arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ-TIẾN SĨ TRẦN VĂN KHÊ - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ-TIẾN SĨ TRẦN VĂN KHÊ - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

                   


 

                                                                                      PHÂN ƯU (PDF)

                           Tang Lễ GS-TS Trần Văn Khê

GS-TS Trần Văn Khê đã trút hơi thở cuối cùng lúc 2 giờ 55 phút ngày 24-6 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định - TP HCM, hưởng thọ 94 tuổi.

Nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng cho biết nhiều ngày qua GS-TS Trần Văn Khê có dấu hiệu hồi tỉnh, thầy nhận biết các con cháu và học trò nhưng không nói chuyện được.
"Vì tuổi cao lại mắc phải nhiều bệnh nội khoa do bệnh tiểu đường gây biến chứng khiến tim, phổi, thận của thầy đều bị thương tổn. Tôi và mẹ tôi – nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan xúc động khi vào thăm thầy. Trong những ngày nằm viện, các bác sĩ khoa Hồi sức đặc biệt, điều trị cách ly Bệnh viện Nhân dân Gia Định đã chăm sóc thầy Khê rất chu đáo" - Nghệ sĩ Hải Phượng cho biết.

Chị Nguyễn Thị Na - người đã tận tình chăm sóc GS-TS Trần Văn Khê suốt 10 năm qua, khóc: “Thầy còn nhiều hoài bão chưa làm, mà nay đã ra đi”.

Theo bản di nguyện của GS-TS Trần Văn Khê, chủ tang sẽ là con trai trưởng của ông - GS-TS Trần Quang Hải. Tuy nhiên ông Hải đã về lại Pháp vì công việc quan trọng cách đây vài ngày.

“Gia đình sẽ chờ anh Hải quay lại Việt Nam, sớm nhất là ngày mai sẽ có thông tin chính xác về ban tang lễ. Đám tang của thầy Khê sẽ được tổ chức tại nhà của thầy, 32 đường Huỳnh Đình Hai, P 24, quận Bình Thạnh trong ba ngày chứ không phải 7 đến 10 ngày như một số cơ quan truyền thông đã đưa tin” – nghệ sĩ Hải Phượng cho biết.

Dù không theo một tôn giáo nào nhưng GS-TSTrần Văn Khê mong muốn được an táng theo nghi thức Phật giáo. Ban nhạc lễ do nhạc sĩ Nhất Dũng (Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh TP HCM) phụ trách. Ngoài ra còn có một dàn nhạc đờn ca tài tử gồm những bạn thân đồng điệu của GS-TS Trần Văn Khê và các môn sinh, trong đó chủ yếu là CLB Tiếng hát quê hương – Cung Văn hóa Lao Động TP HCM hòa tấu một buổi đặc biệt trong tang lễ.

Cũng theo nghệ sĩ Hải Phượng, chi phí tang lễ sẽ được sử dụng từ tiền mặt của giáo sư và trích từ sổ tiết kiệm của ông tại Việt Nam. Ngoài ra, ông mong muốn tiền phúng điếu có thể dùng để lập một quỹ học bổng hoặc giải thưởng Trần Văn Khê để hằng năm phát cho người được giải thưởng nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam.

GS Vĩnh Bảo đã từng nói, ngôi nhà GS-TS Trần Văn Khê sinh sống khi ông còn sống tại Việt Nam sẽ được sử dụng để làm Nhà lưu niệm Trần Văn Khê. Những tâm hồn đồng điệu sẽ có dịp lui tới để nhớ về ông – người bạn, người có tâm hồn yêu âm nhạc dân tộc và làm rạng danh âm nhạc Việt ra quốc tế.

(Nguồn: Thanh Hiệp / Người Lao Động)

                

 

       

                   

                                                          Nhạc sư Vĩnh Bảo và con gái

                    

      

                                             Nghệ sĩ Kim Cương ngồi cạnh Ca sĩ Bạch Yến

       

      

     

               

                                                    Nghệ sĩ Ngọc Giàu & Út Bạch Lan

       

                                                             Nghệ sĩ Bạch Tuyết

                 

                                                                    Ca sĩ Họa Mi

               

                                                             Ca sĩ Giao Linh 

         

        

                                         

                                                Trần Quang Minh (kiếng mát) & Trần Quang Hải

 

                                 Một số cựu học sinh & Thày Trần Thành Minh - Petrus Ký

      

                     

            

                                     Tổng lãnh sự quán Pháp, ông Emmanuel Ly - Batallan

           

                                                   Nghệ sĩ Hải Phượng và ban đàn 

   

       

      

    

  

    

   

                 

                                       (Nguồn hình ảnh: từ nhiều báo điện tử trên internet)

Sáng 29/6, lễ động quan Giáo sư Trần Văn Khê diễn ra tại nhà số 32, Huỳnh Đình Hai, TP HCM. Dù 6h nghi thức mới bắt đầu, từ trước đó, rất đông người tề tựu về tư gia của ông để chờ giây phút tiễn đưa linh cữu.

Mở đầu nghi thức động quan, ông Trần Quang Hải - con trai trưởng Giáo sư Trần Văn Khê - đọc bài điếu văn ngắn gọn. Trong đó, ông Hải và gia đình tri ân sâu sắc tất cả những người sát cánh gia đình ông để lo việc hậu sự cho cha mình suốt thời gian vừa qua. Ông dành lời cám ơn những người thân, học trò, bạn hữu của cha - những người đã chăm sóc cho Giáo sư Trần Văn Khê trong thời gian ông lâm bệnh.

Điếu văn không nhắc đến tiểu sử của Giáo sư Trần Văn khê vì theo ông Hải phần thông tin này đều được mọi người nắm rõ. Ông Hải nhắc về sự nối tiếp, kế tục những công việc mà cha ông để lại: “Ba tôi là người đã dành cả cuộc đời cho âm nhạc Việt và văn hóa Việt. Ba không chỉ là cha, người thầy mà còn là người đồng nghiệp của tôi suốt 50 năm qua, cha con tôi sát cánh với nhau trong các hoạt động âm nhạc trên trường quốc tế... Thế giới ngày này biết rõ và tôn vinh âm nhạc Việt Nam qua bảy di sản văn hóa phi vật thể như: nhạc Cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ, ca trù, hát xoan, đờn ca tài tử, hát ví dặm, trong đó có đóng góp của cha và tôi. Hiện nay, tôi tiếp tục tiếp nối con đường mà ba tôi vạch ra để tiếp tục quảng bá, giới thiệu hát bài chòi, hát chầu văn... với thế giới".

Ông Hải cho biết theo đúng di nguyện của Giáo sư Trần Văn Khê, toàn bộ số tiền phúng điếu sau tang lễ sẽ được tổng kết và dùng lập quỹ học bổng mang tên Giáo sư. Trong tương lai, ngôi nhà số 32 Huỳnh Đình Hai được kỳ vọng trở thành Trung tâm Trần Văn Khê chuyên về các loại hình văn hóa - nghệ thuật của miền Nam.

Dù đau buồn, những ngày qua, gia đình, người thân và nhiều người đến viếng tang Giáo sư Khê đều không tạo không khí bi lụy với ý nguyện để Giáo sư ra đi thanh thản. Sau phần điếu văn, linh cữu Giáo sư Khê được chuyển ra xe lên đường về Bình Dương. Nước mắt lăn dài trên gương mặt mọi người nhưng ai nấy đều cố kìm nén để không khóc thành tiếng. Đoạn đường Huỳnh Đình Hai trước nhà Giáo sư được lấp đầy với xe tang lễ và dòng người dân xếp hàng chờ. Trong số đó, có nhiều nghệ sĩ như: ca sĩ Hồng Hạnh, đạo diễn Lê Quý Dương, diễn viên Thành Lộc... Dù lượng người tập trung trước nhà Giáo sư Khê khá đông - ước tính khoảng 1.000 người, nghi thức di quan diễn ra trong trật tự và trang nghiêm nhờ lực lượng công an giao thông và bảo vệ điều phối hiệu quả.

Giữa hàng dài vòng hoa tang, người dân đứng chen cứng hai bên đường nhường lối cho gia đình Giáo sư Khê di chuyển với bài vị và di ảnh của ông. Khi xe tang di chuyển ngang Đại học Bình Dương, hàng trăm sinh viên - giảng viên của trường đứng ở cổng, cầm trên tay những bông cúc trắng vẫy chào tạm biệt ông lần cuối. Giáo sư Trần Văn Khê từng giảng dạy tại ngôi trường này. Bạn Nguyễn Thị Thảo, sinh viên Khoa Ngoại ngữ - Đại học Bình Dương cho biết dù chưa học Giáo sư Khê ở trường ngày nào, nhưng cô biết đến ông rất nhiều qua sách vở, báo chí và rất yêu quý nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Thảo là một trong số rất đông sinh viên theo đoàn xe tang về đến đài hỏa táng ở Nghĩa trang Hoa Viên để tiễn biệt Giáo sư.

Tại Đài hóa thân Hoàn vũ ở Nghĩa trang Hoa Viên, các nghi thức cuối cùng được thực hiện trước khi thi hài Giáo sư Khê được đưa vào nhà hỏa táng. Sau nghi lễ Phật giáo, Tiến sĩ Nguyễn Nhã run run đọc bài thơ "Khóc Giáo sư Trần Văn Khê". Giọng đọc trầm buồn của ông khiến những người xung quanh đều rơi nước mắt. Cuối cùng, con trai Giáo sư - ông Trần Quang Hải - một lần nữa nói lời tri ân những người tới viếng. Sau lời tri ân này, mọi người xếp hàng dài để chờ đặt trước trước linh cữu Giáo sư Khê những bông cúc trắng chia tay.

Tro cốt của Giáo sư Khê được mang về đặt tại ngôi nhà ở Huỳnh Đình Hai dưới bàn thờ ông bà như ý nguyện của ông.

(Nguồn: Hà Anh Duy - VNExpress)

                    Lễ Động Quan và Hỏa Táng GS-TS Trần Văn Khê (VNExpress):   youtube

                                  Huế tưởng nhớ GS-TS Trần Văn Khê: youtube

 

 

 

"Nhã nhạc – Nhạc Cung đình Việt Nam" - Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại của Huế, và cũng là Di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận có công đặc biệt lớn của cố Giáo sư Trần Văn Khê.

Đó là ý chính trong bài phát biểu của TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (TTBTDTCĐH) ở lễ tưởng niệm giáo sư Trần Văn Khê do Trung tâm này tổ chức chiều 26/6 tại nhà hát Duyệt Thị Đường, Đại Nội Huế.

Hàng trăm nhạc công, nghệ sĩ Nhã nhạc cung đình Huế, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa Huế, lãnh đạo các thời kỳ của TTBTDTCĐH và lãnh đạo các kỳ của tỉnh Thừa Thiên Huế đã đến tham dự, lắng lòng tưởng nhớ cây đại thụ có công lớn trong việc phát huy, bảo tồn nền âm nhạc truyền thống nước nhà. Nhiều cá nhân tại Huế trong buổi lễ cũng đã nhiệt thành đóng góp cho Quỹ học bổng Trần Văn Khê theo di nguyện của Giáo sư để dành tặng cho những công trình nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam.

(Nguồn: Đại Dương- Dân Trí)


                                  

                                      Thủ Bút của GS-TS Trần Văn Khê (Tết Ất Mùi 2015)

                    

           

                            GSTS Trần Văn Khê bình luận về RỒNG VIỆT:  youtube


Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn
                       Người viết: Hãn Nguyên Nguyễn Nhã 24/06/2015

Chỉ cách đây ít lâu, trong một buổi nói chuyện thường kỳ "Vinh danh lịch sử văn hóa Nam bộ: Lịch sử cải lương" tại nhà riêng của GS-TS Trần Văn Khê (32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP.HCM), ông nói rằng 'niềm vui buổi nói chuyện hôm nay sẽ giúp tôi sống thêm 5 ngày nữa'.

                            
                Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn

Như thế GS Trần Văn Khê đã biết trước ngày giáo sư phải ra đi và chắc ông cũng biết sự ra đi của mình sẽ để lại biết bao niềm tiếc thương cho mọi người, nhất là những người quan tâm đến Hồn Việt, về giá trị của Hồn Việt đối với việc xây dựng đất nước hùng cường.

Tôi còn nhớ vào năm 1993, tôi có cuộc phỏng vấn GS-TS Trần Văn Khê khi mời ông tham gia Trung tâm nghiên cứu Gia Định (Nam bộ). GS Trần Văn Khê đã nói đây là cuộc phỏng vấn “rút ruột mình” và đã đưa cho một số người coi, trong đó có người đã sao hơn 10 cuốn băng nhựa cho những người thân ở Canada được coi. Thật sự tôi rất xúc động khi GS-TS Trần Văn Khê kể rằng khi tốt nghiệp ngành Chính trị học ở Pháp, bị bệnh nằm bệnh viện đã suy nghĩ về truyền thống 4 đời nhạc sĩ của gia đình mình. Và ông đã đi tới quyết định trở về với cội nguồn truyền thống gia đình cũng như dân tộc mình, phải tiếp bước ông cha và quyết học lấy bằng tiến sĩ về âm nhạc truyền thống. Chính vì quyết định về cội nguồn trên mà sự nghiệp của GS-TS Trần Văn Khê thật sự tỏa sáng, đóng góp nhiều công lao quảng bá những gì độc đáo của âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Trong đó đặc biệt góp phần nghiên cứu, giữ gìn những tinh hoa, bản sắc Việt rất đáng tự hào như ca trù, nhã nhạc cung đình Huế, nhạc cồng chiêng Tây nguyên và biết bao di sản đáng tự hào của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Mặc dù mắc nhiều bệnh từ tiểu đường đến tim mạch, “luôn sống chung với lũ”, nhưng GS Trần Văn Khê luôn hăng hái tham gia rất nhiều hoạt động văn hóa, luôn khuyến khích động viên các thế hệ trẻ tham gia các chương trình văn hóa dân tộc như chương trình của CLB Tiếng hát quê hương; Chương trình đem âm nhạc truyền thống, đem dân ca, ngâm thơ vào trường học; Chương trình quảng bá bếp Việt ra thế giới…

Cuộc đời có rất nhiều điều kỳ thú đã kể lại qua nhiều tập hồi ký mà chị Lý Thị Lý cùng với Công ty sách Phương Nam đã tích cực lo xuất bản để công chúng thưởng lãm. GS-TS Trần Văn Khê cũng có nhiều bạn tri kỷ tri âm nổi tiếng như nhạc sư Vĩnh Bảo, nhạc sĩ Phạm Duy, đã để lại những ký ức của nhau nhiều xúc cảm, cũng đã khóc bạn tha thiết khi bạn qua đời như đám tang nhạc sĩ Phạm Duy.

Tuy cuộc sống gia đình vợ chồng không được suôn sẻ, song lúc nào GS-TS Trần Văn Khê cũng lo cho cuộc sống của nhau ngay tới khi người bạn đường qua đời và để lại thế hệ con cháu nhiều tài năng về âm nhạc như GS-TS Trần Quang Hải về đàn môi hay người cháu gái nội đang đam mê quảng bá ẩm thực Việt để tiếp bước ông nội có những kiến thức uyên bác và những phát biểu rất hay về ẩm thực Việt.

Tôi quen với GS-TS Trần Văn Khê từ thập niên 1960 qua GS Hoàng Xuân Hãn, khi tôi là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tập san Sử Địa, thường thư từ qua lại với nhau, song phải nói rất thân từ khi tôi mời GS-TS Trần Văn Khê tham gia hội thảo khoa học Bản sắc Việt Nam trong âm nhạc năm 1998 tại Khách sạn Majestic và hội thảo Tiệc cưới, tiệc đãi quốc khách Việt Nam tại Khách sạn Kỳ Hòa năm 1999 và mời GS-TS Trần Văn Khê về dạy môn âm nhạc truyền thống tại khoa Du lịch ở Trường đại học Hùng Vương mà GS-TS Trần Văn Khê nói sau khi đã dạy biết bao sinh viên nước ngoài từ Á đến Âu thì đây là lần đầu tiên được dạy sinh viên Việt Nam bằng tiếng Việt tại nước Việt Nam…

Chắc ai có duyên may mới quen được GS-TS Trần Văn Khê và sẽ ngưỡng mộ sự nghiệp, cuộc đời của GS Khê, song tôi chưa từng thấy ai lại có nhiều duyên may như GS-TS Trần Văn Khê, người từng được duyên may mời ở khách sạn 4, 5 sao Majestic mà nhất định không phải trả tiền, ở bao lâu cũng được. Hay có duyên may được “thành phố” thời bà Nguyễn Thế Thanh làm Phó giám đốc Sở Văn Hóa Thể Thao giao biệt thự khang trang làm nơi trưng bày nhạc cụ dân tộc để GS-TS Trần Văn Khê ở cùng lấy nơi đây là nơi sinh hoạt văn hóa dân tộc. Nhiều người đang mong biến nơi đây thành Trung tâm nghiên cứu văn hóa Nam bộ và tiếp tục có những sinh hoạt văn hóa thường kỳ mà GS-TS Trần Văn Khê đã dụng công truyền lửa cho các thế hệ trẻ.

Thật là mất mát vô hạn khi GS-TS Trần Văn Khê không còn nữa. Song cũng thật là duyên may hiếm có để cùng nhau tiếp bước GS-TS Trần Văn Khê giữ hồn dân tộc tại một nơi mà GS Trần Văn Khê đã truyền lửa cho biết bao thế hệ trẻ vậy. Hi vọng sau này sẽ có các giải thưởng Trần Văn Khê cho các tài năng trẻ, nhất là về âm nhạc truyền thống. Có ý kiến cho rằng để thiết thực hữu ích cho mai sau thay vì đưa các vòng hoa thì nên đưa vào quỹ văn hóa giáo dục Trần Văn Khê vậy.

