" đã có cuộc hội ngộ kỳ thú với một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc "lãng mạn tiền chiến", nhạc sĩ Tô Vũ. Cuộc hội ngộ ấy là mối duyên tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng điệu.

Sao gọi là "đồng điệu"? Hai chàng nghệ sĩ cùng chia sẻ mối đồng cảm về tính thẩm mỹ trong âm nhạc và nghệ thuật. Hai chàng nghệ sĩ đều là những "người kể chuyện mình" bằng những giai điệu lâng lâng như ướp chút men say của tình yêu và bằng những lời nhạc đẹp tựa lời thơ.

          

Ở Tô Vũ là:
Ta đi tìm thơ muôn phương
("Tạ Từ", Tô Vũ)

Ở Tuấn Khanh là:
Chiều nay buồn tôi đi tìm ý
("Mộng đêm xuân")

Ở Tô Vũ là kỷ niệm êm đềm về một đôi mắt, một tà áo:
Em đến thăm anh người em gái
tà áo hương nồng / mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh

("Em đến thăm anh một chiều mưa", Tô Vũ)

Ở Tuấn Khanh cũng có một đôi mắt như thế:
Vầng trăng thu soi mắt em long lanh
("Dưới giàn hoa cũ")

Tại mình còn yêu
tại mình còn thương đôi mắt lạ thường

("Nhạt nhòa")

Và một tà áo như thế:
Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo
("Từ đó khôn nguôi")

Ở Tô Vũ cũng có một người "bồi hồi" đứng nhìn theo như thế:
Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh
("Em đến thăm anh một chiều mưa", Tô Vũ)

Trong câu hát của Tuấn Khanh có tiếng chuông chiều ngân nga:
Có một lần tôi về qua nơi đó
Tiếng chuông chùa ngân báo tin đêm về

("Đêm này nghỉ đỡ chân")

Trong câu hát của Tô Vũ cũng có tiếng chuông chiều ngân nga như thế:
Lá thu nhẹ roi rơi
Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời

("Tiếng chuông chiều thư", Tô Vũ)

Chưa hết, trong câu hát của Tuấn Khanh có chữ "dâng" thật là đẹp:
Nay qua đau thương yên bình rồi / tình ta lên hương ngát
như hương hoa soan dâng bên thềm

("Hoa soan bên thềm cũ")

Trong câu hát của Tô Vũ cũng có chữ "dâng" thật là đẹp:
Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh
gió dâng khúc đàn thanh bình...

("Tạ từ", Tô Vũ)

    Nhạc Tiền Chiến – Lời thuật của Nhạc sĩ Lê Thương

                                                   (Nhạc sĩ Lê Thương)

HOÀNG QUÝ VÀ NHÓM ĐỒNG VỌNG

Ngày trẩy hội đền Hùng cũng có đầy hướng đạo sinh nam nữ tham dự.

Những con người hướng đạo như Hòang Qúi và đoàn trưởng, đòan sinh lại được thúc đẩy.

Từ cuối năm 1943 đến tháng 2-1945, Hoàng Quí đã tập hợp sáu, bẩy chục bài ca nhẹ nhõm, tươi sáng, dùng để ca múa khi đốt lửa trại.

Hồn nhạc Đồng Vọng hướng về tuổi thiếu sinh, hướng đạo nên luôn nhẹ nhõm trong sáng. Trước sự đòi hỏi của “đời sống ngòai trời”, những đề tài của nhóm Đồng Vọng quả là thích hợp không những cho thời đó mà mà cả cho thời bây giờ và mai sau nên thiếu nhi khắp nước còn học và còn nhớ bài: Gọi Bạn Lên Đường (H.Quí), Vui Lên Đường (Văn Cao), Tiếng Chim Gọi Đàn (H.Quí), Trước Cảnh Cao Rộng (P.Ngữ), Dưới Bóng Thông Xanh, Chiều Xuân (H.Quí), Vui Xuân (L.H.Phước).

Xen vào những cung hát yêu đời, cũng có mấy tâm khúc hòai lịch sử ngày nay vẫn lan tràn khắp nước: Ngày Xưa (Hòang Phú), Bạn Đường (L.H.Phước), Hồn Nam Tướng (Lê Xưân Ái), Lời Vọng Ngày Xưa (H.Quí), Đi Hội Đền Hùng (L.H.Phước), Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn (H.Quí), Anh Em Bước Lên (L.H.Phứơc).

