arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN MẶC ĐỖ - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN MẶC ĐỖ - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

Cuối tháng 9 tôi nhận được thư của nhà văn Văn Quang từ Sài Gòn gởi cho một số thân hữu thông báo tin buồn là nhà văn, nhà báo, dịch giả Mặc Đỗ (tên thật là Đỗ Quang Bình) vừa qua đời tại Austin, Texas, hưởng thượng thọ 100 tuổi. Ông là một nhân vật nổi tiếng trong giới văn học Việt Nam Cộng Hòa, cũng là một trong những sáng lập viên của nhóm Quan Điểm và tờ báo Tự Do. Nhờ tin này tôi đã thực hiện một trang tưởng niệm về Ông ở website Cỏ Thơm:
http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1260&Itemid=46

Nhà văn Văn Quang cho biết: "trước 75 có gặp ông Mặc Đỗ ở tư gia trong cư xá Chu Mạnh Trinh cùng với Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn ăn uống và nói chuyện đời. Ông Mặc Đỗ hiền lành và không nóng nảy...".

Nhà văn Trịnh Bình An trong Ban chủ trương của Tủ Sách Tiếng Quê Hương vùng Hoa Thịnh Đốn nhận xét trong một bài viết về Mặc Đỗ năm 2014 như sau: "Mặc Đỗ là một tên tuổi lớn trong làng báo chí văn nghệ Sài Gòn trước 1975, nhưng giờ đây dường như chẳng còn ai biết tới ông. Không, phải xóa đi hai chữ “dường như” bởi vì thực sự chẳng còn ai biết tới Mặc Đỗ nữa. Khi tôi tìm kiếm trên mạng chỉ thấy vỏn vẹn vài truyện ngắn, vài dòng tiểu sử ngắn. Tại sao lại xảy ra như thế? Có thể vì Mặc Đỗ từng được biết tới như một dịch giả thay vì tác giả? Hay có thể vì Mặc Đỗ không tham dự vào các sinh hoạt văn chương hải ngoại? Dù sao, Mặc Đỗ cuối cùng đã quyết định gom một số truyện ngắn để cho ra đời tuyển tập “Truyện Ngắn” vào đầu năm 2014; cuốn sách dày 500 trang này tôi may mắn được một người bạn cho mượn về đọc..."

Vừa thực hiện xong trang "Tưởng Niệm Nhà Văn Mặc Đỗ" thì ngay tuần sau lại nhận được thêm tin buồn từ nhà văn Việt Hải (LA): Ông Võ Phiến (tên thật: Đoàn Thế Nhơn), một gương mặt lớn trong làng văn học Việt Nam cũng vừa giã từ chữ nghĩa và cõi thế ở Nam California, hưởng thượng thọ 90 tuổi. Ông là cây bút chính của tạp chí Bách Khoa trước 1975 và chủ trương tờ "Văn Học Nghệ Thuật" ở hải ngoại. Trong những ngày mưa gió bên miền Đông Hoa Kỳ vì ảnh hưởng của trận bão Joaquin, tôi bắt tay thực hiện trang "Tưởng Niệm Nhà Văn Võ Phiến". Những lần biên soạn như thế này, nhất là khi có thì giờ và yên tĩnh, tôi rất thích vì có dịp tìm hiểu thêm về tác giả và đọc lại những tác phẩm của họ. Mấy khi chúng ta bỏ thì giờ để lật lại những trang sách của các vị "tiền bối"? 

Riêng trường hợp của Võ Phiến, tôi thu thập được khá nhiều tài liệu về Ông từ các website trên internet: tác phẩm, hình ảnh, bài viết của văn thi hữu khắp nơi. Từ vùng Hoa Thịnh Đốn: Họa sĩ Đinh Cường và Biên khảo gia Nguyễn Ngọc Bích đã viết bài kỷ niệm về Võ Phiến và GS Hồ Bửu, Võ Học Tây Sơn Bình Định, người cùng quê với Võ Phiến, cũng qua Cali dự tang lễ. Riêng tôi, từ lâu đã thích tùy bút của Võ Phiến với lối nhận xét tỉ mỉ tinh tế và cách hành văn gọn, dùng từ địa phương dí dỏm, thật dễ đọc và lôi cuốn. Bài viết của Ông nhận xét về các "cây bút trẻ" như nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và nhà thơ Nguyên Sa cũng khá lý thú. Dĩ nhiên, tôi không tránh khỏi đọc các bài phê bình khen, chê qua lại về bộ sách "Văn Học Miền Nam" của Ông.

Xin thành kính chia buồn cùng tang quyến của 2 nhà văn Mặc Đỗ và Võ Phiến. Thành thật TRI ÂN hai Ông đã tận tụy suốt đời phụng sự cho nền văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm thật giá trị.
 
Phan Anh Dũng (6/10/2015 - Richmond, Virginia)
 

        

                         (Từ Nhà văn VĂN QUANG, Sài Gòn gởi đến thân hữu - 23/9/2015)

    

 

    

      

    

                       SÀI GÒN CỦA TÔI - Mặc Đỗ

"[…] Sau này, ở Sàigòn, một dịp nói chuyện với anh Nhất Linh tôi có kể lại kỷ niệm đó và hỏi anh có đọc truyện đó không, khi anh còn nhỏ ở Cẩm Giàng. Hai mắt anh sáng lên cùng với trí nhớ bất đồ nhỏm dậy…." (Mặc Đỗ)

Thành phố của tôi đích thực là Hà Nội: tôi sinh ra ở đó, tôi đã sống trọn vẹn thời tuổi trẻ ở đó. Nhưng tôi có một ông bác ưa phiêu lưu, sớm rời bỏ thành phố sinh trưởng, đi bén rễ ở một nơi mà ngày nhỏ tôi tưởng như xa xôi lắm. Đảo Phú Quốc ở mãi tận cùng đất nước. Những giấc mơ tuổi trẻ của tôi thường hướng về chân trời thật xa đó. Những giấc mơ cũng có khi hiện thành sự thật với những gánh hát tự miền xa tới trình diễn. Bao nhiêu đêm rực rỡ ánh sáng tiền trường, vang vang tiếng ca giọng nói của miền xa đã gây nhộn nhịp, nao nức trong chuỗi ngày tuổi trẻ. Lần lượt những Năm Phỉ, Phùng Há, Sáu Nết, Tư Sang (làm sao nhớ hết những tên, những khuôn mặt ứ tràn sức chiêu dụ của miền xa?) là thứ tình nhân vô vọng làm đẹp những ngày tháng khát khao của tuổi trẻ. Nếu có thể vô cớ khóc lên được chỉ có những lúc buông tay cho tiếng ca vọng cổ thấm vào cơ thể, biến phút giây hiện tại thành những trang sách cổ tích đọc say mê một buổi chiều ngày nghỉ học. Đến bao giờ giọng nói miền xa vẫn lưu luyến như bài ca vọng cổ, đó là một chấp nhận in khắc mãi mãi, không phai.

Phần lớn những giao tình tuổi trẻ của tôi đều dành cho những người tự cái miền hai mùa mưa nắng đem tới những âm hưởng suy đồi day dứt trong tiếng ca vọng cổ. Giọng nói còn chuyên chở những cung cách sống, những món ăn ngon (mắm nêm, mắm thái… hương vị đất nước nhưng cảm giác gợi bao nhiêu mới lạ, bao nhiêu xa xôi!). Tôi từ bỏ những nề nếp cho rằng chật hẹp để mơ tưởng tới cái xa rộng của vùng đất nước mà ruộng đồng chạy dài tới chân trời, không một bóng núi che khuất. Liên tiếp năm sáu năm trời, mỗi tuần lễ một lần, hai lần, những khoảnh khắc rạo rực tuổi trẻ là những lúc đọc thư, viết thư. Bến đợi ở đầu bên kia đất nước là cô em gái một người bạn lớn. Mỗi giòng chữ là một lời hẹn họ, mời gọi. Sàigòn của tôi từ hồi đó.

Tuổi trẻ đã để lại sau lưng, tôi mới bắt đầu xích gần tới miền xa bao lâu mong ước. Ngày xưa xê dịch không dễ dàng như ngày nay, phương tiện duy nhất là những chuyến xe lửa lần lần bò rất chậm dọc theo vùng duyên hải ngời sáng, lượn vừa đúng trên vòng cung bao lơn ngó ra đại dương. Những thuận tiện riêng không cho phép một mạch lao tới nơi mong đợi. Từ Tháp Chàm tôi phải rẽ lên Cao Nguyên chịu thêm một thời mong đợi thử thách nữa. Nhưng Đà Lạt đã gần như Sàigòn rồi, giọng nói chiêu dụ rất thường nghe thấy chung quanh, những hàng chữ mời gọi bữa trước bữa sau đã tới tay. Vậy mà cũng phải ba năm chờ đợi.

Sàigòn rõ ràng là nơi tận cùng của chuyến đi. Ga xe lửa nằm gọn trong thành phố. Đó là nơi đến, nhất định đến. Không phải là chỗ ghé qua như hầu hết những nhà ga khác. Muốn từ đây đi người ta phải lùi lại trên con đường đã đến, chờ một khúc rẽ mới tiếp tục cuộc đi. Nhưng có tiếp tục đi nữa cũng chẳng đi được bao xa. Sàigòn – Mỹ Tho không đầy một trăm cây số. Mà không phải vẫn con tàu đó. Sàigòn nhất định là nơi đến, không cách nào khác.

Nhưng, với người bấy lâu khao khát, ga Sàigòn có làm thất vọng. Một dẫy nhà thấp, rất ít ồn ào của những chuyến tới chuyến đi, chỉ là một ga nhỏ, như nhiều ga nhỏ khác dọc đường lại thua kém cái hun hút của hai nẻo đường dài. Thất vọng, nếu trên sân ga không có những người đón đợi. Biển tiếng nói chiêu dụ vây lấy người mới đến, xô đẩy người mới đến vào những khám phá rất nhiều đang chờ bắt đầu từ hè phố trước ga. Đà Lạt Sàigòn hành trình vừa đúng một đêm nằm ngủ trên xe. Người đến tỉnh dậy cùng thành phố trở dậy, khám phá càng ham hố vì có cả ngày dài trước mặt, đầy đủ, quá nhiều…

Cây, những cây, Sàigòn buổi sáng tươi mát trong ánh nắng. Người mới đến được thành phố chấp nhận ngay từ những bước chân đầu, không bỡ ngỡ ngơ ngác. Làm sao còn thấy mình là khách khi ngồi giữa một tiệm mì, giữa đông đảo người Sàigòn ăn sáng. Những món điểm tâm tự nhiên đưa tới trước bàn, không cần gọi. Lựa chọn bằng mắt dễ dàng, cứ ăn như mọi người chung quanh đang ăn. Chỉ một chút nhận xét là ngay bữa đầu đã có thể thông thạo hết thảy mọi người. Người Sàigòn nghĩ tới mình nhiều hơn là bận tâm tới mọi người khác ở chung quanh, cho nên người mới đến rất mau hòa mình được vào đám đông người không cùng ngôn ngữ – người Tàu, người Chà – họ tới, họ phát triển và không ai nghĩ rằng họ quá đông, thao túng một phần lớn đời sống trong thành phố, của cả một miền.

      

Buổi trưa Sàigòn. Hai mươi lăm năm sau, hôm nay, làm sao tìm lại được những buổi trưa Sàigòn thời đó. Du khách Tây phương đã từng viết về Sàigòn, ví Sàigòn như một thành phố miền Nam nước Pháp. Nhận xét thật đúng những lúc ban trưa mọi hoạt động hầu ngưng trệ hẳn để mọi người nghỉ ngơi. Bóng cây buổi trưa Sàigòn quả là những bóng cây với tất cả sự êm tịnh, vắng lặng, những lá me lay động in bóng trên mặt hè vắng Sàigòn thật khác, so với những thành phố miền Trung, miền Bắc. Nhưng đặc biệt nhất là đêm Sàigòn. Buổi sáng, buổi chiều, Sàigòn làm việc, đêm đến Sàigòn mới thật sự sống. Ra quán uống cà-phê, ăn sáng, đó là một cần thiết ngắn. Tối đến ra đường, đó mới là thời gian của mình của mỗi người Sàigòn. Ăn và chơi mọi thứ đều có đủ. Bỏ ra một năm trời khám phá chưa chắc đã biết hết mọi thứ ăn và mọi thứ chơi của Sàigòn. Rất nhiều người đến Sàigòn rồi không thể bỏ đi. Chưa hẳn bởi họ ham ăn ham chơi. Đêm Sàigòn là của hết thảy mọi người, ai cũng có thể tìm thấy cái phần của mình ở một nơi nào đó trong thành phố nô nức về đêm. Bởi có đêm Sàigòn đời sống thấy dễ chịu hơn. Ban ngày làm việc, đêm đến có cơ hội tức khắc đền bù những nhọc mệt trong ngày. Cần cù, cố gắng được chia thành nhiều đoạn ngắn. Hãy sống cho ngày hôm nay, sáng mai lại tiếp tục. Đời sống Sàigòn đáng yêu bởi lẽ không đòi hỏi nhiều cố gắng tích lũy.

Hai mươi lăm năm sau, những gốc cây của Sàigòn ngày xưa lần lần bị đánh ngã. Chẳng cần tới những lưỡi cưa tàn nhẫn, riêng bụi và khói độc của đường phố cũng đủ làm nghẹt thở từng cành lá. Sàigòn đâu còn là Sàigòn nữa. Đâu còn thứ Sàigòn hoan hỉ mời gọi và tức thời biến người lạ thành quen. Bóng mát không tìm thấy. Bây giờ chỉ còn đám đông những người lạ, từ bốn phương kéo tới và ồ ạt tranh sống. Sàigòn của ai, của những người mạnh tay, lanh mắt. Hãy đổ lỗi hết cho chiến tranh, để lương tâm mỗi người tạm yên. Cho cái gốc thực sự Sàigòn đừng mất.

Cuộc sống bây giờ ai thấy cũng tạm. Cho nên đừng đánh giá gắt gao. Chiến tranh như cơn lốc xô đẩy những đám người quy tụ thành từng tập thể bát nháo. Hoàn cảnh nhất thời đâu giữ mãi được gót chân người nếu không khí tình cảm chung quanh không là bóng mát níu kéo. Như những bóng cây buổi trưa Sàigòn hồi nào. Như những đêm Sàigòn ngày xưa đem thoải mái đến, sau những ngày làm việc. Nghĩ cho cùng, bóng mát cũng không do ý muốn của con người. Đừng ai nghĩ là muốn hay không muốn tạo bóng mát. Bóng mát của Sàigòn ngày xưa là hợp thành của chính bao nhiêu cái vô tâm của người Sàigòn. Người mới đến cũng mang cái vô tâm của mình hòa trộn vào mớ vô tâm chung. Sàigòn ngày xưa quyến rũ không phải vì ai, do ai. Có một quy luật cởi mở mặc nhiên ai nấy cùng theo và hết sức tôn trọng. Cái chén nhỏ tư lợi hẹp hòi của mỗi người làm sao so sánh được với lượng vô biên của một miền phù sa chỉ thèm tranh đua với riêng biển cả. Sàigòn, miền Nam, tương lai là ở trước mặt. Điều đáng sợ là sợ mất cái gốc tươi mát ngày xưa.

Hànội, Huế, Sàigòn. Ba mối tình, một bản hòa tấu. Làm sao thiếu được một khúc. Thiếu thốn chính là những người dễ dành cam ẩn núp trong một ngõ ngách địa phương, cam tâm đứng lại trong khi giòng đời đang chảy. Cái nhịp diễn tiến hiển hiện trong ngôn ngữ hòa trộn. Thử lắng nghe những sân khấu bình dân nhất. Những người đứng lại có thấy chăng ngôn ngữ – phương tiện cảm thông số một – đã đi tiên phong bồi đắp phù sa san bằng những ranh giới tư lợi trước mũi. Đào Duy Từ đã sống lại trong một số người hôm nay. Nhưng Đào Duy Từ hôm nay đã không cưỡng lại nổi sức giao hòa của ngôn ngữ[MĐ]

[Nguồn: Tạp chí Vấn Đề -Chủ biên: Vũ Khắc Khoan & Thư ký tòa soạn: Mai Thảo, Giai phẩm Xuân Canh Tuất- Số 30-31, Tháng giêng & 2/1970, trang 57-61]

                              Những người viết trẻ - Mặc Đỗ

Một nhà văn nữ bị chê vì cái tội thỉnh thoảng chọc tức độc giả và ông chủ nhiệm bằng cách lóc lấy một đoạn tiểu thuyết và bày lên báo bảo rằng truyện ngắn, đã trả lời: "Ui da! Bây giờ truyện ngắn đâu cần có đầu có đuôi!" Có đầu có đuôi ý hẳn nhà văn nghĩ tới con cá chép rán nguyên con cả vảy mà đức phu quân hay nhắc đến. Cũng nên nói ngay, cái tội chặt ra một khúc bảo là con cá sáng kiến không do nơi nhà văn có ông chồng thích ăn cá chép, khá nhiều đồng nghiệp khác đã làm trước, về phái nữ ít nhất cũng có hai vị, và đã lâu độc giả dường như chấp nhận nhà bếp dọn ra bảo là cá nguyên con thì cứ cho là cá nguyên con, chẳng sao. Từ nhà bếp đến bàn ăn mọi việc êm xuôi, ông chủ quán cứ việc theo bông mà thâu tiền, quan tâm làm chi. Càng không can dự gì đến kẻ đứng ngoài bàn phiếm.

Mở đầu câu chuyện, động hệ tới một người bạn khác phái, phải tìm cách cho vui chuyện kẻo bạn nổi giận thì chết. Sự thật bài này không có mục đích chê khen gì cái vụ có đấu có đuôi như con cá chép rán vàng cả vảy, hay không đầu không đuôi như khá nhiều truyện ngắn đương thời. Cái đích cuối cùng của những người viết là làm sao truyền được cái cảm của mình cho người đọc cũng cảm như thế, hay hơn thế do cộng thêm vào những yếu tố riêng. Không ai chứng minh được cứ cần phải nguyên con, tức là có đầu có đuôi, mới truyền được cảm. Lắm người đàn ông và đàn bà chủ trương rằng thích người nào đó không phải vì gương mặt đẹp hay có đủ mặt mũi chân tay. Cái thích nó oái oăm ở chỗ khúc nào thì chỉ có thức giả tự biết mà thôi.

Ý nghĩ tiên khởi của người viết khi nhận lời viết gấp một bài khai từ cho số báo này là cuộc đời không khác một con vật sống, như con trâu của đồng bào Thượng trong những dịp đại lễ. Chẳng nên bảo bây giờ lòng người đã sa đọa đến độ thưởng thức những trò máu rơi đỏ hỏn, trở lại giống với những thời xa xưa, lóc từng miếng thịt sống trên mình con trâu đứng đó khổ sở, không hẳn là một cái thú. Con người bây giờ đặc biệt ở chỗ không có những chiếc quạt, những cái nón để mà núp sau đó bảo rằng không nhìn những gì e rằng xấu. Con người bây giờ có cái nhìn thẳng, quần áo đang là thứ đạo đức giả cuối cùng mà con người muốn vứt bỏ, con trâu đứng đó khổ sở nhưng con người không quay mặt đi. Lại thêm vào đó một thời thượng ai cũng muốn tỏ ra mình "tiến bộ" hơn những người ở chung quanh. Tiến bộ đến đâu thì không cần biết nhưng cứ phải tiến bộ đã. Thành ra cuộc đời cứ đỏ hỏn như con trâu bị lăng trì. Quyết tâm nhìn thẳng cộng với khuynh hướng làm mới, làm khác, viết văn bây giờ cũng như làm thơ hồi nào đòi hỏi rũ bỏ những gì vướng bận, cản trở ngòi bút sục sạo, soi mói, phơi ra những gì sâu kín nhất, ẩn ức nhất. Những cái muốn làm mới, làm khác của người thơ không giống như của người viết văn, đây chỉ nói cái tình huống, chứ không so sánh chi tiết. Cần làm mới làm khác, cái vụ cắt tiểu thuyết thành một truyện ngắn mà vẫn coi được, hay coi như được, không biết tổ sư của nó là ai, bày ra từ bao giờ. Nhưng phải nhìn nhận là nó hợp với hình thức truyện ngắn bây giờ, của những người bây giờ.

Nhìn vào những người viết văn bây giờ có một nhận xét hởi lòng: những tên đông vui quá. Nếu xao lãng trong một thời gian ít đọc rồi một ngày cầm lấy ba bốn tập báo văn học, cảm tưởng thứ nhất chắc chắn là thấy xa lạ với nhiều tên mới. Người viết còn nhớ cách đây vài năm có một lần gọi đùa một nhà văn mới là một cây bút đang lên. Đang lên như cái cây vừa xuân hối hả mọc, như mang trong mình cây tâm trạng của cả một cánh rừng. Nhà văn bị gọi đùa đã văng tục nói với mấy người khác "Đang lên là cái …gì?!" Nói theo thời thượng, người viết đã "buồn năm phút.” Nếu gọi là cái cây đã đủ cành đủ lá, chờ thành cổ thụ thì thích hơn hay sao? Là cổ thụ có một nỗi khổ có ai biết không? Cổ thụ hay được chim non, sáo đá bay đến đậu và ỉa bậy lên vô tội vạ. Triết lý đúng nhất của cổ thụ là cười. Làm cái cây đang lên hào hứng hơn chứ.

Được cái là đại đa số những người viết trẻ thích là những cây đang lên. Ý hướng đó nhận thấy rõ rệt trong nhiều hình thái phủ nhận, không muốn giống một khuôn mẫu nào đã có. Phủ nhận là một ý chí, nó gắn liền với một ý chí khác là tìm tòi, khai phá. Nghe như có một thời những người trẻ đặt tìm tòi, khai phá trong những cố gắng làm giống một số trào lưu nổ pháo bông tại nước ngoài. Pháo bông làm cho những con mắt ngước lên tròn xoe thích thú trong giây phút. Rồi tắt. Nhưng cũ người mới ta, có những cố gắng ở đây muốn như thế nọ, muốn như thế kia. Kết cục, pháo bông ở đây cũng như pháo bông ở đâu khác. Bây giờ hầu như tắt hẳn những cố gắng kiểu đó. Bài học có thể tóm tắt: nhà văn nước ngoài cảm thấy cuộc đời đã được khai thác đại kỹ nghệ, cạn mất hết nhiên liệu, cho nên đành quay về tìm cách làm mới bằng kỹ thuật, nhưng kỹ thuật tinh vi hay lạ lùng đến đâu cũng không hâm nóng sôi sục được cuộc đời nếu quả tình đã nguội lạnh hay khô cằn. Kết quả tại ngoại quốc, chẳng hạn như ở Pháp, điều tra trong giới sinh viên (thành phần dễ đón nhận nhất trong quốc gia) cho biết rất nhiều người không lưu ý đến Nathalie Sarraute, hoặc không biết là ai làm gì nữa,trong khi những sách của Guy des Cars, của Delly vẫn bán chạy. Lý do: đọc sách hiểu theo nghĩa bình dân là thoát ra chứ không chui vào cái lồng trí thức. Chừng nào tiều thuyết như chén nước mát tưới lên mảnh đất tưởng tượng, tiểu thuyết được đón nhận dễ dàng. Tâm hồn của số đông đọc tiều thuyết bây giờ khác với ngày xưa ở điểm chấp nhận những sắc thái tàn bạo vì tàn bạo bây giờ là một yếu tố có thật trong đời sống. Tàn bạo không phải là một khám phá mới lạ, tàn bạo là sự thật, sự thật thường ngày.

Ở ta, hoàn cảnh chẳng đáng lấy làm hoan hỉ, cuộc đời bỗng trở nên giàu có, súc tích quá, trước kia đã chẳng được thật lực khai phá vì số người viết quá ít, bây giờ giàu sang súc tích thêm, đâu có cần người viết phải mất công len lỏi trong những tiều xảo kỹ thuật. Những phong trào muốn như thế nọ như thế kia lan ra ít lâu trên bề mặt đã vội nhường đất cho những khai phá đích thực.

Đời sống trở nên giàu sang có một hậu quả trông thấy là tăng bội những chứng nhân rung cảm chung với nhịp giàu sang mới. Hiện trạng đông vui tên những người viết mới chỉ có thể giải thích bằng nhận định đó. Hễ nói đến rung cảm không thể không biết đến tuổi tác con tim. Những cảm hứng nồng nhiệt không mấy khi có nơi những trái tim đã cũ như chiếc đồng hồ cha dùng suốt đời rồi truyền lại cho con. Những người viết trẻ mọc lên như rừng là tình trạng để giải thích, là sự kiện lành mạnh, hợp lý, là hứa hẹn tương lai của văn chương nước ta.

Bây giờ phải quay về đề tài chính của bài khai từ cho một tập truyện ngắn của những người viết trẻ. Cứ ngồi mà luận đại cương về sự đông vui của làng viết thì bao nhiêu giấy cũng không vừa. Thật tình đông vui chưa phải là điều kiện đáng tin cậy nhất. Tương lai văn chương nước ta cần có đông những người viết, nhưng còn cần hơn nữa là cái chất phì nhiêu mà số đông những người viết sẽ tạo nên được qua những cố gắng hì hục ở khắp nơi. Lâu nay có một điều mà lắm nhà bình luận văn học hay đả động tới là hi vọng tìm thấy nhiều TÁC PHẨM LỚN. Phải viết hoa cả ba chữ to lớn đó lên để ai nấy ước lượng được cái sức voi đặt trong hoài bão đó. Người viết lại nghĩ khác. Không ai có thể tự hứa với mình sẽ hoàn thành một tác phẩm mà thiên hạ phải công nhận rằng lớn. Hết thảy những người viết đều kiêu hãnh, chẳng tự hứa không ai quên thầm nhủ phải cố gắng. Tài kỹ có bao nhiêu dại gì mà không vận dụng hết. Nguyễn Du, ông lớn số một của văn chương Việt Nam đã chẳng hồ nghi không biết ba trăm năm sau thì sao đó ư. Cái lớn của một tác phẩm văn học nó giống như đứa trẻ mà hai bậc cha mẹ cấu tạo trong chỗ kín đáo, làm sao biết sinh ra nó đẹp hay xấu, lớn lên có khỏe mạnh hay không, học chữ học làm người kết quả có võng lọng hay không. Vấn đề đối với hai người cấu tạo là cứ biết yêu thương nhau thật tình, chọn lúc lâm sự cho đúng phép vệ sinh; nhậu độ một két rượu nho về rồi còn lo bày chuyện rắc rối như nhiều ông Pháp và băn khoăn tại sao ở Pháp lắm trẻ con trí tuệ chậm phát triển thì đúng là chẳng hiểu mô tê sự đời chi hết. Cấu tạo đúng phép vệ sinh còn phải lo dưỡng thai, sinh ra rồi còn lo nuôi lo dưỡng lo giáo dục, có thế mới mong sẽ có tác phẩm lớn đóng góp với đời. Sáng tạo văn chương cũng chằng khác. Cứ chân thành trong rung cảm, o bế tưởng tượng thật tận tình, mài dũa văn tự ngôn ngữ cho đến nơi đến chốn, đế trơ cái lõi của chữ nghĩa ra, tác phẩm có lớn hay không là tự nó về sau, biết làm sao được. Tác phẩm của mình tự cho là toàn bích, bạn hữu xúm vào nịnh xỏ bảo rằng hay nhất, nhưng tung ra đời thiên hạ chỉ thấy rằng được được vậy thôi thì đừng nên nổi giận, cứ từ từ chờ thời gian, biết đâu đấy. Nhưng nhất định là đừng lo làm lớn, tin rằng tác phẩm đã lớn thật.