GS Trần Văn Khê mặc áo dài khăn đóng trình diễn nhạc cổ truyền - Ảnh: tư liệu gia đình

Khóc GS-TS Trần Văn Khê
Bác Khê ơi, bác ra đi
Biết bao thương tiếc nói gì giờ đây
Giữ hồn Việt bản sắc này
Công lao của bác, càng ngày khắc ghi
Định hình bản sắc phát huy
Âm nhạc truyền thống những gì Việt Nam
Văn hóa ẩm thực vẻ vang
Văn hóa dân tộc Việt Nam tự hào
Lương sư hưng quốc thuở nào
Bác Khê tiếp bước nêu cao tinh thần
Rồi đây tuổi trẻ rất cần
Noi theo gương bác giữ hồn Việt Nam
Dựng xây nội lực đàng hoàng
Nguy cơ thuộc quốc sẽ càng đẩy xa


Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (Tiến sĩ sử học) 

Nhạc sư Vĩnh Bảo:Tôi nghe bạn diễn thuyết đâm ra cũng mê

Kể về người bạn cố tri, thâm giao của mình, nhạc sư Vĩnh Bảo ngậm ngùi: “Tôi còn nhớ, năm 1972, tôi cùng với GS Trần Văn Khê đã diễn tấu ghi âm Nhạc tài tử Nam bộ cho hãng Ocara và UNESCO tại Pháp, Đây chính là những viên gạch quan trọng đầu tiên để đến tháng 12/2013, Nhạc tài tử Nam bộ được UNESCO công nhận và đưa vào tài sản văn hóa phi vật thể của nhân loại…”.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (năm nay đã 98 tuổi), người mang rất nhiều danh hiệu: “Người bảo vệ cuối cùng của truyền thống”, ” đệ nhất danh cầm”, “nhà sáng tạo nhạc khí tài năng”… còn với nước Pháp thì ông đã là một “Hiệp sĩ Nghệ thuật và Văn chương”. Khi sinh thời, GS.TS Trần Văn Khê là đôi tri âm tri kỷ với nhạc sư, cả ngoài đời và sinh hoạt thường ngày lẫn trong nghệ thuật.

Đây chính là đôi “song kiếm hợp bích” hoàn hảo, hiếm hoi của nghệ thuật Việt Nam trải dài suốt gần cả thế kỷ. Tôn trọng lẫn nhau cả về nhân cách lẫn tình yêu nghệ thuật. Nhạc sư Vĩnh Bảo là thầy dạy đàn cho không biết bao nhiêu thế hệ học trò trong và ngoài nước. GS.TS Trần Văn Khê đã phong cho bạn mình những mỹ hiệu: Hậu tổ của đờn ca tài tử, Đệ nhất danh cầm…

Nhạc sư Vĩnh Bảo (98 tuổi), bạn tâm giao với cố GS Trần Văn Khê: “Bạn tôi và tôi đều lớn lên từ cái nôi âm nhạc tài tử. Hai chúng tôi đi đâu, làm gì cũng có nhau. Bạn tôi “về” rồi, tôi như chiếc bóng lẻ bạn.”

Mến tài, mến đức của nhau, đôi bạn già đi đâu cũng như hình với bóng. Nhạc sư Vĩnh Bảo đau xót: “Tôi nghe bạn mình nằm viện đã lâu rồi nhưng tôi cũng quá giá, đi lại khó khăn, vả lại, nghe nói bạn nằm trong phòng cách ly, vô trùng hoàn toàn lại quá yếu, hạn chế tối đa người thân vô thăm nên tôi cũng có ý đợi bạn về nhà tôi sẽ đền thăm. Nào ngờ… Vẫn biết cái tuổi của tụi tôi là “xưa nay hiếm”, như ngọn đèn hết dầu, không biết tắt lúc nào nhưng ở cái tuổi này, nghe bạn về với ông bà tổ tiên mà lòng cứ đau, cứ tiếc. Nhớ lúc sinh thời, các buổi hòa đờn, trình tấu, nói chuyện, tọa đàm nào, bạn cũng rủ tôi đi bằng được.

Tôi thì ngại vì cái “khoa” ăn nói không bằng bạn. Nhưng bạn cứ chèo kéo mãi mình cũng phải đi. Đi mà nghe bạn nói với khán giả, với người mê nhạc dân tộc, với các bạn trẻ mà tôi cũng… mê theo. Bởi bạn diễn giải, dẫn dắt câu chuyện rất thông tuệ mà ngôn ngữ lại bình dân nên người trong nghề, người “ngoại đạo”, già trẻ, lớn bé gì cũng thấm, cũng hiểu. Đó là cái hay, cái tài của bạn.”.

Người già giọt lệ như sương, nhưng nhạc sư Vĩnh Bảo không giấu được nước mắt khi nói về người bạn tâm giao của mình. Những lời tâm sự của ông, gần như một lời tiễn biệt một người bạn đã về cõi vĩnh hằng, một mất mát khó có thể bù đắp được với ông.

(Nguồn: Nguyên Quốc -  Báo Gia Đình/Xã Hội)

             

                             Nhạc sư Vĩnh Bảo hòa đàn với GS-TS Trần Văn Khê: youtube   

 

                                          Nhạc sư Vĩnh Bảo đàn tiễn bạn: youtube

     

                           Một số video về GS-TS Trần Văn Khê

 GS Trần Văn Khê hướng dẫn chơi nhạc cụ truyền thống Việt Nam: youtube

 Nét duyên trong dân ca - GS: Trần Văn Khê: youtube

 GS.TS. Trần Văn Khê nói về bản sắc dân tộc trong âm nhạc (1993): youtube

 GS.TS. Trần Văn Khê phát biểu về độc đáo ca trù và sáng tạo hát thơ (2002): youtube

GS.TS. Trần Văn Khê phát biểu về Nhạc sư Hải Linh (30/12/2008): youtube

 GS-TS Nhạc sĩ Trần Văn Khê: Tình thơ, duyên nhạc: youtube

Sầm Giang Tái Ngộ (Montréal, 1994)- Trần Văn Khê ngâm thơ và đàn tranh: youtube

Trần Văn Khê - Nghiên cứu tiếng cười trong Hát Bộ: youtube

UNESCO-List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity

In 1945, UNESCO was created in order to respond to the firm belief of nations, forged by two world wars in less than a generation, that political & economic agreements are not enough to build a lasting peace. It is in the minds of men and women that the defenses of peace & the conditions for sustainable development must be built.

Cutural Sector: Intangible cultural heritage includes traditions or living expressions inherited from our ancestors and passed on to our descendants, such as oral traditions, performing arts, social practices, rituals, arts, festive events, knowledge and practices concerning nature and the universe or the knowledge and skills to produce traditional crafts.

> 1A. "Nha Nhac", Vietnamese Court Music - 2003  1.B/ YOUTUBE

> 2. "Ca Trù" singing - 2009  (youtube) 

> 3. "Quan Họ Bắc Ninh" folk songs -2009 (youtube)

> 4. "Xoan" singing of Phú Thọ Province - 2011 (youtube)

> 5.  Art of "Don Ca Tai Tu", music and song of southern Vietnam 2013 (youtube)

> 6. "Ví & Giặm" folk songs of Nghệ Tĩnh - 2014 (youtube)

                Suy nghĩ về Giáo sư Trần Văn Khê
                           Hà Mi - BBCVietnamese.com - 25/6/2015
                   

         

Giáo sư Tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê vừa qua đời tại Sài Gòn sau thời gian nằm viện, hưởng thọ 94 tuổi.

Ông du học tại Pháp từ năm 1949 và là người Việt Nam đầu tiên đậu tiến sỹ Âm nhạc học vào năm 1958, với luận án tiến sĩ "Âm nhạc truyền thống Việt Nam". Ông được biết đến là người đã có công quảng bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra thế giới.

Sau đây là ý kiến của một số chuyên gia và nghệ sĩ về âm nhạc dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước chia sẻ với BBC về ông.

Truyền bá cái hay cái đẹp của nhạc dân tộc
(Gs Ts Khoa học Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam)

Vào những năm 1970 công việc nghiên cứu âm nhạc cũng đã làm khá kỹ khá nhiều nhưng chúng tôi đón được cuốn sách Âm nhạc Việt Nam cổ truyền của ông Khê, chúng tôi mừng lắm.

Ông phác cho chúng tôi suốt cả một lịch trình âm nhạc từ thời Lê đến thời kỳ Pháp thuộc. Đó là những tư liệu đầu tiên có sở cứu cho nên chúng tôi rất mừng.

Chúng tôi sau đó được biết ông Khê đã đi khắp nơi trên thế giới, ở nơi nào ông cũng tuyên truyền, trình bày cái hay cái đẹp của âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Lúc bấy giờ và ngay cả bây giờ nữa không phải chúng ta muốn tuyên truyền cái gì về âm nhạc dân tộc Việt Nam là được mà phải có điều kiện, phải có tài trình bày, phải có kiến thức hiểu biết và cũng có điều kiện để đi các nơi như ông Khê.

Cho tới những năm 2000 tôi được trực tiếp tiếp xúc với ông Khê, nhất là trong Hội nghị về Nhã nhạc. Lúc bấy giờ chúng tôi chuẩn bị làm hồ sơ cho UNESCO để người ta vinh danh di sản đầu tiên của Việt Nam là Nhã nhạc cung đình Huế.

Phải nói rằng ông Khê đóng góp rất nhiều vì trong công trình nghiên cứu âm nhạc Việt Nam cổ truyền ông đã giành rất nhiều trang cho âm nhạc cung đình, thành ra sự đóng góp để làm nổi bật cái hay cái đẹp cái cổ truyền và tính đặc sắc dân tộc trong âm nhạc cung đình Việt Nam còn lại ở thời Nguyễn, đã góp phần làm cho hồ sơ có tính hấp dẫn và thuyết phục cao và vì thế âm nhạc cung đình Huế là di sản đầu tiên được UNESCO vinh danh. Sau này về sống trong nước ông tiếp tục góp ý rất nhiều cho các hồ sơ sau.

Ngoài ra ông còn quan tâm đến việc giảng dạy cho các cháu nhỏ. Đấy chính là một biện pháp để duy trì nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông tự mình mở nhiều lớp và có các CLB để thu hút các cháu. Việc làm của ông trong phạm vi không lớn lắm nhưng chúng ta có thể nói rằng ông là con người cả đời đã cống hiến cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Nói về một con người thì có lẽ đấy là điểm đậm nhất, đẹp nhất về ông Khê.

Bảo tồn phát huy âm nhạc truyền thống

(Tiến sĩ Alexander Cannon, chuyên gia về âm nhạc dân tộc Việt Nam, Đại học Western Michigan, Mỹ)

Giáo sư-Tiến sĩ Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu vĩ đại của thế giới. Từ thập kỷ 1950, nhiều nhà nghiên cứu về âm nhạc dân tộc học (ethnomusicology) đã đọc các bài viết và sách của ông Trần Văn Khê về lịch sử âm nhạc truyền thống Việt Nam và về âm nhạc Châu Á ảnh hưởng tới âm nhạc Việt Nam như thế nào.

Cho đến nay, cuốn "Âm nhạc truyền thống Việt Nam" (La musique vietnamienne traditionnelle) của ông vẫn là cuốn sách hoàn hảo nhất về âm nhạc Việt Nam. Sở dĩ sinh viên Anh, Mỹ, Đức, Pháp và Nhật biết về âm nhạc Việt Nam là nhờ những giảng dạy của ông.

Tại Việt Nam, ai cũng biết việc ông Khê bảo tồn, phát huy âm nhạc truyền thống Việt Nam như thế nào.

Năm 2007, tôi bắt đầu làm nghiên cứu về nhạc tài tử Nam bộ (cũng gọi là đờn ca tài tử), một loại nhạc phổ biến ở TP. HCM và Đồng bằng sông Cửu Long, khác với nhạc cải lương. Lúc đó, ít người dân TP. HCM biết về đờn ca tài tử, chỉ biết về cải lương. Nhưng nay đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại và tất cả mỗi người Việt đều biết về đờn ca tài tử. Ngoài ra, nhiều người còn được giải thích đờn ca tài tử và nhạc cải lương khác nhau như thế nào. Lý do: Ông Khê là người đã phổ biến các kiến thức về loại nghệ thuật này.

Tôi may mắn được gặp ông hai lần vào năm 2007 và 2012. Lần cuối cùng, tôi phỏng vấn ông trong ba tiếng đồng hồ. Lúc bắt đầu nói chuyện, giọng nói của ông Khê mềm mại và có vẻ yếu ớt; nhưng tới cuối ông như chàng trai trẻ với giọng nói mạnh mẽ và cử chỉ cường tráng, với giải thích rõ ràng và lanh lợi.

Trong quá trình nói về hai phương pháp đàn tuỳ hứng của Việt Nam và Ấn Độ giống nhau như thế nào, ông đã hát một bài Ấn Độ, sử dụng các lời sa ri ga ma pa dha ni sa. Lời này tên là "sargam", giống như hò xự xang xê cống của Việt Nam hoặc là sol la do re mi của châu Âu. Có lẽ không có loại nhạc nào mà ông không biết!

Với ông Âm nhạc là nguồn sống. Trong quá trình viết các bài về âm nhạc truyền thống Việt Nam, tôi luôn đọc lại "La musique vietnamienne traditionnelle" hay là bài "Học chân phương mà đờn hoa lá" để nghe tiếng nói hướng dẫn của ông.

Những đóng góp của ông sẽ giúp mỗi nghệ sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam trong tương lai có thể thể hiện một phần tâm hồn ông qua nghệ thuật của mình.

Cây đại thụ

(Nguyễn Văn Khuê, Nghệ sĩ đàn đáy và con trai nghệ nhân ca trù Nguyễn Văn Mùi, gia đình có bảy đời theo nghệ thuật ca trù)

Từ những năm 90, mặc dù ở nước ngoài, nhưng ông đã để tâm rất nhiều, nhất là lĩnh vực nghệ thuật ca trù.

Ông đã đưa băng ca trù, như băng của bà Quách Thị Hồ, để thế giới cảm nhận được nghệ thuật ca trù là cao sang, độc nhất vô nhị của dân tộc Việt Nam, gắn liền với văn chương, lễ hội, phong tục tập quán của dân tộc. Ông là người có công rất lớn trong việc tìm nhặt lại những nghệ nhân ca trù đích thực của Việt Nam để giới thiệu giúp thế giới có thể cảm nhận vẻ đẹp của nghệ thuật ca trù. Đó là công lao rất lớn.

Khi về nước ông cũng xuống gặp gỡ gia đình nghệ nhân để tìm hiểu và thu thập tài liệu về ca trù để rồi thành một công trình rất lớn giúp sau này UNESCO công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Ngoài ra ông còn làm các công việc khác cho nhã nhạc Huế, đờn ca tài tử .v.v. Phải nói ông là một con người tôi vô cùng trân trọng.

Ông mất đi là một tổn thất lớn cho dòng nghệ thuật dân gian của Việt Nam. Ông là người có tâm, có đức, nghiên cứu rất kỹ về nhạc dân tộc. Để có những người kế cận được thì chắc lớp trẻ chắc cần phải có những năm tháng và rất nhiều học hỏi, nhất là ngành lý luận âm nhạc càng cần phải có trải nghiệm qua nhiều thời kỳ.

Ông Khê là một cây đại thụ, muốn có cây đại thụ như vậy thì phải mất nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, phải yêu đất nước, âm nhạc, con người và văn hóa Việt Nam thì mới có thể thay thế được.

Tạo cảm hứng và có ảnh hưởng dài lâu

(Tiến sĩ Barley Norton, Khoa Âm nhạc, Goldsmiths, ĐHTH London)

Ông Trần Văn Khê ra đi là một mất mát lớn cho âm nhạc Việt Nam. Là một nhạc sĩ, học giả và một trí thức, ông Trần Văn Khê đã truyền bá không biết mệt mỏi cho âm nhạc Việt Nam.

Suốt cuộc đời mình ông Khê đã tạo hứng khởi và làm rung động biết bao người và ông cũng là người đã có ảnh hưởng tới quyết định nghiên cứu âm nhạc Việt Nam của tôi.

Khi tôi bắt tay vào việc làm thạc sĩ về âm nhạc dân tộc học tại Đại học Tổng hợp London vào đầu những năm 1990s, một số những băng ghi âm nhạc Việt đầu tiên mà tôi được nghe là do ông Trần Văn Khê thực hiện, và cuốn sách đặt nền tảng của ông La Musique Vietnamienne Traditionelle, đã lần đầu tiên giới thiệu cho tôi về lịch sử, nhạc cụ và các thể loại âm nhạc Việt Nam.

Đọc sách và nghe những băng ghi âm của ông từ thời những năm 1960s và 1970s với các thể loại âm nhạc truyền thống, như ca trù, nhã nhạc và hát bội đã tạo hứng khởi cho tôi tìm hiểu thêm về âm nhạc Việt Nam. Thế là tôi đã liên lạc với ông Trần Văn Khê và tới thăm ông tại gia ở Paris.

Vào lúc đó tôi biết ít về nhạc Việt Nam và chưa từng tới Việt Nam nhưng tôi nhớ ông đã giành cho tôi rất nhiều thời gian của ông và khuyến khích tôi nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Sau cuộc gặp ở Paris, tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào mùa hè năm 1994 để nghiên cứu về nghệ thuật ca trù và tôi tiếp tục nghiên cứu và viết về âm nhạc Việt Nam kể từ đó.