Ngoài L.H.Phước và Văn Cao sẽ đem lại một nhạc nghiệp thênh thang sắp tới, Hòang Quí phải mang một kiếp sống không dài để mệnh chung vào khỏang năm 1946. Nguyễn văn Nghiêm, Phan Ngữ ít thấy họat động, Lê Xuân Ái vẫn còn sáng tác ít nhiều về sau với những bài Huyền Trân Công Chúa, Thiên L‎ý Mã, Con Thuyền Trên Sông và nhất là bài Chinh Phụ Hoài Khúc đã mội thời gây sôi nổi trên làn sóng điện đài Pháp Á (1948) và được sân khấu cải lương ưu chuộng.

Hoàng Phú sau đổi tên là Tô Vũ, tác giả những nhạc khúc tâm tình nổi tiếng như: Tạ Từ, Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa…lúc nào cũng ưu mỹ, trầm tư khác với anh là Hòang Quí. Thế hệ Hoàng Quí còn đáng ghi ở nhiều nét mà ngày nay hầu như thiếu sót: Đó là sự quên mình cho đoàn thể, cho kẻ khác. Giữa lúc phải chăm lo học hành, Hoàng Quí phải chăm lo cho đàn sói con, cho đàn em trong nhà, cho bạn tráng sinh đồng đội và âm nhạc.

Với bận tâm hết mực ấy, điều đáng ca ngợi là anh lại càng sáng tác những khúc yêu đời. Xây dựng cho người nhiều hơn, cho lòng mình thật ít, tuy nhiên, nhạc ngữ của Hoàng Quí cũng đầy sáng họa: Đêm Trong Rừng, Hương Quê (1946), Sa Trường Tiến Hành Khúc, nhất là bài Cô Láng Giềng, một luồng nhạc cảm u uất, và bài Đêm Trăng Trên Vịnh Hạ Long và bài Tú Uyên làm khi hấp hối là những sáng tác anh còn để lại.

Với đà thanh niên lịch sử thời đó, ngòai nhóm Đồng Vọng tất nhiên, không nên bỏ quên nhiều tác giả rải rác cùng nuôi một quan niệm soạn nhạc nhằm vào trẻ thơ, thiếu nhi. Nhiều bài hát thiếu sinh khác đã được truyền bá, trong đó có Khúc Nhạc Xuân của Nguyễn Quí Thuận, thêm bài Trường Cũ, Tuội Xuân, bài Chiều Quê của Anh Hải (Quê nhà tôi, chiều khi nắng êm đềm…), Dặm Về của Lê Ngọc Hùynh (hiện giờ đang làm giáo sư tại Saigon và cũng là tác giả những bài Tiếng Thu với danh hiệu Nam Huân, Trên Đường Hưng Quốc, Yêu Đóa Hồng Nhung), Thằng Cuội, Hoa Thủy Tiên của L.T., Trên Đường Xa của Lê Như Khôi, Chèo Thuyền của Lê Hữu Mục (em của Lê Ngọc Huỳnh và hiện là giảng sư Đại Học), Giang Tay Bước của Thẩm Oánh, Quãng Đường Mai (1940) của Nguyễn Hữu Ba v..v…nhiều bài của Trần Quang Ngọc, một đòan trưởng hướng đạo mà tác phẩm đã đăng trong Ngày Nay từ 1958 v..v..

Luồng gió Đồng Vọng càng thênh thang vô ngã bao nhiêu thì luồng nước dâng sóng nhạc của Tổng Hội Sinh Viên với Lưu Hữu Phước càng súc tích bấy nhiêu.


                  Nỗi nhớ âm thầm trong nhạc Tô Vũ

Chương trình Thơ Nhạc
Tiếng Chuông Trong Nhạc Và Thơ” phát thanh trên làn sóng VOA vừa qua, được nhạc sĩ Tô Vũ nghe và bổ túc cho một chi tiết về ngôi giáo đường Phong Lôi tỉnh Thái Bình. Chương trình nhạc Tô Vũ hôm nay Bích Huyền thực hiện như một lời cảm ơn đến một tên tuổi lẫy lừng trong âm nhạc Việt Nam…

Bích Huyền (11.03.2010)

                     >Mời quý vị thưởng thức chương trình:  MP3

Theo nhà văn Nguyễn Đình Toàn, người phụ trách chương trình Nhạc Chủ Đề trên Đài Phát thanh Sài Gòn trước năm 1975, thì Tô Vũ đã thổi một luồng gió mới vào việc viết ca khúc Việt Nam thời 1944 đến 1954.