Trở lại ý kiến đã nói ở trên, người viết không rình mò chờ đợi tác phẩm lớn hiện ra ở chân trời văn chương. Người viết tin rằng sẽ có tác phẩm lớn được suy tôn sau này qua đông đảo những cố gắng của số đông người viết trẻ đang sản xuất văn học. Cuộc đời ở chung quanh chúng ta đang thê thảm như con trâu bị lăng trì đứng đợi ở bên cọc. Những người viết, phần lớn là những người trẻ, đang lóc từng mảnh thịt trên lưng trâu bày lên sách báo. Những tác phẩm đúng là những tảng thịt tươi đó.

Dù muốn quan niệm một tiểu thuyết như thế nào, tiểu thuyết bao giờ cũng là một công phu trình bày, sắp đặt. Tiểu thuyết là một món ăn do tài khéo của đầu bếp. Tiểu thuyết là một đóng góp thành hình của nhiều yếu tố, nhiều thành phần và nhiều công khó. Truyện ngắn, trái lại, và nhất là theo quan niệm truyện ngắn bây giờ, con cá không có cần có đầu có đuôi, là những tảng thịt tươi rói, đỏ hỏn, vừa lóc trên lưng con trâu ra.

Nói như vậy không phải muốn bảo rằng những truyện ngắn hay là những cơ may (cắt được món thịt ngon) tình cờ phóng bút mà có. Truyện ngắn bây giờ không đòi hỏi một kỹ thuật chặt chẽ, ngòi bút viết truyện ngắn không bị gò bó trong một luật lệ nào hết. Nhưng từ con tim, từ khối óc người viết, dòng cảm hứng của người viết phải là máu thì tác phẩm mới tươi được. Điều kiện lớn của truyện ngắn bây giờ là phải tươi. Mỗi người viết hàng ngày xông xáo trong môi trường rung cảm tự mình phải tươi và khi trình bày trên giấy kết quả gửi tới người đọc vẫn còn tươi nguyên sự sống. Những người trẻ thành công trong truyện ngắn bây giờ, mô tả cuộc sống bây giờ, chính bởi họ dư thừa, hay ít nhất cũng đủ chất tươi.

Mỗi người viết trẻ lần lần thâu lượm như vậy những chất liệu. Một ngày nào đó từ những chất liệu nóng hổi thâu góp, với kinh nghiệm tích lũy, khi bắt sang những công việc dài hơi hơn, nhiều công phu hơn, họ sẽ giống như những bậc cha mẹ gửi nhiều khó nhọc vào một mưu cầu thiết tha mới có những đứa con nên người. Tin tưởng tác phẩm lớn sẽ có là vì vậy. Đã đành là thỉnh thoảng vẫn có những thiên tài, nhưng người viết với kinh nghiệm già nửa đời người sợ nhất là những thứ tưởng rằng thiên tài, tuy phải bái phục những thiên tài thật. Tại sao không bằng lòng là những con người thường và vui lòng xây dựng bằng những cố gắng. Sáng tạo văn học là một công việc hết sức bình thường. Con người sáng tạo văn học một mình ngồi trước tờ giấy trắng là con người thật người, tức là hết sức cô đơn. Tài năng là do cố gắng. Trong văn học làm gì có thứ gọi là "soutien automatique" cứ đeo vào người là nó tự nhiên to tướng. Có tác phẩm lớn rất dễ dàng chỉ cần một điều kiện là có tiền để mua và tin ở lời quảng cáo của người bán. Những phù thủy văn nghệ đúng là những ông bán "soutien automatique" đấy.

Nói chuyện con cá chép không đầu không đuôi dám quên mất một nguyên lý của sự sống, đó là trong cái đổi thay vẫn có cái bất biến. Nguyên lý đó được thể hiện trong văn chương của ta hiện thời bằng sự hiện diện cùng lúc của khuynh hướng trẻ và mới rất đông đảo và khuynh hướng khiêm nhường hơn, vì vắng hơn, tạm mệnh danh là khuynh hướng truyền thống. Một bên ồ ạt trong sự khai phá, một bên ung dung cứ giữ thói quen vuông vắn có đầu có đuôi. Phái trẻ đưa ra những miếng thịt tươi rói trong khi phái cũ vẫn sáng tác được những truyện ngắn đẹp. Phân biệt hai phái trẻ và cũ cũng chỉ là một cách nói. Chằng ai chứng minh được rằng hết thảy những người trẻ nhất định viết theo lối cũ và có những người ưa cũ nhưng cũng mon men thử của mới đôi lần, chẳng biết có thành công hay không. Có điều là theo khuynh hướng nào thì truyện ngắn vẫn là truyện ngắn.

[Mặc Đỗ, "Những người viết trẻ", Văn số 197 (Số đặc biệt sáu nhà văn trẻ), trang 2-9, ngày 1.3.1972]

                                    Phiên khúc

Rón rén tiến lại gần địa hạt của phiên âm tên riêng (nhân danh và địa danh). Đây là ý kiến của Mặc Đỗ:

Có ba chủ trương hiện đang áp dụng:

a. - Việt Nam hóa hoàn toàn: Thí dụ Montesquieu thành Mạnh-Đức-Tư-Cưu, London thành Luân-đôn. Sự thật đây chỉ là phiên âm một lần thứ hai lối phiên âm của Trung Hoa. Khi người viết chữ Hán muốn chỉ nhân danh Montesquieu đã đọc nhân danh đó lên và ghi âm bằng bốn chữ Hán, khi đọc giọng Trung Hoa ta nghe gần ra Montesquieu như giọng Pháp. Sang đến Việt Nam mới biến thành một cái tên man dợ mà chính người mang tên đó cũng không thể hiểu nổi. Chủ trương này hoàn toàn không có lý do tồn tại, mặc dầu đã có đôi chữ thành quen.

b. - Phiên âm ra tiếng Việt: Chủ trương này có phần hợp lý nhất nhưng bởi những người dùng không chịu cân nhắc kỹ lưỡng mỗi khi phiên âm một nhân danh hay địa danh và và vô tình mắc phải cái lỗi của những người dùng nhân danh Mạnh-đức-tư-cưu, nô lệ Tàu rồi lại nô lệ Pháp. Thí dụ địa danh thủ đô Ai Cập có người phiêm âm là Lơ-Ke, như vậy là nô lệ Pháp văn phiên âm Le Caire, trong khi Anh văn phiên âm địa danh Ai-Cập đó đúng hơn là Cairo. Một thí dụ khác, địa danh thành phố Milano ở Ý nếu phiên âm theo Pháp thì sai, hỏi một người Ý có biết thành phố Mi-lăng ở đâu không họ sẽ ngơ ngác vì họ không phát âm như vậy. Muốn giải quyết đến nơi đến chốn ta cần phải chú trọng tới mấy điểm then chốt: 1) truy nguyên đến tận xuất xứ để phiên âm cho thật đúng không lệ thuộc một lối phiên âm nào khác 2) tránh sự đi quá xa âm chính bằng cách quá lạm dụng âm hưởng Việt Nam, chẳng hạn Bunganine thành Bún-gà-ninh và 3) tìm một lối ghi âm không quá khác biệt với những nhân danh, địa danh ở nguyên bản (chữ viết của ta dùng mẫu tự la-tinh ta không có lý do gì để ghi một nhân danh ngoại quốc một cách hoàn toàn khác biệt không thể nhận ra được so với nhân danh chính, nếu cần ta nên dùng thêm những âm mới như bl, br...)

c. - Dùng ngay những danh nhân, địa danh viết theo nguyên tác: Chủ trương này là một sự cực chẳng đã, không thỏa mãn vì chưa tìm ra phương pháp thích đáng. Những người chủ trương như vậy dựa vào lý do cần tôn trọng nguyên tác. Tác giả khi đặt tên cho nhân vật trong truyện không phải là không có dụng ý và không gán cho cái tên một ý nghĩa riêng biệt. Đem phiên âm một cách quá sỗ sàng ta đã vô tình vứt bỏ hết những dụng tâm của tác giả và đồng thời cái tên đã được Việt hóa đi đó cũng không lợi được một ý nghĩa gì cho độc giả người Việt và có khi họ còn thấy là ngô nghê nữa. Tuy nhiên chủ trương này không thể tồn tại mãi nếu ta tìm ra được một phương pháp phiên âm đúng và hợp lý.

MỘT CHỦ TRƯƠNG HOÀN TOÀN MỚI MẺ

Anh bạn già Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương rằng người dịch phải đặt lại cho từng nhân vật trong truyện tùy theo cá tính của mỗi nhân vật đó theo những điểm chỉ cần của tác giả. Người dịch phải làm sao cho độc giả nhận thấy qua cái tên Việt Nam một phần nào đặc tính của mỗi nhân vật. Và cẩn thận hơn nữa, để tiện sự truy cứu, ở cuối sách sẽ in một bảng đối chiếu giữa tên trong nguyên tác và tên Việt Nam mới đặt. Trên lý thuyết, chủ trương này rất đúng, dù sao cũng cần áp dụng mới ước lượng được sức gợi cảm của lối đặt tên này và khi đó mới tiện phê phán.

Một lần nữa chúng tôi thấy cần nhấn mạnh vào sự cần thiết phải có một tủ sách dịch khá đầy đủ. Những vấn đề nêu ra - có lẽ còn thiếu xót - đều không phải là những điểm nan giải. Chỉ cần một sự cố gắng muốn làm.

(sao y bản chính, trích từ Mặc Đỗ, "Công việc dịch văn", tạp chí Sáng Tạo số 1, 10/1956)

Mặc Đỗ là tác giả những quyển như Thần nhân và thần thoại Tây phương, tác giả những bản dịch như Tâm cảnh (tức Climats của André Maurois) ...

                          CON MUỖI - Mặc Đỗ

Loan chợt cảm tưởng như ai đương chăm chú ngó mình. Ngẩng lên, Loan nhận thấy trên tấm kính cửa hàng phản chiếu lại hai con mắt tròn và to long lanh sáng. Ngó kỹ khuôn mặt: thấp thoáng một vài nét quen quen… Loan bất giác quay hẳn người lại: khuôn mặt quen quen đặt trên một bộ áo chùng thâm.

Vị tu sĩ trẻ tuổi vẫn mở to đôi mắt ngó Loan. Sau một thoáng giây tìm tòi trong những ngăn kỷ niệm trong đầu, Loan bỗng nói, tiếng nói thốt ra, đượm đôi chút e dè, không hẳn tin ở trí nhớ của mình:

– Anh Thiện?

Gương mặt sáng sủa với hai con mắt rất trong của vị tu sĩ trẻ tuổi bừng lên một nụ cười cởi mở. Tu sĩ nói rất từ tốn:

– Đúng là chị Loan. Khi nãy mới trông thấy chị, tôi cứ ngờ ngợ không tin rằng có phải là chị không. Đến khi chị cất tiếng nói thì nhất định không thể lầm được… Đã lâu lắm rồi tôi mới gặp lại chị…

Loan đã trở lại bình tĩnh và nhanh nhảu như hồi nào, vội cải chính:

– Cũng không lâu lắm. Tôi còn gặp anh một lần ở Ba-lê, trung tâm sinh viên đường Soufflot…

Sau câu nói, Loan cũng vừa nhận thấy rằng xưng hô như vậy không biết có phải hay không. Loan e ngại ngó bộ áo trùng đen của vị tu sĩ đứng trước mặt, phân vân không biết xử đối ra sao với một anh bạn học cũ, khá thân, nay gặp lại bỗng thấy thay đổi nhiều quá, xa cách bởi cả một hàng rào tín ngưỡng. Nếu Loan cũng như Sương, như Hạnh, Loan sẽ dễ dàng gọi Thiện bằng Cha và xưng con rất ngon lành. Loan tự nghĩ không thể bắt chước như mấy người bạn kia: một người ngoại đạo mà xưng hô như vậy, không những thấy vô lý với chính mình mà còn e rằng bất kính ngay cả với người đứng trước mặt. Loan cảm thấy cần phải trọng bộ áo tu hành của người bạn ngày xưa, thành ra cũng thấy không tiện cứ coi Thiện như một người bạn cũ, chẳng hạn như lần gặp ở Ba-lê.

Dường như không nhận thấy nỗi bối rối của Loan vì chuyện xưng hô, vị tu sĩ trẻ tuổi tươi tắn đứng ngó Loan bằng hai con mắt sáng, rồi ông ta nói, vẫn một giọng khoan thai mà ấm:

– Lần gặp chị ở đường Soufflot tôi vừa tốt nghiệp đại học. Nửa năm sau tôi bắt đầu tu đạo. Tôi được thụ phong linh mục đã hai năm nay. Về đây chưa được bốn tháng. Tính từ ngày ở Hànội tới nay cũng đã lâu lắm rồi đấy.

Loan ngập ngừng đến một phút rồi mới đáp, thử dùng một cách xưng hô tạm cho là ổn:

– Tôi vẫn cho là không lâu lắm, vì tôi thấy không thay đổi chút nào, chỉ trừ…

Tu sĩ cả cười, ngắt lời Loan, một tay kéo mảnh áo ở trước ngực:

– Chỉ trừ bộ áo đen này?

Rồi tu sĩ lại từ tốn nói tiếp, hai con mắt ngó lên:

– Trong gia đình tôi, được Chúa gọi tới là một ơn huệ lớn lắm.

Loan nhớ có một lần gặp My ở trước Chợ, hôm đó cả hai người đều bận rộn, vội vã, nhưng My cũng cố gọi Loan cho bằng được. Loan phải vội ghé xe vào một bên hè, không kịp ra dấu cho những xe khác khiến lắm người càu nhàu. My hớt hải tới bên cửa xe của Loan để báo một cái tin không thể không nói ra:

– Chị Loan ạ, anh Thiện được thụ phong linh mục rồi. Em đang phải tíu tít đi mua sắm các thứ, sửa soạn bữa tiệc mừng. Bận quá chị ạ.

Loan đang bực mình vì những lời càu nhàu của đám người lái xe cắt ngang, đáp hai tiếng gọn:

– Thế hả?

Thật tình, Loan không ý thức được nỗi vui mừng của Mỵ.

Thái độ hờ hững của Loan khiến cho My có điều chưng hửng.

Loan đáp lời vị tu sĩ trẻ tuổi:

– Vâng, hồi đó tôi có được My báo tin cho biết. Tôi ngu quá không biết chia sự vui mừng thế nào với My cả (Loan cười hóm hỉnh nói tiếp). Nhưng tôi vẫn đợi xem anh Thiện nghịch ngợm ngày xưa, bây giờ hóa thành tu sĩ, sẽ biến đổi đến thế nào (Loan lừ đôi mắt ngó tu sĩ một lượt, rồi kết luận). Ngắm kỹ thì… Cha vẫn không thay đổi chút nào, chỉ trừ…

Tu sĩ nhắc lại câu nói trước:

– Chỉ trừ bộ áo đen này…

Hai người cũng cười và cảm thấy đã lấy lại được phần nào cái không khí bạn hữu ngày xưa. Tu sĩ tiếp:

– Cứ nhắc chuyện đã qua mãi, quên mất hiện lại. Tôi chưa hỏi thăm chị về gia đình. Hai cụ vẫn mạnh chứ và còn chị, những thay đổi của chị trong bao năm nay?

– Thầy tôi mất đã mãn tang, bây giờ còn Mẹ tôi, cùng ở với tôi, Mẹ tôi vẫn mạnh. Còn tôi, chỉ có một sự thay đổi là đã thành bà Khánh, thế thôi.

Tu sĩ đáp:

– Anh Khánh, tôi còn nhớ lắm.

Loan ngắt:

– Hình như cũng là bạn… nghịch của anh Thiện?

Tu sĩ gật đầu, ngó xuống:

– Nhắc đến tên những bạn cũ, tôi hồi tưởng được rõ hết những kỷ niệm đã qua. Thế nào tôi cũng phải lại thăm chị và gặp lại anh Khánh. Cũng phải lại để chào cụ nữa chứ.

– Vâng. Mẹ tôi vẫn thường nhắc tới Cha, Mẹ tôi cũng biết anh Thiện đã trở thành linh mục. Cha tới chơi chắc Mẹ tôi mừng lắm.

Tu sĩ lấy trong bọc ra một cuốn sổ nhỏ và một mẩu bút chì ghi địa chỉ của Loan, rồi cáo từ. Loan còn ngó theo vị tu sĩ trẻ tuổi dáng đi vững vàng, lanh lẹ, giữa đám đông trên đường.

Ở Hà nội, hồi cả bọn mấy người còn là học sinh trung học, mấy gia đình quây quần trong một khu phố. Hơn nữa, họ lại cùng học một trường. Gia đình bác sĩ Hoàng, ông thân của Loan, tương đối là một gia đình tân tiến hơn hết. Cả bọn đều coi nhà Loan như một nơi thường hội họp. Bà mẹ của Loan, vì yêu đám tuổi trẻ này, luôn luôn gây cho họ một không khí thân mật, đầm ấm. Khi Loan đã lớn, đã trở thành một thiếu nữ đang độ, sự giao du giữa Loan và mấy người bạn trai vẫn không hề kém hồn nhiên, thân mật. Chính Loan nhiều khi cũng tỏ ra nghịch ngợm không kém bọn con trai, tuy vẫn có thể rất thấm thiết với những bạn gái thùy mị như My, em gái Thiện.

Trong số bạn trai của Loan, nếu một người đứng ngoài mà quan sát và có lúc nghĩ rằng bọn tuổi trẻ này không thể cứ như thế mãi, chẳng hạn như bà mẹ của Loan, Thiện tỏ ra là người có nhiều khả năng và hi vọng mai ngày trở nên cậu giai tế của nhà họ Hoàng hơn hết. Có lẽ cũng linh cảm thấy như vậy nên Thiện, tuy đã bắt đầu yêu Loan, vẫn yên lặng giữ riêng cảm tình đó cho mình, không dám phá không khí tự nhiên, cởi mở, mà cả bọn đang chung hưởng. Thiện giữ không hé bàn chuyện muốn độc chiếm Loan với một ai, kể cả bà mẹ của Loan là người mà Thiện rất có thể gửi gấm tâm sự. Thiện kín đáo như vậy cho đến khi lên đại học được gia đình thu xếp cho xuất dương du học. Rồi sau đó, trong những thư từ Loan và Thiện thỉnh thoảng gửi cho nhau, không một dịp nào Thiện để cho tình ý tràn lấn quá cái mức mà chàng đã giữ được khi còn ở gần Loan.

Có một lần, trong một bức thư Thiện viết cho My, nhân một câu hỏi thăm tin tức Loan, Thiện có tỏ lộ đôi chút tâm sự. Ý hẳn mùa Thu đó, bữa Thiện ngồi bên cửa sổ viết thư cho em, lá vàng có rụng nhiều trên vai những pho tượng trong công viên. My đã tinh quái mang bức thư đến cho Loan đọc, với dụng ý tỏ cho Loan rõ rằng mình đã « biết hết » rồi, Loan đừng khéo giả vờ mãi. Loan thật tình cũng chỉ biết vậy mà thôi. Loan sẽ không chê Thiện nếu Thiện ngỏ lời; nhưng ít nhất cũng cần tìm hiểu nhau hơn nữa, nếu hai người định dời bình diện bạn hữu để cùng nhau đi tìm một chân trời khác. Thời gian qua đi, Loan cũng không hề đợi, mà Thiện cũng tiếp tục im lặng mãi.

Rồi bao nhiêu biến cố xảy tới, nhóm bạn thường tụ hội ở nhà Loan tản mác mỗi người một phương. Còn lại có Khánh. Anh chàng này có một đặc điểm là mặc dầu bao nhiêu sự đổi thay ở chung quanh vẫn luôn luôn có dịp ở gần Loan: cùng tiếp tục một môn đại học, cùng tản cư ở một nơi, cùng trở lại Hànội và sau hết lại tình cờ đồng ý xuất ngoại để thi nốt một bằng cấp đại học. Bấy nhiêu ngẫu nhiên kết thúc bằng sự chung sống của hai người. Bữa gặp Thiện ở đường Soufflot Loan đã đính ước với Khánh. Loan cũng quên không báo tin đó với Thiện nữa.

Trưa hôm đó, ngồi ăn cơm với mẹ, chợt nhớ tới người bạn tu sĩ, Loan khoe với mẹ:

– Ban sáng con vừa gặp anh Thiện, mới về đây đâu được bốn tháng.

– Cậu Thiện sau thành linh mục ấy, phải không? Sao con không mời về chơi? Nhớ đến cậu ấy mẹ lại nhớ hồi ngày xưa, nhà mình đông mà vui quá, con nhỉ?

Loan cảm thấy ánh sáng chung quanh mình như bỗng lu mờ bớt, vội đáp:

– Con có hẹn, thế nào anh ấy cũng lại chào mẹ. Gặp anh Thiện con thấy mừng ghê đi, mừng được độ mươi phút! Trông anh ấy không khác ngày xưa mấy. Mẹ nhỉ, ngày xưa vui bao nhiêu thì bây giờ đáng ngán bấy nhiêu… Thà rằng đi tu như anh Thiện, làm cách mạng rồi chết như anh Thái, anh Quang, mỗi lúc nhắc đến tên hay gặp lại còn giữ được chút kỷ niệm!

Bà cụ vội vàng đứng lên, không muốn con gái có dịp khơi nỗi buồn chưa hề nguôi. Và bà cụ bắt đầu mong người bạn trai của con hồi xưa, với hi vọng tìm lại được một chút gì đã mất.

Khi Thiện tìm tới thăm bà mẹ Loan, thoạt bước vào căn phòng khách rộng, một cảm giác trống trải, tịch mịch khiến cho Thiện muốn chùn bước lại. Thiện không thể nào ngờ rằng sau một thời gian có thể thay đổi như vậy được. Loan hôm trước có thay đổi bao nhiêu đâu. Mà cả Thiện cũng thấy rất ít thay đổi nữa, mặc dầu bộ áo đen. Thiện cứ đinh ninh rằng thêm vào không khí vui tươi của gia đình bác sĩ Hoàng ngày xưa còn những tiếng ríu rít, đôi ba hình ảnh đặc biệt do sự có mặt trong nhà của đám trẻ con của Khánh và Loan. Cứ nguyên cái viễn tượng được trông thấy bày con của Loan cũng đã đủ vui cho Thiện trong bao ngày, trước khi có thì giờ tới thăm nhà Loan. Đã không có bóng dáng một đứa nhỏ nào, căn phòng khách rộng trang trí lịch sự và nhã nhặn càng thấy lạnh lẽo vì ngăn nắp quá. Thiện cũng còn kịp nghĩ: nếu Loan cũng mắc cái bệnh dịch màu sắc đang lan tràn giữa đám những người mới giàu có lẽ căn phòng đỡ trống trải hơn.

Bà cụ ngồi một mình trên một chiếc ghế bành bằng mây đan, ở bên khung cửa sổ lớn mở ra vườn. Trông thấy Thiện bước tới, bà cụ mừng rỡ đứng lên, đưa tay ra nắm hai vai Thiện. Thiện ngó thấy một giọt nước mắt tràn trên gò má bà cụ. Giọng nói của bà cụ như thấm ướt:

– Gặp nhau lại nhớ Hànội ngày xưa quá ! Xa mất rồi, nhỉ?

Bà cụ ngồi phịch xuống ghế và ngó ngây người bạn cũ của con. Bao nhiêu ngày cứ ngồi bên khung cửa thương nhớ một thời đã xa, hôm đó bà cụ mới thấy rằng mình không vô lý. Thời đã xa thật ra vẫn chưa chết hẳn, vì còn có Thiện trở lại đây.

Thiện kiếm một chiếc ghế nhỏ kéo lại bên bà cụ và ngồi xuống, Bà cụ vội xin lỗi:

– Gặp cậu tôi mừng quá, quên cả mời ngồi. Bây giờ các cậu đã lớn, có địa vị rồi, tôi cứ quen như ngày xưa. Ừ, phải thay đổi cả cách xưng hô nữa đấy, gọi cậu Thiện ngày xưa là gì nhỉ cho phải?

Thiện tìm lại được rất dễ giọng nói thân mật hồi trước:

– Bác cứ coi cháu như hồi đó, tình cảm có thay đổi gì đâu.

Bà cụ ngó Thiện trân trân:

– Thế ư? Bác thấy mọi sự chung quanh thay đổi nhiều quá, nên bác sợ.

Thiện quay lại ngó gian phòng lặng lẽ rộng, rồi hỏi :

– Loan đi vắng hả bác? Loan được mấy con rồi? Từ hồi đó cháu chưa hề gặp lại anh Khánh.

Một chút kinh ngạc khiến tia mắt của bà cụ đen láy.

– Thế Loan không nói chuvện với cậu ư ? Loan làm luật sư ở tòa đã lâu rồi, từ hồi chưa vào đây. Đã có cháu nào đâu. (Bà cụ bỗng thở dài). Nhắc chuyện Loan, buồn chết!

Thiện vội hỏi:

– Sao lại buồn, hả bác ? Hôm gặp Loan mới nói được mấy câu.

Loan có cho biết đã thành bà Khánh rồi. Cháu cứ đinh ninh hôm nay lại được gặp một lũ con của Loan khá đông. Ngày xưa chính Loan vẫn chủ trương sự đông con vì Loan chỉ có một mình.

Giọng nói của bà cụ đều đều và buồn, dường như không trả lời câu nói của Thiện.

– Thành bà Khánh, nhưng lại không là bà Khánh, thế mới ngán!

Thiện bắt đầu ngạc nhiên rõ rệt:

– Đầu đuôi ra sao bác có thể cho cháu biết được không? Cháu không ngờ Loan lại gặp những chuyện phải buồn.

– Ban đầu có ai mà ngờ được. Sau khi hai người đã đính ước với nhau, Loan có nói chuyện với tôi. Tôi rất đồng ý vì Loan nói rằng có yêu cậu Khánh và đã suy xét kỹ. Thế mà chưa được một năm sau đã sinh sự ! Khổ tâm hơn nữa là gia đình cả hai bên đều quen biết nhau quá, chỉ vì muốn bấu víu lấy tình quen cũ, và cũng hi vọng rằng hai người rồi ra có thể thương yêu nhau lại chỉ vì thế mà cứ để cho câu chuyện dây dưa kéo dài mãi. Đến nay thì lỡ hết cả rồi…

Câu chuyện bà cụ kể chỉ có ngọn, quên mất đoạn gốc, khiến cho vị tu sĩ trẻ tuổi không giữ nổi sự bình tĩnh thường nhật, ông ta vội ngắt:

– Nhưng bác không cho cháu biết những nguyên nhân tại sao lại có chuyện xảy ra như vậy, đã xảy ra làm sao. Thế bây giờ Khánh ở đâu?

Bà cụ thở dài, chưa bao giờ Thiện được nghe một tiếng thốt ra nặng nề, ảo não như vậy.

– Nếu tôi được biết đầu đuôi thì còn nói gì. Họ có cho tôi rõ sự tình đâu. Loan có nói với một cô bạn rằng không muốn làm cho tôi buồn thêm nếu nó kể hết câu chuyện cho tôi nghe, nó sợ rằng tôi già yếu rồi. Khổ quá, cậu ạ, thà rằng cho tôi hiểu rõ còn nhẹ nhõm cho tôi hơn là cứ bưng bít như thế này. Gặp cậu, tôi mừng lắm, mừng nhất là có cậu, là chỗ thân tình cũ, may ra Loan nó có tiện thổ lộ, rồi cậu liệu xem có thể thu xếp giùm Loan được phần nào chăng.

Thiện lại ngắt:

– Nhưng bác vẫn chưa cho cháu biết hiện Khánh ở đâu. Cháu cần gặp cả hai người mới hiểu rõ được mọi sự.