Tôi gặp lại ông lần nữa tại một hội nghị về âm nhạc ở Hà Nội vào năm 2005, hơn một thập niên sau lần gặp đầu tiên ở Paris, tôi lại được nhắc nhở tới sức hấp dẫn và nhiệt huyết đầy lôi cuốn của ông khi ông cuốn hút khán giả bằng những lời bình uyên bácvề các kỹ thuật hát khác nhau.

Ông Trần Văn Khê là một trong số ít các học giả có khả năng truyền tải những tư tưởng phức tạp theo cách giải trí và thường là hài hước.

Năm 2004 ông trở lại sống tại Việt Nam và tiếp tục làm công việc của một đại sứ cho âm nhạc Việt Nam. Cho tới khi sắp qua đời, ông vẫn là một người viết nhiều và hoạt động tích cực trong việc hỗ trợ phục hồi những thể loại âm nhạc cổ truyền đang bị lãng quên.

Được nhìn nhận là "cha già" của những nghiên cứu âm nhạc Việt Nam, những bài viết và băng đĩa phong phú của ông sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới các thế hệ tương lai trong nhiều năm nữa.

 

       TRẦN VĂN KHÊ : THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
                            Người viết: Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

 
                                      


Cái khó nhứt của tôi là viết về cha tôi , một người rất nổi tiếng trong giới nghiên cứu nhạc Việt Nam và Á châu . Nếu viết khen nhiều hơn chê thì thiên hạ sẽ cho là thiên vị, là người trong nhà khen lẫn nhau . Dù ai có muốn nói gì, nghĩ gì, đối với tôi không quan trọng . Tôi viết về cha tôi cũng như tôi đã viết về nhiều nhạc sĩ, ca sĩ khác . Tôi chỉ ghi những gì tôi biết về cha tôi với một cái nhìn khách quan tối đa . Nhân dịp Lễ Các Người Cha (Father's Day), tôi ghi lại một số hình ảnh của một người cha, một người thầy và một nhà nghiên cứu âm nhạc đã mang lại cho nền âm nhạc Việt Nam những hào quang rực rỡ chói sáng trên thế giới mà chưa có ai có thể làm được cho tới ngày hôm nay.

I. Thời thơ ấu

Đêm rằm tháng 6 âm lịch năm Tân Dậu (1921), chú bé Trần Văn Khê chào đời trong một gia đình bốn đời nhạc sĩ .

Cụ cố Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công Triều đình Huế . Ông nội là Trần Quang Diệm, tục danh là Ông Năm Diệm, biết đàn kìm, đàn tranh nhưng chuyên đàn tỳ bà theo phong cách Thần kinh . Cha là Trần Quang Triều, mà giới tài tử trong Nam thường gọi là Ông Bảy Triều biết đờn nhiều cây, mà đặc biệt nhứt là đờn độc huyền (đàn bầu), và đờn kìm (đàn nguyệt). Với đờn độc huyền, Ông Bảy Triều đã bắt chước tiếng đào thán, tiếng ca nỉ non, nũng nịu của một người con gái, và ông đã chế ra cách lên dây đờn kìm mà ông gọi là «dây Tố Lan», thuộc hò nhì, lấy chữ xự làm hò mà dây Tồn cao bằng giọng hò trầm, thường dùng để đờn Văn Thiên Tường và Tứ đại oán, mà giới tài tử trong Nam đều biết và còn sử dụng . Người cô thứ ba Bà Trần Ngọc Viện, tục gọi là Cô Ba Viện, trước dạy nữ công tại trường áo tím, năm 1926 vì để tang Cụ Phan Châu Trinh nên bị sa thải , về Vĩnh Kim lập gánh hát Đồng Nữ Ban, toàn diễn viên con gái, con nông dân vùng Vĩnh Kim, Đông Hòa, Long Hưng, đàn tranh rất hay và đã truyền ngón cho Trần Văn Khê trong những bài Nam Xuân, Nam Ai .

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương, đã làm đến chức Khâm sai Kinh Lược Nam Kỳ, tuyệt thực tử tiết khi Pháp chiếm thành Hà Nội lúc Cụ đang giữ chức Tuyên sát đồng sức Đại thần miền Bắc . Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc, lúc sinh thời đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước, Vĩnh Kim để cho hai người con là Nguyễn Tri Lạc và Nguyễn Tri Khương học các thứ đờn . Ông Nguyễn Tri Khương, cậu thứ năm của Trần Văn Khê mà cũng là thầy dạy Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội, đã sáng tác nhiều bản nhạc theo truyền thống như «Yến tước tranh ngôn», «Phong xuy trịch liễu» mà Trần Văn Khê đã ghi âm vào dĩa hát CD OCORA số C 56005. Mẹ là Nguyễn Thị Dành không được Cha cho học nhạc, nhưng thường thích nghe hòa nhạc trong gia đình.


Trần Văn Khê và thân mẫu (1924)

 
Trần Văn Khê chẳng những được may mắn sanh trong một gia đình mà hai bên nội ngoại đều là nhạc sĩ , mà lại được «thai giáo» một cách rất đặc biệt. Nhà phía bên nội ở gần lò heo, nên người cậu thứ năm làÔng Nguyễn Tri Khương đã xin phép nội tổ được đem mẹ Trần Văn Khê về dưỡng thai trong miếng vườn riêng có trồng nhiều thứ hoa đẹp lại xa lò heo, không nghe tiếng heo kêu la khi bị thọc huyết . Mỗi ngày ông lại thổi sáo và đàn tranh cho người em gái là thân mẫu Trần Văn Khê nghe mỗi sáng, trưa, chiều . Mắt không xem hát bội, không xem đá gà, chỉ thường đọc những sách như «Nhị Thập Tứ Hiếu», «Gia Huấn Ca». Sau khi chào đời, mỗi ngày Trần Văn Khê vẫn tiếp tục được nghe đàn sáo của cậu Năm Nguyễn Tri Khương, và cậu Mười Nguyễn Tri Ân cũng là người thổi ống tiêu rất hay .

Sau khi cúng thôi nôi, được ông nội rước về ở gần Ông và hàng ngày nghe ông đờn tỳ bà, cha đờn độc huyền, cô đờn tranh, chú bé đã sống trong một không khí đầy nhạc . Khách tới, ông nội đờn bài Lưu Thủy, để cho chú bé Trần Văn Khê nhảy cà tưng trong tay người cô hay người khách, cho thấy chú bé biết theo nhịp , hễ ông đờn mau, thì nhảy mau, ông đờn chậm thì nhảy chậm .

Sáu tuổi đã biết đờn kìm (đàn nguyệt) , đờn mấy bản dễ như «Lưu Thủy», «Bình Bánvăn», «Kim Tiền», «Long Hổ Hội» .Bảy tuổi đã tập cho các chị diễn viên gánh Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện hát bài «La Madelon» để chưng màn đầu cải lương . Tám tuổi biết đờn cò. Mười hai tuổi biết đờn tranh và đánh trống nhạc, biết cùng với người anh họ, anh Ba Thuận, con của cậu Năm Khương chơi trò làm chai, xô giàng, khai xá, đề phang .




Nhưng Trần Văn Khê lại bị mồ côi rất sớm. Ba tuổi ông ngoại qua đời . Năm tuổi đến phiên ông nội . Mẹ mất năm 9 tuổi, và năm sau 10 tuổi cha từ trần . Cô Ba Viện nuôi ba anh em Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương đến ngày khôn lớn. Tuy mới lên 10 tuổi, mà cô ba đã lo việc đào tạo con người cho cháụ Trước hết phải biết đi xe đạp, phải đa.p đi lần từ nhà ra ngả ba chim chim, rồi đi đến Xoài hột, rồi tới Mỹ Tho cách nhà 14 cây số. Phải biết lội . Hàng ngày cô nhờ mấy anh em bà con tập cho lội lần đến lúc bỏ bập dừa lội sang sông, cô mới cho tắm sông . Rồi cho học võ Thiếu Lâm với anh Ba Thuận, với mấy thày dạy võ trong vùng . Cho học để tự vệ, để khỏi sợ ma, mà không cho đi đấu . Cô lại mua cho một cây đờn kìm nhỏ vừa tay như bên Châu Âu con nít phải đờn violon 2/4 để khỏi hư ngón . Lúc nào đờn chơi, cô cũng nghe và vừa sai là sửa liền .

II. Thời kỳ học tập

 Sơ học

10 tuổi đậu Tiểu học. Sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi . Đến Tam Bình , Trần Văn Khê được học chữ Hán trong ba năm với Nhà thơ và nhà nho Thượng Tân Thị và trong kỳ Sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu Sơ Học có phần Hán Văn . Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đâ.u bằng chữ Hán .

Trung học

Vào trường trung học Trương Vĩnh Ký năm 1934, được cấp học bổng. Năm nào cũng đứng đầu lớp, và năm thứ tư học Pháp văn với ông Champion, được chấm đậu kỳ thi tuyển một học sinh xuất sắc nhứt trong năm đệ tứ để được du lịch trên chiếc xe lửa xuyên Việt năm 1938 từ Saigon đến Hà nội, ghé qua Phan Thiết, Tourane (Đà Nẳng), Nha Trang, Huế. Thêm một cái may trong đời học sinh là được học Việt văn và Hán văn với Giáo sư Phạm Thiều .

Đậu tú tài phần nhứt năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, và nhờ vậy được Giải thưởng đặc biệt của Đô Đốc Decoux, để đi viếng cả nước Cao Miên (Kampuchea) xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích và trên đường vềViệt Nam, ghé Hà Tiên. Nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, được nhà thơ Đông Hồ tiếp đãi trong một tuần, dẫn đi xem thập cảnh mỗi nơi được nghe một bài thơ hay do thi sĩ Đông Hồ đọc để vịnh cảnh đẹp .

Trong lúc học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký, đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong Câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của Hội SAMIPIC (Đức Trí Thể Dục Nam Kỳ) . Trần Văn Khê chỉ huy hai dàn nhạc đó, vừa phối khí dàn nhạc dân tộc có chen đàn Tây như mandoline, ghi-ta (guitar), vừa diễn trong khuôn khổ dàn nhạc Scola Club, những bài hát Tây loại «Les Gars de la Marine», «Sunset in Vienna», vv…làm trưởng ban tổ chức lễ Ông Táo trước ngày lễ nghỉ vào dịp Tết Ta, Tổng thư ký hội Thể Thao, và giữ tủ sách của trường trong ba năm Tú Tài .

Được học bổng của chánh phủ thuộc địa, lại được bổng đặc biệt của hội SAMIPIC , Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa .

Đại Học

Tại Đại Học Hà Nội, cùng với các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng Hội Sinh Viên mà Chủ tịch là Dương Đức Hiền và sau này là Phạm Biểu Tâm.

Trần Văn Khê đứng trong ban tổ chức đêm hát trường đại học hằng năm, không được học nhạc Tây phương bao giờ, chỉ học dương cầm (piano) vài giờ với Bình Minh , con gái của Đốc Công Đức, sau tự học piano, mà dám phê bình các nhạc sĩ trong dàn nhạc trường đại học, mà phê bình đúng, nên được các nhạc sĩ cử làm chỉ huy dàn nhạc trường đại học . Trần Văn Khê thừa dịp đó để có thể , ngoài những bản thông thường của nhạc Tây phương như «La Veuve Joyeuse», «Marche Turque», «Monument Musical»,v.v. giới thiệu những bài hát thanh niên và lịch sử của Lưu Hữu Phước .

Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước tập cho học sinh trường Thành Nhân hát bài hát «Thiếu Sinh», các cô trường Đồng Khánh hát bài «Thiếu Nữ Việt Nam», sinh viên Đại Học Hà Nội hát bài «La Marche des Etudiants», và đầu năm 1943, dựng ca nhạc kịch «Tục Lụy» (Thơ của Thế Lữ, nhạc phổ Lưu Hữu Phước) với nữ sinh trường Đồng Khánh Hà Nội, hè 1943, dựng ca kịch «Tục Lụy» với nữ sinh trường áo tím Nữ học đường (sau đổi thành trường Gia Long cho tới năm 1975 đổi thành trường Nguyễn Thị Minh Khai) .

Trần Văn Khê tham gia phong trào «Truyền bá quốc ngữ» trong ban của Bà Hoàng Xuân Hãn, «Truyền bá vệ sinh» của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến «Đi Hội Đền Hùng», và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà .

III. Lập Gia Đình và Hoạt Động Xã hội

Năm 1943 , Trần Văn Khê lập gia đình với Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở trường Pétrus Ký. Bà Sương là một trong bốn nữ sinh học ban Tú Tài của trường con trai Pétrus Ký vì lúc đó trường Áo Tím không có lớp trình độ trung học nhị cấp như bây giờ. Nguyễn Thị Sương rất giỏi về triết lý, bài viết đã từng được trên đài phát thanh . Lúc đó còn đang học trường thuốc, Trần Văn Khê nghe lời người cô Trần Ngọc Viện, người đã lo cho ăn học từ nhỏ tới lớn, để lập gia đình, với hy vọng có con trai nối dòng họ Trần . Trong gia đình họ Trần, thân phụ Trần Văn Khê đã qua đời sớm , để lại hai trai là Trần Văn Khê và Trần Văn Trạch (từ trần năm 1994 tại Paris, Pháp) . Nếu không may hai cậu trai ấy qua đời mà chưa có con trai nối dòng thì dòng họ Trần sẽ tuyệt . Nghe theo lời của cô , Trần Văn Khê chịu lập gia đình. Trần Văn Khê yêu cô Nguyễn Thị Sương, bạn học cùng lớp Tú tài ở trường Pétrus Ký, người con gái thùy mị, dễ thương, học giỏi nhứt bên phía nữ, con gái đầu lòng của ông Hanh (Nguyễn Văn Hanh), giáo viên tại Saigon và sau đó làm đốc học tại Thủ Đức . Vào mùa hè năm 1943, sau mấy năm đeo đuổi hình bóng người con gái miền Nam kiều diễm, hiền hòa, Trần Văn Khê đã cùng Nguyễn Thị Sương sánh duyên, mang lại cho dòng họ Trần 4 đứa con: hai trai (Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở Saigon) và hai gái (Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris) . Sự hy sinh cao cả của người vợ hiền suốt thời gian tranh đấu cho đất nước đã giúp cho Trần Văn Khê làm tròn sứ mạng của một thanh niên yêu nước có đủ thì giờ tranh đấụ Từ 1949 khi Trần Văn Khê lên đường sang Pháp để lại quê nhà một vợ, 3 con thơ dại và một đứa con còn nằm trong bụng mẹ , người vợ đã trở thành cô giáo dạy Pháp văn vàAnh văn để nuôi và dạy dỗ 4 con cho tới ngày trưởng thành . Sự hy sinh đó đã được đền bù xứng đáng là các con ngày nay đều thành danh, mang lại cho đất nước những tiếng thơm tốt đẹp qua những thành quả gặt hái khắp năm châu bốn biển của con trai đầu lòng Trần Quang Hải .


Hình cưới Trần Văn Khê và Nguyễn Thị Sương (1943)

Mùa thu năm 1943, sau khi thi đậu đầu từ năm thứ nhứt đến năm thứ nhì trường Thuốc, đã bắt đầu chuẩn bị thi ngoại trú (Externe des Hơpitaux) thì nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về Nam . Thứ nhứt là tại vấn đề sức khỏe: bị rét rừng rất nặng. Trần văn Khê không có vi trùng lao trong cơ thể thử theo cách tiêm dưới da (intra dermo) cũng không thấy có vi trùng, thì khi học đến những bịnh truyền nhiễm , thì không đủ sức để kháng cự

Thứ hai là lúc đó có phong trào «Xếp bút nghiên». Lưu Hữu Phước đặt nhạc và Huỳnh Văn Tiểng viết lời bản nhạc «Xếp bút nghiên» đã được các sinh viên thời đó hát hăng say .

    ….Lúc quê hương cần người
    Dứt là tơ vương
    Giã trường lên yên …

Nhiều bạn trong đó có Lưu Hữu Phước và Huỳnh Văn Tiểng đã rời nhà trường, không phải lên yên ngựa mà lên xe đạp đi về Nam bằng xe đạp . Trần Văn Khê lúc đó đau rét rừng mới hết, còn yếu, nên về Nam bằng xe lửa .

Lý do thứ ba là lúc ấy bắt đầu có nạn đói tại miền Bắc . Trần Văn Khê và Lưu Hữu Phước định về Nam để lập một gánh hát sinh viên đi các tỉnh vừa giới thiệu bài hát thanh niên, lịch sử của Lưu Hữu Phước, vừa góp tiền mua gạo gởi ra cứu đói ngoài Bắc . Và gánh hát không chuyên nghiệp và lưu động của sinh viên đã đi trong mấy tháng tại các tỉnh miền Đông và miền Tây để hát .

Về Nam, cùng với các bạn sinh viên , Trần Văn Khê tham gia tổ chức «Đêm Lam Sơn» tại Saigon, để ủng hộ học sinh trại «Suối Lồ Ồ». Rồi tham gia phong trào «Thanh Niên Tiền Phong»

Đầu năm 1944, Trần Văn Khê dạy học tại hai trường tư lớn nhứt tại Saigon: trường Lê Bá Cang và trường Nguyễn Văn Khuê .

Ngày 13 tháng 5 dương lịch, năm 1944, Trần Quang Hải , con trai đầu lòng của Trần Văn Khê ra đời tại nhà bảo sanh Thủ Đức . Lưu Hữu Phước đã viết một ca khúc «Trần Quang Hải bao nỗi mừng» để chào mừng con trai đầu tiên của người bạn chí thân của mình .