Cũng là tình ca nhưng tình ca của Tô Vũ đã nới rộng chân trời của những lứa đôi. Ông cũng cho thấy tình yêu có nhiều cách bày tỏ. Người ta sống cũng có nghĩa là sống trong một hoàn cảnh và đôi khi nói tới bất cứ điều gì trong hoàn cảnh đó, cũng có thể là đang nói tới cái tình của mình. Chẳng hạn như ca khúc Tạ Từ mà chúng ta vừa nghe Anh Ngọc diễn tả với nhiều giọng nữ phụ họa, phần hòa âm của Hoàng Trọng.

Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh
Gió dâng khúc đàn thanh bình
Ta đi tìm thơ muôn phương

Toàn thể ca khúc toát ra một vẻ gì đó giống như một bài kinh cầu nguyện. Mỗi hình ảnh được nhắc tới tựa một dấu vết hạnh phúc, của ước mơ được thắp sáng, và trở thành chính đối tượng của lời cầu nguyện.

Tình yêu như thế, vừa có vẻ là lễ vật hiến dâng, vừa là ân sủng được thừa hưởng. Nó có thể mất, có thể còn. Nhưng mất hay không, thì nó cũng vẫn còn ở trong trần thế này, nên nó cũng không thể mất hẳn.

Cho nên dù có đau thương, mỗi tiếng hát vẫn là một lời ngợi ca hạnh phúc.

Lời anh thầm ước khi nao,
dưới trăng giữa mùa hoa đào
Trong em dư âm còn vang tiếng đồng
Lầu chiều còn luyến ánh hồng,
Lầu xây trong không -- sóng gió rót chia ly,
Phồn hoa em chia tay ra đi,
Đưa chân dừng bước bên cầu giã từ mấy câu


Khi về son thắm lòng người
thu cách tạ mây trời
Nếu tình quê đôi lần nhắc miền quê xa xôi
Mỗi khi vang âm ngàn phương,
nhạc chinh nhân trong chiều sương,
Em có mong giòng sông cũ
vẫn suôi niềm thương

Tình anh như thông đầu non,
Vời cao trông mây buồn đứng
Muôn kiếp cô liêu,
Ngàn năm còn reo...

Trong nhạc Tô Vũ, chúng ta cũng không bao giờ thấy lảng vảng hình bóng của cái chết. Vâng, đời sống không dễ dàng lắm đâu nhưng cũng không quá khó khăn bởi vì người ta có thể tìm thấy sự dịu dàng ở khắp mọi nơi.

Tô Vũ không nói tới nỗi nhớ nhung nào cụ thể nhưng người ta dường như vẫn nghe tiếng gọi âm thầm ẩn sau mỗi câu nhạc của ông. Và nỗi nhớ nhung vì thế cứ tràn ngập không gian…

Em đến thăm anh một chiều đông
Em đến thăm anh một chiều mưa
Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều
Em đến thăm anh người em gái
Tà áo hương nồng
Mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh
Em đến thăm anh chiều đông giá
Em đến thăm anh trời mưa gió
Đường xa lạnh lùng

Mặt nhìn mặt, cầm tay bâng khuâng không nói một câu
Lời nghẹn ngào, hồn anh như say như ngây, vì đâu?
Gió đưa cánh chim trời
Đó đây cách xa vời
Chiều vui mưa ướt cánh
Khá thương kiếp bềnh bồng
Dẫu khắng khít đôi lòng
Chiều nào em xa anh!
Có hay lúc em về
Gót chân bước reo âm thầm
Trên đường một mình ngoài mưa, mưa như mưa trong lòng anh
Lòng bồi hồi nhìn theo chân em, chìm trong ngàn xanh


Trong âm nhạc của chúng ta, không biết có bao nhiêu trận mưa nhưng không có trận mưa nào chứa chan hạnh phúc như chúng ta vừa nghe trong nhạc Tô Vũ. Trận mưa ấy có thể chia xẻ hân hoan cho những ai nghe và hát nhạc Tô Vũ. Bởi vì chẳng cần phải là một tuyệt thế giai nhân, mà chỉ cần một tà áo hương nồng và một ánh mắt trìu mến, người ta cũng đủ để trở thành người trong thơ, trong nhạc. Hay nói cách khác, sống cái tình của mình y như vậy và nó đâu có phải là điều gì khó khăn mà chúng ta không đạt được.

Ta ước mơ một chiều thêu nắng
Em đến chơi quên niềm cay đắng
Và… quên đường về…


Ôi hạnh phúc mới tuyệt vời và giản dị làm sao!