Bà cụ lại bắt đầu câu nói bằng một tiếng thở dài:

– Hiện ở Pháp. Đi đã lâu, từ khi chưa bỏ Hà-nội. Bắt đầu lục đục với nhau một thời gian thì bỗng cậu ấy báo tin có việc phải đi Ba-lê. Loan không phản đối gì cả. Sau đó chừng vài tháng thì một hôm Loan nó cho tôi biết rằng cậu Khánh sẽ không về nữa; hai người nhất định xa nhau. Tôi chỉ biết có thế. Năn nỉ thế nào Loan nó cũng không nói, bảo rằng mẹ đã già, con cũng đã đủ khôn lớn rồi, nói ra chỉ them mẹ buồn phiền vô ích. Sau này, tôi cũng tránh không đả động tới chuyện đó nữa vì xem ra mỗi khi nhắc tới, chính Loan nó còn tỏ ra buồn khổ hơn tôi nữa. Tôi chỉ nghĩ mà thắc mắc mãi vì chính tôi có lỗi để xảy ra tình trạng ngày nay.

Hồi đó, Loan nó bao nhiêu lần đòi dứt khoát với Khánh, một mặt thì tôi, một mặt bên gia đình cậu Khánh, hai bên đều ngăn cản, hi vọng sẽ dàn xếp được. Chần chờ mãi đến bây giờ thì đã quá muộn, mà chẳng hi vọng gì họ thương yêu nhau trở lại. Tôi cứ hối hận quá, thà để cho họ dứt khoát với nhau cho xong đi.

Thiện tránh không muốn bàn vào một vấn đề mà chính mình bắt buộc phải có thiên kiến, tuy rằng lần đầu tiên, vì cảm tình riêng với Loan và bà mẹ Loan, Thiện muốn đem tình cảm để tìm hiểu trường hợp của Loan hơn là cứ tiện tay sử dụng đường lối suy luận đã vạch sẵn. Thiện nhận thấy không có cách nào hơn là im lặng trong giây lát, rồi sửa soạn đứng lên cáo từ, sau một lời hứa:

– Cháu cần phải gặp Loan đã, cháu sẽ gọi dây nói tới văn phòng hẹn với Loan. Cháu cũng cần viết thư cho anh Khánh nữa. Cháu xin hứa với bác sẽ hết sức cố gắng tìm cách hiểu tâm sự của Loan và Khánh, may ra nhờ ơn Thiên Chúa sẽ giúp Loan tìm lại được hạnh phúc.

Sau khi Thiện ra về, hi vọng hạnh phúc cho Loan trở lại tràn trề trong tâm tư bà cụ, rào rạt như một cơn mưa hè. Nhưng một lúc sau, cơn mưa đã tan biến hết, còn lại bốn bề vuông vức của một niềm mong ước, lâu dần thu gọn lại vừa một gian phòng này, êm tịnh, mòn mỏi. Cho đến trưa, khi Loan trở về, chuỗi ngày của hai mẹ con lại đều đều nhịp cũ.

Sau bữa cơm, bà cụ cáo từ đi nghỉ trưa, để cho Loan và anh bạn cũ tiện nói chuyện dài. Hai ngưòi ngồi ở một góc phòng khách vắng và mát. Loan yên lặng ngồi đợi Thiện hỏi trước. Hôm Thiện gọi dây nói lại văn phòng ngỏ ý muốn gặp để được nói chuyện nhiều, Loan đã hiểu ngay rằng Thiện có ý mong biết rõ câu chuyện giữa Loan và Khánh. Có Thiện để trút bớt những u ẩn, Loan thấy cũng là một dịp hay, tuy hoàn toàn không chờ đợi một sự giải quyết nào. Với Khánh, thật đã hết từ lâu. Làm lại cuộc đời thì Loan dường như không còn can đảm nữa. Không chờ đợi giải quyết, nhưng có dịp tâm sự với một người bạn thân, Loan tin rằng cũng sẽ nhẹ nhõm bớt.

Thiện cũng yên lặng ngồi ngó Loan, loay loay mãi với một điều thắc mắc: Loan vẫn như xưa, mà Loan như ngày xưa thì sao lại có thể khổ được? Trước khi tu đạo, Thiện đã nhiều lần lật đi lật lại vấn đề hạnh phúc của Loan. Thiện đã yêu Loan ghê gớm đến nỗi kết luận rằng bao nhiêu cố gắng của mình cũng sẽ không làm cho Loan sung sướng hơn, hay ít nhất cũng bằng với cái hiện tại hồi đó của Loan. Yêu Loan mà không đem lại nhiều hạnh phúc cho Loan như ý muốn thì tốt hơn hết là giữ nguyên mối tình để làm một kỷ niệm riêng còn hơn. Không muốn kết thúc, hay khởi sự, với Loan, ít lâu sau Thiện đi tu, với một ý thức hết sức sáng suốt rằng không phải vì thất vọng. Đến bữa gặp lại Loan, được tin Loan đã lấy chồng, Thiện nảy ra ý tò mò muốn chứng xác lại những nhận định của mình hồi trước qua hạnh phúc hiện tại của Loan. Được bà cụ nói sơ qua cho hay nông nỗi của Loan, Thiện đã nghĩ ngay rằng những dè dặt của mình hồi đó không phải là vô lý. Muốn vào sâu tâm sự của Loan, Thiện vì thương Loan nhiều hơn là vì muốn tìm hiểu. Thiện chợt nhận xét và khám phá thấy khóe nhìn của Loan hiện giờ có lạnh và sắc hơn trước, quầng mắt sâu hơn và có hai đường nhăn ở đuôi mắt. Thiện tự nhủ: “Nhan sắc suy tàn từ đó chứ đâu!” và Thiện bắt đầu:

– Tôi muốn nói chuyện dài với chị không phải vì lâu không gặp. Tôi có một mục đích: Hôm nọ hầu chuyện cụ, được biết chị có nhiều nỗi buồn trong gia đình…

Loan chợt có tia mắt lạnh và sắc như Thiện vừa thoáng nhận thấy. Loan thản nhiên ngắt:

– Mẹ tôi vẫn hay buồn phiền lôi thôi. Tôi không yêu Khánh nữa, hai người không thể chung sống với nhau thì bỏ nhau, có gì mà phải buồn. Một mình tôi, tôi dư sức nuôi thân và nuôi mẹ tôi cơ mà. Liệu anh có sắp gia nhập cái đám người cứ bận thương vay cho tôi không đấy?

Thiện tự nhủ: “Có thay đổi thật.” rồi mới tìm câu trả lời Loan. Thiện đáp, rất ôn tồn, bình tĩnh:

– Bộ áo này không cho phép tôi gia nhập một thứ gì hết. Tôi ngồi trước mặt chị với tư cách một người bạn cũ, một người bạn thân thiết trong bao nhiêu năm tuổi nhỏ, có một điều khá rõ rệt là tôi đã thành một nhà tu. Dù chị không cho phép, tôi vẫn có bổn phận phải săn sóc tới một người bạn đang ở một tình trạng tâm lý bất an, gỡ rối cho chị được phần nào là tôi mừng lắm. Tôi biết chị có nhiều tự ái, nhưng tôi nghĩ rằng chị còn giữ đôi chút tin cậy ở tôi.

Loan cười lớn, tiếng cười rung động cả căn phòng vắng.

Thiện lại nghĩ: “Tiếng cười cũng thay đổi nữa.” Loan nói trong tiếng cười không dứt:

– Tôi sợ nhất là cứ làm cho to chuyện. Anh cần gì phải gọi tới sự tin cậy ở tôi, nhất định là vẫn tin cậy rồi. Nhưng, bận tâm tới một câu chuyện mà chính người trong cuộc là tôi, tôi thấy không đáng quan tâm nữa, anh bảo như thế không gọi là thương vay thì còn gọi là gì?

Thiện không tỏ ra công nhận hay phản đối lý luận Loan vừa đưa ra, nhưng chậm rãi chưa đáp, yên lặng ngồi ngó Loan.

Loan với hộp thuốc lá, lấy một điếu thản nhiên đốt, Loan cũng đợi xem Thiện còn cố xoi mói trong câu chuyện riêng của mình tới đâu. Loan chỉ bực rằng Thiện đã quan trọng hóa câu chuyện quá. Thật tình Loan cũng định có dịp sẽ trút hết những u ẩn của mình với Thiện là người trong số bạn cũ, Loan thấy đáng tin cậy hơn hết. Thấy Thiện có bộ mặt quan trọng, Loan đâm ra cáu. Cứ bình thường Loan sợ gì mà không kể hết chuyện, nhưng Loan nhất định không hé răng nếu câu chuyện có hình dáng một cuộc thổ lộ can tràng.

Thiện tưởng rằng cứ khoác bộ áo đen là hóa thành xuất phàm rồi ư?

Trong không gian, Thiện xem ra đã quá xa thời bè bạn cũ. Thiện đã quên đi phần nào cá tính của Loan, chỉ nghĩ rằng Loan nhiều tự ái. Loan không cảm thấy phải tự ái đối với Thiện. Loan muốn chọc Thiện mà Thiện không biết. Thiện nói:

– Ai mà chẳng kiêu hãnh rằng tâm sự của mình chồng chất, bề bộn, thiên hạ giỏi lắm chỉ nhìn thấy một khía cạnh nào. Nghĩ rằng mọi người không hiểu mình mà thấy họ cứ băn khoăn vì mình thì nhất định phải cho rằng họ thương vay. Tôi gọi tới sự tin cậy của chị là có ý muốn nhắc chị trình độ thân tình giữa mấy anh em hồi xưa. Không lẽ chị cũng cho rằng tôi chỉ có thể hiểu chị hời hợt như bất kỳ ai hay sao? Trong câu chuvện tình duyên của chị tôi thú thật rằng đến phút này tôi chưa hề hiểu một mảy may. Bởi thế cho nên tôi mới phải hỏi chị; chị nói cho nghe; khi đó, với bao nhiêu thâm tình cũ, biết đâu tôi sẽ không hiểu được thấu đáo và có những ý kiến khả dĩ gỡ rối được cho chị.

– Khổ quá! Anh cứ la rằng hiểu tôi mà không nghe thấu chỉ một câu nói của tôi. Trước kia, chuyện tình duyên của tôi quả có làm cho tôi rối ruột lên thật. Nhưng bây giờ, bây giờ, tôi đã nói với anh rằng tôi không thấy đáng quan tâm nữa. Thế mà anh cứ đòi gỡ rối cho tôi thì đào đâu ra tơ rối cho anh gỡ cơ chứ.

Rốt cuộc, Thiện thấy cần chờ một dịp khác vì Thiện cũng chợt nghĩ ra không chừng Loan thèm một giấc ngủ trưa, cho nên khó tính, tuy Loan đã hẹn dành buổi chiều thứ bẩy này để nói chuyện dài vời Thiện.

Tiễn Thiện ra về, trở vào, Loan còn mỉm cười một mình vì đã chọc anh bạn cũ được một trận. Nhưng Loan chỉ “khó tính” được một lát ngắn. Sau khi tắm nước lạnh xong, trở ra phòng khách vắng lặng và nhiều bóng tối, nằm dài trên chiếc ghế bành bằng mây đan ở bên cửa sổ, Loan thốt lên khóc, khóc cho những năm tháng đằng đẵng ở trước mặt. Ngày mai đối với Loan sao mà đáng ngán, nhất là từ bữa gặp Thiện, xui nhớ lại ngày xưa.

Từ bữa nói chuyện với Loan ra về, Thiện không ngớt lưu tâm tới trường hợp của Loan. Chính tự ái của Thiện cũng có tổn thương: tại sao Loan lại từ chối không muốn ngỏ tâm sự với mình? Nhiều lần sau Thiện đến thăm Loan và tha thiết nhắc lại mãi câu chuyện bỏ dở bữa chiều thứ bảy. Lần nào Loan cũng bực mình thấy Thiện giữ bộ mặt nghiêm trọng, không để cho Loan tìm lại được vẻ thân mật ngày xưa, thuận lợi cho câu chuyện tâm tình. Có bữa Loan đã phải than phiền với bà mẹ: “Anh Thiện bây giờ thay đổi nhiều quá. Lúc nào nói chuyện cũng như toan cứu vớt linh hồn người ta ấy!”

Ngoài đôi chút tự ái bị tổn thương, Thiện cảm thấy có bổn phận phải lưu tâm tới cô bạn cũ đang ở một tình trạng khủng hoảng đáng ngại. Thiện cho rằng vì thiếu người thân tín cho Loan có thể tâm sự được – bà cụ dù sao, với tuổi tác, cũng không còn là một người bạn của Loan được nữa – Loan cứ một mình loay hoay với vấn đề nan giải trong bao lâu nên đâm ra lảng tránh hết mọi người. Thiện nhất định phải thắng trở lực tâm lý đó để mau mau giúp Loan tìm lại sự tươi sáng trong tâm hồn và trong cuộc đời. Nếu không có bộ áo chùng thâm có lẽ Thiện tìm được nhiều kẽ hở để đột nhập thành trì cô độc của Loan. Nhưng Thiện chỉ có thể thành tâm cầu nguyện cho Loan, ước mong sớm có cơ hội dắt dẫn Loan ra khỏi hoàn cảnh hiện lại và tìm thấy hạnh phúc.

Thiện cũng có nghĩ viết thư cho Khánh. Một lần đả động tới chuyện đó – Thiện hỏi Loan địa chỉ của Khánh ở Pháp – Loan nổi xung lên, thiếu chút nữa đã mất hẳn cảm tình với Thiện. Loan cáu cũng có lý: Những can thiệp không đúng chỗ như vậy của Thiện, biết đâu chẳng cho Khánh vội nghĩ rằng Loan đã chịu thua và cầu cứu tới Thiện để mong nối lại chắc?

Trước thái độ khăng  khăng  của Loan, ý chí sửa chữa, hàn gắn của Thiện lại càng mãnh liệt. Cho đến khi, vì một nhiệm vụ phải dời lên vùng cao nguyên trong ít lâu, Thiện phải tạm ngưng những cuộc thăm dò tâm sự Loan, tuy vẫn chưa tìm được chút ánh sáng nào. Thiện vẫn không ngớt đem tâm thành cầu xin một sự ứng nghiệm trong việc đang theo đuổi.

Hết nhiệm vụ trên cao nguyên, Thiện trở về vội tới thăm Loan ngay. Không khí bổ dưỡng trên núi đã giúp Thiện thêm phấn chấn. Chị ở cho biết rằng Loan đau phải nằm trong buồng. Thiện ngồi đợi ở phòng khách. Loan ngần ngại trong giây lát rồi bảo chị ở ra mời Thiện vào chơi trong phòng riêng của Loan. Loan nghĩ rằng tiếp Thiện ở ngay trong phòng ngủ có lẽ đỡ bị Thiện ngồi lâu và quấy rầy mãi về chuyện chồng con dở dang của mình như mọi bận.

Chị ở bắc một chiếc ghế mời Thiện ngồi kế bên giường bịnh của Loan. Loan nói:

– Tôi bị sốt nóng đã hai hôm nay, y sĩ vẫn chưa tìm ra bệnh gì, có lẽ chỉ cảm xoàng. Vì sốt nhiều nên mệt quá, không thể ngồi dậy ra phòng khách được.

Thiện ngó gương mặt của Loan: cơn sốt làm đỏ hồng hai má Loan, hai con mắt sáng hẳn lên, những sợi tóc không chải vào nếp quăn lưa thưa trên trán. Đúng là Loan ngày xưa, không một chút thay đổi. Thiện cứ ngồi yên lặng ngó Loan,

Loan cũng ngó lại Thiện không muốn chỉ nói vài câu thăm hỏi bâng quơ. Trông nét mặt của Thiện ngồi ngây ra đó, không có cái vẻ hăng hái cứu vớt như những lần trước, Loan cũng chợt tìm lại được Thiện của hồi còn cùng đi học với nhau. Sự im lặng của cả hai người không nặng nề, ngượng nghịu: im lặng để giữ cho cái không khí chợt tìm thấy đừng vội tan biến. Rồi Loan nói trưóc:

– Anh có biết tôi vừa nhận thấy gì không ? Tôi tưởng như trở lại hồi nào còn ở Hà-nội. Từ bữa gặp lại anh, hôm nay tôi mới thật tìm thấy anh của ngày trước.

Thiện tròn hai mắt to và sáng, hỏi lại:

– Thật thế ư ? Tôi cũng vừa nhìn thấy chị giống hệt như hình ảnh của chị ngày xưa, không khác một chút nào. Tôi nhớ đến những bữa ở đằng nhà bác, chúng mình gọi cả một gánh bánh tôm vào trong sân…

Mắt Loan cũng vui hẳn lên:

– Rồi có mấy người tranh nhau ăn hết cả gánh. Ừ, thích thật! Bác hàng bánh rán không kịp, tôi lanh chanh bị mỡ bắn phỏng cả tay…

– Còn tôi thì vội ăn, phỏng cả miệng, về nhà phải tạ sự là ốm không dám ra ngồi ở bàn ăn cơm, sợ xa xít bà cụ hỏi không biết trả lời ra làm sao.

Loan nằm ngửa mặt lên, hai con mắt long lanh ngó trên trần nhà, vui theo chút kỷ niệm vừa nhắc. Rồi Loan quay lại tìm Thiện. Thiện cảm thấy rõ ràng có một áng sương vừa trôi

tới trên gương mặt Loan, hai con mắt không còn long lanh nữa. Loan nói:

– Thế mà đã xa rồi nhỉ? Bây giờ tôi đâu còn cái vui hồn nhiên nhẹ nhàng của hồi đó nữa…

Lần này Thiện có đủ bình tĩnh, để im lặng ngồi nghe, không vội đưa cái vẻ “hăng hái cứu vớt” ra. Loan nói tiếp:

– Tôi đã thành một người đàn bà cô độc, chứng kiến cái vui của thiên hạ nhiều hơn là hòa trộn vào. Anh cứ hỏi thăm mãi về chuyện chồng con của tôi. Tôi không muốn nói vì thấy anh lần nào cũng như sắp sửa ra tay cứu vãn, đưa dường, chỉ nẻo, làm như tôi tìm lại hạnh phúc được ngay tức khắc ấy…

Thiện đã hiểu tại sao và biết khôn khéo ngồi im.

– Thật tình tôi cũng định có dịp nào, chẳng hạn như hôm nay, nói chuyện đó với anh một lần. Nói mà không hi vọng gì cứu vãn cả. Vì tôi biết không tài nào cứu vãn được nữa. Quả thật hồi đó tôi không yêu Khánh đến độ muốn lấy Khánh. Tôi nhận lời lấy Khánh chỉ vì thấy thương cái công theo đuổi của Khánh và cũng muốn thành gia thất cho xong đi. Cứ thấy mẹ tôi thấp thỏm trông đợi tôi sốt ruột quá, anh ạ. Tôi chỉ lỡ dại đã chọn một người chồng cùng nghề. Cuộc sống đôi cặp nào mà chẳng có những lúc va chạm nhưng nghề nghiệp sẽ giúp những cơn giông mau tan đi. Đằng này hai đứa tôi lại đem chồng chất những va chạm nghề nghiệp vào những va chạm gia đình. Địa ngục, anh ạ. Tôi cũng có thể bỏ nghề, cho bớt một phần, nhưng tôi lại thích tự do, không muốn chỉ là một người nội trợ sống vào những lợi tức của chồng. Cũng cần phải nói rằng tôi cũng yêu nghề nữa. Sau một năm trời sống chung, bao nhiêu những va chạm cộng lại, trong mắt tôi Khánh đã hóa thành một thứ thù nghịch, và tất nhiên Khánh nhìn tôi chắc cũng chẳng còn đẹp đẽ gì. Thế rồi Khánh đi, cả hai cùng thấy thoát nợ. Chỉ tiếc rằng vì muốn chiều ý gia đình, tụi tôi chưa hề dứt khoát với nhau ngay từ hồi đó. Đến nay thì lỡ dở mất cả. Cũng may là cách biệt hẳn, ở gần, biết đâu chẳng kiếm dịp mà giết nhau cho khuất mắt. Gia sản cả hai bên cũng chẳng còn gì mà phải bận tâm vì những trói buộc vô lý. Đó, anh đã thấy rõ ràng tôi không nói ngoa khi tôi bảo rằng câu chuvện không đáng quan tâm nữa. Anh thì cứ đòi thu xếp, cứu vãn mãi.

Nghe Loan nói một thôi, Thiện đã lường được bề rộng của cái hố ngăn cách giữa Loan với Khánh. Thiện nén được không cãi với Loan về sợi dây ràng buộc thiêng liêng, và tê tái nghĩ rằng vô phương cứu vãn hạnh phúc cho Loan. Thiện ngó Loan và day dứt tự hỏi: Loan cứ phải khổ mãi như thế sao? Ngoài cái việc mà Thiện dự định: hàn gắn cuộc tình duyên giữa Loan và Khánh, không một giải pháp nào ở trong phạm vi khả năng của Thiện cả. Loan còn trẻ quá, tương lai còn dài mà đành để phí hoài sao. Lần đầu tiên trong đời, Thiện nhận thấy riêng mình không đủ giải quyết những khúc mắc.

Loan cười tinh nghịch, nói một câu mà thêm bao nhiêu bối rối cho Thiện:

– Tôi chỉ còn trách anh tại sao bỏ đi tu. Hồi đó nghe My kể chuyện anh cũng yêu tôi ghê lắm. Với anh không chừng đã chẳng nên nỗi…

                      

Thiện bất chợt chăm chú ngó một con muỗi khá to đậu từ lúc nào trên cánh tay của Loan để trần, duỗi dài trên mép giường. Cánh tay của Loan nây nả như nặn bằng mỡ sữa, con muỗi thì no tròn mà còn cố cong cái đít mọng lên, chúi đầu xuống hút máu. Thiện giơ tay đập mạnh con muỗi trên cánh tay Loan. Độ nóng của cơn sốt của Loan qua lòng bàn tay Thiện như một luồng điện mạnh. Con muỗi chết bẹp còn dính trên tay Thiện với một vệt máu đỏ tươi. Vệt máu đỏ gây một xúc động mãnh liệt trong đầu vị tu sĩ trẻ tuổi. Thiện vụt xô ghế đứng lên, chẳng kịp chào hỏi Loan, hớt hải chạy ra cửa. Ra tới sân, Thiện đưa bàn tay có dính con muỗi và vệt máu chùi vào vạt áo. Nghĩ sao Thiện lại vội túm lấy một chùm lá ở gốc cây trứng cá bên cổng hốt hoảng chùi tay. Rồi Thiện đi miết ra tận đầu phố, một tay cứ phủi mãi vạt áo không biết có dính chút máu nào không.

Mặc Đỗ
[trích tuyển tập Truyện Ngắn Mặc Đỗ, tr.103-123, Tủ Sách Quan Điểm, Austin, Texas 2014]


              Con đường Mặc Đỗ từ Hà Nội Sài Gòn
            tới Trưa Trên Đảo San Hô - NGÔ THẾ VINH

                                         
    Nhà văn Mặc Đỗ 95 tuổi, hình chụp tháng 10/2012 [nguồn: hình do anh Trần Huy Bích cung cấp]

Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ tỵ nạn ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại — [biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ], thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.

TIỂU SỬ MẶC ĐỖ

Tên Đỗ Quang Bình, sinh năm 1917 tại Hà Nội trong một gia đình Nho học nhưng hấp thụ một nền văn hoá Tây phương. Học Luật nhưng không hành nghề và chọn viết văn. Tên Mặc Đỗ được thân phụ đặt cho, có nghĩa là người họ Đỗ trầm lặng. Khởi đầu viết khá sớm các truyện ngắn, kịch và dịch sách đăng báo. Sau Hiệp định Geneve 1954 di cư vào Nam, cùng với Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, xuất bản sách của các thành viên trong nhóm. Về sinh hoạt báo chí, Mặc Đỗ đã cùng với các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Tam Lang Vũ Đình Chí, nhà thơ Đinh Hùng, Như Phong Lê Văn Tiến, Mặc Thu Lưu Đức Sinh sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam. Sau 1975 Mặc Đỗ tỵ nạn sang Mỹ.

Tác phẩm:
Bốn Mươi (1956), Siu Cô Nương (1958), Tân Truyện I (1967), Tân Truyện II (1973), Trưa Trên Đảo San Hô (2011), Truyện Ngắn (2014), chỉ trừ Tân Truyện II (1973) do Nxb Văn, sách Mặc Đỗ đều xuất bản với tên Nxb Quan Điểm.

Dịch thuật:
Lão Ngư Ông và Biển Cả / Ernest Hemingway (Quan Điểm 1956); Con Người Hào Hoa / F.Scott Fitzgerald (Quan Điểm 1956); Một Giấc Mơ / Vicki Baum (Cảo Thơm 1966); Người Vợ Cô Đơn / Francois Mauriac (Cảo Thơm 1966); Thời Nhỏ Trong Gia Đình Luvers / Boris Pasternak (Văn 1967); Tâm Cảnh / André Maurois (Văn 1967); Anh MÔN / Alain-Fournier (Cảo Thơm 1968); Vùng Đất Hoang Vu / Leo Tolstoi (Đất Sống 1973); Giờ Thứ 25 / Virgil Georghiu (Đất Sống 1973).

Trong Mộng Một Đời, rất sớm từ thuở niên thiếu, Đỗ Quang Bình - chưa có bút hiệu Mặc Đỗ, đã nuôi mộng trở thành nhà văn, “Để luyện văn phong, người trai chọn phương pháp đúng nhất là dịch văn ngoại ra Việt văn. Kỹ thuật viết của những tác giả truyện đã dịch đã giúp khá nhiều cho việc hoàn thiện những cấu trúc cho truyện dài dự định sẽ viết.” Lựa chọn của Mặc Đỗ có tác dụng “đôi”: một viên đá bắn 2 con chim/ kill two birds with one stone, anh tạo được một văn phong rất Mặc Đỗ với ảnh hưởng nền văn học Tây phương, và thành quả tiếp theo là các tác phẩm dịch thuật của Mặc Đỗ từ hai ngôn ngữ Pháp và Anh sang tiếng Việt rất chuẩn mực và tài hoa, đã như một phần sự nghiệp thứ hai của anh bên cạnh sự nghiệp sáng tác. Các sách dịch của anh được liên tục tái bản những năm về sau này.

HƠN NỬA THẾ KỶ

Về tuổi tác Mặc Đỗ hơn tôi hơn một thế hệ. Rất sớm đọc văn anh từ tiểu thuyết Bốn Mươi (1957), Siu Cô Nương (1959) tới Tân Truyện (1967). Tôi có mối giao tình với anh từ thập niên 1960, cho đến nay cũng đã hơn nửa thế kỷ. Cảm tưởng khi mới gặp, anh có phong cách của một nhà văn.

Khi tôi chọn học Y khoa, làm báo Sinh Viên Tình Thương và bắt đầu viết báo viết văn. Báo Tình Thương Y khoa có gửi biếu anh. Năm 1962, một bản thảo truyện dài được viết xong, tôi gửi tới hai anh Mai Xuyên Đỗ Thúc Vịnh Bóng Tre Xanh, và Mặc Đỗ Bốn Mươi đọc trước. Từ hai anh, tôi đã nhận được những lời phê bình thẳng thắn.

Anh Đỗ Thúc Vịnh chú trọng tới sự trong sáng và văn phạm của tiếng Việt cùng với vốn sống của người viết, anh rất quan tâm tới thế hệ Những Người Đang Tới, cũng là tên một tác phẩm khác của anh sau này. Nhà văn Đỗ Thúc Vịnh thì nay đã mất [1920-1996], vậy mà cũng đã ngót 20 năm qua rồi.