Trần Văn Khê và Nguyễn Thị Sương (1949)

Ba tháng sau, cô Ba Viện, người cô và cũng là người ơn đã nuôi nấng, dạy dỗ Trần Văn Khê từ lúc mới mồ côi đến khi trưởng thành, qua đời, chưa kịp thấy mặt đứa cháu trai nối dòng họ Trần .

Các trường tản cư xuống tỉnh. Trường Pétrus Ký do Giáo sư Đặng Minh Trứ làm Giám đốc, được chuyển về Bến Tre. Trần Văn Khê trong khi chuẩn bị dạy trường ấy, dạy học trường tư thục của bác sĩ Nguyễn Văn Còn .

Lúc ấy, ngoài việc dạy học, còn tham gia Ban tuyên truyền của tỉnh Bến Tre cùng với Đặng Ngọc Tốt, đi các nơi trong tỉnh Bến Tre, Sa Đéc. Anh Đặng Ngọc Tốt diễn thuyết, Trần Văn Khê hát các bài nhạc của Lưu Hữu Phước để nhắc lại những trang lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam .

Sau ngày 9 tháng 3, năm 1945, Nhựt đảo chánh, Trần Văn Khê cùng các bạn sinh viên Đại Học Hà nội, ủng hộ «Chánh phủ cá", «Chánh phủ cách mạng lâm thời " và thành lập nhóm «Hoàng Mai Lưu» (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước) . Lúc đó Trần Văn Khê bắt đầu quen biết Phạm Duy, và giới thiệu Phạm Duy cho Lưu Hữu Phước .

IV. Tham Gia Kháng Chiến

Từ tháng 8, năm 1945, Ông Phạm Văn Bạch lúc ấy làm chánh chủ tỉnh Bến Tre đã ký giấy cho Trần Văn Khê lên chợ Thiên Hộ gặp Huỳnh Văn Tiểng, lúc đó làm Phó Chủ tịch ủy ban kháng chiến Nam bộ.

Trước khi vào khu kháng chiến , Trần Văn Khê đưa gia đình về Vĩnh Long. Tại đó gặp Phạm Duy lúc Duy theo gánh hát cải lương «Đức Huy – Charles Miều» đêm đêm hát tân nhạc giữa hai màn cải lương. Mỗi đêm sau khi vãn hát, Trần Văn Khê và Phạm Duy gặp nhau nói chuyện về nhạc mới .

Đến chợ Thiên Hộ, Trần Văn Khê được Huỳnh Văn Tiểng ký tên bổ nhậm làm «Nhạc trưởng quân đội Nam bộ» với cấp Đại đội trưởng trong Cộng hòa vệ Binh.

Lưu Hữu Phước đã cùng Trần Văn Khê đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các giọng kèn Tây thổi lúc sáng thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ , v.v. Lưu Hữu Phước tình nguyện đi làm thuốc súng và lựu đạn với Nguyễn Mỹ Ca tại Hỏa Lựu (Rạch Giá). Trần Văn Khê đi kháng chiến, mà hiếu hòa, không ưng cầm súng, nên đi khắp nơi thay đổi các điệu kèn quân đội, tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hòa. Đi khắp vùng Đồng Tháp, Chợ Thiên Hộ , đi đến Hậu giang, các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, đi đến Cà Mau, Năm Căn, Cái Nước vừa giúp ban tuyên truyền Nam bộ trong việc huy động toàn dân kháng chiến, vừa thâu tiền lẻ để giúp nhà thương quân y, như nhà thương ở Lẫm Biện Tú, vùng Cái Nước do bác sĩ Nguyễn Tú Vinh cai quản . Ủy lạo chiến sĩ ngay mặt trận, đàn và hát cho thương binh nghe những điệu hát câu hò dân gian, và nhứt là những bài nhạc của Lưu Hữu Phước .

Tháng 3, năm 1946, đứa con trai thứ nhì Trần Quang Minh ra đời . Như vậy là Trần Văn Khê đã làm cho cô ba Viện an lòng nơi chín suối . Gia đình họ Trần đã có con trai nối dòng rồi! Và lúc ấy cả gia đình của Trần Văn Khê đều tản cư đến Cái Nước, nên chưa lo xong việc nhà, không cùng đi ra Bắc với Lưu Hữu Phước, và bác Tôn Đức Thắng được .

Vì thế, cuối năm 1946, thay vì ra Bắc , Trần Văn Khê trở về thành. Nhưng về để tham gia với nhóm «kháng chiến tại thành» do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau Mai Văn Bộ chỉ huy, bằng cách viết báo cho nhóm Thống Như't, liên lạc với các giới nghệ sĩ cải lương. Lúc ấy Trần Văn Khê vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà . Được phái cho phận sự phê bình âm nhạc và sân khấu , Trần Văn Khê lúc ấy gặp gỡ rất thường càc đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu , Duy Lân, và hằng tháng gặp các anh có cả anh Tư Trang để bàn về sự phát triển của cải lương .

Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt vàgiam tại khám Catinat cùng một lúc với các giáo sư tư thục Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Văn Hóă, Trần Thọ Phước (sau này là Giám Đốc Air Vietnam ở Đông Nam Á ). Năm ấy vào mùa thu , con gái đầu của Trần Văn Khê chào đời .

V. Những Năm Đầu Tiên trên đất Pháp

Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn với các bạn, rời nước Việt Nam sang Pháp, vừa «lánh nạn», vừa du học .

 
Trần Văn Khê cùng phu nhân với ba người con (Tân Định Sài Gòn 1949)

Tới Pháp với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical, và bản hợp đồng với các báo kể phía trên để làm «phóng viên». Trần Văn Khê lúc ấy thành ký giả chuyên nghiệp , có được thẻ nhà báo chuyên nghiệp do sở Thông tin Pháp cấp cho .

Vừa tới Pháp tháng 5, thì tháng 8 cùng đi với học sinh Việt Nam tham dự Liên hoan thanh niên tại Budapest (HungGia Lợi) . Cùng với anh Nguyễn Ngọc Hà (hiện giữ chức Phó trưởng ban Việt kiều trung ương), tổ chức chương trình văn nghệ giới thiệu nước Việt Nam đang tranh đấu dành tự do . Trần Văn Khê dự thi nhạc cụ dân tộc, với hai cây đàn cò và đàn tranh, được Giải nhì , sau Liên Xô , đồng hạng với Mông Cổ, trước Hung Gia lợi và Bảo Gia lợi . Đồng thời Trần Văn Khê được anh đại diện Kháng chiến Việt Nam từ chiến khu sang Miến Điện để đi Bupadest, tặng «Lá cờ thi đua» vì đã giới thiệu có hiệu quả nhứt trong đoàn, tinh thần kháng chiến anh dũng của dân tộc Việt Nam cho thanh niên nhiều nước biết . Sau chuyến đi Budapest, Trần Văn Khê mất học bổng sắp được để học Khoa báo chí tại đại học Michigan, và không được thẻ tạm trú tại Pháp, mỗi ba tháng phải lên sở cảnh sát Paris trình diện .

Tự làm việc để sinh sống, từ năm 1949 tới 1951 đọc các báo Pháp để viết tiết mục «Điểm báo», làm phóng viên về các sinh hoạt Việt kiều, và viết du ký, phóng sự, và cắt gởi về tòa soạn những bài báo xã thuyết về chánh trị quốc tế, và chánh trị liên hệ đến Việt Nam . Nhân làm báo, mới thi vào trường chánh trị nổi tiếng là «Sciences Po» Paris thử chơi . Được đậu vào năm thứ nhì của trường, Trần Văn Khê học hai năm trong môn Giao dịch quốc tế, và học thêm Anh văn tại Đại học văn khoa Paris .

Tiền học nhờ báo bên nhà hàng tháng chuyển ngân . Nhưng báo thường bị đóng cửa . Trần Văn Khê phải đi đờn mỗi tối thứ năm, và tối chủ nhựt tại hiệu cơm «La Paillote» của bà Từ Bá Hòa để được một bữa cơm ngon và chút ít tiền túi . Trong năm sau, mỗi cuối tuần, giới thiệu đờn cò, đờn tranh tại nhà hàng «Bồng Lai» của ông Bùi Văn Tuyền, tại vùng Champs Elysées. Ghi âm cho hãng dĩa hát ORIA, hơn 30 bài nhạc mới của Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Võ Đức Thu, Nguyễn Hữu Ba, Lê Thương, Hùng Lân, với bí danh là Hải Minh (têên của hai đứa con trai ghép lại ) .

Ngày 10 tháng giêng năm 1950, con gái út của Trần Văn Khê ra đời. Trần thị Thủy Ngọc sanh tại tỉnh Vĩnh Long. Lúc ấy Trần Văn Khê đã ở Pháp hoạt động văn nghệ cho Hội Ái hữu Việt Kiều do GS Pha.m Huy Thông làm hội trưởng, chơi thân với nhà viết báo Khuông Việt, nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, Lê Văn Sáu, lúc ấy là sinh viên trường Chánh trị và Đại học văn khoa (cựu giáo sư đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh). Trần Văn Khê khi rời Việt Nam đi sang Pháp thì vợ mới cấn thai có 10 ngày.  Đứa con gái út mở mắt chào đời không thấy mặt cha và cũng không biết cha cho tới năm 1969 mới đươ.c sang Pháp để nhìn thấy mặt cha lần đầu .


Bốn người con của Trần Văn Khê (Vĩnh Long 1954)

 
Bốn người con của Trần Văn Khê và phu nhân (Vĩnh Long1954)

Mùa hè năm 1950, Trần Văn Khê sang La Haye, Hòa Lan học về luật quốc tế, một khóa với Lê Thành Khôi (từng làm giáo sư đại học Paris, người viết quyển Histoire du Vietnam được nổi tiếng)

Hè năm 1951, thi đậu ra trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Nhờ đậu hạng 5, nên được tuyển vào ngạch thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc, năm ấy họp Đại hội tại Paris .

Trong khi chờ đợi nhậm chức vào mùa thu 1951, thì tháng 8, hai tháng sau khi đậu bằng Chánh trị, bị đưa vào nhà thương Cochin, bị giải phẩu gấp và từ đó đến tháng 10 năm 1954, phải bị sống «bên lề cuộc đời», đi từ bịnh viện này, đến trung tâm dưỡng bịnh nọ , bị giải phẩu 4 lần, và đã phải uống, và bị tiêm bao nhiêu thứ thuốc có thể chữa bịnh này gây bịnh khác . Ba năm hai tháng, mới được trở về cuộc sống bình thường . Nhưng cũng nhờ bị «nhốt» trong nhà thương mà Trần Văn Khê có cơ hội, có thì giờ đọc bao nhiêu sách tại thư viện Paris. Ghi tên soạn luận án Tiến sĩ đại học Paris năm 1952, Trần Văn Khê được các ủy viên văn hóa (délégué culturel) của các nhà thương dành cho sinh viên như Centre de Cure Universitaire tại Aire sur l'Adour, Postcure Universitaire tại vùng Sceaux, ngoại ô Paris, lo việc mượn, và trả sách .

Từ năm 1954, ra khỏi nhà thương, cho đến 1958, theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án Tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone, và André Schaeffner .

Ngoài ra Trần Văn Khê làm nhiều công việc để mưu sống . Đáng kể nhứt là bốn việc sau đây:

1. Thực hiện 52 buổi nói chuyện bằng tiếng Việt cho đài BBC Luân Đôn với các đề tài âm nhạc kịch nghệ và chuyện cổ tích Việt Nam

2. Đóng phim cho hãng «Arthur Rank Corporation» bên Anh . Phim tên là «A Town Like Alice» (Một thành phố giống như Alice Springs, một thành phố giữa sa mạc bên châu Úc). Phim dựa theo tiểu thuyết của Nevil Shute, Pháp dịch tên phim là «Ma vie commence en Malaisie» (Đời tôi bắt đầu từ Mã Lai ). Đóng vai đại úy Nhựt Sugaya, cai quản trại tù binh Anh và Úc . Đóng chung với Peter Finch và Virginia Mac Kenna. Phim được lựa chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 1957 .

3. Trong phim Pháp «La Rivière des Trois Joncques» (Ba chiếc thuyền trên con rạch) , phim gián điệp. Trần Văn Khê đóng hai vai: vai chánh cảnh sát trưởng Việt Nam trong cơ quan phản gián điệp, vai phụ: ông già Tàu bán đồ cổ. Đóng với Jean Gaven và Dominiques Wilms.

4. Lồng tiếng phim «Gengis Khan» trong vai Thừa tướng Kao Linh. Vai do tài tử Mỹ James Mason đóng. Tiếng Pháp do Trần Văn Khê nói .

Còn lồng tiếng cho phim «Tarzan nổi giận» trong vai Rokov do dược sĩ Nguyễn Trọng Thu, người tiền phong trong việc lồng tiếng phim ngoại quốc ra tiếng Việt chủ trương, và hai phim Mễ Tây Cơ do Vạn Ý Phim phát hành. Giám đốc: ông Huỳnh Tấn Đốc .

Lồng tiếng phim cho mấy chục phim Mỹ chuyển sang tiếng Pháp cho các hãng Kikoine, Henz, vv…. Đóng phim quảng cáo cho xe Renault 4, cho hãng rượu Martini, v.v.

Tháng 6 năm 1958: đậu Tiến sĩ Văn Khoa (Môn Nhạc Học) Đại học Sorbonne. Tối ưu với lời ban khen của giám khảo (Mention Très Honorable avec félicitations du Jury). Luận án chánh: Âm nhạc truyền thống Việt Nam (La musique vietnamienne traditionnelle / The Traditional Vietnamese Music). Đề tài phụ: 1. Khổng Tử và âm nhạc (Confucius et la Musique / Confucius and Music). 2. Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam (Place de la musique dans la société viêtnamienne / Place of Music in the Vietnamese Society).

VI. Sau khi đậu Tiến sĩ Văn Khoa

Tháng 8 năm 1958: dự hội nghị quốc tế đầu tiên tại trụ Sở UNESCO Paris. Tham luận và Hòa nhạc chung một chương trình với Ravi Shankar (Ấn độ), Ebadi và Hossein Malek (Ba Tư), Yuize Shinichi (Nhựt Bổn) và Yehudi Menuhin (Mỹ gốc Ngă danh cầm thế giới về vĩ cầm (violon/violin)


Trần Văn Khê và con trai Trần Quang Hải (Unesco 1973)

Năm 1959: Hội Singer Polignac cho học bổng một năm để nghiên cứu và phổ biến nhạc Việt Nam và nhạc châu Á tại Paris . Sáng lập Trung Tâm Nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre d'Etudes de Musique Orientale / Center of Studies for Oriental Music). Giữ chức Giám đốc học vụ và Giáo sư nhạc Việt Nam . Từ năm 1979 chủ tịch Trung tâm kiêm Tổng giám đốc học vụ đến năm 1989. Trung tâm này giải tán khi Trần Văn Khê hưu trí, sau 30 năm hoạt động .

Từ khi đậu Tiến sĩ đến lúc về hưu năm 1987, các hoạt động đi vào 5 hướng chánh:

1. Nghiên cứu âm nhạc

Năm 1960, được bổ nhiệm vào Trung Tâm nghiên cứu khoa học Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique / National Center for Scientific Research) với chức Tùy viên (attaché de recherche), 1964 lên chức Chuyên viên nghiên cứu (chargé de recherche), năm 1968 lên chức nghiên cứu sư (mai^tre de recherche), và từ năm 1971 lên chức Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche) .

Đề tài nghiên cứu: trước hết là âm nhạc truyền thống Việt Nam rồi đi lần đến đề tài «Đối chiếu nhạc cụ, nhạc lý và ngôn ngữ âm nhạc các nước Châu Á». Trong mỗi đề tài đi dài trong thời gian và rô.ng trong không gian . Trong thư viện tìm thư mu.c, trong các Bảo tàng viện nghe các băng từ, dĩa hát làm phiếu, và nhứt là đi diền dã (recherche sur le terrain / field research), và tự ghi âm , chụp ảnh trên thuộc địạ Mỗi năm báo cáo kết quả và phải có ít nhiều bài đăng trong các tạp chí chuyên môn .


Trần Văn Khê và con gái Trần Thị Thủy Ngọc đang dự đại hội liên hoan nhạc tại Vicenza, Ý (1971)

 Phải tham gia giảng trong các trường đại học, và tham luận tại các hội nghị quốc tế .

Không thể đi sâu vào chi tiết, nhưng chỉ đưa ra vài con số điển hình:

    - Trần Văn Khê đã đăng trong 27 năm làm việc, gần 200 bài đa số viết bằng tiếng Pháp, một số nhỏ bằng tiếng Anh có mô.t số bài được dịch ra tiếng Đức, tiếng Trung quốc, tiếng Ả Rạp trong đó có hơn 130 bài đăng trong từ hai ba chục đến cả trăm trang đánh máy, và những bài đăng trong tạp chí Le Courrier de l'Unesco được dịch ra hơn 15 thứ tiếng .
    - Trần Văn Khê được các nước mời hay được Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp và UNESCO phái đi dự gần 200 hội nghị quốc tế trên 67 nước trên thế giới .
    - Đã tựghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Viê.t Nam, trên 300 giờ âm nhạc Châu Á, châu Phi, chụp hơn 8.000 tấm ảnh, dương bản, ảnh màu hoặc đen trắng về sinh hoạt âm nhạc tại Việt Nam và tại nhiều nước đã đi qua, thu thập được gần 500 dĩa hát của các nước trên thế giới, thực hiện được hơn 15 dĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam, 4 dĩa được 5 giải thưởng lớn của Hàn lâ m viện dĩa hát Pháp, năm 1960, 1970, dĩa hát Đức quốc năm 1969, Diapason d'or của tạp chí chuyên về giới thiệu và phê bình dĩa hát tại Pháp, và Giải các nhà phê bình dĩa hát tại Đức quốc năm 1994 .
    - Đã thực hiện nhiều phim ngắn dài về dân tộc nhạc học như phim về lối hát cổ điển Dhrupad( Ấn độ), vềống Sheng Trung quốc (Sanh hầu), đàn Gu Qin (cổ cầm Trung quốc), đàn tranh Việt Nam.
 