Chúng ta không biết rõ Tô Vũ có sáng tác nhiều không nhưng chỉ thấy bốn năm bài được phổ biến. Gần đây, tác giả Tạ Từ tiết lộ có khoảng 80 ca khúc lãng mạn của ông chưa hề được phổ biến, chúng ta đón đợi được thưởng thức những bản tình ca này. Ngoài ra, Tô Vũ còn viết lời, với tên thật là Hoàng Phú, cho bài nhạc Ngày Xưa của Hoàng Phúc.

Dòng sông Hát nước xanh mờ sâu
Êm đềm trôi về tới nơi đâu
Sóng đưa lăn tăn con thuyền ai xuôi
Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi
Ngày xưa kia nơi đây đã từng vang hình bóng
Đôi quần thoa đem máu đào hoa nở sông nhà
Hồn linh thiêng sống trong muôn ngàn sóng
Những khi nao chiều vắng trầm đưa lên tiếng ca


Đây là một trong những bài sử ca hay nhất của âm nhạc Việt Nam.

Nói chung qua nhạc, chúng ta biết một Tô Vũ có một tâm hồn nhạy cảm, phóng khoáng và rất nghệ sĩ. Có thể nói bằng sáng tác của mình, Tô Vũ đã nâng nghệ thuật viết ca khúc ở Việt Nam lên cao hơn một bậc. Ông cũng phải được coi là một nghệ sĩ viết lời ca hay nhất của chúng ta. Mỗi chữ, mỗi câu, ông đều viết xứng hợp với những giai điệu chau truốt của ông.

Nghe nhạc Tô Vũ, người ta cảm thấy hình như đời đẹp hơn, tình đẹp hơn…

Ông không triết lý, không khuyên răn ai một điều gì nhưng cái đẹp, cái quý phái trong mỗi ca khúc của ông làm thành một giới hạn. Người ta hiểu rằng, người ta phải vươn tới được cái giới hạn ấy mới thâm nhập được vào đẹp, cái cao quý. Và nghệ sĩ cũng luôn là một loài chim hiếm quý.

Nếu phải chọn một trong ba bài hát Bích Huyền vừa gửi đến trong chương trình: Tạ Từ, Em Đến Thăm Em Một Chiều Mưa và Tiếng Chuông Chiều Thu xem bài nào được coi là tuyệt tác nhất của Tô Vũ thì Bích Huyền tin chắc rằng quý vị đều thích các bài ấy ngang nhau. Phải không ạ?

Xin kính gửi đến ông những bông hồng tạ ơn tươi đẹp nhất và kính chúc ông sức khỏe dồi dào.

                                             

                    Nhạc sĩ Tô Vũ “tạ từ” cõi nhân sinh
                                                           Ca sĩ ÁNH TUYẾT - 13/05/2014

Tiếc thay cho trái tim và trí tuệ của bậc tiền bối có nhân cách và tài năng lớn. Còn biết bao công trình, dự án nghiên cứu âm nhạc của ông đang dang dở, một khoảng trống không dễ lấp đầy.

Người nhạc sĩ tài hoa ấy đã thực sự rời xa cuộc đời. Với tôi, không có sự bất ngờ hay thảng thốt bởi dự cảm lần gần đây vào thăm ông trong bệnh viện. Ánh mắt lấp lánh nụ cười duyên bao năm qua vào thời khắc ấy đã không còn nhận ra những người đến thăm, thế nhưng vẫn bình an tĩnh tại đến lạ thường. Cái thần thái của một Tô Vũ tài hoa trong âm nhạc, uyên bác trong học thuật, chân phương nhưng sâu sắc giữa đời sống vẫn thấp thoáng ẩn hiện trên giường bệnh ở quãng thời gian cuối cùng của cuộc đời. Còn lại là gì? Vâng, đó là nhạc sĩ Tô Vũ tên thật là Hoàng Phú - người đàn ông luôn nhìn và cảm nhận đời sống này bằng những rung cảm của nỗi niềm yêu thương trìu mến…

Tài năng sớm tỏa sáng

Thuở sinh thời, nhạc sĩ Tô Vũ luôn được thế hệ nghệ sĩ tiếp nối chúng tôi coi trọng như một bậc tiền bối có nhân cách và tài năng lớn trong đời sống âm nhạc nước nhà. Tài năng của ông sớm tỏa sáng từ những tác phẩm ở thời kỳ mới phát triển của tân nhạc Việt Nam những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX (Tạ từ, Em đến thăm anh một chiều mưa, Tiếng chuông chiều thu...) và đặc biệt hơn là những công trình nghiên cứu âm nhạc mang tầm vóc lớn của ông về sau này. Ngoài đời, tôi luôn được biết một Tô Vũ trầm tĩnh nhưng dí dỏm. Ở ông tồn tại song hành dáng dấp của hai hình thái tưởng chừng đối lập là một vị giáo sư và một chàng lãng tử.