Anh Mặc Đỗ có quan niệm, với người trẻ bắt đầu viết văn nên tập viết truyện ngắn trước và kỹ thuật là phần quan trọng. Tác phẩm đầu tay của tôi không phải là tập truyện ngắn mà là một cuốn tiểu thuyết. Về chọn lựa bước khởi đầu này, tôi đã không theo được lời khuyên của anh. Mây Bão xuất bản 1963 với nguyên vẹn nội dung với mẫu bìa của người bạn tấm cám hoạ sĩ Nghiêu Đề.

Do gần nửa phần đời sau ở hải ngoại, từ 1975 cuộc sống nhà văn Mặc Đỗ gần như khép kín, thật khó để vẽ một chân dung toàn diện về anh. Chọn lựa và trích dẫn từ những bức thư anh gửi cho tôi, bớt đi những phần quá riêng tư có lẽ giúp bạn đọc biết được nhiều hơn về một nhà văn Mặc Đỗ quy ẩn.

Sang thế kỷ 21 kỷ nguyên của computer, Mai Thảo thì vẫn cứ ẩn nhẫn viết tay kể cả trên những phong thư hàng tháng gửi báo Văn tới từng độc giả dài hạn, riêng anh Mặc Đỗ vẫn thuỷ chung với chiếc máy chữ xách tay thuở nào. Các thư anh gửi cho tôi đều là thư đánh máy. Chỉ một bức thư hiếm hoi hoàn toàn viết tay của anh mà tôi có được là do một tai nạn, chiếc máy chữ yêu quý thiết thân của nhà văn Mặc Đỗ bị rơi và hư gẫy [Hình II]. Ít lâu sau đó, anh được một ông bạn ở Pháp tặng cho một máy đánh chữ khác như món quà Giáng sinh, từ đó tôi lại nhận được những lá thư đánh máy, chỉ với chữ ký là thủ bút của anh.



                     thư riêng gửi Ngô Thế Vinh, Feb 5,1996

Cher Vinh,   

Tôi lọng cọng đánh rơi cái máy chữ yêu quý, nhà thương Mỹ thích thay parts hơn là chữa, trong khi chờ một bàn tay Á đông đành nắn nót viết, tập trung vào mấy ngón tay mệt óc quá, cho nên chỉ có thể ngắn gọn, trang thư qua printer mất personality.

    Cám ơn Vinh đã cho tôi thấy Vinh rõ hơn nữa. Nhúm lửa trong tôi, có trước ngày tôi nghe lời bạn chôn bản thảo “Đứng ngồi không yên” dưới ba lớp giấy gói và gác lên nóc tủ, nhúm lửa đó tôi thấy thấp thoáng đôi chỗ qua những lời đối thoại của Vinh. Sau ngày đó bút của tôi không tìm thấy AN nữa – chữ AN Phật dạy. Mừng thấy bút Vinh vẫn AN.

    Kết luận, thấy Vinh hơi lạc quan. Nhìn thêm cái “nửa vơi”, ngắm con người chúng sinh. Yêu nước cũng là một thứ tham. Thân, [Mặc Đỗ, Feb 5 1996]


TỪ BỐN MƯƠI, SIU CÔ NƯƠNG TỚI TÂN TRUYỆN

Bốn Mươi (1957) là một tiểu thuyết, Mặc Đỗ viết về giai tầng trí thức tiểu tư sản, ở cái tuổi không còn ngờ vực “tứ thập nhi bất hoặc”; họ xuất thân từ những gia đình giàu có, đi du học rồi tốt nghiệp, trở về nước và sống trong sự xa hoa của một xã hội thượng lưu. Họ là những chính khách salon, theo cái nghĩa rất thời thượng, tự đồng hoá với giai tầng sĩ phu trước kia, rất xa lạ với đời thường nhưng có ảnh hưởng trên chính trường, họ tin vào vai trò lãnh đạo của giai cấp trí thức tiểu tư sản trong cuộc chiến Quốc-cộng.

Siu Cô Nương (1959) là tiểu thuyết thứ hai của Mặc Đỗ, viết về ba người đàn ông và hai phụ nữ trong bối cảnh một Miền Bắc 1954, sau hiệp định Geneve khi một Việt Nam sắp chia đôi. Ba người đàn ông ấy cũng thế hệ bốn mươi có lý tưởng, tin vào vai trò lãnh đạo giai tầng trí thức tiểu tư sản với chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ kiểu Tây phương — không chấp nhận cộng sản. Và họ giã từ Hà Nội, di cư vào Miền Nam — tỵTần, chữ Mặc Đỗ dùng sau này để chỉ những cuộc lánh nạn cộng sản. Không gian sinh hoạt của các nhân vật trong Siu Cô Nương trải rộng hơn Bốn Mươi nhưng vẫn là một thứ xã hội trên cao, với mấy mối tình ngang trái, tất cả chỉ cái cớ cho những tình huống lịch sử mà viễn kiến của nhà văn là cái nhìn tiên tri. Cũng để nhận ra rằng: cái thème chính của tác phẩm Bốn Mươi, Siu Cô Nương là cuộc đấu tranh giai cấp, đưa tới cuộc nội chiến Nam Bắc kéo dài 20 năm sau đó. Với hậu quả là cuộc tỵ Tần lần hai sau 1975 với hàng triệu người Việt Nam tung ra khắp thế giới.

Hãy để chính Mặc Đỗ nói về tác phẩm Siu Cô Nương của mình: “Tôi nhớ trong đoạn kết Siu Cô Nương một nhân vật trên chuyến xe lửa ra đi ngó xuống những ruộng đồng hai bên đường với những nông dân đang cặm cụi đã thắc mắc, mai ngày những con người kia sẽ thành thù địch ư? Thắc mắc này trải dài trong 500 trang truyện tiếp SCN.” [Thư Mặc Đỗ, Sept 28, 1994]

Tân Truyện I (Quan Điểm1967) và Tân Truyện II (Văn 1973) là hai tập truyện ngắn mà Mặc Đỗ gọi là tân truyện / nouvelle. Mỗi truyện như một viên ngọc của một chuỗi ngọc thể hiện quan niệm dựng truyện ngắn với nhiều vận dụng kỹ thuật của Mặc Đỗ và ngôn ngữ thì giàu hình ảnh nhưng cô đọng và chau chuốt. Mỗi tân truyện của Mặc Đỗ đều để lại cho người đọc một ấn tượng rất đặc biệt và khó quên.

Tưởng cũng nên ghi lại đây quan niệm viết của Mặc Đỗ: “Từ khi bắt đầu viết tôi đã chọn một đường lối nhất định, không bao giờ đem đời tư của riêng một ai, quen hay không quen vào truyện. Tất cả đều là những nhân vật được cấu thành do những chi tiết, hình ảnh, ngôn từ, đã ghi được qua bao nhiêu dịp quan sát, nhận định; mỗi nhân vật là một hội tụ đúng chỗ của những tài liệu chọn lọc.” [Phụ lục: Truyện Không Thể Viết, Trưa Trên Đảo San Hô. Nxb Quan Điểm 2011]

Một số truyện ngắn trong Tân Truyện I & II được Mặc Đỗ chọn cho in lại trong hai tập truyện Trưa Trên Đảo San Hô (2011): 13 truyện và tuyển tập Truyện Ngắn (2014); 30 truyện, gồm cả 13 truyện đã in trong tập Trưa Trên Đảo San Hô. Và không có một truyện nào được ghi thời điểm sáng tác.

NHƯ MỘT GIÃ TỪ


    Mặc Đỗ qua nét vẽ Tạ Tỵ

Nói rằng nhà văn Mặc Đỗ hoàn toàn không viết gì khi ra hải ngoại thì không đúng. Anh có viết nhưng phải nói là rất ít. Anh đã góp bài cho ấn bản đầu tiên báo Lửa Việt với truyện Cái Áo Len Màu Rêu, anh cũng góp bài cho Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến gồm các bài nhận định văn học, truyện ngắn trong những số đầu tiên: số 1 (Kế hoạch chống đàn bà, truyện ngắn), số 2 (Làm văn học nghệ thuật trong hoàn cảnh tỵ nạn), số 4 (Văn Nghệ Việt Nam ở hải ngoại), số 7 (Con người Nga trong khuôn đúc cộng sản) VHNT bộ cũ (1978) [http://tapchivanhoc.org]

Trong một thư riêng anh viết: “Một hai năm đầu khi mới đến đây tôi có viết đôi chút để tiếp tay vài bạn cũ ra báo trong khi còn hiếm bút, sau này làng ta trở nên phồn thịnh thì tôi yên tâm ngồi im, trừ một số nhỏ dịp phải trả nợ nhiều số báo được tặng không (Văn, Thời Tập) thì có đóng góp một chút.” [Mặc Đỗ 25/08/1991]

Và một năm sau, trong lá thư đánh dấu 17 năm tỵ Tần, anh viết: “Từ hôm qua tôi bắt đầu nhận được báo Xuân, sớm nhất là Văn [của nhà văn Mai Thảo, ghi chú của người viết]. Vui thấy bạn còn nhớ cho báo đều đặn, đọc báo thì chẳng mấy vui. Rất hiếm đọc những bài viết cho thấy cái công phu của người chau chuốt nghệ thuật. Luôn luôn nổi rõ sự vội vàng sản xuất và vội vàng chấp nhận… Sự đời ở biển ngoài đã biết rồi, thưởng thức hiếm có dịp, thành ra chẳng thấy vui.” [Mặc Đỗ 11/01/1992]

Trong sáng tác, Mặc Đỗ có quan niệm khá nghiêm khắc, cả với chính anh. Anh luôn luôn nhắc tới kỹ thuật là quan trọng nhất trong việc viết truyện.

Anh kể lại: “đã mất khá nhiều bạn trẻ đã cho tôi đọc bản thảo hay sách đã in vì tôi rất thẳng trong ý kiến đưa ra sau khi đọc, tôi cũng than chuyện đó với một vài anh bạn già (không viết) thì được trả lời ai bảo đụng tới nhược điểm của người ta! Tôi tiếp tục không nghe lời khuyên đó vì tôi thấy cần phải sòng phẳng với ai có bụng tin tôi và chính tôi nữa...” [Mặc Đỗ 5/02/1994].

Khi viết về chính anh: “Riêng phần tôi, sau từng trải và đánh giá mọi khả năng còn lại, tôi bây giờ rất sáng suốt mà bi quan và tiêu cực. Thái độ này tôi giữ từ sau khi tự tay đốt cuốn truyện ‘Bong Bóng Bay’ kết quả của cả chục năm hì hục.” [Mặc Đỗ 01/11/1995] Cuộc “phần thư” lần này trên đất Mỹ là do chính tay anh, chứ không phải do kẻ bạo Tần của thế kỷ 21.

Rồi ở cái tuổi đã ngoài 90, anh quyết định cho in tập truyện ngắn Trưa Trên Đảo San Hô (2011), mà anh gọi là “tác phẩm cuối đời” với một bìa lưng hoàn toàn trống trải chỉ với mấy câu thơ thật thanh thoát:

Tự nhiên thành núi băng
Lục địa lạnh một ngày tách biệt
Lênh đênh vào có không

Trưa Trên Đảo San Hô (2011) - tác phẩm giã từ của Mặc Đỗ

Trưa Trên Đảo San Hô gồm 13 truyện ngắn, được sắp xếp theo ngược dòng thời gian: 7 truyện đầu được viết thời tỵ nạn [tị-Tần chữ của Mặc Đỗ: anh ví chế độ Cộng sản Việt Nam với nhà Tần 221-297 BC được coi là triều đại tàn bạo nhất trong cổ sử Trung Hoa], 3 truyện tiếp theo được viết tại Sài Gòn trước 1975; 3 truyện cuối được viết tại Hà Nội khoảng 1946-52. Mặc Đỗ viết: “Ba truyện cuối trong toàn bộ cũng là ba truyện đầu tiên tôi viết sau nhiều năm học, tập, và đến lúc tự xét thấy có thể bắt đầu viết.” Chỉ là một tập truyện ngắn nhưng đã ghi dấu ấn ba chặng đường và cũng là ba không gian sáng tác của Mặc Đỗ: Hà Nội, Sài Gòn Việt Nam và Hoa Kỳ.

Trong Lời cuối, anh tâm sự: “Thấy tương lai rất ngắn trước mặt (cũng như viễn tượng viết truyện ngắn/dài) tôi tự xuất bản tập truyện này sau một thời gian vắng bóng trong làng văn ở ngoài nước, coi như một giã từ.”

Nhưng rồi tiếp theo đó, ba năm sau “Đứng ngồi không yên” — tên một tác phẩm của anh bị thất lạc, anh lại cho in thêm một tuyển tập Truyện Ngắn (2014), gồm các tân truyện viết trước và sau 1975; cả hai tác phẩm tác giả tự xuất bản vẫn với tên Tủ Sách Quan Điểm.

TÁC PHẨM THẤT LẠC

Nhà của gia đình anh Mặc Đỗ ở Sài Gòn, không phải là ngôi biệt thự sang trọng như bối cảnh sinh hoạt của tiểu thuyết Bốn Mươi, chỉ là một căn phố lầu trên đường Trần Hưng Đạo nhưng rất ấm cúng bao năm, sau 30 tháng Tư, 1975 tôi có ghé thăm, trông thật lạnh lẽo, những chiếc ghế nệm bỏ trống, bức tranh lập thể sơn dầu của Tạ Tỵ rất đẹp cũng không còn treo trên tường nơi phòng khách, sau đó tôi mới được biết cả gia đình Mặc Đỗ đã âm thầm rời Sài Gòn đêm ngày 29 tháng Tư, chỉ một ngày trước đó. Dĩ nhiên, cũng như mọi người, anh chẳng mang được gì ngoài một chiếc túi nhỏ xách tay.

Trong một thư, sau này anh kể rõ hơn về số phận tập bản thảo “Đứng ngồi không yên” và sau đó đã thành tro than ra sao.

Sau khi hoàn tất cuốn “Đứng ngồi không yên” tôi có đưa cho ba bốn người mà tôi kính trọng, [anh có kể tên nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh] vì nhiều lẽ đọc. Tình cờ tất cả chung một nhận định: lắm động chạm đủ thứ! Nhận định đã khiến tôi suy nghĩ và gói kín trọn vẹn bản thảo và tư liệu trong chiếc hộp, cột dây và gắn si cẩn thận với mảnh giấy dán bên ngoài: Để dành cho thế hệ sau.

75 tôi đi rồi thì một thằng cháu chạy đến lục lọi, nó lấy đi cùng với những thứ khác cái hộp tưởng quý lắm. Về nhà nó mở ra rồi vừa tức vừa sợ nó vứt tất cả trong chiếc thùng sắt đổ dầu đốt cháy sạch. Bao tâm tư đốt cháy khói khét lẹt! Mãi sau này tôi được kể lại chi tiết đã tức cười nghĩ, Thế cũng đáng! Đáng đốt!

“Bên trên là nói chuyện với BS NTV, Biệt Cách Dù. Đây là nói chuyện với nhà văn NTV… Vào thu rồi, đang chuẩn bị nhận một flushot nữa và nhớ lại lũ trẻ trung học Pháp thời trước/ sau TCII gọi những ông bà già là những PPH (Passera Pas cet Hiver/ sẽ không qua khỏi mùa đông này — ghi chú của người viết). Chúng tôi thì chắc chưa!” [Mặc Đỗ, 28/09/1994]

TÁC PHẨM LỚN KHÔNG THỂ VIẾT

Sau Lời Cuối trong tập truyện Trưa Trên Đảo San Hô còn có thêm một Phụ Lục Truyện Không Thể Viết, Mặc Đỗ tâm sự:

    “Với một người viết đáng buồn nhất khi thấy cần thành thật với chính mình và quyết định không thể viết tác phẩm thèm viết… Theo dòng lịch sử đất nước, tôi không thấy thời cơ nào có thể so sánh với gần tròn một thế kỷ qua, với ba biến cố đặc biệt nối đuôi nhau, cùng hết sức giàu sinh động trong muôn vẻ chi tiết. Cảnh khổ ly tán được cụ thể hoá bằng một vụ phân ly giữa hai miền Nam Bắc. Kinh nghiệm độc lập người Việt ở hai miền cùng thâu góp, chất ngất, trong nước mắt. Biến cố thứ hai hào hùng thay! Nhưng đã hiện hình chẳng bao lâu sau, và kéo dài tới nay đã hơn ba mươi năm. [những dòng chữ này có lẽ Mặc Đỗ viết khoảng 2005, ghi chú của người viết] Hai biến cố đó xô tới biến cố lạ lùng, ngót hai triệu người Việt Nam thình lình tìm được tới, và bắt đầu mọc rễ trên những bến bờ lạ. Khơi lên từ cảnh đời một cô gái lai Mỹ, thiên truyện mọc lên trong đầu tôi khả dĩ ôm trọn ba biến cố vừa kể… Trong nhiều tháng sau tôi mê mải với đề tài Truyện, ra công sắp xếp cái sườn để gài lên những tình tiết… Ai sẽ viết? Cái vốn quan sát nhận định, rung cảm, chứa sẵn trong đầu, tôi có thể dùng cho phần đầu Truyện. Nhưng từ đêm 29 tháng Tư 1975 tôi đâu còn ở trong nước để quan sát, nhận định, rung cảm nữa… Tôi đã không thể viết… Tôi mong cho tôi, cũng mong cho đông đảo độc giả Việt Nam vì hiện chưa có một tác phẩm nào ghi lại liên tục giai đoạn lịch sử độc đáo vừa bi hùng vừa đáng cười ra nước mắt… Kho tàng đó đang chờ những người Việt Nam dám lãnh vinh dự và trách nhiệm là nhà văn.” [TTĐSH, lược dẫn Phụ Lục tr.219-230]

Đó là nỗi buồn và cũng là cái giá rất đắt phải trả của một nhà văn lưu đầy. Không thể viết nhưng Mộng-ngày bao năm trước về một tác phẩm lớn vẫn cứ vất vưởng như một ám ảnh khôn nguôi đối với nhà văn Mặc Đỗ.

Vào đời tràn háo hức
Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư
Nhắm mắt còn ưu tư


TÌM CHỮ AN TRONG ĐẠO PHẬT

“Ngay từ thời đọc ‘Cạn Dòng’ tôi đã buồn thấm thía trước viễn tượng sớm muộn sẽ thành sự thật và nông nỗi bất khả kháng trong thời thế toàn cầu hiện nay. Vinh và các bạn đang theo đuổi một cố gắng đúng, rất nhiều người khác tại các nước khác cũng theo đuổi những cố gắng khác với chung một mục đích cứu vãn đời sống trên mặt đất, khổ một nỗi loài người bây giờ quá ham tranh chấp đạp lên mọi lẽ phải. Sinh thời nhà tôi chúng tôi thường nhìn nhau, thu gọn mối sầu mênh mông vào một vòng nhỏ với cảm nghĩ: Tội nghiệp lũ con, cháu, chắt… sinh sau! Cũng như tôi, bất cứ độc giả nào đọc ‘Nghẽn Mạch’ không thể không xúc động trước những sự thật đã hiển hiện sớm hơn cả viễn tượng lo lắng.” [Mặc Đỗ 06/04/2007]

Dưới bức thư đánh máy, anh Mặc Đỗ có thêm một dòng tái bút viết tay: “Vinh có nghĩ tới trận chiến lớn sẽ có thể xảy ra và Việt Nam sẽ hứng chịu?” Với một Biển Đông hiện đang ầm ầm dậy sóng hình như sắp chứng nghiệm cho lời tiên tri của anh.

Mặc Đỗ luôn luôn nói tới chữ AN [viết hoa] trong đạo Phật. Cũng vẫn chữ “AN” trong một thư từ Austin, anh viết:

“Cher Vinh, Năm nay Xuân từ Đồng Bằng Cửu Long không đem ‘AN’ đến cho tôi. Đọc ‘Tìm về’ * trước Tết, cái arrière-goût dai dẳng từ trước cho đến sau Tết, không dứt. Tôi còn nhớ hồi nhỏ ở nhà khi có đám giỗ lớn, họp đông họ hàng, hay có một vài vị lớn tuổi, không hiểu dòng dõi với tiền nhân như thế nào nhưng đã được nghe truyền lại, kể thành tích chiến công Nam Tiến với những chi tiết… Mỗi lần Me tôi thường khóc và nói rằng, oán thù bao giờ rũ cho sạch được! Tết năm nay tôi cứ bị ám ảnh bởi nhận định bi thương đó… Bây giờ sắp tới thời không còn giấu bụi dưới thảm, càng buồn hơn. Nén buồn xuống chỉ còn mơ ước: Con người VN hồi tỉnh và biết nắm tay nhau cùng đối phó, và đối thoại.” [Mặc Đỗ, 18/02/2000]

* [Tìm Về là tên một chương sách Tìm Về Phương Đông, trong Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Nxb Văn Nghệ 2000]

Ba nhà văn chủ lực trong nhóm Quan Điểm mà tôi được biết, phần cuối cuộc đời đều có khuynh hướng tìm về đạo Phật. Tuyết ngưu Vũ Khắc Khoan của Thành Cát Tư Hãn nơi xứ vạn hồ miệt mài với Đọc Kinh và nghe Kinh, để rồi “lâng lâng trong mù sương nơi ngưỡng cửa pháp hội, một mình.” [1917-1986], Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng của Cách Mạng và Hành Động [1920-2000] sau 1975 tịnh tu, mang nặng suy tư từ những trang Kinh Lăng Nghiêm, viết sách Phật và giảng dạy Phật Pháp. Vũ Khắc Khoan và Nghiêm Xuân Hồng thì đã lần lượt ra đi trong sự thanh thoát và cả lặng lẽ tiếng kinh kệ. Mặc Đỗ thì sống quy ẩn từ bao năm như một hành giả không ngừng đi tìm một chữ AN trong đạo Phật.

XƯỚNG HOẠ VÀ KHAI BÚT

Hôm cuối năm, ông bạn già, anh Đoàn Thêm [nhóm Bách Khoa, tác giả Những Ngày Tháng Không Quên, ghi chú của người viết] làm bài thơ ‘Than già’ gửi cho bạn già đọc. Bài thơ có năm vần rồi-trôi-nòi-thôi-hồi. Một bạn già khác hoạ lại, rồi lác đác nhiều bạn già khác cũng hoạ. Thấy anh em vui tôi cũng nhẩy vô, tuy trong đời đây là lần thứ hai tôi thử trò chơi nghĩ rằng chỉ dành cho các bậc túc nho. Nhảy vô thấy cũng thú giống như thú chơi mots croisés chẳng hạn… Tôi chép hai bài tặng Vinh đọc chơi làm quà cuối năm. Chơi trò xướng hoạ mới thấy cái thú vận dụng tiếng Việt, một vần có thể xoay chuyển qua nhiều nghĩa. Càng thú nữa là xướng hoạ không để đăng báo, thành danh. [Mặc Đỗ 11/01/1992]



    Mặc Đỗ xướng hoạ


DƯ SINH

Lời đẹp nghìn xưa đã dạy rồi
Đời người lãng đãng bóng mây trôi

Ý tham đeo đẳng không đành thoát
Muôn kiếp sinh sôi vẫn một nòi
Nợ nước tình nhà và sự nghiệp
Tuyết sương rồi cũng thế mà thôi
Sống thừa mới thấy thừa chi lắm
Lão giả chen nhau kiếm chỗ ngồi

Mặc Đỗ

NĂM MỚI

Đã đến thời thôi đếm tuổi rồi
Ngồi bên bờ cỏ để buông trôi
Cúi đầu cố học ngu không hết
Nghển cổ tầm sư lạc mất nòi
Tính sổ cuộc đời nhiều mực đỏ
Bài thua úp xuống xoá đi thôi
Cười xem thời vận mong Bùi Tín
Áo gấm về quê chẳng mấy hồi

Mặc Đỗ

Phải nói là ngạc nhiên đến thú vị khi thấy một người theo Tây học như Mặc Đỗ, mới bước vào trường thơ xướng hoạ mà về vần và niêm luật, nhất là bài thứ hai Dư Sinh anh đã đạt được tới mức độ gần hoàn chỉnh.

“Sáng mùng một tết Tây 2003, tỉnh dậy nằm suy ngẫm chợt nhớ tới những người Việt Nam lưu lạc khắp nơi”, anh Mặc Đỗ gửi tặng tôi bài thơ mới làm.


    Khai bút đầu Xuân

KHAI BÚT

[Giao thừa lẻ hai vào lẻ ba]
Những khớp xương nghe đời phôi pha
Nhưng như xưa tấm lòng vẫn ấm
Tiễn đưa chào đón chén trà đậm
Cuộc tình trời đất dài thăm thẳm
Hai bàn tay khép mời nguyện ngắm
Theo nén nhang sợi khói bay cao
Những mối yêu nguyên vẹn thuở nào
Một mình bàu bạn không trăng sao
Tư bề không tiếng sóng dạt dào
Thời gian ngồi lại không chờ đợi
Buồn vui không cũ cũng không mới

Mặc Đỗ

CHUẨN BỊ MỘT CHUYẾN ĐI THANH THẢN

Sau ngày Chị Mặc Đỗ mất, là một chấn thương lớn đối với anh, cả về tinh thần và sức khoẻ. Mối quan tâm lớn của anh là chuẩn bị cho riêng mình một chuyến đi thật nhẹ nhàng và thanh thản. Anh kể: “Tôi có một ông bạn Pháp 14 năm nuôi vợ ở tình trạng living death.”

Năm 2006, anh đã tự tay viết một di chúc về sức khoẻ / Advance Medical Directives of Binh DoQuang, anh chia xẻ điều đó với tôi như một witness/ nhân chứng ở xa, do tình thân và cũng có thể do nghề nghiệp y khoa của tôi. “Tôi viết directive bằng Pháp văn cho thật đúng ý nghĩ trước khi dịch ra Anh văn hợp với legalese.”

Anh viết về sự hiểu biết của anh đối với căn bệnh Alzheimer cùng những hậu quả do tiến trình căn bệnh trên người bệnh, gia đình và xã hội và với tất cả sáng suốt – như “một lão giả” chữ của Mặc Đỗ, anh đã thanh thản viết xuống giấy sự chọn lựa của anh:

“Si j’amais j’attraperais ce mal Alzheimer, situation bien établie par mon docteur et d’autres spécialistes consultés, je demande que toute nourriture solide et liquide soit interrompue, nourriture ou d’autre substance donnée par quel moyen que ce soit.
J’implore tous les membres de ma famille, toutes les autorités judiciares, administratives, religieuses, politiques, et autres, à ne pas s’opposer à ma décision et me laisser périr comme un vieil arbre paisiblement.”


Chọn lựa của anh có thể là một tấm gương cho nhiều người, biết chấp nhận chu kỳ sinh diệt như lẽ tuần hoàn của trời đất, nó cũng cứu vãn cho một nền y tế Mỹ đang bị phá sản/ bankrupt chỉ vì vẫn muốn duy trì lâu dài những cuộc sống thực vật/ vegetative state hay living death, vẫn chữ của anh Mặc Đỗ.

Năm 2015, đã chín năm sau ngày anh viết di chúc sức khoẻ ấy, sáng nay từ nhà thương nơi tôi làm việc, rất vui mới được nói chuyện điện thoại khá lâu với anh [14/06/2015], vẫn là một nhà văn Mặc Đỗ giọng nói còn sang sảng và tinh thần thì rất ư là minh mẫn. Phải chăng một phần do gene, phần kia do một cuộc sống kỷ luật từ thời còn rất trẻ, sáng dậy sớm tập thể dục tắm nước lạnh và sống điều độ suốt những năm sau đó, có thời ở Sài Gòn anh đã chọn chế độ dinh dưỡng gạo lức muối mè, có lẽ vậy mà anh dễ dàng sống tới trăm tuổi, vẫn tự sinh hoạt độc lập với nguyên vẹn phẩm chất của cuộc sống. Một ngày nào đó mong còn xa, sự ra đi của anh theo quan điểm y khoa sẽ được coi như một cái chết tự nhiên/ natural death, như một cây cổ thụ khô và tự héo dần – vẫn chữ của nhà văn Mặc Đỗ.