2. Giảng dạy trong các trường đại học

Từ năm 1963 dạy trong Trung Tâm Nghiên cứu nhạc Đông Phương , dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de Paris / Institute of Musicology) môn thực tập đàn tranh và lớp lý thuyết, ngôn ngữ âm nhạc các nước Châu Á đến năm 1980 chỉ lo về hành chánh và tổ chức chương trình giảng dạy .

Từ năm 1965 được mời dạy một lớp về âm thanh, thang âm điệu thức trong các truyền thống tại châu Á .

Từ năm 1970 đến sau dạy môn dân tộc nhạc học cho lớp cử nhân và Cao học . Có cả Séminaire cho các thí sinh Tiến sĩ . GS Trần Văn Khê chỉ đạo nghiên cứu, đỡ đầu và làm giám khảo cho hơn 50 thí sinh bảo vệ tiểu luận án cao học và luận án tiến sĩ về nhạc châu Á châu Phi . Trong số đó chỉ có một tiến sĩ Việt Nam là Nguyễn Thuyết Phong là có thời gian được dạy âm nhạc Việt Nam tại trường đại học Kent bên Mỹ .

Ngoài ra còn giảng ba năm cho trường Cao học Khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales), giảng nhiều lần tại Nhạc viện Paris lớp về nhạc cụ Châu Á của bà bá tước Genivieve de Chambure, và được thỉnh giảng trên 15 đại học năm châu, chỉ nhắc đến một vài nơi như Hàn Lâm viện Listz tại Budapest, Đại học Varsovie, Đại học Vicenza, Venise, Téhéran (Ba Tư), Tây Nam Úc châu, Perth, Trường nhạc Algerie, 3 lần tại Đại học Hawaii, 2 lần UCLA, Los Angeles, Carbondale (Southern Illinois), 3 lần tại Nhạc Viện Hà nội, và nhiều lần tại lớp thể nghiệm dạy nhạc dân tộc trên cấp đại học của Viện Nghiên cứu âm nhạc và múa do cố GS Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng, v.v.

GS Trần Văn Khê thường nói trong 20 năm vừa qua đã "đốt đuốc tìm học trò". Và trong nhiều buổi thuyết trình Giáo sư có nhắc đến người môn sinh theo dõi và thực hiện được một số công trình mà Giáo sư mơ ước là Nhà giáo ưu tú Phạm Thuý Hoan, giảng viên đờn tranh tại Nhạc viện Thành Phố HồChí Minh.

3. Nhạc sĩ truyền thống Việt Nam

Tuy Giáo sư Trần Văn Khê dạy về nhạc học, nhưng vẫn không quên mình là nhạc sĩ truyền thống. Trong các hội nghị quốc tế, thường được mời tham dự với hai tư cách: người nghiên cứu tham luận trong các buổi họp và tối còn đàn như một nghệ sĩ.

- Trần Văn Khê còn dự rất nhiều nhạc hội, liên hoan âm nhạc Châu Á như Nhạc Hội Rennes, Royan bên Pháp, Ajaccio tại đảo Corsica, Bá Linh bên đức, Pamplona, bên Tây ban nha,
Venise, Roma bên Ý, Bratislava vàBrno (Tiệp Khắc), Shiraz (Ba Tư), Sao Paulo bên Nam Mỹ, Wellington bên Tân Tây Lan, v.v.

- Trần Văn Khê đã dạy đờn tranh trong Trung Tâm Nghiên Cứu Nhạc đông Phương và kết quả rõ nhứt là hai người con của Giáo sư, Trần Quang Hải và Trần Thị Thuỷ Ngọc đều biết đờn tranh và đã dạy lại cho nhiều trẻ em và thanh niên Việt Nam tại Pháp. Riêng Trần Quang Hải rất có khiếu về âm nhạc. Tốt nghiệp nhạc viện Saigon về vĩ cầm (học với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt), sang Pháp học rất giỏi về đàn tranh, đỗ đầu các cuộc thi về nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ, nhạc Trung quốc, lý thuyết và thực tập. Trần Quang Hải là nhạc sĩ Việt Nam thực hiện 3 dĩa 33 vòng về đàn tranh và dân ca Việt Nam với người em cô cậu Hoàng Mộng Thuý từ năm 1975 tới 1978, 7 dĩa 33 vòng về nhạc Việt Nam với vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến (từng nổi tiếng qua bài Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và các thể loại nhạc thời trang bằng tiếng ngoại quốc. Trần Quang Hải tổng cộng làm 15 dĩa 33 vòng , 8 CD về nhạc Việt Nam, và 10 CD cộng tác với các nhạc sĩ khác, và là người Việt Nam duy nhứt được hai giải thưởng dĩa hát của Pháp (giải thưởng Hàn lâm viện Charles Cros / Grand Prix du Disque de l'Académie Charles Cros năm 1983 và năm 1996). Trần Quang Hải vừa là nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học, làm việc cho Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp (viết 4 quyển sách, 300 bài viết về nhạc Á châu và hát đồng song thanh, giảng dạy tại trên 100 trường đại học tại 60 quốc gia ), vừa là nhạc sĩ trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam (tham dự trên 160 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền). Trần Quang Hải trở thành một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhứt thế giới sau 45 năm nghiên cứu. Ngoài ra còn được tặng cho danh hiệu là "Vua Muỗng "(Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) sau khi thắng giải tại một đại hội liên hoan nhạc dân tộc tại tỉnh Cambridge (Anh quốc) năm 1967, và "Người đánh đàn môi giỏi nhứt thế giới "(The Best Jew's Harp player in the World) trong một đại hội liên hoan thế giới về đàn môi (The 3rd World Festival of Jew's Harp) tại tỉnh Molln (Áo quốc) năm 1998 với trên 300 nghệ nhân đàn môi giỏi nhứt trên thế giới tham dự Trần Quang Hải vừa là con và là học trò có khiếu nhứt của Trần Văn Khê, vừa bảo vệ truyền thống âm nhạc gia đình (đời thứ 5), vừa phát huy nhạc truyền thống thế giới qua sự giao lưu âm nhạc trình diễn trên các sân khấu đại nhạc hội trên thế giới từ trên 30 năm qua. Con đường của Trần Quang Hải hoàn toàn khác con đường của Trần Văn Khê nhưng cả hai đều hướng về nhạc dân tộc. Trần Thị Thuỷ Ngọc, con gái út của Trần Văn Khê, rất chăm học đàn tranh, luyện tập rất kỹ và nắm vững truyền thống gia đình.
Cô Thuỷ Ngọc đã giúp đỡ người cha trong việc dạy nhạc Việt và đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc đông phương gần 10 năm trời và đã cộng tác với hai dĩa nhạc Việt Nam với cha của cô. Hiện nay Thuỷ Ngọc làm việc cho một toán nghiên cứu đông Nam Á của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp.Tại Pháp, Trần Văn Khê có ba môn sinh người Pháp, Nelly Felz, André Lant, và Kim Lý, đã học đờn tranh rồi sau đó tiếp tục học với ái nữ là Trần Thị Thuỷ Ngọc. Cả ba đều đờn được các hơi Bắc, Quảng, Nhạc, Xuân, Ai , đảo, Oán.

- Nhạc sĩ truyền thống Trần Văn Khê đã thực hiện những dĩa hát trong đó nhạc sĩ đờn độc tấu, vừa đờn vừa ca những bản xưa như "Bắc Cung Ai", đờn hoà với con gái Trần thị Thuỷ Ngọc, con trai Trần Quang Hải, với bạn tri âm là nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và nữ nhạc sĩ đàn tranh Nguyễn thị Hải Phượng. Nhạc sĩ có giới thiệu những cách tuỳ hứng đờn nguyệt (đờn kìm) , đờn tranh trong một dĩa hát mang tên là "Âm nhạc truyền thống mới" (Nouvelle Musique Traditionnelle/New Traditional Music). đây là sự phối hợp giữa Trần Văn Khê (đờn kìm, đờn tranh, trống) với Trần Quang Hải (muỗng, sinh tiền). Cả hai người đã thử tìm một hướng đi cho nhạc cổ truyền Việt Nam, biến đổi cách rao, cách phát triển bài bản dựa theo tuỳ hứng như trong nhạc Jazz, nhạc Ấn độ, thêm vào đó tiết tấu cho hấp dẫn dựa theo chu kỳ tiết tấu (cycles rythmiques /rhythmical cycles). Cuộc thể nghiệm đầu tiên tại đại hội liên hoan nhạc cổ truyền tại tỉnh Shiraz (Ba Tư) giữa đàn kìm và muỗng đã gặt hái một sự thành công ngoài sức tưởng tượng. Sau vài năm thử thách tại các đại nhạc hội , hoà tấu với sự phụ hoạ tiếng gõ song lang của Trần Thị Thuỷ Ngọc, một thể loại mới cho nhạc cổ truyền Việt Nam được thành hình. Năm 1973, hãng dĩa OCORA của Pháp mời ba cha con thu một dĩa nhạc cổ truyền Việt Nam theo thể loại mới. Sau ba năm bị "ngâm" trong học tủ , dĩa 33 vòng "Âm nhạc truyền thống mới" được xuất bản, đánh dấu một bước đường mới trong việc vạch một hướng đi mới lạ cho nhạc Việt. Từ đó, Trần Văn Khê có dịp về Việt Nam mang ý kiến này về xứ, thử thách với các nhạc sĩ trẻ (đặc biệt nhóm nhạc gõ Phù đổng) và được giới trẻ tiếp nhận và phát triển mạnh mẽ. Một dĩa CD khác với các thể loại ngâm thơ cổ , thơ mới và ca những bài cổ như Ngũ đối hạ, Nam Xuân với sự cộng tác của con gái Trần Thị Thuỷ Ngọc

- Giáo sư Trần Văn Khê đã nhận lời thuyết trình cho Thanh niên yêu nhạc Thụy Sĩ , Nam Tư, cho các đài phát thanh, đài truyền hình nhiều nước trên thế giới về nhạc Việt Nam.

- 43 nước trên thế giới đã mời GS Nhạc sĩ Trần Văn Khê thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam

4- Nhiệm vụ quốc tế

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc, và trên trường quốc tế:

- Hội nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
- Hội âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)
- Hội dân tộc nhạc học Pháp (Société Francaise d'Ethnomusicologie) (Pháp)
- Hội âm nhạc học quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
- Hội dân tộc nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
- Hội nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ )
- Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
- Hội quốc tế giáo dục âm nhạc (International Society for Music Education)

- Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc với phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies (Đức)
- Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
- Hội đồng quốc tế âm nhạc (International Music Council / UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
- Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ Thuật

Từ 14 năm nay, thành viên ban giám khảo quốc tế Giải thưởng cho cổ nhạc thế giới của đài phát thanh Insbruck (Áo quốc)

Từ 27 năm nay, thành viên và từ 10 năm nay chủ tịch ban tuyển lựa quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á do Hội đồng quốc tế âm nhạc tổ chức

Ban giám đốc của chương trình viết lại lịch sử âm nhạc thế giới (UNESCO đề xướng và tài trợ)

Với nhiều nhiệm vụ đó, GS Trần Văn Khê trong 46 năm nay đã tham dự rất nhiều Hội nghị quốc gia Pháp, đức, và Hội nghị quốc tế. Tất cả gần 200 hội nghị cử hành trong số 67 trên thế giớị

Xin đơn cử một số thí dụ:

Hội nghị các hội quốc tế

1. Hội đồng quốc tế âm nhạc (Unesco) , Paris 1958; Paris 1960; Roma 1962; Hambourg 1964; Rotterdam 1966; New York 1968; Moscou 1971; Geneva 1973; Ottawa, Montreal 1975; Bratislava, Praha 1977; Perth, Merbourne, Sydney 1979; Budapest 1981; Stockholm 1983; Berlin Est 1985; Brasilia 1987; Paris 1989.

2. Hội đồng quốc tế âm nhạc truyền thống (ICTM – International Council for Traditional Music), Jerusalem 1961; Honolulu 1977; Oslo 1979; Seoul 1981; New York 1983; Stockholm-Helsinki 1985; Berlin Est 1987; Schladming (Áo) 1989.

3. Hội quốc tế âm nhạc học, Copenhague 1972; Berkeley (Mỹ) 1977; Strasbourg (Pháp) 1982.

4. Hội quốc tế giáo dục âm nhạc , Perth 1979; Varsovie 1980.

5. Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp đối chiếu , Berlin 1965, 1967, 1971, 1986, 1989

6. Diễn đàn âm nhạc châu Á, Paris 1969; Paris 1971, Alma Ata (Nga sô) 1975; Manila (Phi luật tân) 1976; Bagdad 1979; Bình Như"ng (Bắc Hàn) 1983; Ulan Bator (Mông cổ) 1985; Thành phố HồChí Minh 1990; Bombay 1993.

+ đề tài: Bảo vệ và giới thiệu truyền thống âm nhạc

Teheran 1967; Berlin 1968; Berlin 1969; Lisbonne 1971; Montreal 1975; Manila 1976; Manila 1978; Baghdad 1979; Brest 1982; Wellington (Tân Tây Lan) 1982; Madagascar 1985; Dakar 1985.

+ đề tài: Các phương tiện truyền thống và âm nhạc

Tokyo 1961; Jerusalem 1963; Paris 1967; Hyderabad (Ấn độ) 1978; Baden Baden (đức) 1980; New York 1983; Tây Bá Linh, 1986.

+ đề tài giáo dục âm nhạc

Teheran 1967; Tây Bá Linh 1969; Perth (Úc châu) 1979; Varsovie1982; Budapest 1982; Cannes 1984; Nice 1985; Paris 1988.

Giải thưởng, Huy Chương, Bằng Danh Dự

* 1938: Bổng du lịch Saigon-Hànội-Saigon trên đường xe lửa xuyên Việt, cho học sinh xuất sắc các trường trung học miền Nam.

1941: Bổng Toàn quyền đô đốc Decoux, cho học sinh đậu Thủ khoa Tú tài phần nhì và được toàn thể Giáo sư của lớp đề nghị

* 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.

* 1960: Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand prix de l'Academie du Disque Français) Giải thưởng đại
Học Pháp (Prix des Universit('s de France). Dĩa hát về nhạc
Việt Nam của Boite à Musique số BM LD 365.

* 1969: Deutscher Schallplatten Preis, Giải thưởng dĩa hát đức quốc cho Dĩa về nhạc Việt Nam Truyền thống miền Trung , dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022. Dĩa UNESCO Collection

* 1970: Giải thưởng lớn Hàn lâm viện dĩa hát Pháp (Grand Prix du disque de l'Academie du Disque Français), Prix de l'Ethnomusicologie (Giải thưởng dân tộc nhạc học), dĩa Barenreiter Musicaphon số BM 30 LD 2022, UNESCO Collection.

* 1974: được cử làm hội viên danh dự của hội nghệ sĩ ái Hữu và được bằng ban khen của hội do ba nghệ sĩ lớn trong bộ môn cải lương ký tên: Năm Châu, Phùng Há, Kim Cương.

Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam cộng hoà

Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam Cộng Hoà

* 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dư (Docteur en musique , honoris căusa đại học Ottawa (Canada)

* 1981: Giải thưởng âm nhạc của Unesco Ợ Hội đồng quốc tế âm nhạc (Prix Unesco Ơ.CIM de la Musique)

* 1991: Officier de l'Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de l'Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ Thuật và Văn Chương của Bộ Văn Hoá Chánh phủ Pháp).

* 1993: Cử vào Hàn Lâm Viện Châu Âu về Khoa Học, Văn Chương, Nghệ Thuật. Viện Sĩ thông tấn, Membre correspondant de l'Académie européenne des Sciences, des Lettres et
des Arts

* 1993: được Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand mời tháp tùng chuyến công du của Tổng thống tại Việt Nam

* 1994: Giải thưởng của các nhà phê bình đĩa hát Ðức quốc (Deutscher SchallplattenKritik Preis)

* 1995: Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học (Koizumi Fumio Prize for Ethnomusicology, Nhựt Bổn)

* 1998: Huy chương Vì Văn Hoá Dân Tộc Bộ Văn Hoá (CHXHCNVN)

* 1999: tháng 5 dương lịch: Tiến sĩ danh dự đại học Monoton (Nouveau Brunswick, Canada)

* 1999: Tháng 8 dương lịch: Huân chương Lao động hạng nhứt do Chủ Tịch Trần đức Lương cấp (CHXHCNVN)
* 2003 : Giải thưởng Vinh danh nước Việt.
* 2005 : Giải thưởng Đào Tấn.
* 2011 : Giải thưởng Quốc tế của San Francisco “Đã cống hiến trọn đời cho việc nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt Nam” .
* 2013 : Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh.
* 2013 : Huy hiệu thành phố Hồ Chí Minh.

Danh sách dĩa hát do Trần Văn Khê đờn hay thu thanh điền dã:

- 1950-1952: 14 dĩa 78 vòng do hãng dĩa ORIA sản xuất bên Pháp, phát hành bên Việt Nam, gồm có 28 bản tân nhạc của các nhạc sĩ Lê Thương, Phạm Duy, Võ đức Thu, Hoàng Quý,
Thẩm Oánh, Hùng Lân, Nguyễn Hữu Ba, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, vv & Lấy bí danh là ca sĩ Hải Minh.