                     

Ca sĩ Ánh Tuyết cùng nhạc sĩ Tô Vũ trong chương trình kỷ niệm 9 năm ngày mất của nhạc sĩ Văn Cao Ảnh: BẠCH MAI


Ông có một tình yêu đặc biệt với âm nhạc dân gian và luôn tự hào bởi những giá trị truyền thống của ông cha ta mà lớp hậu sinh khi kiên trì nghiên cứu sẽ luôn thẩm thấu được những “trái ngọt” bất ngờ. Tôi nhớ mãi mỗi lần gặp gỡ ông luôn là những cuộc trò chuyện đặc biệt về âm nhạc. Với ông, đó là một cõi riêng, một thánh đường mà tôi vẫn hay đùa rằng “mọi người đều bình đẳng như nhau trong âm nhạc”. Bây giờ, người ta vẫn hay dùng những khái niệm như nhạc “bác học”, nhạc “bình dân”, nhạc “thị trường” như để phân định trình độ, tri thức của người cảm nhận. Thế nhưng, khi tiếp xúc với nhạc sĩ Tô Vũ, tôi nhận ra rằng chỉ nên phân chia các tác phẩm, dòng nhạc theo thể loại chứ đừng phân biệt “đẳng cấp” bởi âm nhạc cho đến tận cùng như thuở ban sơ chính là tiếng lòng, là khát vọng được lắng nghe những cung bậc cảm xúc lên xuống của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng.

Âm nhạc là “nghiệp”

Còn nhớ khi phòng trà ATB tổ chức đêm nhạc vinh danh “5 ông Hoàng” (các nhạc sĩ Hoàng Quý - Hoàng Phú - Hoàng Trọng - Hoàng Giác - Hoàng Dương), nhạc sĩ Tô Vũ đã đóng vai trò cầu nối để gắn kết âm nhạc của các tác giả cùng thời. Được làm việc cùng ông khoảng thời gian ấy, tôi có dịp hiểu hơn về thế hệ các nhạc sĩ tiền bối. Họ tâm niệm âm nhạc không phải là “nghề” mà là “nghiệp”. Nghiệp ấy khi đã bén duyên thì cả cuộc đời dù có người chỉ sáng tác một vài tác phẩm, có người vẫn liên tục cống hiến nhưng chạm tới âm nhạc với họ là một không gian thiêng liêng mà ở đó, những tâm hồn nghệ sĩ ấy thực sự được thăng hoa. Đó là điều lý giải tại sao nhạc sĩ Tô Vũ trong suốt 20 năm cuối của cuộc đời mình vẫn liên tục học hỏi và cho ra đời những công trình nghiên cứu âm nhạc giá trị. Ông từng tâm sự với tôi rằng mọi kiến thức mình có được đều do tự học và bất cứ phút giây nào ông cũng mong muốn có thể bổ sung thêm kiến thức. Niềm khao khát ấy hiện diện ở bất kỳ đâu trong cuộc sống này. Đôi lúc bản thân ông khi tiếp xúc với những nghệ sĩ trẻ cũng rút tỉa và cảm nhận được nhiều điều. Theo ông, đó mới là điều đáng quý, bởi niềm vui được học hỏi sẽ thực sự được cộng hưởng khi nhìn thấy tương lai phía trước cho lý tưởng của mình. Cái cách nhạc sĩ Tô Vũ động viên thế hệ nghệ sĩ tiếp nối cũng bởi vậy đầy sự chân thành và gần gũi. Tôi còn nhớ thời mới đi hát, gặp ông, được người quen giới thiệu rằng “Đây là cô Ánh Tuyết hay hát nhạc của Văn Cao hay lắm đấy”, ông gật đầu, mỉm cười rất tươi và nói rằng: “Không phải chỉ nhạc Văn Cao, cô ấy hát nhạc của tôi cũng hay không kém”. Câu nói và phong thái nhẹ nhàng của ông đã thực sự khiến tôi xúc động và cảm thấy tự tin hơn rất nhiều.