Long Beach, 20/06/ 2015

Ngô Thế Vinh
Nguồn: danchimviet.info

         Đọc “Truyện Ngắn” của Mặc Đỗ - TRỊNH BÌNH AN

                                         
                                                     Nhà văn Mặc Đỗ

Mặc Đỗ là một tên tuổi lớn trong làng báo chí văn nghệ Sài Gòn trước 1975, nhưng giờ đây dường như chẳng còn ai biết tới ông. Không, phải xóa đi hai chữ “dường như” bởi vì thực sự chẳng còn ai biết tới Mặc Đỗ nữa. Khi tôi tìm kiếm trên mạng chỉ thấy vỏn vẹn vài truyện ngắn, vài dòng tiểu sử ngắn, thế thôi; tài liệu duy nhất (và quý nhất) có lẽ là bài “Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn Mặc Đỗ”. Tại sao lại xảy ra như thế?

Có thể vì Mặc Đỗ từng được biết tới như một dịch giả thay vì tác giả? Hay có thể vì Mặc Đỗ không tham dự vào các sinh hoạt văn chương hải ngoại? Dù sao, Mặc Đỗ cuối cùng đã quyết định gom một số truyện ngắn để cho ra đời tuyển tập “Truyện Ngắn” vào đầu năm 2014; cuốn sách dày 500 trang này tôi may mắn được một người bạn cho mượn về đọc.

Qua vài truyện ngắn của “Truyện Ngắn”, cảm tưởng đầu tiên là Somerset Maugham.

Somerset Maugham là nhà văn phương Tây về truyện ngắn mà tôi thích nhất. Tôi ưa giọng văn tỉnh rụi đến mức lạnh lùng của ông, cách mô tả nhân vật ngắn gọn nhưng chính xác, nhất là lối hành văn giản dị ít chữ khó. Nhưng cái hấp dẫn nhất của Maugham là ở chỗ ông tả mọi cảnh đời y như nó là, không bôi hồng, không tô đen; tuy nhiên, không vì vậy mà thiếu vắng quan điểm của nhà văn, vẫn có sự phân định rõ ràng giữa trung và gian, vẫn có sự ngợi ca những hành vi cao thượng vượt trên bản năng tầm thường.

Những truyện ngắn Mặc Đỗ thu hút tôi ngay từ dòng bắt đầu, như đoạn văn sau:

    Phản ứng đầu tiên của tôi là chùn bước lại, nghĩ rằng mình đã lầm nhà. Từ ngày người đàn ông Đại Hàn đó qua đời, lần thứ hai tôi bước tới cửa căn nhà nhỏ ở tận cùng một con hẻm giữa thành phố, lần thứ hai cách lần thứ nhất có tới mười tháng, lần thứ nhất đúng một ngày sau đám tang của người đàn ông. Mười tháng trời đã làm thay đổi hẳn một khung cảnh tôi tưởng đã ăn sâu mãi mãi trong tim óc tôi như chất cường toan thấm xuống làm nổi bật những đường nét của bức vẽ trên một bản kẽm. (TN – trang 183)

Có gì hay trong đoạn mở đầu truyện ngắn “Người Đàn Bà Tìm Lại Được Mùa Xuân”?

Nó hay vì không dài dòng trong phần tả cảnh. Tôi rất ngán đọc loại văn ê a theo kiểu “em hãy miêu tả căn nhà cha mẹ em” mà nhiều tác giả thường mắc phải. “Căn nhà nhỏ tận cùng một con hẻm thành phố” là đủ, không cần thêm những thứ lỉnh kỉnh như “gió đìu hiu, đèn vàng mờ, trời u ám” gì gì khác. Còn lại dành cho sự tác động của cảnh tới người: “chùn bước”, “ăn sâu mãi mãi” vì cách ấy làm người đọc thắc mắc, tự hỏi “tại sao vậy” và rồi sẽ hăm hở đọc tiếp.

Người ta thường nói truyện ngắn quan trọng nhất là đoạn mở đầu. Mở đầu mà không níu được người đọc là hỏng. Truyện dài thì khác, phần mở đầu có thể không hấp dẫn, nhưng nhờ dài nên còn có cơ hội kéo người đọc trở lại. Mặc Đỗ biết nguyên tắc này nên hầu như truyện nào ông cũng tạo đoạn mở đầu hấp dẫn, điển hình là truyện “Người Điên”, cũng gợi được sự tò mò:

    Trên xe từ nhà ông giáo sư trở về ông chủ tịch cứ trở mình hoài, đôi lúc lại thở dài một cái mạnh. Cậu con trai lái xe ngồi bên phải quay lại hỏi cha:

    – Hôm nay hội họp ra sao, có vấn đề gì lôi thôi chăng, cha bực bội không vui?

    Ông bố thở dài thêm cái nữa rồi mới đáp:

    – Có vấn đề gì đâu! Tao bực mình chính vì chẳng có vấn đề gì hết!

Nhưng đoạn văn này lại có “vấn đề”. Vấn đề ở chỗ nó không phải là văn nói, ngoài đời người ta không nói như thế. Cậu con sẽ hỏi “Có chuyện gì lôi thôi à, sao cha bực bội vậy?” và người cha sẽ đáp “Chuyện gì đâu! Tao bực vì chả có chuyện gì hết”. Thế nhưng khi dùng “vấn đề” thay cho “chuyện” câu văn gây được sự chú ý hơn. Ở đây, tác giả không ghi lại y chang cách nói thông thường bởi vì độc giả cũng không trực tiếp nghe những lời đó. Đọc là nhìn và nghe một cách trung gian nên dễ bị loãng, vì thế để kéo sự chú ý của người đọc người viết có khi cần sắp xếp lại những câu nói thông thường. Cái tài ở đây còn tùy vào cách sắp xếp, lọc lựa, dùng chữ,… sao cho khéo để không “nghe” gượng, cứng hoặc giả tạo.

Ngay trong cách chọn tựa, Mặc Đỗ cũng cho thấy ông rành chuyện níu khách.

Có những tựa chỉ có độc một chữ như “Sợ”, rồi hai chữ như “Sầu Riêng”, “Người Điên”, rồi nhiều chữ như “Thư Của Một Người Lối Xóm Nhiễu Sự”. Có những tựa đọc qua là thấy tò mò ngay, như “Tình Thương Trong Ngoặc Kép”, “Bốn Người Không Ngủ”, “Một Vụ Phá Hủy Công Phu”, “Trương Chi Con Gái”, v.v.

Nhưng tựa nghe hay không đủ, mở đầu hấp dẫn cũng không đủ; truyện ngắn hay vẫn là truyện ngắn… hay, hay từ cách viết tới cốt truyện, hay từ tả cảnh, tả tâm lý nhân vật, rồi tới thắt nút và mở gút, và cuối cùng là ý nghĩa hàm chứa – chính cái phần “ý tại ngôn ngoại” này mới ở lại trong tim óc người đọc và khiến cho truyện ngắn tuy ngắn mà vẫn đường hoàng chiếm vị trí ngang tầm truyện dài.

Phần tiếp theo đây, tôi – như một người đọc, xin được trình bày một số nhận xét của mình về các tính chất vừa kể trên trong những truyện ngắn của Mặc Đỗ.

Văn Phong

Như đã nói ở trên, Mặc Đỗ có cách viết khiến nhớ tới Somerset Maugham đó là văn phong thẳng và gọn. Dường như khi viết Mặc Đỗ đã chặt chém văn mình không chút nương tay cho đến khi không còn chặt thêm được nữa mới thôi. Điều này rất khó khi phải diễn tả tâm lý con người vì tâm lý con người vốn rất phức tạp, nói dài chưa chắc người nghe đã hiểu huống hồ là nói ngắn, nhưng Mặc Đỗ đã vượt được cái khó này.

Trong truyện “Một Vụ Phá Hủy Công Phu”, nhân vật chính tên Thủy, một cô gái trẻ xinh đẹp làm thư ký cho ông chủ Vĩnh Phúc và được ông này ngỏ lời xin cưới, nhưng Thủy lại yêu Đạo – một thanh niên cùng làm chung trong công ty. Thủy nói với Đạo muốn hai người sống chung với nhau nhưng không ngờ bị Đạo cự tuyệt. Thế là Thủy uất ức lang thang trên đường, tình cờ gặp một thanh niên giàu có đang lái xe lơi khơi và đưa lời gạ gẫm, Thủy bỗng muốn đem “cái ngàn vàng” cho không gã lạ mặt để trả thù Đạo. Nhưng khi Thủy buột miệng nói ra lý do tại sao nàng lên xe và đồng ý về nhà thì gã playboy kia đâm ra hết sức ngỡ ngàng, và rồi hắn mở cửa xe, đuổi Thủy ra ngoài.

Đây là đoạn diễn tả tâm lý của chàng thanh niên (ít ra cũng biết sợ) này.

    Thủy sửng sốt, mở to mắt ngó chàng thanh niên:

    – Ông lầm rồi. Tôi không có giá nào cả. Tôi đang buồn chuyện nhà, ông có lòng tốt muốn cho tôi đi nhờ một quãng đường, hay muốn đưa tôi đi đâu cũng được, nhưng đừng nói giá cả với tôi. Tôi cho không ông đấy. Để mai mốt tôi không bị mặc cảm là bán rẻ quá cho lão già. Đi đâu thì đi nhưng đừng nghĩ rằng tôi là một người có giá. Tôi là người tử tế có công việc làm. Tôi bực mình, bực chuyện nhà không giải quyết được, bực vì người yêu của tôi đần độn quá. Gặp ông tình cờ, nếu ông gỡ cho tôi được cái mặc cảm là một món hàng quá rẻ, tôi cám ơn ông. Nhưng đừng trả giá, tôi không có giá, tôi cho không…

    […]

    Thủy hỏi chàng thanh niên:

    – Ông sợ hay sao?

    Thêm một lần nữa chứng tỏ sự thiếu kinh nghiệm của Thủy. Một chàng thanh niên có xe hơi, có biệt thự, một mình chiều đến lái xe đi chơi, có bao giờ sợ ai. Bảo cậu ta sợ là chạm vô cùng tới tự ái. Chàng thanh niên không biết sợ nhưng chỉ ngại những hậu quả bất ngờ của một cuộc mua bán không ở trong những lề thói thông thường. Đã bực mình vì cuộc săn thất bại, lại bị mắng rằng sợ, chàng thanh niên nổi nóng lên, nhưng cũng dằn lại kịp – không phải vì sợ! – đưa tay qua trước mặt Thủy, mở cánh cửa, trong khi xe từ từ chậm lại và nói:

    – Thôi xuống đi, dấm dớ thế mà bảo lên cũng cố lên! (TN – trang 143)

Đoạn văn trên, tuy ngắn gọn nhưng diễn tả đầy đủ tâm lý phức tạp ở người thanh niên kia: đang hào hứng vì gặp “bò lạc” quá ngon bỗng đâm ra sững sờ khi thấy cô mình nói những lời nghe ra quá quái đản, và giọt nước cuối cùng tràn ly là khi nghe người đẹp phán “anh sợ à”, thế là xong, lửa dục tắt ngúm. Đoạn văn tả rõ tính cách của một gã playboy khá thông minh, biết ngừng lại khi đánh hơi thấy nguy hiểm, biết kềm giữ dục vọng khi cần, và biết ra tay ngay khi thấy cần ra tay.

Tôi rất ngán những đoạn văn nhiều lời ít ý, đọc đã một thôi một hồi rút cục vẫn chẳng biết tác giả muốn nói gì. Mặc Đỗ ngược lại, mồi câu, mỗi đoạn nghe ra đều ít nhiều ý vị khiến đọc tới rồi lại muốn quay lui, đọc lại.

Cốt Truyện

Câu văn hay tuy hấp dẫn nhưng chính cốt truyện mới làm ta chú ý. Điều này gần gần như bài hát, phần nhạc làm ta khoan khoái nhưng chính lời ca mới khiến ta để tâm vào. Có người bảo tôi một số ca khúc của Trịnh Công Sơn nếu bỏ đi lời hát thì nhạc nghe chán phèo, tôi hoàn toàn đồng ý.

Tôi ưa những cốt truyện giản dị nên thích Somerset Maugham. Nhiều truyện ngắn của ông đơn giản tới mức khó có thể đơn giản hơn, ví dụ truyện kể về ba bà béo mê ăn nhưng muốn bớt béo, hay một người đàn ông da trắng mê say một người đàn bà da màu nhưng chục năm sau đâm chán, hay một người chỉ muốn nhàn nhưng cuối cùng không thể sống quá nhàn rỗi, v.v. Viết với đề tài đơn giản rất khó vì hầu như chẳng có gì để viết, nếu người viết không nhìn ra được những chi tiết khác lạ thì chỉ còn cách tự bịa chúng, và như thế truyện sẽ thành giả tạo, không thực.

Mặc Đỗ chọn những đề tài rất giản dị: một thày giáo làng quê, một phụ nữ bị chồng và nhà chồng khinh thường, một người tha hương nhớ quê gói bánh chưng ngày Tết, một người sợ hãi vì bạn mình bị bắt vì làm cách mạng, v.v. nhưng không vì đề tài đơn giản mà truyện thành nhàm chán, trái lại, đều nêu lên được những khía cạnh khác thường trong những con người bình thường.

Ví dụ truyện “Thày Giáo”. Người thày tên Khuê, dạy học cho một đám nhỏ ở trường làng trong một vùng xôi đậu. Mỗi sang thày và trò đều làm lễ chào cờ – lá cờ Việt Nam Cộng Hòa. Điều này khiến bọn nằm vùng tức tối, tìm cách trừ khử Khuê. Vài người dân trong làng biết âm mưu và khuyên Khuê tạm bỏ lá cờ xuống, ngay cả Sương – từng là người yêu của Khuê nhưng bỏ vào bưng, cũng đến khuyên răn. Nhưng Khuê nhất định giữ vững ngọn cờ. Niềm tin trong sáng và kiên cường của Khuê đã làm Sương thay đổi, cô hy sinh lãnh trái lựu đạn thay thế cho Khuê.

Một cốt truyện khá cliché “một thày giáo làng yêu nghề và có lý tưởng”. Đã có hàng triệu câu truyện về một ông thày giáo như thế. Chưa nói đến việc viết hay, nội viết sao cho khác những truyện khác đã là rất khó, cho dù lấy bối cảnh chiến tranh Việt Nam thì vẫn chỉ gồm bấy nhiêu sự việc: một ông thày cứng đầu, sự đe dọa của đối phương, sự sợ hãi của dân làng v.v.

Để làm truyện thành lý thú, Mặc Đỗ chú trọng đến việc mô tả tỉ mỉ tâm tư của Khuê, ông cho thấy tại sao Khuê chọn thái độ như vậy: Khuê nhìn lá cờ và thấy mình được gắn kết với những bạn đồng nghiệp cùng chung lý tưởng để rồi dù xa xôi anh vẫn cảm thấy không hề cô đơn. Lá Cờ chính là cội nguồn nghị lực của anh. Nội tâm của Khuê như nói lên tâm tưởng của biết bao người Việt tha hương chúng ta khi ngước nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ hay khi cất giọng hát quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, và chính điều đó làm ta rung động.

Khuê nhìn thấy ở ngọn cờ một mối liên lạc mạnh mẽ với bao nhiêu những thày giáo khác cùng hoạt động trong một hoàn cảnh tương tự. Khuê không thể là một cá nhân đơn độc, Khuê muốn mãi mãi là một bộ phận tích cực ở trong đoàn thể những bạn cùng nghề, cùng lo một công việc chăn dắt những trẻ em nghịch ngợm nhưng rất đáng yêu. Khuê sinh trưởng ở ấp Tân Thới này, nhưng ở nhiệm vụ hiện thời của Khuê, Khuê sẽ cảm thấy lạc lõng hết sức nếu không có ngọn cờ đó. Khuê yêu cái nhiệm vụ hiện thời của mình cho nên Khuê quyết phải giữ ngọn cờ, nó hình dung trước mắt Khuê mối liên lạc mật thiết giữa Khuê với đoàn thể to tát những bạn cùng nghề. (TN – trang 150)

Một điểm nữa, chính nhờ cốt truyện đơn giản nên ta sẽ không còn nhớ các tình tiết nữa mà chỉ thấy lòng mình rung động, do đó dù sau này ta không còn nhớ truyện nói gì nhưng vẫn nhớ cái rung động nọ. Đó cũng là một trong những đặc điểm của truyện ngắn Bình Nguyên Lộc như trong các truyện “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”, “Con Bảy Đưa Đò”, v.v.

Tâm Lý Nhân Vật

Nhìn chung, các tác giả Việt không được giỏi trong cách mô tả tâm lý nhân vật. Tính cách nhân vật thường xây dựng sơ sài, tâm lý không diễn biến hợp lý, buồn vui yêu giận tùy hứng; kết quả cuối cùng là một mớ nhân vật nhòe nhoẹt, không để lại ấn tượng. Tại sao quá khó để học cách xây dựng nhân vật như Truyện Kiều: một Thúy Kiều đa tình, một Thúy Vân vô tâm, một Thúc Sinh ba phải. Hay bởi Nguyễn Du quá thấu tình đạt lý, hoặc biết tôn trọng tâm tánh tự nhiên của con người, loại người nào thế nào thì sẽ hành xử thế ấy, Nguyễn Du không “duy ý chí” bắt họ theo ý riêng của ông, vì thế mới có một Thúy Kiều rất thông minh sắc sảo nhưng chỉ là cái thông minh con mọt sách trong tháp ngà nên khi đụng cuộc đời phức tạp thường có những phản ứng khá ngờ nghệch.

Đọc truyện Somerset Maugham (và những nhà văn lớn khác) ta thấy tâm lý nhân vật và diễn biến tâm lý rất tự nhiên và hợp lý. Có những truyện tôi đọc khi còn rất trẻ nên không hiểu tác giả viết đúng cỡ nào, phải tới hàng chục năm sau, đụng người đụng chuyện rồi mới thấy truyện tả không sai về một loại người nào đó.

Tả tâm lý nhân vật trong truyện ngắn còn khó thêm nữa vì khuôn khổ hẹp nên người viết phải chọn sao cho đúng những nét chính đặc biệt nhất để mô tả. Một nét đặc biệt nhất trong tính cách nhân vật của “Truyện Ngắn” Mặc Đỗ là tính cương cường, kiên quyết. Trong 30 truyện thì ít nhất 7 truyện có nhân vật chính – dù nam hay nữ, đều là loại người cứng rắn.

– Trong “Sợ”, một người vợ (Sương) thất vọng bỏ đi vì thấy chồng mình đã tỏ ra quá sợ hãi sau khi một người bạn thân, và cũng là đồng chí, bị bắt.

– Trong “Thày Giáo”, một ông thày trẻ (Khuê) nhất định không lấy xuống lá cờ quốc gia treo trước trường học dù tính mạng bị đe dọa hàng ngày.

– Trong “Người Đàn Bà Tìm Lại Được Mùa Xuân”, một phụ nữ Đại Hàn (Aki) quyết định ly dị chồng, từ bỏ quê cũ, đến sống nơi xứ người chỉ vì muốn tìm tự do.

– Trong “Người Đồng Chí Gánh Cát”, một người có địa vị xã hội (Thái) quyết định mai danh ẩn tích, chọn làm nghề hèn mọn để dứt khoát đoạn tuyệt với một tổ chức mà anh không còn cùng chung chí hướng.

– Trong “Người Điên”, một thanh niên tị nạn (Tài) tìm cho mình một nơi thật hoang vắng ở Mỹ để định cư với ý định buộc mình phải trở thành một con người khác hẳn với con người cũ trong quá khứ.

– Trong “Trương Chi Con Gái”, một cô người ở (Túy) nhảy sông tự vẫn sau khi biết mối tình của cô với con trai chủ nhà mãi mãi là vô vọng.

– Trong “Ở Giữa Có Hàng Rào”, tình nhân nữ (A) không chấp nhận tiếp tục quan hệ với tình nhân nam nếu anh này không chịu từ bỏ quan điểm sống vô cảm.

Những nhân vật cương quyết ấy dường như phần nào phản ảnh tâm tính và quan niệm sống của chính Mặc Đỗ, hay, đó chính là sự ngưỡng mộ của Mặc Đỗ tới những con người cương trực, loại người dám tách ra khỏi đám đông, dám lội ngược dòng, dám làm lại từ đầu? Dù là một người thuộc bậc đàn anh trong giới văn chương báo chí miền Nam trước 1975, nhưng khi qua tới Hoa Kỳ Mặc Đỗ đã lui vào bóng tối đến mức hầu như không còn ai nhắc tới ông nữa. Những nhân vật “Truyện Ngắn” dường như chỉ để nói dùm tâm tư của ông chứ không thật sống cuộc đời của họ. Văn Mặc Đỗ, do đó, là văn khẩu khí hơn văn miêu tả.

Hãy đọc một đoạn đối thoại giữa A và Y trong truyện “Ở Giữa Có Hàng Rào”:

    Y đang ngả người tựa lung trên hai ba chiếc gối chồng chất trong góc đi văng, vội nhỏm dậy, hỏi:

    – A ơi! Sao em nỡ quyết liệt vậy? Em đã bảo em vẫn yêu anh, phải chăng có kẻ nào đứng ngoài tìm cách ảnh hưởng tới em, phá sự yên ổn của anh? Anh đã nói, địa vị của anh khiến lắm kẻ thù ghét…

    A liền đáp:

    – Anh yên tâm đi, không có kẻ nào đứng ngoài tìm cách ảnh hưởng tới em, nếu có cũng chẳng ảnh hưởng được. Nhưng cái xã hội chung quanh ta đây – chính em cũng ở trong đó – cái xã hội đó không thể nào chấp nhận được anh của bây giờ, vì anh đã tách ra ngoài. Ngày nào còn sống trong cái xã hội mà em yêu thương đó em cũng không thể chấp nhận được anh. Em đòi anh thay đổi là vì vậy. Anh thay đổi đi để cùng sống với em, cho tình yêu của chúng ta được vẹn toàn. Em tha thiết như vậy mà hôm nọ anh lại nói một câu khiến em không ngủ nổi, anh xui em cũng tách ra như anh, anh bảo vậy là thực tế . Sở dĩ hôm nay em cần thảo luận dứt khoát với anh là vì câu nói đó của anh. Nếu có phải quyết liệt cũng đành! (TN trang 414)

Quả thực là quá quyết liệt. Tôi tự hỏi phụ nữ Việt Nam mấy ai “ăn thua đủ” với tình nhân như thế? Những người phụ nữ quyết liệt của Mặc Đỗ khiến tôi không thể không nhớ tới người đàn bà trong truyện ngắn “The Short Happy Life of Francis Macomber” của Ernest Hemingway, chỉ khác là chưa ai dám nổ súng bắn vào đầu chồng mình.

Kịch Tính

Một điểm làm tôi không mấy thích ở truyện ngắn Mặc Đỗ là kết cuộc có phần khá tuồng, nghĩa là, quá nhiều kịch tính.

Văn phong Mặc Đỗ khiến tôi nhớ tới Somerset Maugham, nhưng kết cuộc của một số truyện của Mặc Đỗ kết thúc như truyện của Guy de Maupassant, như một cái nhún vai “đời-xe-la-vi” đầy kịch tính. Truyện Maugham không như thế, ông để cuộc đời các nhân vật trôi một cách tự nhiên, ông không dụng công sắp xếp cho nó thành thế này hay thế khác. Tôi còn nhớ truyện dài “Theatre” của Maugham, nhân vật chính, một nữ diễn viên sân khấu nổi tiếng những toan về già, rồi điên đảo trong mối tình lén lút với một chàng trai trẻ, nhưng cuối cùng đã tìm lại chính mình; đoạt kết tả cảnh nàng ăn mừng “chiến thắng” bằng một bữa thật khoái khẩu dù rất kỵ cho việc giữ eo: dĩa bíp tếch, bia và rất nhiều khoai chiên. Đó là một kết cục rất đơn giản nhưng cũng rất thật, không tuồng, không… làm dáng.

Tới đây, tôi thấy cần giải thích thêm về hai chữ “làm dáng”. Tôi dùng chữ này khác với Mặc Đỗ và Thanh Tâm Tuyền đã dùng.

Để bạn đọc biết rõ thêm, xin nhắc lại đoạn Mặc Đỗ nói về “làm dáng”.

Đoạn văn sau được trích từ bài viết “Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn nhà văn Mặc Đỗ”.

    Nguyễn Tà Cúc: Nhà văn Võ Phiến có viết về nhóm Quan Điểm (nghĩa là anh và các bạn anh) như sau: ”Không làm cách mạng được thì làm dáng”. Anh nghĩ sao? Nhất là về hai chữ “làm dáng”?

    Mặc Đỗ: Cụm từ ‘làm dáng’ do chính tôi bày ra. Trong ‘Siu Cô Nương’ một nhân vật đi Paris tới khu Opéra mua một lọ nước hoa về tặng người bạn gái kể với bạn rằng bị cô đầm bán hàng bơm thử chút nước hoa đó lên áo làm cho anh chàng vội về hotel thay bộ áo khác sợ ai ngửi thấy bảo là chàng làm dáng. Thanh Tâm Tuyền, họp với vài người trong nhóm Sáng Tạo bàn chuyện dìm truyện của tôi, đã túm lấy cụm từ làm dáng đưa lên tựa bài đả tôi (Văn Nghệ Làm Dáng). Ý độc của Thanh Tâm Tuyền tôi cũng bỏ qua. Thử hỏi mấy cừu a dua Thanh Tâm Tuyền dùng cụm từ ‘làm dáng’ rằng trong Việt ngữ làm dáng nghĩa là gì, một người nữ nếu không làm dáng liệu có ai làm thơ ca tụng sắc đẹp, chút hồng lên má chút son tô môi đều là làm dáng, nói năng êm tai cũng là làm dáng. Muốn chê nhè nhẹ thì kêu cô bé làm dáng QUÁ. Chê tôi nâng cao phẩm chất tác phẩm của tôi (nội dung và hình thức, tư tưởng, lời văn, trình bày) bằng cách ra ngoài khuôn mòn đặt ra từ ngày nhà văn VN bắt đầu viết theo kiểu tác giả Tây (xưa ít đọc ngoại ngữ khác) chỉ có ác tâm (bực vì nó đi trước!) mà thôi. Sau này có những anh em trẻ bảo tôi, Bị chê làm dáng là khen. Nội dung cũng như hình thức truyện của tôi rất khác với mọi truyện đã in ra thời đó. Tôi cố ý làm dáng cho tác phẩm của tôi, truyện đó cũng như mọi truyện ngắn dài khác của tôi.

    Tà Cúc ơi, tôi đã được Thày đặt cho bút hiệu Mặc Đỗ (họ Đỗ trầm lặng, khiêm cung) tôi rất chịu và cố giữ mãi như vậy, nhưng nếu tôi có lấy làm hài lòng về tôi thì do tôi đã làm-khác được truyện VN từ đó (Khoan kể lại với tôi Đỗ Đức Thu đã lấy làm ngạc nhiên hỏi Khoan, Sao anh ấy lại viết như thế nhỉ? Khi bàn tới truyện của tôi, Khoan bảo, Tao chỉ cười thôi) Bây giờ được đại văn hào mỉa cả bọn làm dáng thì cũng hay!