- 1959: "Musique du Vietnam" (Nhạc Việt Nam), hãng La Boite a Musique số LD 365 (17cm/33 vòng), Paris. Grand Prix de l'Academie du Disque Français 1960. Prix des Universites de France (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1960)

- 1969: "Viet Nam 1", hãng Barenreiter Musicaphon số BM 2022 (30cm/33 vòng), collection Unesco, Kassel, đức. Deutscher Schallplatten Preis 1969 (Giải thưởng dĩa hát đức 1969),
Grand Prix de l'Acad('mie du Disque Français 1970 Prix d'ethnomusicologie (Giải thưởng Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp 1970 Giải thưởng Dân tộc nhạc học )

- 1970: "Viet Nam 2", hãng Barenreiter Musicaphone số BM 2023 (30cm/33 vòng) , collection Unesco, Kassel, đức.

- 1972: "Musique du Viet Nam , Tradition du Sud" (Nhạc Việt Nam, truyền thống miền Nam với Nguyễn Vĩnh Bảo và Trần Văn Khê), hãng OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng) , Paris.

- 1972: "South Viet Nam , Entertainment Music" (Miền Nam Việt Nam,
Nhạc Tiêu Khiển với Nguyễn Vĩnh Bảo) , hãng Philips số 6586 028 ( 30cm/33 vòng) collection Unesco: Musical Sources, Hoà Lan
.

- 1972: "Inde du Nord / Pandit Ram Narayan/ Le Sarangi" (Ấn độ miền Bắc/ Nhạc sư Ram Narayan / đàn Sarangi), hãng OCORA số OCR 69 (dĩa 30cm/33 vòng), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn
Khê.

- 1972: "Narendra Bataju, Sitar/Surbahar" (Nhạc sĩ Narendra Bataju/đàn Sitar và Surbahar), hãng CETO SELAF Ợ ORSTOM số W 751, Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

- 1976: "Viet Nam: Nouvelle Musique Traditionnelle" (Việt Nam: Nhạc cổ truyền kiểu mới, với Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Trần thị Thuỷ Ngọc), hãng dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng) , Paris.

- 1978: "Viet Nam / Ca Trù and Quan Họ" hãng EMI ODEON số 064-183113 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Atlas Musical, Venise, Ý đại lợi.

- 1979: "Hát chèo / Vietnamese Traditional Folk Theatre", hãng Philips số 658 6035 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Sources Musicales, Amsterdam, Hoà Lan.

- 1983: "Viet Nam, Instruments et ensembles de musique traditionnelle" (Việt Nam, Nhạc khí và Ban nhạc cổ truyền), hãng ARION số ARN 38783 (30cm /33 vòng), Paris

- 1985: "Viet Nam, Court Theatre Music" (Việt Nam , nhạc tuồng hoàng giă , hãng EMI Ợ ODEON số 260 2821 (30cm / 33 vòng), collection Unesco: Musical Atlas

- 1985: "Musique du Vietnam" (Nhạc Việt Nam), hãng ACCT (Agence de
Coopération Culturelle et Technique) số 18110 (30cm/33 vòng),
Paris.

- 1990: "Viet Nam / Hat Cheo", hãng AUVIDIS số đ8022 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa "Hat Cheo/Vietnamese Traditional Folk Theatre" của hãng Philips số 6586035 (30cm/33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc.

- 1991: "Viet Nam / Ca Tru & Quan Ho", hãng AUVIDIS đ8035 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tái bản của dĩa cùng tên của hãng Emi-Odeon số 064-183113 (30cm / 33 vòng). Một băng cassette của CD này được xuất bản cùng một lúc.

- 1994: "Viet Nam: Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe", dĩa OCORA số C 580043 (dĩa CD), Paris. được giải Diapason dÓr. Tái bản của dĩa OCORA số 68 (30cm/ 33 vòng, năm 1972)

- 1994: "Viet Nam / Poésie et Chants / Tran Van Khe & Tran Thi Thuy Ngoc" (Việt Nam / Ngâm thơ và Hát), hãng OCORA số C 560044 (dĩa CD), Paris.

- 1995: "Viet Nam / Le Dan Tranh: Musique d'Hier et d'Aujourd'hui" (Việt Nam / đàn Tranh: Nhạc quá khứ và hiện taị" với Nguyễn Thị Hải Phượng và Trần Văn Khê, hãng OCORA số
560045 (dĩa CD), Paris. Grand Prix de la Critique Allemande (Giải thưởng Phê Bình đức), CHOC de la revue Le Monde de la Musique
.

- 1996: "Viet Nam / Tradition du Sud/ Nguyen Vinh Bao & Tran Van Khe", hãng AUVIDIS số đ8049 (dĩa CD), collection Unesco, Paris.

- 1998: "Viet Nam / Improvisations/ Tran Van Khe, Tran Quang Hai, Tran Thi Thuy Ngoc", hãng OCORA số C 580070 (dĩa CD), Paris. Tái bản của dĩa OCORA số 558 512 (30cm / 33 vòng, năm 1976).

- 1997: "Viet Nam Ca Tru", hãng INEDIT số W 260070 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

- 1997: "Viet Nam: Tradition de Hue" (Việt Nam: Truyền thống Huế/ Nhạc cung đình và Nhạc thính phòng), hãng INEDIT số W 260075 (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

- 1998: "Viet Nam: Tradition du Sud" (Việt Nam: Truyền thống miền Nam), hãng AUVIDIS đ8070 (dĩa CD), collection Unesco, Paris. Tài liệu thu thanh và lời dẫn giải: Trần Văn Khê &
Nguyễn Hữu Ba.

- 1998: "Viet Nam: Musique bouđhique" (Việt Nam: Nhạc Phật giáo), hãng INEDIT số &&. (dĩa CD), Paris. Lời dẫn giải: Trần Văn Khê.

Phim

Một số phim do Trần Văn Khê thực hiện và một số phim về Trần Văn Khê

1. Một phim về kỹ thuật hát Dhrupad của Ấn độ điệu thức Raga Todi do hai anh em Dagar trình diễn, do trung tâm GRM (Groupe de Recherche Musicale của ông Pierre Schaeffer), Paris , 1964. Một phim về cách lên dây đàn Tanpura Ấn độ và một phim về kỹ thuật đánh trống Pakhawaj và chu kỳ tiết tấu Chautala với 12 đơn vị.Một đoạn phim về cách đọc thơ và sau đó hát theo thể điệu Dhruapd và những thí dụ hát theo thể điệu Dhrupad, Kheyal và Thumri.

2. Phim "Histoire du riz", phần 1 về sắc tộc Ifugao ở Phi Luật Tân, phần 2 ở Việt Nam , phim nói bằng tiếng Pháp do Trần Văn Khê đọc. Thực hiện bởi Điier Mauro và Hồ Thuỷ Tiện Sản xuất: Orchidees.

3. Phim "Dis moi, Philippines" do Trần Văn Khê đọc tiếng Pháp và do Eric Dazin thực hiện. Sản xuất: Orchidees.

Tài liệu băng thu thanh

1. Les Traditions musicales de l'Asie (Truyền thống âm nhạc Á châu ) , nói tiếng Pháp

2. Le Dhrupad: un art vocal de l'Inde du Nord (Dhrupad: nghệ thuật hát Ấn độ miền Bắc) , nói tiếng Pháp

3. Le Tabla et les cycles rythmiques dans la musique hindoustane (Trống Tabla và chu kỳ tiết tấu trong nhạc ấn theo trường phái hindoustane), nói tiếng Pháp.

4. La musique arabe (Nhạc ả rạp), 6 tập, với sự cộng tác của Giáo sư Amnon Shiloah, nói tiếng Pháp.

Băng Video

Với sự cộng tác của cơ quan thính thị của trường đại học ParisĐauphine, INALCO (viện quốc gia ngôn ng" và văn minh đông phương) đặc biệt với Guy Senelle, Điier Tauin và Paul Hervé.

1. Le Sheng, orgue à bouche avec Cheng Shui Cheng (đàn Sanh Hầu với nhạc sĩ Cheng Shui Cheng). Quá trình lịch sử, cách chế tạo nhạc khí. Diễn giả: Trần Văn Khệ Khái quát về "Sanh
Hầu ở Á châu"

2. Le Quin, cithare chinoise à 7 cordes sans chevalets (đàn Cổ Cầm 7 dây không có nhạn với các nữ nhạc sĩ Liu, Yip Ming Mei). Quá trình lịch sử, kỹ thuật đàn, một vài bài cổ điển của đàn tranh cổ cầm. Diễn giả: Trần Văn Khê.

3. Le "Dan Tranh", cithare vietnamienne à 16 cordes (đàn Tranh Việt Nam 16 dây ) với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Quá trình lịch sử , miêu tả , kỹ thuật đàn, một vài bản cổ truyền. Giải thích về điệu thức theo truyền thống miền Nam, đối chiếu với các loại đàn tranh Trung quốc, Nhựt Bổn, đại Hàn và Mông Cổ.

4. Le "Dan Tranh", cùng một đề tài nhưng với bài bản khác. Với sự cộng tác của Trần Thị Thuỷ Ngọc. Trình bày và giải thích bằng tiếng Pháp: Trần Văn Khê , thực hiện cho Trung tâm nghiên cứu nhạc đông Phương.

Tài liệu thu hình video tại Việt Nam:

1. Nhạc dân gian và tuồng ở Việt Nam năm 1982

- Lễ Giỗ Tổ Cải lương miền Nam ở TP HồChí Minh (29/09/1982)
- Trích đoạn tuồng "Thần nữ dựng ngũ linh kỳ"(29/09/1982)
- Nhạc dân gian vùng Huế (làng Xuân Long) (29/09/1982)
- Hát Tuồng, truyền thống Quảng Nạm Trang điểm, đọng tác, đấu võ (25/10/1982)
- Hát Tuồng , truyền thống Bình định: Nhạc, Diễn xuất, minh hoạ đọng tác, những cách ngâm do ông Võ Sĩ Thừa biểu diễn (27/10/1982)
- Tuồng dân gian Hát Bài chòị Minh hoạ và trích đoạn một vài tuồng cổ truyền (18/10/ 1982)
- Viếng thăm nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (tháng 11, 1982)

Đời sống âm nhạc ở Việt Nam năm 1987

- Tiết tấu cổ truyền dùng trong múa và tân nhạc với Văn Thinh
- Sáng chế cây đờn độc huyền Lạc Cầm phối hợp chung với đàn tranh 12 dây và 2 đàn kìm 4 dây do Mạc Tuyên sáng tạo Trình bày và thể nghiệm minh hoạ do các nhạc sĩ và giáo sư nhạc của trường âm nhạc Hà nội. Giáo sư Lưu Hữu Phước và Trần Văn Khê dẫn giải (17/11/1987)
- Nhạc truyền thống và dân ca trong các lớp mẫu giáo ở Củ Chi, và trường Lê Lợi (TP HCM) (27 /11/1987)
- Buổi hoà nhạc của nhóm Tiếng Hát Quê Hương, nhóm Tao đàn do Phạm Thuý Hoan, giáo sư trường Âm nhạc HCM xếp đặt đặc biệt cho Giáo sư Trần Văn Khê (29/11/1987)
- độc tấu đàn tranh do Hải Phượng đàn những bản cổ truyền và sáng tác mới của Phạm Thuý Hoan (30/11/1987)
- Nhóm đàn gõ Phù đổng tại TP HCM (04/12/1987)
- Lễ đặc biệt dành cho GS Trần Văn Khê do 3 nhóm trẻ "Tiếng Hát QuêHương", "Tao đàn", "Bình Thạnh" (06/12/1987)
- Dạ Hội nhạc cổ truyền Việt Nam tại toà Tổng Lãnh Sự Pháp ở TP HCM. Phần giới thiệu bằng tiếng Pháp: TrầnVăn Khê (07/12/1987)
- Âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Montreal (Canada, ngày 19 và 27 tháng 4, 1987.
Thu hình video năm 1989:
- 5 chương trình nhạc truyền thống Việt Nam cho Viện nghiên cứu âm nhạc và múa được chiếu trên đài truyền hình của TP HCM (5 tháng 3, 1989) với GS Trần Văn Khê là diễn giả và với sự tham gia của nhạc sĩ Phạm Đức Thành (đàn bầu) và nhóm Phù đổng (nhạc cụ gõ).
- Buổi họp của nhóm nhà thơ Quỳnh Dao do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức vinh danh GS Trần Văn Khê (2 tháng 9, 1989) (video NTSC)
- Lưu Hữu Phước, cuộc đời, sự nghiệp, nghệ thuật, thuyết trình bởi Trần Văn Khê với minh hoạ của nhiều nhóm nhạc sĩ tại nhà hát Thành phố (TP HCM) vào hai ngày 11 và 12 tháng 9, 1989 (6 giờ phim video)
- Đêm Trung Thu do bà Phạm Thuý Hoan tổ chức và GS Trần Văn Khê trong vai tuỳ hứng Ông Tiên Già (phim video NTSC)
- Hội nghị quốc tế âm nhạc tại Osaka với bài tham luận bằng tiếng Anh "International Reception of Music in VietnameseTraditionữ (22/07/1990), tham gia bàn tròn về
"International Recepion in Music" (24 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
- Hội nghị về nhạc Á châu và Thái Bình Dương tại Kobe (Nhựt Bổn) (28 tháng 7, 1990) (phim video NTSC)
- Lễ 70 tuổi của GS Trần Văn Khê do hội các nhà thơ Gia đình Quỳnh Dao do nhà thơ nữ Tôn nữ Hỷ Khương tổ chức tại TP HCM (14 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)
- Giới thiệu nhạc đàn tài tử miền Nam do Trần Văn Khê thuyết trình do đài Truyền hình Cần Thơ thực hiện (16 tháng 11, 1990) (phim video NTSC)

Trần Quang Hải (Paris, Pháp)

                       

                                             Mời nghe hồi ký:  youtube

                  GSTS Trần Văn Khê nói về bộ hồi ký khi được tái xuất bản: youtube

Giáo sư Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam với những đóng góp vô giá cho việc duy trì, bảo tồn và phát triển nền âm nhạc dân tộc, là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và của nhiều nước như Pháp, Mỹ, Đức… với nhiều giải thưởng danh giá!

Cuốn "Hồi ký Trần Văn Khê" lôi cuốn người đọc ngay từ những trang đầu tiên bằng những lời kể hết sức chân phương, giản dị, đậm chất Nam Bộ của tác giả. Chuyện đời, chuyện nghề và tình yêu to lớn mà Giáo sư dành cho âm nhạc dân tộc thực sự chảy tràn qua từng trang viết, khiến người đọc phải ngưỡng mộ, thán phục và càng yêu quý ông hơn.

Là tài sản quý giá của quốc gia, nhưng con người ông lại rất giản dị và cách dẫn chuyện cũng vô cùng khiêm tốn:

"Qua những trang sách này, mời bạn đọc cùng tôi đi viếng nhiều nước, gặp nhiều người, nghe nhiều chuyện; chia buồn chung vui với một người nhạc sĩ suốt đời say mê việc nghiên cứu, sưu tầm phát huy và phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam."


          

                  Trần Văn Khê nói về Nhạc sĩ Phạm Duy (mp3) - Phỏng vấn của BBC - 03/02/2013

                        Phạm Duy từng khóc khi đọc sách Trần Văn Khê

Hơn hai tháng trước khi mất, nhạc sĩ Phạm Duy kịp đọc bản thảo sách Trần Văn Khê viết về ông. Cuốn sách vừa ra mắt độc giả nhân dịp sinh nhật nhạc sĩ tài hoa...

.... Và người nhạc sĩ tài hoa đã khóc khi đọc những trang bản thảo đầu tiên trong một cuốn sách viết nghiêm túc, khách quan về cuộc đời mình. Trong email trả lời cho Trần Văn Khê, Phạm Duy tâm sự: “Rất cảm động khi đọc bản thảo của Khê. Khê đã viết ra những lời giải thích rõ ràng về con người Phạm Duy, kể cả xấu tốt… moa vừa đọc vừa khóc đó Khê ơi”.

                            

Đôi lời cho người bạn thân Phạm Duy

Khi làm cuốn sách này, tôi rất mong muốn nó tới được tay bạn tôi, để ngày xuất bản hai anh em cùng nhau giới thiệu trước báo chí. Nhưng không may Phạm Duy gặp nhiều biến cố trong cuộc đời, tuổi già chồng chất, bịnh tật cũng như sự qua đời của con trai trưởng Duy Quang - người con mà Duy thương yêu nhất. Quá nhiều áp lực và những cơn bịnh từ thể xác tới tinh thần đã làm cho Duy từ bỏ cõi đời trong lúc quyển sách đã thành hình gần như đầy đủ.

Dầu sao đi nữa tôi cũng rất vui khi có cơ hội nói rõ về một trong những người bạn thân trong lĩnh vực âm nhạc của mình, không phải vì thương bạn hay nể bạn mà là bản thân tôi muốn nói ra để mọi người biết rõ hơn, đầy đủ hơn, chân thực hơn về con người thực sự của bạn mình. Chỉ tiếc rằng Duy đã về cõi vĩnh hằng mà chưa kịp nhìn thấy quyển sách ra đời, cũng chưa kịp để hai anh em cùng vui một niềm vui chung cuối đời khi cùng hợp tác để làm ra quyển sách bàn sâu về khả năng và công việc sáng tác đậm màu dân tộc trong nhạc của Duy. Tuy mọi sự không theo sự chờ đợi và mong mỏi của hai anh em, nhưng trước khi ra đi, Duy cũng đã kịp xem toàn bộ bản thảo cuốn sách tôi viết về Duy. Tôi còn nhớ lúc ấy Duy đang bịnh nặng phải vào nhà thương cấp cứu, nhưng sau khi ra viện đã ngồi đọc hết tập bản thảo tôi gởi qua email. Gởi thơ hồi âm cho tôi, Duy viết:

“Rất cảm động khi đọc bản thảo của Khê. Khê đã viết ra những lời giải thích rõ ràng về con người Phạm Duy, kể cả xấu tốt... Moa vừa đọc vừa khóc đó Khê ơi!”