Nhiều công trình, dự án dang dở


Giờ thì nụ cười và ánh mắt ấy đã chìm sâu vào cõi mộng thiên thu. Cuộc sống ai tránh được quy luật sinh mệnh và hơn 90 tuổi đời với sự nghiệp như ông có thể nói rằng đã trọn vẹn. Tâm hồn ấy khi phiêu diêu giữa cõi nào chẳng biết có còn nặng lòng với âm nhạc. Thế nhưng, với cá nhân mình, dù đã chuẩn bị tinh thần tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác tiếc nuối.

Tiếc thay cho trái tim và trí tuệ ấy còn biết bao công trình, dự án nghiên cứu âm nhạc đang dang dở, một khoảng trống không dễ lấp đầy.

Và đời sống âm nhạc nước nhà ngày một thiếu vắng những vóc dáng cổ thụ tỏa bóng, vươn cành cho thế hệ tiếp nối bay xa thẩm thấu nhụy đời.

Niềm an ủi với tôi có chăng chính là được gặp gỡ và cảm nhận một nhân cách đặc biệt. Sự kiên trì trong việc học, sự khiêm tốn giản đơn trong cuộc sống đời thường và trên hết là khát khao được cống hiến hết mình cho niềm đam mê âm nhạc từ thuở thiếu thời đến khi đã trở thành bậc lão niên. Nhạc sĩ Tô Vũ tên thật Hoàng Phú, “một danh tiếng dị biệt” (chữ dùng của nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha) nay đã mở lòng “tạ từ” cõi nhân sinh…

Vĩnh biệt giáo sư - nhạc sĩ Tô Vũ

Sau thời gian điều trị bệnh xuất huyết bao tử, viêm phổi, giáo sư, nhạc sĩ Tô Vũ đã trút hơi thở cuối cùng lúc 3 giờ 30 phút ngày 13-5 tại nhà riêng (quận 9, TP SÀI GÒN), thọ 91 tuổi. Lễ nhập quan được tiến hành lúc 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau đó di quan về Nhà Tang lễ TP (số 25 Lê Quý Đôn, quận 3, TP SÀI GÒN). Lễ viếng từ 8 giờ đến 15 giờ ngày 14-5, lễ truy điệu được tiến hành lúc 17 giờ cùng ngày, sau đó hỏa thiêu tại Bình Hưng Hòa, Tân Phú, TP SÀI GÒN.

Giáo sư - nhạc sĩ Tô Vũ sinh năm 1923 tại Bắc Giang, tên thật là Hoàng Phú, cùng với người anh trai là nhạc sĩ Hoàng Quý, có tên từ những ngày đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam, đồng thời là những thành viên sáng lập Nhóm Đồng Vọng, đại diện cho âm phái Hải Phòng. Hoạt động của nhóm trong làng âm nhạc Việt Nam thời tiền chiến từng tạo nên tiếng vang và để lại ảnh hưởng đáng kể đối với sự phát triển của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam.

Cũng như người anh Hoàng Quý, Hoàng Phú sớm tham gia Việt Minh. Cũng theo tư liệu gia đình ông cung cấp, kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ tại miền Bắc, Hoàng Phú gia nhập Ban Văn nghệ Tuyên truyền Kiến An (Hải Phòng). Ca khúc nổi tiếng nhất của ông là Em đến thăm anh một chiều mưa, sáng tác vào năm 1947, khi đơn vị của ông đang công tác tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Cũng trong thời kỳ này, nghệ danh Tô Vũ đã được các bạn bè cùng hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ đặt cho ông.

Năm 1950, Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật thành lập, Tô Vũ được mời tham gia trong ban nghiên cứu âm nhạc do nhạc sĩ Văn Cao làm trưởng ban.

Ông là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam (Nhạc viện Quốc gia sau này), cũng từng đảm nhiệm cương vị viện trưởng Viện Âm nhạc cơ sở II tại TP SÀI GÒN. Ông còn là một nhà nghiên cứu có thâm niên và uy tín trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc cũng như âm nhạc hiện đại. Bên cạnh đó, ông cũng có công lớn trong việc đào tạo nhiều tài năng sáng tác nhạc. Sau khi nghỉ hưu, ông sống tại TP SÀI GÒN.

Những ca khúc tiêu biểu của ông được công chúng yêu thích là Em đến thăm anh một chiều mưa (1947), Tạ từ, Tiếng chuông chiều thu, …

Ca sĩ ÁNH TUYẾT

                                         Tài liệu tham khảo từ các website trên internet

              Xin vui lòng gởi tài liệu và ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:


Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com