    Ngoài ra, vụ đó nằm trong một mẻ “ngu” lớn xuất phát từ xu hướng xô sang tả vì chớm phải bả ‘giải phóng thuộc địa’. Kéo dài cho tới khi ‘trắng mắt ra’ ai viết ngoài địa hạt bình dân nghèo khổ đều bị bài bác. Tôi nghĩ viết không phải để cãi cho đám đông nghèo khổ, viết để đưa ra mọi mặt của xã hội đương thời, để độc giả thấy và ngẫm. Hồi đó tôi mô tả xã hội mà tôi quan sát được (vì gần bên) cũng ngầm bêu cái xã hội đó và vô tình giải thích được tại sao cơ hội ngàn năm một thuở cả nước bỏ qua mất.

Qua phát biểu trên, ta thấy Mặc Đỗ không dấu diếm việc ông cố tình để mình chịu ảnh hưởng từ các tác giả trời Tây, nếu người ta có gọi ông là “tây con” thì ông cũng “coi như nơ-pa”.

Một ví dụ khác minh họa cho cái kết-cục-nhún-vai-rất-tẩy là truyện ngắn “Trương Chi Con Gái”.

Túy, một cô gái ở đợ với khuôn mặt bị rỗ nhưng có giọng hát tuyệt hay. Túy thầm yêu Hòa, cậu con trai của chủ nhà. Hòa là một bác sĩ quân y đẹp trai nhưng hiền lương. Sau ngày cưới của Hòa, Túy lặng lẽ bỏ nhà ra đi rồi trầm mình tự vẫn.

Dưới đây là đoạn kết của truyện:

    Chị bếp trở dậy không thấy Túy. Ra cổng thấy cửa chỉ khép hờ, thùng rác đã đưa ra gốc cây trên hè. Hốt hoảng chị bếp trở vào, xuống gara thấy chiếc vali của Túy vẫn còn đó, y nguyên. Lát sau bà chủ được thông báo đã làm một cuộc tổng kiểm soát những tài vật trong nhà nhưng không mảy may suy suyển. Đám cưới của Hòa bận rộn, cả nhà đều mệt, sau đó lại tới lo cho vợ chồng Hòa đi Nha Trang. Hòa sau khi trình luận án chính thức đậu bác sĩ phải trở lại quân đội và được bổ nhiệm làm việc tại bệnh viện quân y Nguyễn Huệ. Cả nhà chẳng ai buồn đọc báo, không ai biết có báo đăng tin vớt được trên sông Đồng Nai một cái xác thiếu nữ chết đuối trôi dạt vào bờ. Tin trong báo có ghi rõ không tìm thấy giấy tờ trên người tử nạn, chỉ ghi được đặc điểm người con gái chết đuối tuổi chừng mười tám với gương mặt rỗ hoa. (TN – trang 224)

Thành thực, tôi không thích lối kết “đại bi kịch” như trên, số phận bất hạnh của cô người làm (một thân phận bé mọn) được tô đậm thêm bằng sự thờ ơ của những người chung quanh (lối kết này hao hao như lối kết của truyện ngắn “Boule de Suif” của Guy de Maupassant). Tôi thấy điều này không cần thiết, và, có khi không thực. Hãy thử nghĩ xem, chàng bác sĩ quân y Hòa – một người được mô tả là nhân hậu và tinh tế, anh ta chắc chắn không thể thờ ơ với sự mất tích của Túy – người đã được anh chú ý đến vì giọng hát tuyệt hay. Cố tình “bắt” Hòa thành người vui duyên mới quên nghĩa xưa là điều không đúng thực. Ở đây, vì muốn tạo nên một kết cục kịch tính mà tác giả đã bất công với nhân vật của mình, từ đó, bất công cả với độc giả nữa.

Nhưng nhìn chung, Mặc Đỗ khá khéo léo trong cách dẫn dắt độc giả, ông biết gợi sự tò mò, biết cách thắt gút và rồi tháo gút một cách thông minh.

Tôi rất thích truyện “Trăng Đỏ” của Mặc Đỗ. Một người đàn ông được bạn giới thiệu với một cô gái xa lạ, nàng yêu cầu gặp mặt để học hỏi kinh nghiệm làm việc. Tuy rất ngần ngại nhưng cuối cùng ông đã nhận lời. Họ gặp nhau vào một buổi chiều sau giờ làm việc tại một quán nhỏ. Người con gái đề nghị được “uống theo” người đàn ông, một đề nghị táo bạo mà người đàn ông cho là khá táo bạo. Nhưng không cần lâu, cô gái – theo nhận xét kín đáo của người đàn ông, đã tỏ ra biết “uống đẹp”. Hai người không nói gì nhiều, chỉ ngồi đó, uống với nhau. Rồi bồng cô gái đứng lên cáo từ nhưng không quên nói rằng sẽ còn ở lại với chị trong một tuần. Và cô đi thẳng không đợi người đàn ông tiễn chân.

Xin được trích một đoạn:

    Lâu lắm, hai người cứ ngồi đó uống từng ngụm nhỏ. Người đàn ông đã bỏ qua từ cả giờ trước cơ hội đặt câu hỏi dứt khoát vào đề, cho nên cứ ngồi yên đó mà đợi. Với lại, như đã ghi ở trên, người đàn ông bắt đầu không thấy tiếc buổi chiều của mình. Với lại nữa, cô gái có đủ tài khéo không nói gì mà sự hội diện không trống rỗng. Cứ bấy nhiêu cử chỉ, thủng thẳng hút một điếu thuốc, thủng thẳng dụi tàn thuốc khi cần, nâng chiếc ly lên, đung đưa bàn tay cho cục đá khẽ lay động, cho mức rượu song sánh trong ly chung quanh cục đá, ghé môi uống một chút men, ngước mắt bên sau cái ly ngó người đàn ông một thoáng dài và mỉm cười, bấy nhiêu đó cũng đủ làm quá đầy thời gian hai người ngồi đó. (TN – trang 400)

Trong toàn truyện, không hề có lấy một chữ tả nhan sắc người con gái, nhưng ta có thể hình dung đó là một cô gái đẹp, không những thế, nàng còn có bàn tay đẹp ngón thon dài. Cùng với người đàn ông, ta dần dần khám phá nét đẹp của cô gái theo từng động tác để rồi cũng sẽ đồng ý với ông ta rằng “đó là một buổi chiều tưởng rỗng mà không rỗng”. Cái gút được tháo mở và ta cảm thấy khoan khoái như cùng được dự vào buổi chiều thi vị nọ.

Kịch tính giúp truyện ngắn thú vị và hào hứng, nó là sự phân biệt người viết thông minh và không thông minh. Giống như nhận xét của nàng về chàng: “Anh ấy tốt lắm nhưng nói chuyện hơi bị nhạt”, nghĩa là anh ấy không được mấy thông minh; tương tự, truyện ngắn cũng sẽ thành nhạt nếu không đủ kịch tính dù người viết rất thành tâm thiện ý. Mặc Đỗ không nhạt, Mặc Đỗ thông minh.

Ý Nghĩa

Có người cho rằng truyện hay là hay đâu nhất thiết phải có ý nghĩa.

Thưa, xét từ cổ chí kim, truyện đạt tới mức “classic” đều có ý nghĩa, và các văn nhân dù đó là Maugham hay Maupassant, Bồ Tùng Linh hay Nhất Linh, thảy đều đạt tới mức classic vì truyện nào của họ cũng có ý nghĩa. Cái ý nghĩa có được là do tấm lòng tha thiết tới cuộc đời, tới con người của tác giả, nó nồng nàn đến mức họ phải dùng ngòi bút viết ra mới bớt quay quắt trong tâm. Thành thử, nếu người đọc không thấy truyện hay vì có ý nghĩa thì chỉ có thể giải thích là, hoặc về tâm hoặc về trí, họ chưa tới được “chỗ đó”.

Tôi sẽ không nói nhiều về những ý tiềm tàng trong những truyện ngắn Mặc Đỗ vì muốn để bạn đọc tự thử thách trái tim mình, nhưng nếu bạn đọc qua những đoạn văn trích ở trên mà không thấy mơ hồ những ý tứ sâu xa trong câu chữ thì tôi xin thành thật khuyên: đừng tìm đọc Mặc Đỗ làm gì cho uổng công.

Nhưng tôi sẽ kể thêm vì lý do gì tôi rất thích truyện “Trăng Đỏ”.

Một truyện ngắn trở nên rất có ý nghĩa với ta khi ta tìm thấy trong đó một bài học hữu ích. Nếu chỉ đọc thoáng qua, “Trăng Đỏ” là một câu chuyện lơi khơi ở đó một người đàn bà làm dáng (lại “làm dáng”!) trước một người đàn ông xa lạ qua cách nàng tỏ vẻ rất “cool”: không vội vàng, không bối rối; có thể vì nàng tự tin, cũng có thể nàng còn nhiều thời gian để cưa đổ người đàn ông, hoặc giả, nàng cũng chẳng quan trọng gì lắm kết quả đạt được. Cái lý do thứ ba này có một ý nghĩa đặc biệt với tôi.

Tôi đã từng nhiều lúc vội vã, hấp tấp trong cuộc tiếp xúc với người khác chỉ vì quá mong thành công, hay, nói trắng ra, khi muốn chinh phục ai đó (kể cả nam lẫn nữ), để rồi chỉ trong ít lâu sau có khi lại quay lưng lạnh nhạt với họ. Tôi biết cái tình cảm đầu voi đuôi chuột ấy là không hay chút nào nhưng vẫn không làm sao tránh được. Từ khi đọc “Trăng Đỏ” tôi có một thứ giúp mình dằn lòng xuống, tôi nhớ tới người đàn ông tỉnh rụi và người đàn bà thản nhiên, tới cái không khí lững lờ giữa hai người, và tôi học được sự bình thản.

Kết

Trước khi đọc bài viết này bạn có thể không biết đến Mặc Đỗ, nhưng tôi hy vọng sau khi đọc bài này bạn đã biết chút ít về ông, ít ra về mặt chữ nghĩa. Tôi mong rằng bạn cũng sẽ như tôi, cảm thấy an ủi vì biết rằng đất Việt vẫn có những con người hằng ưu tư về vận mệnh của đất nước và cố gắng làm “một cái gì đó” dù biết thời gian của mình chẳng còn bao nhiêu nữa.

Vào đời tràn háo hức
Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư
Nhắm mắt còn ưu tư

(Mặc Đỗ)

Mặc Đỗ tiêu biểu cho lớp trí thức Việt Nam may mắn thụ đắc cả hai nền văn minh: Đông phương cổ truyền và Tây phương tân tiến, nhưng thay vì tự mãn với cái hơn người ấy, Mặc Đỗ loay hoay đi tìm một sự kết hợp giữa những luồng văn hóa khác biệt ấy nhằm thổi một luồng gió mới vào nếp văn chương cũ mòn. Những truyện ngắn của Mặc Đỗ tuy không nhiều nhưng đủ minh họa cho tâm nguyện của một người cầm bút chân chính là góp phần đưa văn chương Việt Nam hòa nhập và sánh bước với văn chương thế giới.

Riêng với bài viết này, dù chỉ là ý kiến của một người đọc, tôi vẫn ít nhiều làm việc phê bình nên thường tìm đọc những quan điểm về phê bình văn học, vì lẽ đó, tôi xin được trích quan điểm về phê bình của Mặc Đỗ khi ông được hỏi ý kiến về văn học hải ngoại:

    Người trong cuộc biết ăn nói sao cho phải phép? Tôi không thể nằng nặc khen, tôi cũng không thể đột nhiên nhảy tót ra ngoài cuộc để vểnh môi chê bai đủ thứ. Tôi nghĩ việc phê phán cần cho thật đúng, thật lương thiện, phải để dành cho đời sau. Bây giờ ai chê ta biết liền tại sao, mưu toan gì mà chê. Ai khen ta thành thật thì phải cười xòa bảo, Gớm! cái đuôi của tôi dài có bây nhiêu mà “mèo khen” quá khiến tôi phát ngượng! (Trích “Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn nhà văn Mặc Đỗ)

Tôi tự tin không nói sai lòng mình.

Lại vẩn vơ tự hỏi khi con mèo được người vuốt đuôi thường xảy ra hai trường hợp: hoặc nó thích thú vì được nựng nịu, hoặc nó đổ quạu vì bị quấy rầy; được khen cũng vậy, có khi người được khen đâm bực mình vì lời khen không đúng sẽ còn tệ hơn là chê .

Tôi chỉ mong không phạm phải điều thứ hai.

    Tiểu sử Mặc Đỗ:

    Tên thật Đỗ Quang Bình. Sinh năm 1920 tại Hà Nội. Di cư vào Nam năm 1954. Tị nạn đến Hoa Kỳ năm 1975. Là nhà văn có những ảnh hưởng quan trọng với nền văn chương Miền Nam 1955-1975. Là người trong nhóm sáng lập tờ báo Tự Do ( Phạm Việt Tuyền) và nhóm Quan Điểm. Ngoài sáng tác, Mặc Đỗ còn là dịch giả nhiều tác phẩm văn học thế giới.

    Tác phẩm đã xuất bản:

    Bốn Mươi, Siu Cô Nương, Tân Truyện, Trưa Trên Đảo San Hô , Truyện Ngắn (2014), Thần Nhân và Thần Thoại Tây Phương (biên khảo – nxbTrương Vĩnh Ký, Saigon 1974 & nxb Văn Hoá Thông Tin in lại 1995)

    Dịch thuật: Lão Ngư và Biển Cả (E. Hémingway), “Con Người Hào Hoa (F. S. Fitzgerald) , “Một Giấc Mơ”(Vicky Baum) , “Người Vợ Cô Đơn” (F.Mauriac), “Thời Nhỏ Trong Gia Đình Luvers”(B. Pasternak) , “Tâm Cảnh” (A. Maurois) , “Anh Môn”(A. Fournier) , “Vùng Đất Hoang Vu”(L.Tolstoi) , “Giờ Thứ 25″(C. V. Georghiu).

“Truyện Ngắn”
470 trang – giá 30.0 USD
Mua sách: Ms. Ynhi Nguyen
13337 Amasia Drive
Austin, TX 78729-4907, USA

Trịnh Bình An
(Nguồn: gio-o.com)

                        SIU CÔ NƯƠNG - Mặc Đỗ

(Siu cô nương, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Quan Điểm, in xong ngày 5-1-1959 tại nhà in riêng của Nhà xuất bản Quan Điểm, Sài gòn, Việt Nam-Bản đánh máy do Kỳ Anh thực hiện, tháng 6. 2014, Hoa Kỳ)

CHƯƠNG 13 / Trang 112-120

Mộ ăn cơm tối xong, đứng ở cửa sổ nhìn ra đường. Nhân có mấy đại biểu ở Sài gòn mới ra, suốt hai ngày liền chàng bù đầu hết buổi họp nọ tới buổi họp kia. Càng ngày những triệu chứng của một cuộc thay đổi lớn trên chính trường càng phát hiện rõ rệt. Lần lần vai trò của Mộ trong cuộc thay đổi đương sửa soạn trở nên quan hệ. Trong khi những chính khách đã quen lê gót trên những đại lộ của chính quyền bắt đầu hoạt động để câu một địa vị tương lai, sự tha thiết muốn tìm một con đường mới của chàng đã quy tụ ở chung quanh Mộ đông đảo những phần tử tha thiết với một công việc hơn là quyền lợi. Đã nhiều lần ngổi giữa đám anh em cùng hăng hái quyết tâm đứng lên một chuyến, bất giác Mộ thấy lạnh trên gáy và tự hỏi: Ta sẽ đưa họ đi đâu? Và chàng ý niệm được trọn vẹn trách nhiệm của mình trong một giai đoạn có thể gọi là lịch sử. Sở dĩ chàng phải băn khoăn vì chưa nhận định được rõ rệt cái tương lai sẽ nhân những hoạt động mở lối hiện thời của chàng và các bạn mà cấu thành. Rất nhiều lần, chàng vương vấn với ý tưởng: Rồi ra bọn chàng sẽ có bị phản bội không? Hiện không có một yếu tố cụ thể nào chứng tỏ rằng tương lai sẽ hoàn toàn không có những bóng mây do những cá nhân và những tham vọng tạo thành. Chàng không phải là hạng chính khách bằng lòng với những lời hứa hẹn hay những vòng hào quang do tưởng tượng của số đông vẽ nên. Thì chính chàng và các bạn đã chẳng đương ngày đêm lo tô thắm một vòng hào quang giả tạo là gì? Cuộc phiêu lưu sắp sửa dù sao cũng sẽ ít những bất ngờ đến ngã ngửa. Đó là điều mà chàng vẫn tự nhủ tuy cũng chẳng căn cứ được vào một yếu tố cụ thể nào, ngoài ý quyết tâm của chàng và đám anh em, tin rằng trong tương lai sẽ đem ý chí của một số đông cầu tiến làm áp lực hiệu quả đối với những tham vọng cá nhân, nếu một lúc nào đó sẽ lộ diện. Chàng nói với những anh em đã biết đặt điểm nghi vấn: "Biết làm thế nào, giữa một thế thụ động chờ một nguy biến lớn và một thế tích cực nắm lấy một phần chủ động ta không thể do dự được. Cứ liều mà tin rằng khi cần đến, với một lực lượng anh em như thế này và cả một hậu thuẫn dân chúng chung quanh ở sau lưng ta có thể thay được thế cờ."

Giữa những chùm bóng tối rải rắc trên mặt đường, Mộ thấy thấp thoáng một chiếc xích lô như bỗng hiện ra. Thấp thoáng giữa bóng tối, Hiểu đứng bên xích lô giơ tay vẫy chàng. Mộ đóng cửa sổ lại và đi xuống thang lầu, nhè nhẹ bước, rồi mở cửa ngoài rất nhẹ để bà mẹ khỏi nghe tiếng. Ra tới đường, chàng mỉm cười một mình trước cử chỉ lén lút vô lý của mình. Bốn mươi tuổi đầu nhưng có lúc vì thương mẹ, cháng thấy như mình còn là cậu bé mười tám mới bắt đầu nghe theo tiếng gọi của ngoài phố. Ngồi trên xe, bên cạnh Hiểu, Mộ hỏi:

-Tính đi đâu thế này?

-Lại Siu cô nường ngồi tán dóc một lúc.

Mộ phản đối:

-Còn sớm quá, ồn lằm. Đi bộ một quãng rồi đến cũng vừa.

Hai người xuống xe, thủng thẳng bước trên hè phố. Từ phía bờ sông, hai người đi ngược lại cùng phố xá đông đúc. Mộ có cảm giác gây gây say của một người trở lại tham dự trọn vẹn những giao động của cuộc sống giữa đám đông. Chàng nói với Hiểu:

-Cậu có nhận thấy chúng mình thường sống một phần nào ở ngoài lề, xa với những mực thước trung bình?

-Có lẽ nhưng không phải là cố ý. Tôi vẫn muốn tìm những điểm giao tiếp mà chưa thấy. Cộng sản họ lấy một cái ống lô ủi bẹt tất cả xuống, lấy một bề dầy duy nhất họ cho là lý tưởng. Tôi không muốn ngồi lái chiếc xe lô, cũng không chịu nằm dưới ống lăn.

-Hầu hết những người quốc gia đều ngại đặt vấn đề giai cấp.

-Khó tìm thấy nhữngđiểm giao tiếp cũng bởi thế. Tôi cho đó là một thái độ khôn vặt: để dành cơ hội ở tất cả mọi phía.

-Nông nỗi bế tắc của phe quốc gia không ngoài sự thiếu sót một chỗ đứng cụ thể. Lập trường quốc gia hoàn toàn đặt trên những yếu tố trừu tượng, trong khi mỗi người quốc gia đều cảm thấy có một cái gì để bảo vệ, cần bảo vệ, mà hoàn toàn không trừu tượng một chút nào. Có trực tiếp hoạt động tôi mới thấy nông nỗi nghèo nàn của mình.

-Tôi tin rằng ngày nào những người quốc gia gỡ bỏ được hết mặc cảm sẽ đặt định được một đất đứng vững chãi, căn cứ trên những yếu tố thành thật là của mình, không vay mượn, không bợ đỡ. Càng ngày tôi càng thấy rằng muốn rẽ một lối thoát mình không thể cứ theo đuôi hết cái nọ đến cái kia, phải tạo lấy một lẽ sống, phải kết nạp lấy một lực lượng. Cả một vùng Đông Nam Á như thế này mà cứ chịu trên đe dưới búa mãi hay sao?

Mộ chợt quay lại ngó bạn, chàng nói rất buồn:

-Đã khá lâu tôi không dám dùng đến một lời nào xem ra vượt hơn quá tầm tay của tôi. Mình sẽ làm được những gì? Bao nhiêu tha thiết có khi chỉ là những lời nói huênh hoang nhờ hơi men, trong lúc cao hứng, nói như trong một giấc mơ hào sảng. Lắm lúc tôi thấy thẹn cho những anh em cùng lứa, cứ chịu mang tiếng mãi, tuy trong lòng không phải không bị nung nấu.

Hiểu bỗng cười ha hả;

-Lửa đốt! Đốt dụi cả cuộc đời chỉ vì âm ỷ mãi, tấm tức mãi. Có dịp để mà nổ tung lên cùng với tiếng súng thì còn nói gì. Lận đận mãi trong một hoàn cảnh bế tắc, mó tay vào đâu cũng không phải chỗ. Đành chịu mang tiếng, bị chửi rủa, lỡ cả một cuộc sống đáng lẽ hào hứng biết mấy. Cái hồi bọn này thất bại, rút qua biên giới. Sau ba ngày lặn lội, không có lấy một miếng cơm, mưa tầm tã, lạnh thấu xương sống, trước khi leo qua đợt núi cuối cùng cao ngất trước mặt, già nửa anh em trong bọn đã ngồi vật xuống, không còn tinh thần để cố gắng nữa. Thằng Hải–cậu biết nó, phải không?–một tên được tiếng can trường trong bọn, ngước nhìn vách đá sừng sững rồi lắc đầu nói: "Lẽ sống của tao không ở bên kia vách đá, gia đình tao, vợ con tao còn ở Hà nội cả. Cực khổ thêm một ngày nữa, để cũng chẳng tìm thấy một cái gì cụ thể, thật vô ích." Già nửa số anh em đã cùng với thằng Hải ở lại với một mục đích cụ thể là tìm về với gia đình. Chúng nó đã sa hết vào tay Vẹm, không một thằng nào sống sót và gặp gia đình. Được cái đáng mừng là không thằng nào đầu hàng cả, dù có thằng mới cưới vợ được vài ba tháng trước khi đi với anh em. Còn bọn này cố leo qua mỏm núi, lần mò tới Côn minh, với hi vọng tìm tới những gì cao xa lắm, nghĩa là cao hơn thứ gia đình, vợ con một bậc! Kết cục, trở về Hà nội được, tìm lại được gia đình, sau hơn bốn năm lưu lạc bên Tàu. Để bây giờ chưa biết sẽ đi đâu. Bế tắc hoàn toàn bế tắc.

Mộ quay lại ngó Hiểu trong khi Hiểu hăng hái nói. Lần đầu tiên chàng được Hiểu tâm sự như vậy và thấu hiểu nông nỗi của bạn. Chàng đáp:

-Tôi chưa có một chủ đích gì thật rõ rệt nhưng tôi tin rằng sẽ cố gắng để ít nhất tạo được cho anh em một cơ hội ra khỏi bế tắc. Mấy hôm nữa, tôi sẽ đi Sài gòn rồi đi Pháp. Dù có thất bại, tôi vẫn mừng là hi sinh cho anh em.

Tới vũ quán Fouquel’s khách vẫn còn khá đông, toàn thể là quân nhân Pháp. Hai người ngồi ở một bàn còn trống, gần cửa ra vào. Siu đon đả tới tiếp nhưng cũng không săn sóc hai ông khách quen được hơn mọi người khác. Nàng nói:

-Hai anh còn ngồi lâu chứ gì? Em không ngớt tay từ nãy đến giờ!

rồi vội vàng chạy đi, tới tấp bàn nọ qua bàn kia. Một chàng lê-dương, ý hẳn thấy cô hàng đon đả với hai người khách da vàng, lẩm bẩm:

-Hochiminh? Dien-Bien-Phu?

Mộ nói với Hiểu:

-Chúng nó cho rằng bọn mình ai cũng khoái vụ Điện biên Phủ cả!

-Một cú rất đau cho thực dân thật, nhưng không một người quốc gia nà lại lấy làm một dịp thỏa mãn tinh thần yêu nước của mình. Bế tắc: Gia đình, tổ quốc, tín ngưỡng…mọi giá trị đều phải đặt lại giữa thời đại của võ lực.

-Hoàn cảnh éo le đưa dân tộc mình vào tình trạng khó xử. Mở cửa cho thực dân Tàu vào đánh bại thực dân Tây, không khoái vụ Điện Biên Phủ lại mang tiếng là không yêu nước cơ đấy.

-Còn hàng vạn dân công ngã gục dưới những thung lũng quanh khu lòng chảo, họ chết cho ai nhỉ?

-Cho cái tiếng hão mà không ai muốn nhận.

Ngớt tay, Siu tới ghé ngồi bên Hiểu. Nàng mở to đôi mắt đen ngó Mộ:

-Không nhận cái gì hả anh?

Mộ ráng tìm hiểu trong đôi mắt chàng thấy như nặng ý nghĩa, rồi chậm rãi đáp:

-Không nhận món quà Điện Biên Phủ

Ý nghĩa đen lánh trong trong đôi mắt Siu trờ nên lu mờ bớt, nàng đáp:

-Bị đem táng xuống đầu, chả nhận cũng chả được.

Mộ đồng ý:

-Bạo lực biến tính cả đến những tình cảm xưa nay vẫn cho là thiêng liêng nhất.

Một phút qua, Mộ lại thấy tròng mắt của Siu trờ lại đen láy như trước. Chàng hỏi Siu:

-Chủ nhật trước Siu ngủ ngủ bù đến mấy giờ chiều mới dậy?

Đôi mắt không nặng một màu đen nữa và trở nên lấp lóe tinh nghịch, nàng đáp:

-Chả ngủ bù được tý nào, anh ạ. (nhưng nàng lại tiếp) Hay là tại thao thức nên không ngủ được.

Hiểu vẫn ngồi chống tay trên bàn, hai bàn tay chụm lại nâng lấy cằm, bỗng ngửng lên, đưa mắt ngó hai người. Cuộc đối thoại tối nghĩa giữa hai người vẫn tiếp tục.

Mộ:

-Tôi lại tiếc đêm thứ bẩy ngủ nhiều quá. Thành ra ngày chủ nhật cũng thao thức. Siu tròn mắt ngó Mộ:

-Anh tiếc ư?

Quay lại với Hiểu, Siu tiếp:

-Tối thứ bảy trước, ăn cỗ cưới ở nhà anh Lũy. Anh Mộ uống rất nhiều rượu. Em cứ sợ anh ấy về nhà sẽ ngủ gục từ dưới chân thang. Không gục, lại ngủ được mà anh ấy còn tiếc.

Hiểu tạm bằng lòng với lời giải thích của Siu, lại hai tay nâng cằm, ngồi trầm ngâm. Mộ ngó Siu quay ra giải thích với Hiểu, miệng cười láu lỉnh, hai con mắt nghịch ngợm. Chàng cảm thấy bắt đấu ràng buộc với Siu, bắt đầu có một câu chuyện riêng với Siu mà có lẽ cả chàng lẫn Siu đều như muốn giấu mấy người kia.

CHƯƠNG 14/ Trang 266-276

[…]

Không phải Thái không nhận thấy một cảm giác êm ấm ngồi kề với một cô gái mà xưa kia chàng đã từng mê và hiện nay dường như không phải là chàng không thấy yêu. Tuy nhiên, khi câu chuyện của Loan gần tới đoạn mà Loan sẽ tỏ lộ những dự tính tương lai của nàng, Thái bất giác có một ý nghĩ ngài ngại trong đầu. Đúng tâm trạng của một anh chàng trồng cây, bói được một quả mới, nhưng cứ để dành mãi sợ rằng cắn vào sẽ thấy chua. Loan tiếp:

-Em liều trốn ra Hà nội, vì không còn một chút gì ràng buộc em ngoài đó nữa.