(Thơ gởi qua email thứ hai, lúc 9 giờ 43 phút tối ngày 5 tháng 11 năm 2012)

Thông thường khi nói chuyện với tôi, Duy hay xưng “moa” (moi) và gọi tôi là “toa” (toi). Cách xưng hô này Duy chỉ dùng với một số bạn bè rất thân mà thôi. Nhưng sau khi đọc bản thảo của tôi, Duy xúc động đến nỗi bạn không nói theo cách nói chuyện thường ngày nữa mà xưng tên với nhau: “Khê” với “Phạm Duy”, “moa” với “Khê”, đẹp vô cùng, tình vô cùng! Đọc xong lá thơ hồi âm Duy viết, tôi cũng xúc động mà chảy nước mắt. Vì mình đã nói được những gì mà bản thân Duy khó nói, không muốn nói hoặc không thể nói trên tư cách của Phạm Duy, có cả tốt lẫn xấu mà khi Duy đọc xong, bạn vẫn chấp nhận. Đây cũng có thể xem là sự đồng ý hoàn toàn của Duy về những gì tôi viết về Duy. Còn gì vui hơn?

Trần Văn Khê
Bình Thạnh, Saigon mùa Xuân năm Quý Tỵ 2013
Với sự nhớ thương vô hạn người bạn thâm giao Phạm Duy

                      

                 Trần Văn Khê nói về Trịnh Công Sơn - (Trịnh Công Sơn hát Một Cõi Đi Về)


                          

                     Lê Quốc Vinh chuyện trò với GS Trần Văn Khê: youtube1    youtube2

    GS-TS Trần Văn Khê & con trai trưởng Trần Quang Hải

“Ảnh hưởng của ba tôi đối với tôi rất sâu đậm, vì tôi đã theo học ba tôi, vì vậy tôi phải tiếp nối đường đi của ba tôi là người thầy, chứ không phải người cha nữa. Ba tôi vừa là người cha, người thầy, mà cũng là đồng nghiệp. Tôi rất tự hào, hãnh diện vì tôi là con, cùng học một trường, làm một chuyện và cùng dự trong những hội thảo quốc tế, các cơ quan nghiên cứu trên thế giới. Cùng đi song song với ba tôi hơn 40 năm nay”...

Nói về sự nghiệp âm nhạc dân tộc mà mà ba ông đã bỏ ra cả đời để nghiên cứu và phát triển, GS Trần Quang Hải cho biết: “Tôi là con trai trưởng, phải có nhiệm vụ tiếp nối chuyện của ba tôi làm. Ba tôi và tôi cùng học 1 trường cách đây 50 năm, cùng học 1 bộ môn. Ba tôi đi là phát huy âm nhạc Việt Nam, tôi phát huy âm nhạc thế giới. Bây giờ ba tôi đi rồi thì tôi có bổn phận coi sóc để kho tàng đó không bị mất đi. Âm nhạc cổ truyền cần phải vun bồi, nuôi dưỡng. Tôi sẽ về Việt Nam thường xuyên hơn để tiếp xúc với những người tại Việt Nam phát huy âm nhạc cổ truyền. Chứ không phải ba tôi đi rồi thì sẽ mất luôn”.

"Ba tôi đi không phải là sự buồn, mà là sự giải thoát và không còn đau đớn nữa. Khi tôi nhìn thấy được điều đó, tôi mừng cho người đi". Ông ngậm ngùi, vì sự ra đi của ba ông là sự giải thoát, nhưng cũng là sự mất mát to lớn cho người ở lại. 

Và ba tôi cũng cho thấy rằng, một người học giả sau bao nhiêu năm sống ở Hải Ngoại, sau bao nhiêu năm làm việc ở nước ngoài đã trở lại đất nước, đem lại cho đất nước niềm tự hào, không phải chỉ những người trong nước mà ngoài nước cũng nể phục.

Tôi đã nhận được gần 300 lá thư của tất cả các giáo sư trên thế giới chia buồn. Vì ba tôi là một trong những người tiên phong nghiên cứu về dân tộc nhạc học. Vì vậy khi ba tôi mất đi như một cột trụ của những người nghiên cứu nhạc dân tộc trên thế giới. Đặc biệt là nhạc Á Châu cũng như nhạc Việt Nam.

Ba tôi ra đi đã để lại sự yêu mến, sự thương mến của tất cả những người đi tới đây. Từ những người dân bình thường, đoàn hát nghệ sĩ, những người trong chính quyền, những người trong giáo dục… Mọi người nghe tên ba tôi đều khâm phục, đó là phần thưởng mà những gì mà ba tôi để lại cho hậu thế".

(Nguồn: trích báo "Dân Trí" - người viết: Băng Châu - 27 tháng 6, 2015)

             

                                  Trần Quang Hải, Trần Thủy Ngọc, Trần Văn Khê

              

             

             

                    

     

                

               

                            Từ trái: Trần Quang Hải, Trần Văn Khê, Bạch Yến, Trần Quang Minh

               

                        Cha con GS Trần Văn Khê & Trần Quang Hải đàn ngẫu hứng: youtube

                         Ca sĩ Bạch Yến nói chuyện tại nhà GS Trần Văn Khê (2009): youtube

     Vĩnh biệt thầy GS.TS Trần Văn Khê - người truyền lửa

          

                       GS Trần Văn Khê & nghệ sĩ đàn tranh Nguyễn thị Hải Phượng

Thầy ơi,

Dẫu biết cuộc đời thật vô thường, ai rồi cũng sẽ đến một ngày trở về với cát bụi, nhưng chúng con - những người học trò vẫn cảm thấy một sự hụt hẫng, mất mát không gì bù đắp nổi khi người Thầy yêu dấu đã mãi mãi rời xa.

Chúng con chẳng còn cơ hội làm vui lòng Thầy bằng tiếng nhạc, lời ca; chẳng còn lúc cười đùa vui vẻ khi nghe Thầy kể chuyện; không còn dõi mắt say sưa nghe Thầy giảng những bài học về tình yêu âm nhạc bao la.

Hơn nửa đời người sống và làm việc tại nước ngoài, biết bao lần Thầy đứng trên bục giảng của nhiều đại học trên thế giới, viết hàng trăm bài nghiên cứu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam và các nước... nhưng Thầy vẫn trăn trở nỗi niềm làm sao cho giới trẻ Việt Nam yêu mến âm nhạc Việt Nam. Sao cho lớp trẻ có thể trả lời câu hỏi: âm nhạc Việt Nam có cái gì? Âm nhạc Việt Nam hay chỗ nào?
Ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc mà Thầy đã dùng cả cuộc đời mình để nhen lên và trao truyền cho nhiều thế hệ sẽ còn cháy mãi trong trái tim của những người còn nặng lòng với đất nước

Hành trang trở về

Thầy đã trở về, mang theo hành trang là tất cả những tư liệu góp nhặt trong nhiều năm và khối kiến thức uyên bác mà Thầy sẵn sàng chia sẻ cho những ai cần đến. Cũng vì mong muốn truyền bá âm nhạc dân tộc nên dẫu cho đôi chân không thể dễ dàng di chuyển, Thầy vẫn chẳng ngại ngần đi diễn thuyết ở bất cứ nơi đâu. Khi sức khỏe không cho phép, Thầy vẫn gọi chúng con lại hòa đàn, vẫn góp ý những đề án để bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc, vẫn tổ chức những buổi giao lưu, giới thiệu văn hóa Việt tại tư gia. Thầy vẫn là "người truyền lửa", người đứng phía sau, hỗ trợ và khuyến khích những người học trò có năng lực, có tâm huyết đi theo con đường vinh danh văn hóa Việt. Những lúc đó, chúng con thấy Thầy vẫn tràn đầy nội lực. Sự uyên thâm về kiến thức; sự điêu luyện ở cách diễn giải; sự hào hứng, sôi nổi toát ra từ nét mặt, giọng nói vẫn ngự trị trong tâm hồn và thể xác của một "lão sư" trên 90 tuổi.

Thầy từng nói lên tâm nguyện của mình là căn nhà sau này sẽ được giữ lại để làm "nhà lưu niệm, nhà bảo tàng" để những ai yêu quý âm nhạc Việt Nam, yêu quý Thầy có thể đến thăm. Thầy ước mong rằng tro cốt của Thầy sẽ được để ở nơi đây, để mỗi lần ngôi nhà sáng ánh đèn của các cuộc đàn ca tài tử thì Thầy vẫn có thể cùng vui với mọi người. Thầy thường cười lớn khi nhắc nhở rằng: Thầy là một người nghệ sĩ, Thầy muốn các con nhớ đến Thầy với hình ảnh một ông già ngồi xe lăn nhưng vẫn lạc quan yêu đời, một người nghệ sĩ tuổi đã cao nhưng trái tim yêu nhạc dân tộc mãi còn trẻ trung.

Tiếng đàn tri âm...

Là một nhà nghiên cứu, Thầy đã sắp xếp công việc cũng như cho cuộc hành trình ra đi mãi mãi của đời mình một cách chu đáo. Thầy căn dặn gia đình đừng báo tin cho nhiều người biết trong lần vào bệnh viện mới đây.

Thầy không muốn mọi người lo lắng, còn chúng con thì vẫn tin rằng Thầy chỉ vào ít bữa rồi lại ra như bao lần trước. Rồi Thầy lại có thể ngồi trên chiếc xe lăn quen thuộc đi từng nơi, giới thiệu những cái hay cái đẹp trong âm nhạc Việt Nam, truyền ngọn lửa cháy bỏng từ trái tim mình đến bao thế hệ tiếp nối.

Ngay trong căn phòng bệnh viện, Thầy vẫn dành những giây phút hiếm hoi còn lại để chia sẻ những nỗi niềm suy tư trăn trở về văn hóa dân tộc, vẫn lên kế hoạch cho những chương trình kế tiếp, vẫn khuyến khích những người học trò của mình tiếp nối con đường vinh danh văn hóa Việt Nam mà Thầy theo đuổi trong suốt cuộc đời.

Nằm trên giường bệnh, bao quanh mình là hàng loạt máy móc khiến Thầy không thể tự do cử động, nhưng khi vừa tỉnh lại Thầy đã ra dấu cho biết muốn nghe tiếng đàn của nhạc sư Vĩnh Bảo. Mọi người vội tìm lại các CD lưu những bản hai Thầy từng đàn với nhau, đồng thời liên lạc với nhạc sư. Khi được báo tin, nhạc sư đã lập tức ngồi lên đàn, thu thanh hai bản và chuyển sang. Khi tiếng đàn còn thoảng bên tai Thầy thì nhạc sư đã lại ngồi thu âm và gửi sang nhiều khúc nhạc nữa.

Chúng con đã thật xúc động khi được nghe tâm sự của nhạc sư: "Ngày hôm nay, 10-6-2015, vào lúc 16g58 phút giờ Sài Gòn..."; "Hôm nay, ngày 11-6-2015, lúc 9g rưỡi sáng giờ Sài Gòn...". "Nam xuân, Vĩnh Bảo đàn. Tặng cho GS.TS Trần Văn Khê đang bệnh. Mong rằng tiếng đàn Nam xuân này, xuất phát từ cái tâm, có thể có mãnh lực phi thường do ơn trên ban, để cho GS.TS Trần Văn Khê sớm bình phục, trở lại cuộc sống bình thường".

Lời chúc thân thương và tiếng đàn mạnh mẽ của vị lão sư 98 tuổi như muốn truyền sang niềm tin yêu, động viên tiếp sức cho người bạn tri âm tri kỷ của mình. Chúng con đã mong muốn rằng phép lạ sẽ xảy ra như mọi lần để hai Thầy có thể thực hiện được lời hứa năm nào: "Dù cho vật đổi sao dời, chúng mình trăm tuổi vẫn ngồi bên nhau".

Vậy mà...

Con xin kính cẩn thắp một nén hương cầu chúc cho Thầy ra đi thanh thản. Rồi đây căn nhà lưu niệm Trần Văn Khê - một địa chỉ thân quen cho những chương trình vinh danh văn hóa Việt - sẽ vắng bóng một con người uyên bác, tài hoa. Những cây đàn treo trên tường, kỷ niệm của nhiều chuyến đi, kỷ niệm của nhiều con người Thầy đã từng gặp gỡ, giờ đây nằm im lìm chịu sự phủ bụi của thời gian.

Nhưng Thầy ơi, ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc mà Thầy đã dùng cả cuộc đời mình để nhen lên và trao truyền cho nhiều thế hệ sẽ còn cháy mãi trong trái tim của những người còn nặng lòng với đất nước. Gia tài văn hóa Việt Nam sẽ mãi mãi ghi thêm vào đó tên một người con đã hiến dâng trọn cuộc đời mình vì sự nghiệp âm nhạc nước nhà.

Thầy ơi...

                  

Học trò 
NGUYỄN THỊ HẢI PHƯỢNG

    > Hải Phượng đàn tranh & Trần văn Khê trống Việt ứng biến điệu Nam Xuân: youtube

  Kim Cương: 'Anh Khê qua đời, tôi mất điểm tựa tinh thần'

Nước mắt lăn dài trên khuôn mặt kỳ nữ Kim Cương khi nhớ về người anh lớn trong nghề mà bà yêu quý, ngưỡng mộ suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật.

Từ khi Giáo sư - Tiến sĩ Trần Văn Khê nhập viện và bệnh tình ngày càng nguy kịch, Nghệ sĩ Nhân dân Kim Cương cùng nhiều người thân thiết của ông lúc nào cũng trong tinh thần chuẩn bị cho ngày ông ra đi. Thế nhưng, tin Giáo sư Khê qua đời vào rạng sáng 24/6 vẫn khiến nữ nghệ sĩ hụt hẫng.

Bà nói: "Từ ngày mẹ tôi (Nghệ sĩ Nhân Dân Bảy Nam) qua đời, tôi còn có mỗi anh Trần Văn Khê để tâm sự về chuyện ngày trước, học hỏi anh về chuyện đời, chuyện nghề. Giờ anh mất rồi, tôi thấy mình mất đi điểm tựa tinh thần rất lớn".

Về tuổi đời, Giáo sư Khê là bạn với Nghệ sĩ Nhân Dân Bảy Nam. Tuy vậy, trong đời thường, ông xem Kim Cương là em gái nhỏ. Bà gọi ông với danh xưng thân thuộc "Anh Hai". Nhắc đến người anh lớn, nữ nghệ sĩ dành nhiều tình cảm và sự trân trọng. Vào những năm 1960, bà cùng Nghệ sĩ Nhân Dân Phùng Há được mời sang Pháp biểu diễn tuồng cổ, có dịp theo chân Giáo sư Khê biểu diễn minh họa cho các bài thuyết trình của ông về nghệ thuật ca kịch của Việt Nam như hát tuồng, chèo và cải lương.



Giáo sư Trần Văn Khê tặng nghệ sĩ Kim Cương nụ hôn để cảm ơn bà tổ chức chương trình tri ân nghệ sĩ neo đơn vào dịp đầu năm 2015. Ảnh: Nguyễn Á.

Với Kim Cương, những buổi biểu diễn ấy để lại kỷ niệm đẹp trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình. Bà được chứng kiến sự uyên bác và sức hấp dẫn của Giáo sư Khê khi ông đứng trước cử tọa toàn là giới chuyên môn âm nhạc cổ truyền. Có lần, tại một hội nghị quốc tế ở Hamburg, Đức, sau phần thuyết trình của Giáo sư Khê, bà và nghệ sĩ Phùng Há diễn tuồng Lữ Bố hí Điêu Thuyền khiến hàng trăm người rất thích thú, liên tục dành những tràng pháo tay tán thưởng và xuýt xoa khen ngợi trình độ kịch nghệ Việt Nam. Sau đêm diễn, Kim Cương, Phùng Há và Giáo sư Khê không về khách sạn ngay mà cùng nhau đi lang thang đến tận khuya dưới trời tuyết rơi. Cả ba vừa đi vừa hát, vui đùa bên nhau vì ai cũng quá phấn khích khi giới thiệu thành công nghệ thuật cổ truyền trên xứ người.

"Khi theo anh Khê đến các hội nghị, tôi chú ý thấy thường mới bắt đầu thì đoàn nào cũng được đối xử như nhau. Nhưng sau phần thuyết trình, diễn giải của anh Khê là thái độ của mọi người, nhất là giới chuyên môn dành cho đoàn Việt Nam trở nên khác hẳn. Họ đều công nhận đoàn Việt Nam là nhất. Họ rất quý trọng kiến thức, lối thuyết trình thuyết phục của anh Khê và đối đãi hết sức trọng thị nghệ sĩ Việt", Kim Cương kể.

Những năm đầu sang Pháp, Kim Cương là cô gái trẻ còn nhiều bỡ ngỡ giữa trời Tây. Mọi việc bà đều được Giáo sư Khê chỉ dẫn tận tình, từ chuyện giao tiếp, cung cách làm việc, đến ý thức học tập. Ông luôn nhắc đi nhắc lại với đứa em gái: "Em phải luôn chú ý học những cái hay, cái đẹp của xứ người, nhưng không bao giờ được để mất đi tính dân tộc của người Việt Nam mình". Lời khuyên này đi theo Kim Cương suốt con đường làm nghề của bà. Sau này, bà viết rất nhiều vở kịch, và dù đó là kịch chuyển thể từ tác phẩm văn học nước ngoài, bà luôn chú trọng viết làm sao để chuyển tải được tâm tư, tình cảm của người Việt. Hoàn thành được vở nào ưng ý, bà đều viết thư gửi cho ông rồi ngóng chờ "Anh Hai" nhận xét, góp ý.