Thái ngạc nhiên, hỏi:

-Theo lời anh Biểu, Loan còn có gia đình ở ngoài đó cơ mà?

Loan khẽ chớp mắt rồi đáp:

-Câu chuyện dài lắm, anh ạ. Kể đến bao giờ mới cho hết được! Bây giờ em tứ cố vô thân, có lẽ ngoài vợ chồng anh Biểu em không còn ai là thân thích hết. Bởi thế, nên em mới liều trốn về tìm anh, may ra…gặp được anh…anh sẽ bày cho em được một giải pháp nào. Thấy Thái vẫn ngồi lặng thinh ngắm đôi môi của nàng, Loan hỏi:

-Câu chuyện của em nhiều thứ éo le lắm, kể hết ra sợ anh đến phát ngán…?

-Nếu Loan thấy cần cho tôi hiểu rõ hoàn cảnh của Loan, tôi rất sẵn sàng nghe.

Thế rồi Loan ngồi tỉ mỉ kể mối tình của nàng đối với Siêu. Siêu là đảng viên kỳ cựu, ở hải ngoại về. Hồi trước Siêu có quen với một bà dì của Loan, vì thế mới có sự gặp gỡ. Loan vào đảng cộng sản vì quen rồi yêu Siêu. Siêu phụ trách một tổ chức tình báo của bộ đội Việt Cộng. Muốn gần Siêu, Loan cũng xin được công tác trong tổ chức đó. Khi có lệnh phải ám hại những sĩ quan không quân Pháp ở trong thành, Loan được cử đi. Chính Siêu đã nhiệt liệt phản đối việc tuyển lựa Loan nhưng ngặt vì hồi ấy không có ai khả dĩ đảm đương được công việc đó, Siêu đành phải cắn răng để cho Loan vào Hà nội. Chỉ thị ở trên thì bảo dù phải hi sinh thế nào Loan cũng cố thi hành cho tròn nhiệm vụ. Siêu lại căn dặn Loan dù sao cũng cố giữ gìn cho hắn. Hai má Loan ửng đỏ:

-Kiểu dặn dò của Kim Trọng: "gìn vàng giữ ngọc cho hay’"

Loan cũng tự nguyện sẽ đem hết tài trí ra để vừa được bụng chàng lại tròn nhiệm vụ. Không may cho Loan, về tới Hà đông thì gặp ngay một thằng quỷ sứ Phòng Nhì nổi tiếng. Nó giữ Loan lại chỉ vì nhan sắc của Loan. Bao nhiêu vàng ngọc của Siêu bị mất toi từ đó! Loan hết sức hoang mang sau cái biến cố ghê gớm ấy. Loan cảm thấy thất vọng, chán nản quá sức, không còn muốn làm một việc gì nữa. Sau đó bắt được liên lạc với ngoài, lần lần Loan trở lại bình tĩnh và bắt đầu tính kế hoạch thi hành nhiệm vụ. Loan có vấp phải một cái dại nên về sau này càng chìm đắm không sao ngoi ra thoát được. Trong một lúc chán nản nàng đã viết cho Siêu một bức thư. Trong thư Loan nói hết nông nỗi đã gặp khi về gần tới Hà nội. Đặc biệt nhất là tên Cộng sản kỳ cựu là Siêu lại không chủ trương cộng hóa một thứ tư hữu mà hắn coi là thiêng liêng. Sau đó hắn chỉ coi Loan như một cán bộ khác dưới quyền. Công việc của Loan kéo dài hàng năm chưa thành tựu. Đồng thời, không hiểu vì lẽ gì, Loan bắt đầu thấy bén mùi Hà nội, đòi được căn nhà cũ của cha mẹ, đi kiện để lấy lại ruộng của nhà bị chiếm hữu vô quyền. Ngoài kia nhận thấy Loan có bề xao lãng nên cử thêm một cán bộ khác tới tiếp tay Loan. Cán bộ này là một con đĩ chính cống, nó vừa phụ giúp Loan trong công việc, vừa xô đẩy Loan vào con đường phóng đãng. Loan nhất định tin rằng đó là do chỉ thị của Siêu và hắn cho rằng làm như thế là để giúp Loan dạn dĩ thêm trong công việc. Nhưng thực ra chính là tên Siêu đã thù Loan không khéo "gìn giữ" cho nó, nên nó phá bĩnh. Loan như một hòn bột bị nhào nặn, rồi sau cùng hóa ra một thứ người ê chề đủ mặt. Tuy vậy đôi khi còn có những lúc lương tri le lói. Con cán bộ bên cạnh Loan dường như đã báo cáo rất xấu về Loan, khiến cho ngoài ấy tên Siêu định tâm sẽ dùng Loan làm vật hy sinh. Việc đặt mìn ở câu lạc bộ không quân đâu có phải do tay Loan mà chính do tay mụ cán bộ kia và một số nhân viên khác do ngoài kia gửi về. Sau khi thành công , bọn kia trốn hết và Loan nhận được một bản án kết tội Loan đã mọc đuôi tư sản, xa lánh nhiệm vụ. Muốn chuộc tội Loan phải nhận hết tội phá hoại tại câu lạc bộ không quân về mình. Người mang thư còn nói rằng gia đình của Loan ngoài đó đã bị câu lưu rồi, nếu Loan cung khai sự thật, phá vỡ tổ chức tình báo của họ ở Hà Nội thì cả gia đình của Loan ở ngoài đó sẽ chịu tội thay cho Loan. Bản án đó do chính tên Siêu ký tên.

Ngừng một phút, Loan lại tiếp:

-Hiện nay hắn ta không giữ nhiệm vụ đó nữa. Gia đình của em thực sự đã bị thủ tiêu từ lâu vì bị khép vào tội liên lạc do em thủ mưu. Đó là tất cả đầu đuôi câu chuyện và anh cũng nhân đó đã hiểu tại sao khi còn bị giam, em không thể nghe lời anh mà phản cung. Chuyện gia đình em bị giết cả, em mới biết hồi sáng hôm nay, nhân gặp một người quen.

Trong khi Loan kể, Thái có cảm tưởng như coi ngược lại một cuốn phim, những tình tiết lần lần sáng tỏ hết. Những tình tiết thật là nặng nề khiến chàng như muốn lảo đảo say. Chàng càng thấy thương Loan nhiều hơn. Nhưng tìm được cho Loan một giải pháp để xây dựng tương lai, chàng tự nhận quả thật là khó, nhất là trong cái tương lai đó Loan lại muốn có chàng cùng dự.

Loan ngồi ngó ngây Thái rồi hỏi:

-Trước khi nhờ anh bàn cho một kế thoát, em muốn hỏi thẳng anh một điều: anh đã có gia đình chưa?

Trong một thoáng giây Thái cảm giác như một người bị đắm tàu chợt trông thấy thấp thoáng ở tầm tay màu xanh màu vàng của một chiếc phao. Chàng cũng đủ bình tĩnh để có một bộ mặt nghiêm trọng và đáp:

-Tôi sắp có đứa con thứ hai.

Thái cũng kịp ghi nhận một nét buồn tưởng như đau nhói lướt qua trong mắt Loan Loan cười ròn rã và đáp:

-Em đoán quả không sai. Sự thực em đã có một giải pháp sẵn sàng rồi, không phải nhờ tới anh đâu. Sở dĩ em mời anh lại chơi vì em nghĩ thấy tội nghiệp cho cả anh lẫn em. Chúng mình có yêu nhau thật mà cùng ngang trái cả. Em chẳng qua chỉ là một con đĩ, dù bất đắc dĩ, yêu anh, em không đời nào lại nghĩ đến làm vẩn đục cuộc đời anh. Em sẽ trở ra ngoài ấy và tiếp tục cuộc phiêu lưu. Chúng mình gặp nhau hôm nay, lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng, em sung sướng đã được anh ôm trong tay, và bây giờ em chỉ xin anh một việc, cũng như hôm qua xin anh bao thuốc lá. Anh hôn em chỉ một lần thôi, cho em giữ mãi mãi cảm tưởng đã là của anh rồi.

Loan ghé lại gần Thái, chàng nâng cằm Loan lên, ngắm rất lâu cặp môi chờ đợi. Thái tin tưởng rằng ở trong đời có lẽ không bao giờ chàng có thể cho ai một cái hôn tha thiết mà đắng cay hơn.

CHƯƠNG 19/ Trang 310-317

Màn hạ xuống rồi, Siu còn đứng giữa sân khấu, hai con mắt chằm chằm ngó thẳng trước mặt. Làn sóng tiếng vỗ tay vang vang bên tai, nhưng nàng không nghe thấy, một mình lẩm bẩm:

-Cố gắng đến đứt hơi, chỉ vì ai…

Khi nàng thét lên tiếng cuối cùng và màn từ từ hạ, Siu đứng quay ra phía khán giả còn kịp thoáng thấy qua hai cánh màn gần khép, Mộ ngồi ở hàng ghế đầu, đương nghển cổ lên ngó nàng. Thế là đủ rồi, bao nhiêu gắng công tập luyện, bao nhiêu hơi sức, chỉ cần được người yêu chứng kiến. Nàng tự hỏi rồi Mộ sẽ đền cho nàng như thế nào mới xứng đáng. Mọi người chạy xô lại phía nàng: Lũy, Đang, các diễn viên khác rồi tới Thái. Nàng cố ghé mắt tìm Mộ nhưng không thấy. Thái tới bên nàng ngỏ lời khen:

-Hôm nay tôi mới thấy mãnh lực của văn nghệ như thế nào. Cô Siu hôm nay chửi bố cộng sản tôi nghe thích nhất.

Siu cười không đáp. Lũ hỏi:

-Tên Mộ đâu? Ban nãy đứng trong màn trông thấy hai thằng rất diện, khật khưỡng đi vào, tao thấy yêu chúng mày quá. Phải diện như thế mới biết là xem kịch.

Thái đáp:

-Nhưng mà nóng bỏ mẹ…Thằng Mộ sang bên quán ở trước cửa. Tao vào rủ mày và tất cả anh em sang bên ấy uống một chầu mừng sự thành công đêm nay.

Siu đã cảm thấy có chút gì nhoi nhói trong ngực. Nàng nghĩ thầm:

-Thế mà không chạy vào khen nhau được một câu!

Mọi người từ chối uống rượu, rủ nhau đi kiếm món gì ăn. Chỉ có Đang và Lũy theo Thái sang bên quán. Người sau cùng là Siu.

Trông thấy mấy người tới, Mộ lè nhè:

-Ta có lời ban khen tất cả, chơi được lắm.

Rồi chàng mải mê với ly rượu. Siu tự nhủ:

-Không cả ngó đến mình một cái nữa.

Mọi người xúm lại, vừa uống rượu vừa bàn tán lao xao về đêm kịch. Ông chủ quán ra rót rượu cho khách và hỏi thăm về kết quả đêm kịch. Mộ quay ra lè nhè tiếp chuyện lão Tây già. Siu vẫn ngồi yên không nói. Nàng chợt bưng lấy ly rượu và nốc một hơi già nửa. Lũy trông thấy, quay lại:

-Siu khát nước lắm phải không?

Nàng gật. Lũy lại hỏi:

-Gọi cái gì cho đỡ khát nhé?

Siu lắc đầu, đáp:

-Uống rượu thú hơn anh ạ. Cho em một ly nữa đi.

Rồi nàng bưng cốc uống ngụm thứ hai hết sạch. Lũy vẫn ngó Siu, coi bộ phân vân về thái độ hơi khác lạ của Siu. Rồi chàng tự nhủ:

-Say ánh đèn sân khấu. Lần đầu tiên, lại thành công, ai chả vậy.

Siu vẫn ngồi lầm lỳ, không nói. Nàng uống hết ly rượu thứ hai. Thái đứng lên, đề nghị:

-Nên giải tán thì vừa, xem chừng ai nấy đều mệt, có vẻ buồn ngủ cả.

Lũy cãi:

-Chính những đêm tân kịch như thế này kéo nhau rong chơi mới thú, nhưng dạo này khó lòng hi vọng còn chỗ nào bán ăn nữa. Bận quá, vợ con đi cả rồi, chính ra phải có một chầu cháo gà mới đúng.

Thái trả tiền rượu xong, mọi người chia từng tốp ra về. Lũy nói:

-Siu về cùng đường với Mộ nhỉ? (Với Mộ) Chịu khó đưa đào nhất của tao về nhé. Lên sân khấu có một chuyến Siu đã thành cây tiền của ban kịch rồi đấy.

Không có xe, Siu và Mộ men theo hè thủng thẳng đi bộ về nhà. Mộ đi bên Siu, bỗng hỏi:

-Siu mệt hay sao, lầm lỳ không nói?

Siu ngước đôi mắt lên ngó Mộ, ánh đèn ở giữa đường long lanh giữa tròng mắt đen. Nàng đáp:

-Mệt đến đứt hơi,anh ạ.

Mộ cười xòa:

-Các thứ nghệ sĩ lôi thôi quá! La lối vừa vừa thôi chứ.

Siu nói:

-Đứt hơi vì anh đấy.

Mộ nín lặng, không đáp. Siu lại hỏi:

-Vài ba hôm nữa đã phải đi rồi. Anh tính sao?

-Đành là rút. Muốn ở lại cũng chả được. Tôi sẽ ở lại Hải phòng trong ít lâu.

-Em tưởng anh nên đi Sài gòn luôn? Các anh ấy đi Sài gòn cả? Đi Sài gòn với em, anh ạ.

Mộ vẫn chưa nhận thấy giọng tha thiết của Siu, chàng vẫn đùa:

-Đi với em sao được, về mẹ đáng chết!

Siu nắm lấy tay Mộ:

-Anh? Chúng mình phải tính chuyện đứng đắn đi, anh ạ.

Mộ vẫn đùa, hay cố làm ra thế, chối đây đẩy:

-Nói chuyện đứng đắn là tôi chạy.

Siu đã thấy sốt ruột:

-Anh Mộ! Lần nào nói chuyện đứng đắn với anh, anh cũng giở cái giọng bông đùa không phải chỗ. Chúng mình phải tính với nhau đi. Em thấy em không bỏ được anh đâu.

Mộ đã nhận thấy câu chuyện không thể đùa cợt được nữa. Hai người tới trước cửa nhà Siu. Siu ngừng lại, với Mộ:

-Chị Hélène đi Sà- gòn rồi, em ở nhà có một mình. Anh lên chơi rồi chúng mình bàn chuyện dứt khoát với nhau. Chúng mình không thể cứ như thế này mà kéo dài mãi. Khổ lắm anh ạ.

Mộ nắm lấy tay Siu:

-Biết làm thế nào được. Anh còn trăm chuyện phải lo chưa đâu vào đâu cả, bụng dạ nào mà tính chuyện riêng của mình được.

Siu sốt sắng:

-Em hiểu. Em không bắt anh lo đâu, miễn là anh đồng ý.

Mộ hỏi:

-Em hiểu thế nào? Lo ra làm sao mới được chứ?

Siu lại bắt đầu bực mình:

-Anh cũng đến là hay làm bộ ngớ ngẩn. Em hiểu rằng anh nhiều chuyện bận tâm quá, anh lo chuyện của chúng mình không được. Để một mình em lo cũng xong. Em đã nhờ chị Hélène vào Sài gòn trước kiếm hộ em một cái nhà. Em có một số vốn tạm đủ, chúng mình xây một cái tổ xinh xinh…

Mộ vụt hiểu thấu đáo ý định của Siu, chàng sửng sốt:

-Vào Sài gòn, thuê nhà, ở với nhau?

Siu vòng tay ôm lấy cổ Mộ, nũng nịu:

-Chứ sao. Anh bận suốt ngày thì để em lo cho chứ sao?

Mộ bỗng cười lên sằng sặc:

-Khổ lắm! Khổ lắm!

Và chàng gỡ taySiu ra, nói tiếp:

-Đùa cũng đùa có chừng hạn thôi chứ? Ai bảo em tính chuyện dấm dớ thế?

-Thì chính anh đã chằng bảo em cứ lo đi là gì?

Mộ lại cười:

-Lo là lo cho em ấy chứ, tại sao lại đem anh dính vào đó?

Siu không hiểu mà cũng như chợt hiểu. Nàng hỏi:

-Thế ra từ trước tới nay anh vẫn đùa ư?

Mộ thản nhiên:

-Chẳng đùa mà cũng chẳng thật. Chính Siu đùa thì có.

Siu bỗng lùi lại, tựa lưng vào cánh cửa. Nàng nói với Mộ, rất buồn:

-Thôi anh về đi. Em hiểu rồi. Tại em ngu quá.

Nàng đưa tay ra. Mộ nắm một bàn tay lạnh buốt, rồi chàng quay lại, đi thẳng. Siu đứng ngây, ngó Mộ đi khuất vào bóng tôi. Một lần nàng đã nhoai người ra tính gọi Mộ, nghĩ sao nàng lại thôi.

Siu đứng đó một lúc lâu, rồi nàng bỗng xăm xăm đi xuống đường, rảo bước ra đầu phố. Đi một quãng xa, gặp một chiếc xe nàng gọi lại, bảo đạp về Hàng Buồm. Ngồi trên xe, hai co mắt nàng trân trân ngó về phía trước, không chớp. Tới đầu Hàng Buồm, nàng đỗ xe lại. dúi vào tay bác phu xe một tờ giấy bạc không biết là bao nhiêu. Nàng bước đi rất vội, tới gõ cửa nhà lão Wồ. Một chú khách già, tay cầm cái điếu thuốc bào, ra mở cửa. Lão đưa Siu vào mãi tận nhà trong, mở một cánh cửa ngách. Siu qua một cái sân rộng, tới một căn nhà mới làm, coi bộ sạch sẽ khác hẳn khu nhà vừa đi qua. Vừa tới cửa, nàng nghe tiếng Wồ hỏi:

-Cô Siu hả? Tôi mong cô cả ngày hôm nay. Siu bước vào thấy Wồ ngồi trên ghế bành, đua mắt hau háu ngó nàng. Wồ chỉ một chiếc ghế trước mặt:

-Mời cô ngồi chơi.

Rồi hắn thò tay ra phía sau với lấy một gói giấy nhật trình đưa cho Siu. Siu cầm lấy gói bạc, mở ra xem. Nàng yên lặng không nói rồi bỗng hắt tung những tập giấy bạc vung vãi dưới đất. Wồ kinh ngạc ngó nàng. Siu bỗng lắc đầu nói:

-Bây giờ lại không cần tiền nữa…nhưng cần…cần..

Nàng vụt cười thét lên lanh lảnh, nhảy bổ vào người Wồ:

-Anh Wồ ơi! Em yêu đôi mắt..ti hí mắt lươn của anh quá! Ha! Ha!…

***

Suốt ngày hôm sau, Đang và Lũy đến nhà kiếm Siu hết thảy ba lượt. Lần thứ ba mới gặp một ả-xẩm cho biết cả đêm hôm qua không thấy Siu về nhà. Hai người quay đi, ả xẩm còn nói:

-Chắc cô ấy ở lại, quần áo, đồ đạc vẫn nguyên như cũ.

[…]

          TÌNH THƯƠNG TRONG NGOẶC KÉP - Mặc Đỗ
                                  (Trong tập "Tân Truyện II" của Mặc Đỗ)

Khi nhân viên cảnh sát hay tin bằng điện thoại ập tới thấy người con gái nẳm sóng soài, úp sấp, chết nơi sân sau ngôi biệt thự, máu chảy một dòng từ miệng, một dòng khác từ lỗ tai bên trái có những sợi tóc lòa xòa che khuất. Người con gái tóc dài tới lưng, bận quần đen và áo cánh trắng. Theo gương mặt, tuổi người chết độ ngoài hai mươi, chưa tới hai mươi lăm. Gương mặt hiền, dông bão phảng phất trên nước da tái xanh của người con gái không quen mà đã chịu sóng gió bên ngoài gia đình. Sự chết chưa biến đổi bao nhiêu cái thân xác còn tươi. Những người trong nhà cho biết cô gái từ sân thượng lao xuống không hiểu vì nguyên do nào; vào giờ đó cô gái có những công việc phải làm, không lý gì bỏ lên chơi trên sân thượng đến nỗi hụt cẳng té chết. Cô gái là người làm công trong nhà.

Trước đó không đầy nửa giờ, chiều tối, cô con gái bà chủ ngồi tiếp chuyện cậu bạn trai ngoài phòng khách. Chị bếp nghe chuông reng chạy ra mở cổng: ông chủ làm việc tại một thành phố miền Trung về chơi. Lát sau có tiếng chuông reng nữa, chị bếp lại chạy ra: cậu Hai tình cờ cũng được nghỉ phép về. Bà chủ đang đánh bài tại một nhà gần đó hay tin chồng con cùng về chơi một lượt, bỏ cả bài, tất tả, mừng rỡ chạy về.

Cả nhà tíu tít vui vẻ ngoài phòng khách. Cô gái, vì là người mới chưa hiểu công việc trong nhà, cứ yên lặng ủi nốt đống quần áo hằng ngày. Chị bếp ở nhà trên đi xuống bảo cô gái hãy dẹp chuyện ủi đồ lại, chạy lên lo lấy nước hơi, ly, đá, có mấy chai rượu trong tủ cứ đưa ra tuốt, ông chủ, cậu Hai đòi uống rượu vui, bà chủ và cô Ba không uống rượu, lấy nước ngọt vài thứ đưa ra sẵn. Cô gái theo lời chị bếp rút dây điện, thu xếp bàn ủi và các thứ trên mặt bàn cho gọn rồi chạy lên nhà trên. Tò mò cô gái hé cánh cửa ngó ra phòng khách… Ba lần cô gái khựng lại, thò đầu ra rồi khựng lại, gương mặt hốt hoảng, kinh dị. Trong khi tiếng nói cười vui vẻ từ phòng khách vọng vào cô gái tính chạy xuống sân lại thôi. Một giây sau cô gái chạy vút lên cầu thang. Tiếng ồn ào vui vẻ ngoài phòng khách chen lẫn với một vài tiếng thổn thức nấc lên do cô gái hối hả chạy trên những bực thang.

Chị bếp đang lúi húi lo bữa ăn đông người bất thường bỗng nghe thấy một tiếng rớt nặng, mềm ướt giữa sân sau, chị bếp ngoái cổ ngó ra sân, chưa nhìn thấy rõ, bước đúng hai bước về phía cửa chị bếp đã thấy rõ và bật một tiếng la bải hải. Nhà trên bặt tiếng chuyện trò vui vẻ, mọi người theo nhau chạy xuống. Ông chủ nhanh chân tới trước nhất, vội chạy lại, ghé ngồi xuống, nâng đầu cô gái nằm sóng soài dưới nền xi-măng, ông chủ chăm chú ngó tới hai lần gương mặt cô gái mới thốt lên: " Ủa ! Con nhỏ đó !" Như có một sức hút kéo lại, cậu trai bạn của cô con gái bà chủ cũng lao tới quỳ một chân ghé xuống bên gương mặt được ông chủ nâng bằng một bàn tay và cũng la lên: "Trời ơi! Chị Vân!" Cậu Hai chậm chân đi tới sau lưng bà mẹ, nghe tên Vân cũng vội chạy đến, chỉ một thoáng giây ngó qua gương mặt cô gái chết người con trai bổ nhoài xuống đất ôm lấy cái xác, nức nở khóc không ra tiếng.

Ông đại úy cảnh sát, trưởng phòng Hình cảnh, cùng với một toán nhân viên khác tới sau toán cấp cứu chừng mười phút, khi nhận được điện thoại cấp báo. Nghe lời khai của chị bếp và của những người khác trong nhà ông đại úy đưa con mắt suy nghĩ ngó quanh một vòng rồi nói:

"Tôi rất tiếc phải mời tất cả quý vị về Quận. Giờ này tôi còn đủ nhân viên làm việc, chúng tôi sẽ chia nhau lấy lời khai của quý vị một lượt. Có phải chịu đói tới khuya xin quý vị cảm phiền, tôi phải làm nhiệm vụ của tôi."

Đây là lời khai riêng của từng người trong nhà ngay buổi tối hôm đó tại quận cảnh sát.



Tôi tên là Y.Y.Y., 50 tuổi, nghề nghiệp làm bếp. Tôi ở làm cho ông bà chủ tôi đã hơn mười năm, cùng với một con nhỏ tên Lài, Nguyễn Thị Lài, nó vô làm sau tôi nhưng cũng được hơn sáu năm, tháng trước nó xin thôi việc để về lấy chồng. Còn lại một mình tôi phải làm cực quá, tuy ở nhà chỉ có bà chủ với cô Ba. Bà chủ cũng lo kiếm người phụ cho tôi nhưng kiếm không ra. Hồi này kiếm người làm không dễ như hồi trước. Cách đây đúng năm bữa tôi đi chợ Sàigòn tình cờ gặp con nhỏ Vân. Nó không tính đi kiếm việc làm, trông nó hiền, dễ thương, xinh xẻo, coi bộ có thể hợp ý cô Ba, cô Ba khó tánh lắm, người làm xấu xí không sạch sẽ cô Ba không chịu, tôi hỏi nó có muốn đi làm không. Con nhỏ như vừa bị một chuyện gì khổ sở lắm cho nên hãi sợ hết mọi thứ, nó không tin tôi, cứ hỏi mãi có thật tôi rủ nó đi làm công ở trong nhà người ta hay làm công chuyện gì khác. Tôi bảo nó nếu cần kiếm việc, muốn làm thì theo tôi về nhà bà chủ, nếu bà chủ với cô Ba có ưng mới được chứ chưa chắc đã được làm, cứ vô nhà, coi nhà thì thấy là chỗ tử tế, không ưng bụng thì thôi tôi đâu có ép.

Nó theo tôi về nhà, bà chủ với cô Ba cũng chấp thuận nó, lương năm ngàn một tháng, bà chủ cho ăn ở, công việc phụ giúp tôi, nhưng đặc biệt lo sạch sẽ nhà cửa đồ đạc, giặt ủi, thế thôi, thỉnh thoảng cô Ba sai vặt chạy đi mua cóc mua ổi. Con nhỏ có giấy tờ đàng hoàng, cha chết, còn mẹ, có một em trai đi học, quê ở Trảng Bàng, bà mẹ vẫn ở đó.

Vì nó là người mới, lại do tôi đưa vô, tôi có trách nhiệm, đêm tôi giữ nó ngủ chung với tôi, tuy con nhỏ Lài trước nó có chỗ ngủ riêng, tôi tính nếu xem chừng tin cậy được mới để nó ngủ riêng, vì nhà vắng chỉ có mấy người đàn bà, hồi này lôi thôi lắm, ban đêm nó mở cửa cho trộm cướp vô thì sao. Nằm chung với nó tôi có hỏi chuyện nhưng nó chỉ nói sơ qua. Mãi đêm hôm qua thấy tôi thương nó thật tình như con nó mới cho biết nhà mẹ sa sút vì phải lo cho thằng em ăn học mà thằng nhỏ ở Sàigòn tiêu xài quá, đua chúng bạn, lợi tức của nhà không đủ. Cách đây hai tháng thấy cảnh nhà quá thiếu mà đứa em lại hư, có người quen mướn ra Qui Nhơn coi sóc hai đứa nhỏ học tiểu học, được nuôi ăn ở, mỗi tháng mười lăm ngàn lương riêng. Con nhỏ nói với tôi có đi học tới đệ tam. Nhưng ra đó có xảy ra chuyện chi không vui nên phải bỏ về. Tôi cố gạn hỏi nhưng nó không nói, bảo rằng chuyện buồn chả nên nói. Tôi có hỏi tại sao không về Trảng Bàng với mẹ, nó nói vì mắc cở với mẹ, mẹ nó cứ ngăn không cho đi Qui Nhơn, nó không nghe, bây giờ lỡ việc trở về nó mắc cở quá, thà đi làm ở Sàigòn ít lâu có tiền gửi về cho mẹ còn hơn. Nó vẫn giấu chưa cho mẹ biết vụ thất bại ở Qui Nhơn.