Một điều Kim Cương rất ngưỡng mộ ở Giáo sư Khê là trí nhớ tuyệt vời của ông. Với bà, người anh này gần như là pho từ điển sống về các thể loại nhạc cổ truyền. Bà say sưa lắng nghe ông diễn giải về các loại đàn của Việt Nam và các nước. Bà đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi mỗi lần cần hỏi về bậc tiền bối nào trong nghệ thuật tuồng cổ miền Nam, bởi ông đều có thể diễn giải ngọn nguồn, tường tận.

Nghệ sĩ Kim Cương là một trong những người thuyết phục Giáo sư Khê trở về nước định cư sau hơn 50 năm sống, làm việc ở Pháp. Bà nhớ, có lần đến thăm ông ở căn hộ chung cư cách Paris vài chục km, bà buồn khi thấy dáng ông cặm cụi trong gian nhà chất đầy sách. Bà hiểu sự cô đơn của ông trong hơn nửa thế kỷ làm công việc nghiên cứu nơi xứ người.

Trong buổi đi ăn của hai anh em, Kim Cương thuyết phục ông về nước để được sống ấm cúng hơn. "Lúc đó, anh bảo anh không sợ về nước thiếu thốn vật chất mà chỉ sợ sức khỏe ốm đau, phải thường xuyên đi bác sĩ, lỡ về bệnh nặng không có thuốc men là chịu chết sớm. Tôi dùng mọi lời khuyên anh, nói Việt Nam giờ đã khác, bệnh viện nhiều, thuốc men không thiếu, anh cứ yên tâm về nước...", Kim Cương nghẹn ngào nói.

Từ khi Giáo sư Khê về nước sinh sống, nghệ sĩ Kim Cương có thêm người bạn lớn để hàn huyên, tâm sự nhiều chuyện buồn vui chuyện cuộc sống, chuyện nghề. Ông hay đọc cho bà nghe những bài thơ tự sự về thân phận, tình yêu. Bất cứ chương trình nào Kim Cương tổ chức, Giáo sư Khê cũng dành thời gian đến tham dự, góp ý kiến khen chê rõ ràng.



Giáo sư Trần Văn Khê trong lần chúc thọ Nghệ sĩ Nhân Dân Phùng Há. Ảnh: conhacvietnam.

Đầu năm nay, Giáo sư dù ngồi xe lăn vẫn nhiệt tình đến tham dự chương trình tri ân nghệ sĩ già neo đơn của cô em ở Nhà hát TP HCM. Hôm ông nhập viện cấp cứu vào cuối tháng năm, mấy lần vào thăm ông, Kim Cương không khỏi xót xa. Bà nắm tay ông dặn dò đừng quá lo lắng, đã có mọi người lo cho ông.

"Với riêng tôi, anh Khê ra đi để lại một khoảng trống lớn phía sau những người quan tâm nền văn hóa nước nhà. Mấy ngày qua, khi cùng mọi người bàn tính chuyện hậu sự cho anh, tôi mới được biết anh ở Pháp hơn nửa thế kỷ mà vẫn không nhập quốc tịch. Anh Khê là vậy, dù làm gì, ở đâu anh vẫn luôn luôn nhắc nhở mình là người Việt Nam và tự hào về điều đó", Kim Cương bật khóc.

Tròn một tháng nữa là đến dịp mừng thượng thọ Giáo sư Khê vào ngày 24/7. Dịp này hàng năm, nghệ sĩ Kim Cương và một nhóm bạn gồm vài người rất mến mộ giáo sư thường mời ông đi ăn. Lần nào ông cũng chọn ăn những món Việt Nam. "Có lần, anh Hai ăn chả cá mà dùng đến hai, ba chén mắm tôm dù huyết áp đang cao làm ai cũng lo lắng. Nhưng anh Hai là thế, từ chuyện ăn uống đến sinh hoạt, anh đậm chất Việt", nữ nghệ sĩ nói.

Kim Cương cùng những bạn bè đang chuẩn bị một bản thảo sách về cuộc đời của Giáo sư Khê qua hình ảnh. Giờ ông mất, mọi người đang tạm gác lại công việc soạn sách để chu toàn hậu sự cho ông. "Chắc chắn cuốn sách phải ra mắt trong thời gian tới. Hy vọng giới trẻ và mọi người có thêm nguồn tư liệu hiểu về anh", bà nói.

(Nguồn: Nguyên Thoại - VNExpress)

                    

                  Kim Cương nói lời tri ân đến GS-TS Trần Văn Khê (cuối năm 2014): youtube

           Một số sách, đĩa nhạc, DVD ... của Trần Văn Khê

                  

       

               

       

                   

           


                              Trần Văn Khê & Tân Nhạc Việt Nam

"Năm 1950, anh Lê Văn Tư - giám đốc hãng dĩa Oria tại Việt Nam có ý muốn giới thiệu một số bài ca tân nhạc do những nhạc sĩ nổi tiếng đương thời sáng tác. Thuở đó người ca sĩ chỉ được 1 hay 2, 3 cây đờn ghi-ta phụ họa chứ chưa bao giờ có được một dĩa hát do một dàn nhạc phụ họa.

Anh lại có ý muốn ghi âm các nghệ sĩ và in thành dĩa tại Pháp để có được kỹ thuật hoàn hảo hơn những dĩa hát xuất bản tại Việt Nam. Khi gặp tôi anh Lê Văn Tư đề nghị tôi thâu thanh các bài hát tân nhạc. Hãng ORIA đề nghị một số bài đồng thời gởi bản ký âm có nhạc và lời cho tôi chọn. Tôi thấy thích nên bằng lòng lo việc phối khí và tìm dàn nhạc phụ họa.

Người lo việc phối khí cho dĩa nhạc này là Ông Ghestem. Ông là chỉ huy dàn nhạc tại rạp Gaîté lyrique, nhưng ông có một số bạn thân đàn trong dàn nhạc Opéra, đàn hay, biết ý của ông nên khi thâu thanh cho dĩa Oria ông thường gọi các nhạc công ấy họp thành một dàn nhạc nhẹ, mỗi người biết đàn hay thổi hai ba nhạc cụ khác nhau, nhờ vậy mà chỉ có 7 hay 8 nhạc công, mà đủ màu sắc âm thanh: các loại kèn saxo ténor, saxo soprano; clarinette, hautbois, trompette sáo ngang, violon, lục huyền cầm Tây ban nha v.v..

Hãng dĩa lựa trước nhứt những bài hát của Lê Thương, Võ Đức Thu, Nguyễn Hữu Ba là những nhạc sĩ đang sống tại Sài Gòn, tôi cũng có đề nghị một số bài của Lưu Hữu Phước và Phạm Duy. Nhưng anh Phước lúc đó đang ở miền Bắc, nên những bài tôi đề nghị không được chấp thuận như Bạch Đằng giang, Chi Lăng, Người xưa đâu tá.

Chủ hãng dĩa Oria chỉ chấp nhận bài Hờn sông Gianh. Phạm Duy cũng ở trong chiến khu Việt Bắc. Nhưng mấy bài Nhớ người thương binh, Sông Lô, Chiến sĩ vô danh được ban Giám đốc dĩa hát đồng ý cho thâu thanh và việc phổ biến, phát hành do bên Việt Nam lo.

Tôi còn giữ dĩa riêng của tôi là dĩa không có bán trên thị trường, vì mỗi khi thâu thanh xong, trước khi ra dĩa bán, anh Lê Quang Tư cho tôi một dĩa in đặc biệt chỉ ghi tên bài hát và LQT (Lê Quang Tư) số… Các dĩa ấy tôi cất vào một hộp riêng toàn dĩa 78 vòng Oria. Nhưng con trai tôi là Trần Quang Hải đã ghi dĩa hát lại trên một băng cối và đã chuyển thành 2 CD để giữ lại lâu tiếng đàn giọng ca của thời 1950-1951 lúc tôi còn là một bần sĩ hát thuê với bí danh là Hải Minh (tên 2 con ghép lại)”.

(Trích: Hồi Ký Trần Văn Khê)

                          

                                       Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch, Lê Thương (1949)

                                                     

                

                                  Trần Văn Khê - nhạc trưởng sinh viên Y Khoa Hà Nội

  

      

          Trần Văn Khê & NS Nguyễn Hữu Ba

                                                         Ca sĩ Hải Minh hát:

                    Chiến Sĩ Vô Danh (Phạm Duy)        Quãng Đường Mai (Nguyễn Hữu Ba) 

                                         Nhớ Người Thương Binh (Phạm Duy) 

                        Tiếng Thùy Dương (Lê Thương phổ nhạc, thơ "Ngậm Ngùi" của Huy Cận)

                         Trần Văn Khê phổ nhạc, đàn và hát: "Nàng Nhạc" - thơ: Nguyễn Văn Cổn

               "Đi Chùa Hương" của Trần Văn Khê*
                                Nhật Hoa Khanh (Úc Châu) phỏng vấn (17/2/2011)

Suốt gần 60 năm nay, bài thơ Chùa Hương (tác giả Nguyễn Nhược Pháp) sau khi
được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc toàn bài, ngày càng nổi lên trên văn đàn
và trên sân khấu. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp được Trần Văn Khê
phổ nhạc toàn bài và lấy tên là Đi Chùa Hương.

** Thưa GS nhạc sĩ, ông đã từng gặp nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lần nào chưa?

- Tôi chưa bao giờ gặp nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Nhược Pháp mà chỉ đọc những bài thơ của ông trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân mà thôi.

** Vì sao ông lại phổ nhạc toàn bộ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp?

- Đó là năm 1946, khi đang lánh nạn ở Lộc Ninh, ban đầu tôi chưa hề có ý định, nhưng vì rất thích nên tôi đã đọc bài thơ đó nhiều lần. Tôi thường hay ngâm thơ nên ban đầu có ý ngâm bài thơ, nhưng vì là thể thơ ngũ ngôn, có rất nhiều đoạn khó. Vì thế tôi thấy rằng làm như vậy không hấp dẫn bằng có nhiều đoạn mình ngâm "theo kiểu mới". Một hôm, khi chuyển qua ngâm thơ theo điệu mới, một vài nét nhạc thoáng qua đầu, trong 10 ngày, tôi ghi lại những đoạn tâm đắc, lúc đó mới nghĩ đến việc ký âm lại cho dễ nhớ và từ đó bắt đầu phổ nhạc.

** Xin GS kể chi tiết một số đoạn xử lý với bài thơ độc đáo này?

- Tôi không phải là nhạc sĩ sáng tác, nhưng lúc đàn piano phụ họa theo tiếng ngâm của mình, tôi bắt đầu bằng gam Pha trưởng, rồi nhiều đoạn chuyển sang gam Rê thứ, chỉ có lúc cuối cùng, do tình cảm nhớ thương da diết nên tôi chuyển sang ngâm theo phong cách Sa mạc, nhưng cũng dựa theo gam Rê thứ. Lúc đó, tôi cũng định ghi nhạc để hát chơi cho các bạn nghe chớ không định phổ nhạc một bài thơ.

** Hành trình tiếp theo của cuộc đời bài hát, thưa GS?

- Người đầu tiên tôi đưa bài phổ nhạc là nhạc sĩ Lê Thương, bạn rất thích. Khi tôi chuẩn bị sang Pháp thì Lê Thương gởi thư nói rằng nến không giới thiệu với công chúng thì rất uổng. Lê Thương đã nhờ ca sĩ Mộc Lan học thuộc lời và giới thiệu trong một buổi hoà nhạc có nhiều bạn bè của ông, lúc đó tôi đang ở Pháp.
Sau đó, NXB Tinh Hoa, qua giới thiệu của Lê Thương, đã viết thư yêu cầu tôi cho phép xuất bản bài Đi Chùa Hương. Lúc đó tôi đang bịnh, đang nhập viện  nên rất cần tiền. NXB bằng lòng trả tiền tác giả để in lần đầu khoảng 2000 bản và không lâu sau, báo tin đã bán hết và xin tái bản lần hai, đồng thời gửi đầy đủ tiền tác quyền sang Pháp cho tôi. Lúc đó, đồng VN bằng 17 franc cũ. Nhờ tiền tác quyền, tôi sống bình yên 4 tháng trời tại Paris!
Lê Thương còn cho biết, Mộc Lan cũng trình bày bài đó trên Đài phát thanh Pháp Á. Rồi bên nhà báo sang là Thái Thanh cũng hát. Nhưng tôi không nhận được bản ghi âm nào. Sau này, tôi biết bên Mỹ cũng có vài ca sĩ giới thiệu bài Đi Chùa Hương, trong đó có ý Lan – con gái Thái Thanh - đã thu được  nhiều kết quả. Khi về nước làm việc, tôi được Thanh Lan tặng một cuốn băng video ghi lại bản nhạc Đi Chùa Hương rất đầy đủ. Trong các nghệ sĩ hát bài này, có Hồng Vân là thuộc hết bản nhưng chỉ thường giới thiệu trích đoạn chứ không hát cả bài.

** Những năm 50, 60 ở VN, những năm 90 ở hải ngoại, nhiều nữ danh ca đã thể hiện Đi Chùa Hương với những giọng truyền cảm sâu sắc. GS thích nhất giọng nào?
- Tiếc rằng tôi không được diễm phúc nghe tận tai tất cả các ca sĩ hát bài này. Đến nay tôi chỉ còn nhớ giọng của ý Lan mà tôi được một người bạn bên Mỹ cho nghe qua điện thoại. Giọng của Thanh Lan, tôi cũng còn nhớ rõ vì có cuộn băng. Hồng Vân thì đã rất nhiều lần hát tặng tôi ở những buổi họp mà tôi có mặt...

* Nhạc sĩ Lê Thương, năm 199, tại TpHCM, đã nói với tôi: Chùa Hương là bài thơ dài thấm đẫm hồn dân tộc trong thể thơ và nội dung, trong lời thơ. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã phổ nhạc thành công bài thơ dài và độc đáo đó. GS suy nghĩ thế nào về nhận định này?

- Bạn tôi vì quá ưu ái mà có lời khen tặng như vậy. Về mặt nhạc học, lẽ tất nhiên là Lê Thương rất sành sỏi nên lời nhận xét đó không xa với thực tế. Nhưng tôi vẫn không dám nhận tất cả những lời khen của bạn, vì tôi không phải là nhạc sĩ sáng tác chuyên môn để có được những quan điểm sâu sắc về cách phổ nhạc.

** GS có nhớ lần đầu tiên ra Hà Nội và lần đầu tiên thăm chùa Hương?

- Tôi đi chùa Hương lần đầu lúc đang học trường Y tại Hà Nội năm 1942. Về sau được đọc bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp thì bao nhiêu cảnh đẹp chùa Hương mà tôi đã được thấy, như hiện rõ trong câu thơ và nhờ đó mà bản phổ nhạc được nhiều bạn yêu thích. Năm 1976, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tổ chức cho tôi đi viếng chùa Hương cùng GS Nguyễn Hoán và phu nhân, Võ Thị Tri Túc, và con trai của hai bạn là cháu Cảnh. Tôi thật bồi hồi! Không gian cũ hiện lên, cùng với những cảm xúc vẫn nguyên vẹn trong lòng, tất cả như còn tươi mới!

** Chân thành cảm ơn GS nhạc sĩ Trần Văn Khê

                    

    > Mời quý vị thưởng thức "ĐI CHƠI CHÙA HƯƠNG" - Nhạc: Trần Văn Khê; Thơ: Nguyễn Nhược Pháp 

                          Hà Thanh (mp3)   Mai Hương (mp3)    Ý Lan (youtube)

            

Nguyễn Nhược Pháp là con trai thứ của học giả, dịch giả văn học, nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và là em của nhà thơ Nguyễn Giang. Ông sinh năm 1914 tại Hà Nội, mất năm 1938, hưởng dương 24 tuổi. Ông làm thơ từ năm 18 tuổi. Tác phẩm đã đăng trên các báo L’Annam nouveau, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí, Nhật Tân, Hà Nội báo…

"Ngày Xưa" là thi phẩm đầu tay của Nguyễn Nhược Pháp. Bản sách in lần đầu do Nguyễn Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1935. Về sau in lại nhiều lần, nhưng bản in của Nhà sách Cảo Thơm (Sài Gòn, 1966), do họa sĩ Thái Tuấn vẽ minh họa, được nhiều người ưa chuông nhất...

(Chùa Hương là một trong 10 thi phẩm trong thi tập Ngày Xưa, dài 136 câu)

Còn với bài thơ Chùa Hương, dưới nhan đề tác phẩm, tác giả ghi dòng chữ: Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa. Có nghĩa là trọng tâm cảm hứng của cả tập thơ rõ ràng được đặt ở thời đã qua, chứ không phải đặt vào cái “ở đây”, “bây giờ”.

Tuy nhiên, theo tài liệu của nhà thơ Nguyễn Vỹ (Phổ thông số 20, ngày 1-10-1959), vào Hội chùa Hương năm 1934, ông Nguyễn Nhược Pháp và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai thi nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng tròn vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Vẻ đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà quên hai cô bạn gái cùng đi.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp trằn trọc không nguôi. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui, tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ:

Hôm nay đi chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao...


(Nguồn: trích bài "Ngớ lại Ngày Xưa" của Trần Trung Sáng 11/2013)

   Xin gởi thêm tài liệu và ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:


Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com