Tội nghiệp không hiểu tại sao khi không nó té chết như vậy. Tôi không nghĩ là nó tự tử, vì suốt năm ngày nay có buồn, có vẻ hoảng hốt đôi lúc, nhất là ban đêm nằm cạnh tôi, nhưng nó không có vẻ gì muốn chết. Chính nó có nói phải ráng ăn uống cho khoẻ đặng làm việc được, có tiền gửi về cho mẹ. Ban chiều ông chủ với cậu Hai về, tôi ra mở cửa. Mắc lo bữa ăn thêm người, sợ không kịp, tôi mới bảo nó lên nhà trên lo rượu với nước uống. Nó vừa bỏ đồ ủi chạy lên không tới mười phút thì tôi nghe nó rớt cái bịch từ sân thượng xuống. Nó không có công chuyện chi phải lên tới sân thượng, lau cầu thang, lau sàn nhà ở phòng trên lầu hai thì có nhưng không phải lên tới sân thượng, phơi đồ cũng phơi ngay trên nóc nhà xe, giờ đó đâu có việc gì ở tận sân thượng. Từ năm bữa nay tôi dám chắc nó chưa hề bước ra chỗ sân thượng nữa.



Tên tôi là X.X.X., 49 tuổi, nội trợ. Nhà tôi đi làm việc ở tỉnh lâu lâu mới về, mọi việc ở nhà đều do tôi quyết định. Bao lâu tôi vẫn có hai người làm, một chị bếp và một nhỏ con gái lo công việc vặt. Chị bếp làm với tôi từ lâu. Tháng trước tôi cho con nhỏ kia thôi việc để về xứ vì lý do riêng trong gia đình của nó. Thiếu người làm tôi có kiếm người thế mà kiếm chưa được. Bữa thứ hai trước chị bếp đi chợ Sàigòn có đưa về con nhỏ này, tôi thấy nó có giấy tờ đàng hoàng cấp tại Trảng Bàng, coi bộ dễ thương, tôi cho ở lại làm thử, lương tháng năm ngàn. Hồi này kiếm người làm là một chuyện rất mệt tuy không thiếu người xin làm. Ra chợ Sàigòn kêu về cả chục người cũng có nhưng hiếm có người làm tốt, cho nên khi thấy chị bếp nói gặp con nhỏ ở chợ tôi đã ngại không muốn. Để cho nó làm thử ít bữa thì thấy cũng được, vì vậy tôi mới giữ nó cho tới hôm nay.

Con nhỏ ngoan ngoãn, siêng việc, nhưng nét mặt hay buồn. Tôi nhận thấy có những lúc nó bình thường và có những lúc như nó muốn sịu xuống vì buồn. Tôi có nói với chị bếp và con gái tôi rẳng con nhỏ có tâm sự gì buồn lắm, e rằng nó không làm được lâu. Hôm qua chị bếp có nói cho tôi hay con nhỏ buồn là vì muốn đi làm xa giúp đỡ má nó nhưng việc không xong phải trở về, nghe nói nó có được đi học tới hết đệ tam rồi vì nhà nghèo phải bỏ dở học. Gia đình chúng tôi rất quý những người có học, vợ chồng tôi có hai đứa con, mong mỏi chúng chăm chỉ học, đỗ đạt hơn ba chúng, không dè thằng Hai học hành dở dang tới tuổi động viên phải đi lính, con bé em có thừa khả năng, thừa phương tiện học hành, cũng ham chúng bạn ăn diện, dong chơi nhiều hơn là học. Tôi đang buồn vì con, nghe nói con nhỏ ham học mà nghèo không học tiếp được tôi thấy thương lắm, định bụng chờ cho nó làm ít lâu xem có thật là ngoan ngoãn ham học tôi sẽ giúp đỡ cho nó học lại, thấy nó có ăn học mà bắt làm việc cơ cực tôi không nỡ. Tôi có dặn chị bếp thử dò hỏi xem tâm sự của nó ra sao, tôi sẵn lòng giúp đỡ nếu nó cần.

Ngay từ trước khi hay biết con nhỏ như vậy tôi vẫn xử đối với nó như mọi người làm khác, hơn nữa tôi còn bảo chị bếp vì nó là người mới đừng bắt lo những công việc nó chưa quen. Trong năm ngày ở trong nhà tôi công việc gì đối với nó tôi cũng coi như đang lúc tập làm, tôi không hề rầy la một tiếng. Như tôi đã nói, công việc làm của con nhỏ khá chu đáo. Tôi có thể nói chắc ở nhà trên đối với tôi và con gái tôi cũng như dưới bếp đối với chị bếp, trong năm ngày nay không có một chuyện gì xảy ra đến nỗi con nhỏ buồn mà phải tự tử như vậy. Vâng, tôi tin rằng nó tự tử, vì không lẽ gì vào giờ đó đang bận công việc mà nó lên chơi trên sân thượng để lỡ té chết. Tôi nghĩ rằng nó có ý định tự tử từ trước, gặp bữa đó chồng tôi, con tôi ở xa về cả nhà đang mắc tíu tít nói chuyện, chị bếp mắc lo nấu ăn dưới bếp, nó nhân cơ hội cắt lẻn lên lầu, lên sân thượng mà lao mình xuống đất. Đó là ý nghĩ của tôi, nhưng tôi không thể giải thích tại sao con nhỏ lại chọn cách đó, muốn chết đâu có thiếu gì cách. Báo hại tôi, nó chết trong nhà tôi, ngay giữa sân, tôi sẽ phải lo cúng kiếng cách nào giải oan cho linh hồn nó. Tôi không biết mẹ con tôi có dám ở trong ngôi nhà đó nữa hay không, ngôi nhà vợ chồng tôi mua được đã hơn mười năm nay, đang sống yên ổn.



Tôi tên là V.V.V., 20 tuổi. Bữa chị bếp đưa chị ở mới về có tôi ở nhà, lúc đó khoảng hơn chín giờ, tôi mới ngủ dậy, đang ăn sáng ở bàn, tôi có nghe má tôi hỏi chuyện chị ta. Công việc ở trong nhà hoàn toàn do nơi má tôi định đoạt hết, tôi không bao giờ biết tới. Tôi chỉ đòi nơi má tôi một điều kiện là trong một gia đình đàng hoàng không thể có những người làm xấu xí quê kệch, chưng diện một chút càng tốt nhưng vẫn phải giữ đúng vai trò người làm. Tại tôi đòi hỏi như vậy cho nên cho chị ở trước nghỉ cả tháng nay không kiếm được người thay thế. Tôi coi chị ở mới này đã có thiện cảm ngay từ đầu, trông chị ta xinh xắn, nét mặt dễ thương, tiếng nói cũng dễ thương, tôi chịu không được mấy người có máu đàng Thổ, tiếng nói khó nghe lắm. Má tôi trước khi nhận cho chị ta vô làm có đưa mắt hỏi ý tôi, tôi gật đầu chịu. Vì chị ta coi được, thế thôi.

Tôi đi vắng nhà hoài, công việc ở trong nhà chẳng mấy khi tôi biết tới. Tôi có nghe má tôi hai ba lần khen chị ở mới với tôi, má tôi bảo chị ấy ngoan, siêng năng, biết giặt đồ rất sạch, ủi đồ thẳng nếp, chỉ có một tội là tại sao thỉnh thoảng nét mặt chị ấy buồn rười rượi, đôi khi có vẻ hốt hoảng sợ hãi nữa. Má tôi cho rằng chị ấy có tâm sự gì u ẩn. Còn lâu tôi mới quan tâm tới tâm sự của người khác, cho nên nghe má tôi nói tôi cũng biết vậy, không có ý kiến. Nuôi người làm trả lương cao cho người ta sốt sắng làm, mình là chủ chỉ cần công việc của người ta lo đầy đủ cho mình, còn tâm sự của người ta hơi đâu mình quan tâm. Với lại tâm sự của mình có ai biết tới đâu mà lo tâm sự của người khác.

Chiều hôm nay, anh bạn thân của tôi tới chơi từ lúc bốn giờ, má tôi mắc đánh bài bên nhà lối xóm, tôi ở phòng khách, cho chạy băng nhạc cùng ngồi nghe với bạn. Rồi ba tôi ở Qui Nhơn về, hai phút sau tới anh Hai tôi ở Huế cũng được nghỉ phép về tới. Tôi bảo chị bếp chạy qua mời má tôi về, cả nhà xum họp vui vẻ chưa được mười phút thì nghe tiếng chị bếp la dưới sân: "Chết ! Người chết !" Chúng tôi hoảng kinh ào xuống sân sau thì thấy chị ở mới nằm chết đó. Tôi chẳng hiểu chi hết. Tại sao có thể chết dễ dàng như vậy được ? Cuộc đời đáng sống lắm chứ, chuyện buồn nào mà chẳng qua đi, tại sao lại đi tìm cái chết, chết thê thảm như vậy mới lạ kỳ nữa.

Khi nãy tôi hoang mang chẳng suy nghĩ chi hết, chỉ tự hỏi tại sao chị ta lại chết như vậy. Tới đây ngồi suy nghĩ thêm tôi có thể cho rằng chị ta lén lên lầu, lên sân thượng chơi, rồi lỡ té chăng. Đứng trên cao quá có thể thấy choáng váng té được lăm chứ. Trên sân thượng có một lần tôi mở bum, chăng đèn kết hoa nhưng không succès bao nhiêu, với lại lối xóm thấy làm ồn có phàn nàn với má tôi, sau này lại cấm nhảy, thành ra tôi không tổ chức lần nào khác trên sân thượng. Hằng ngày chẳng ai lên đó, cả tháng chẳng ai đặt chân lên đó, trừ ra những khi ba tôi về, ông thấy không khí Sàigòn ngộp quá, buổi tối hay lên đó bắc ghế ngồi nói chuyện với má tôi.



Tôi tên là U.U.U., 26 tuổi, trung úy trừ bị trong quân đội VNCH. Cách đây chừng hai tháng, khi đó tôi làm việc tại một chi khu gần thành phố Qui Nhơn, nơi ba tôi là y sĩ trưởng một bịnh viện công. Thỉnh thoảng tôi về Qui Nhơn thăm ba tôi. Cách đây chừng hai tháng, tôi nhớ là một chiều chủ nhật, ba tôi mắc đánh bài mã tước với mấy ông bạn, không muốn ở nhà một mình, tôi thả bộ dạo chơi trong thành phố. Lát sau tôi ghé một quán nhỏ mang cái tên ngồ ngộ “Trăng Thu.” Trong một vùng ánh sáng nửa tối nửa sáng, có nhiều bàn nhỏ, ghế thấp, những người trẻ tuổi tụ họp từng bàn uống trà, cà-phê, bia chai hay bia hộp, hoặc những thứ giải khát khác, và nghe nhạc, những bản nhạc thời thượng, do những ca sĩ nổi tiếng hát và được thâu băng.

Không gặp ai quen, tôi ngồi một mình uống cà-phê trong góc quán, đối diện với chiếc quày nhỏ nơi thâu tiền. Một mình tôi hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác, thả nông nỗi chán phè của một chiều chủ nhật cô đơn qua khói thuốc, chờ sáng mai trở về đơn vị. Tôi không nhớ tại sao và từ một giây phút nào tôi chợt chú ý tới cô gái ngồi thâu tiền ở trước mặt. Tôi chú ý tới một nét buồn kỳ lạ trên gương mặt cô gái. Không buồn cô gái đã có một vẻ hiền, ngoan, dịu dàng hiếm có, thêm nét buồn cô gái trở nên một thỏi nam châm thu hút những người con trai như tôi ngồi một mình đếm những giây phút qua đi chẳng có việc gì làm, chẳng có ý nghĩ nào vương vấn lâu trong đầu. Bảo rằng đó là một thỏi nam châm rất đúng, vì lúc đó như có hẳn một từ trường giữa cô gái ngồi kia yên lặng và tôi cũng yên lặng ngồi đây. Mấy phút sau, biết rằng cô gái cũng để ý tới con mắt không dời của tôi, tôi đứng lên đi lại gần quày thâu tiền xin phép được nói chuyện với cô gái. Cô gái vui lòng. Câu chuyện lúc tối đó rất tầm thường, nhưng từ sau khi quán đóng cửa tôi đưa cô gái về chỗ trọ và chia tay về nhà tôi tin rằng đã có một chút gì ràng buộc giữa hai chúng tôi. Trên khúc đường vắng, cô gái cho biết đã bị lừa ra đây không phải để săn sóc hai đứa nhỏ mà để thâu tiền ở quán nước như tôi đã thấy. Bị lừa nhưng cô gái đành chấp nhận vì đã lỡ khăng khăng với mẹ đòi đi, với lại cô gái cũng cần mỗi tháng có một món tiền gởi về cho mẹ ở Trảng Bàng.

Sáng hôm sau tôi trở về chi khu nhưng chiều hôm đó tôi đã kiếm được cách xin phép quay lại Qui Nhơn. Chúng tôi lại gặp nhau. Bắt đầu yêu nhau, cô gái mà từ đó tôi thấy có quyền được gọi bằng tên riêng, Vân đã lần lần kể hết cảnh nhà cho tôi nghe. Vân mồ côi cha từ năm mười tuổi. Bà mẹ thừa khả năng nuôi dạy hai người con, Vân và Đức em trai Vân, vì ông chồng khi chết đi có để lại cho vợ con một vườn trái cây nhiều huê lợi tại Bình Dương. Trảng Bàng là quê bà mẹ, ông cha người gốc Bình Dương. Vì thuận tiện riêng, bà mẹ đưa hai con về quê ngoại ở Trảng Bàng, nơi đó bà mẹ được thừa hưởng một di sản ruộng đất cũng khá. Vườn trái cây ở Bình Dương là nguồn lợi tức chính cho ba mẹ con sinh sống thừa thãi. Lên trung học hai chị em Vân được mẹ gửi đi Sàigòn ở nhà bà dì để đi học. Vân học hành rất ngoan, Đức mê theo thằng con trai bà dì, hai đứa chơi nhiều hơn học và tập được đủ thứ tật xấu, trong số có tật đánh bạc. Trong vòng có năm sáu năm trời, nguồn lợi về vườn trái cây không đủ cho bà mẹ chi dụng và lần lần phải cắt từng khu vườn bán đi. Tai hại nhất là những năm về sau Đức lớn lên càng ăn chơi hơn, tốn kém hơn, và đến tuổi động viên phải lo lót trốn lính. Trọn vẹn di sản của người cha để lại đã từ cái túi của cậu con trai bay đi hết.

Tới năm nay thì cả một mảnh vườn còn lại ở Trảng Bàng cũng qua tay người khác vì những vụ lo lót trốn lính của Đức. Vân phải nhận lời ra Qui Nhơn vì biết mẹ đã tới đường cùng không có cách nào có tiền sinh sống hằng ngày chứ đừng nói tới cung ứng cho cậu con trai phá của. Theo lời Vân, dường như hồi sau này Đức có cặp bồ được với con gái một nhà giàu ở Sàigòn cho nên có thể tiếp tục ăn chơi không đòi hỏi quá nơi bà mẹ nữa.

Càng thấu hiểu hoàn cảnh của Vân tôi càng thấy yêu Vân hơn. Vân đã thuận một ngày nào đó sẽ để tôi đưa về nhà giới thiệu với ba má tôi và sau đó sẽ xin ba má tôi cho cưới Vân làm vợ. Sở dĩ tôi còn chần chờ là vì tôi biết rõ thành kiến trong gia đình tôi, nếu đưa Vân về nhà ngay lúc đó thì không giấu được ba tôi rằng Vân chỉ là một cô gái ngồi thâu tiền tại một quán nước, nhất định ba má tôi không khi nào ưng một đứa con dâu với địa vị như Vân. Vân trở về Trảng Bàng rồi mới tính tới chuyện giới thiệu Vân với ba má tôi. Có một lần đề cập tới vụ Vân trở về Trảng Bàng, Vân có nói với tôi để Vân tính, nhưng coi bộ không tin rằng có thể chiều ý tôi được ngay. Tôi ngu dại không lượng định được sự cần tiền nơi Vân như thế nào. Với lại nếu tôi có ngỏ lời muốn giúp, Vân chưa chắc đã chịu, tôi biết Vân nhiều tự ái lắm.

Nhân một dịp lẻn về Qui Nhơn gặp Vân trong chốc lát tôi đụng đầu với một ông anh họ cũng ở trong quân đội như tôi nhưng có thế lực lắm tại bộ tư lệnh quân đoàn. Gặp nhau cả hai chúng tôi cùng ngạc nhiên không ngờ cùng ở một vùng mà không biết. Ông anh có hỏi chi tiết nhiệm vụ hiện thời của tôi. Tai hại cho tôi, một tuần sau tôi nhận được lệnh đổi về Huế, do sự can thiệp của ông anh họ, tưởng làm vậy là vui lòng tôi. Nhận được lệnh tôi đâm bổ về Qui Nhơn kiếm Vân. Bà chủ quán cho biết Vân đã thôi không làm tại đó nữa, đi đâu bà không biết.

Về nhà để báo tin cho ba tôi hay vụ thuyên chuyển, tôi thấy ở góc bàn giấy của ba tôi một phong thư đề tên tôi. Thư của Vân. Trong bao thư còn một bao thư khác mang con dấu ty bưu điện Trảng Bàng. Vân viết vắn tắt trong thư nói rằng đã đứt ruột phải quyết định nhận đi làm việc tại một nơi xa để có thể vay trước một món tiền lớn. Đi xa như vậy tức là không bao giờ còn gặp lại tôi nữa, nhưng Vân không có cách nào khác, tôi cứ đọc lá thư của má mới gửi ra thì biết. Bà mẹ viết trong thư cho Vân biết Đức mới về nhà cho hay lỡ đánh bạc thua cầm thế mất chiếc xe honda của một người quen, bây giờ cần có một trăm năm chục ngàn chuộc xe, nếu chậm người kia thưa gởi, lòi ra vụ trốn lính thì nguy. Bà mẹ tính bán nốt căn nhà đang ở lấy tiền trả nợ cho Đức, số còn lại sẽ dựng một căn nhà nhỏ trên đất của một người bà con vui lòng cho cư ngụ.

Ý hẳn Vân đã không muốn mẹ phải hi sinh phần gia sản cuối cùng cho nên đã quyết định như vậy. Tôi bỏ cả một ngày hỏi thăm khắp nơi mà không sao biết được Vân đã dời Qui Nhơn để đi đâu. Phải đi Huế gấp theo lệnh, ra tới Huế công việc mới buộc tôi không thể nhất đán xin nghỉ phép mà về Sàigòn để đi Trảng Bàng gặp bà mẹ Vân, thư của bà mẹ lại không ghi địa chỉ để tôi có thể theo đó mà viết thư. Mãi cho tới hôm qua, nhờ sự giúp đỡ của ông anh họ tôi mới xin được phép một tuần về đây với mục đích duy nhất là sáng mai đi Trảng Bàng. Không dè vừa về tới nhà đã gặp Vân, gặp trong trường hợp thê thảm như vậy.



Tôi tên là T.T.T., 23 tuổi, sinh quán tại Bình Dương, trú quán tại Trảng Bàng, hiện đi học tại Sàigòn. Chiều hôm nay tôi có mặt tại ngôi nhà xảy ra vụ tai nạn vì tôi quen với cô V.V.V. Trước kia có thể nói là hằng ngày tôi có mặt tại đó vì chúng tôi chơi thân với nhau. Trong khoảng hơn một tuần nay tôi không lại đó chơi vì có công chuyện riêng phải đi Trảng Bàng. Mới từ Trảng Bàng về lúc trưa, bốn giờ chiều tôi đã lại kiếm cô V., chúng tôi đang ngồi nghe nhạc tại phòng khách ba của V. về tới, sau lại tới anh Hai của V. cũng từ Huế vô. Chúng tôi đang nói chuyện nghe tiếng la dưới sân sau. Chúng tôi chạy xuống thì chuyện đã xảy ra. Tôi quen thân với gia đình của V. nhưng không bao giờ chú ý tới những chuyện trong nhà, tôi không có ý kiến nào về trường hợp đã xảy ra.

Tôi nhìn nhận nạn nhân đúng là chị ruột tôi, tên Vân. Tôi bận đi học tại Sàigòn rất ít khi về thăm nhà. Mới đây tôi hay tin chị tôi đi Qui Nhơn nhận săn sóc việc học cho hai đứa nhỏ tại một gia đình quen. Tôi không hiểu vì lý do nào mà chị tôi lại bỏ công việc ở Qui Nhơn về đây và đi làm công. Gia đình tôi không đến nỗi quá nghèo để chị tôi phải đi làm công như vậy. Tôi không có ý kiến về cái chết của chị tôi, có thể là tai nạn, có thể là tự sát. Buổi chiều khi tới chơi tôi không biết có chị tôi làm công tại đó, khi tôi tới chị bếp ra mở cửa cho tôi.



Tôi tên là S.S.S., y khoa bác sĩ, y sĩ trưởng bịnh viện Qui Nhơn, gia đình tôi để lại Sàigòn vì có sẵn ngôi nhà và con gái tôi đang theo học tại Sàigòn. Chiều nay tôi về thăm nhà, vừa về tới được chừng không đến nửa giờ thì xảy ra vụ này.

Khi tôi chạy xuống tới sân sau nạn nhân đã tắt thở, từ trên cao hơn mười thước lại dộng đầu mạnh xuống nền xi- măng có thể chết tức khắc. Nâng đầu nạn nhân lên tôi đã kinh ngạc nhận ra đó là một bịnh nhân tôi mới chữa trị cách đây có mấy tuần lễ ngoài Qui Nhơn.

Một buổi sáng nhân viên ty Cảnh sát dẫn giải tới bịnh viện một người con gái bị buộc tội hành nghề mại dâm đang mắc bịnh hoa liễu nặng. Ty Cảnh sát gởi bịnh viện chữa trị cho người con gái với tư cách một can nhân, chờ khỏi bịnh sẽ được đưa qua bên tòa án. Khi đó tôi hoàn toàn không lưu ý tới một khía cạnh nào khác nơi người con gái ngoài nhiệm vụ chẩn bệnh rồi chữa bệnh. Chẩn bệnh tôi thấy người con gái mới bị mất trinh không lâu, đang mắc bịnh lậu mủ rất nặng, tình trạng sửc khỏe tồi tệ vì xúc động thần kinh quá mạnh đồng thời trải qua một thời gian thân xác bị hành hạ quá sức chịu đựng của thể chất. Vì là một trường hợp bịnh trạng đặc biệt, có thể nói y sĩ tranh đấu từng giờ với tử thần, cho nên tôi đã bỏ rất nhiều công săn sóc cho người con gái đó. Sau mười ngày vừa lo chống vi trùng hoa liễu vừa lo gây lại sức khỏe cho bệnh nhân, hai công việc rất khó dung hòa, vì dùng một lượng trụ sinh rất mạnh cần thiết cho trường hợp bịnh thì hại tới tình trạng sức khỏe đã quá suy yếu, tôi đã cứu được người con gái. Từ ngày thứ mười trở đi, người con gái đã tỉnh táo hơn, tôi mới chú ý tới nét mặt, nhất là hai con mắt rất hiền từ, những lời nói lễ độ tự nhiên, những cử chỉ rõ ràng khép nép kín đáo, tôi lấy làm lạ tại sao một người con gái như vậy có thể là một con điếm sắp bị đưa ra tòa, tức là một thứ bị bắt nhiều lần không còn biện pháp ngăn cản nào khác.

Chú ý như vậy nhưng tôi là một y sĩ, y sĩ không có quyền tò mò nếu bịnh nhân không nói và thấy không cần thiết cho việc chữa trị. Người con gái nằm bịnh viện đúng hai chục ngày, bịnh lậu mủ đã trị có thể nói là tuyệt nọc, chỉ còn tình trạng sức khoẻ mới khả quan, nhưng khả năng của một bịnh viện công ở tỉnh không cho phép giữ bịnh nhân ở lại thêm. Đúng như lời yêu cầu khi đưa bịnh nhân tới tôi đã trả người con gái lành bịnh cho ty Cảnh sát. Khi xuất viện, người con gái chỉ tới ngỏ lời cám ơn tôi và cũng không yêu cầu tôi giúp đỡ một điều gì khác. Tôi yên ổn lương tâm một y sĩ, và vội quên ngay trường hợp đó.

Tới tối ngày hôm sau, ông biện lý vốn là bạn chơi mã tước tới gặp tôi tại nhà và hỏi thăm tôi về hồ sơ bịnh trạng của người con gái đó. Khi đó tôi mới tò mò hỏi thăm lại về trường hợp người con gái trên bình diện tòa án. Ông biện lý cho biết cứ như lời khai của người con gái mà ông biện lý lấy tâm tín của một thẩm phán cho rằng đúng sự thật thì y thị là nạn nhân của một vụ mua bán và bội tín, mua bán và bội tín trên thân xác khổ sở của người con gái đó.

Từ Trảng Bàng ngưòi con gái bị lừa ra Qui Nhơn để trông nom việc học cho hai đứa nhỏ với số lương mười lăm ngàn đồng một tháng, được ăn ở không mất tiền, tiền chuyên chở từ Trảng Bàng ra Qui Nhơn và trở về do người mướn chịu. Tới Qui Nhơn không có học trò mà chỉ có công việc thâu tiền tại một quán nước. Người con gái cần tiền giúp mẹ cho nên cũng vui lòng nhận. Công việc tạm êm xuôi trong vòng một tháng. Ông biện lý dùng chữ "tạm" là vì chẳng bao lâu sau khi tới Qui Nhơn người con gái đã được mụ chủ quán dụ dỗ bán trinh cho người nhà giàu sẽ được một món tiền lớn, sau đó tiếp tục hành nghề mại dâm sẽ có thêm nhiều tiền nữa. Cô gái cương quyết không chịu, mụ chủ cũng để yên, thỉnh thoảng lại tấn công nhưng vô hiệu.

Một tuần trước khi người con gái được đưa tới trị bịnh, y thị nhận được thư của mẹ từ Trảng Bàng cho biết phải bán nhà để lo trang trải công nợ. Vì thiết tha với ngôi nhà mẹ con sống từ lâu đầy kỷ niệm, người con gái đã trả lời bằng lòng đề nghị của mụ chủ quán. Mụ chủ quán đặt điều kiện cô gái chịu để cho một người có tiền phá trinh và sau đó phải sống với người đó liên tiếp trong hai tuần lễ sẽ được tròn món tiền một trăm năm chục ngàn. Số tiền kiếm được đủ để giúp mẹ khỏi bán nhà, cô gái ưng thuận. Ngay hôm sau cô gái được đưa tới một tỉnh ở Cao Nguyên và trao trong tay một người đàn ông có thế lực tại đó.

Ông biện lý cho biết người con gái đã tỉ mỉ kể lại chi tiết cuộc đày đọa thân xác với một người đàn ông to lớn và vũ phu như một con trâu. Trên nguyên tắc, về phương diện sinh lý khi một người nam và một người nữ đã thuận tình ráp lại sống với nhau sớm muộn người nữ sẽ tìm thấy khoái cảm, cho dù lúc ban đầu có sợ hãi sự chung đụng. Đằng này sau một đêm và một ngày trong tay người đàn ông đó cô gái chỉ thấy hoảng sợ đến độ kinh hãi la thét mỗi khi người đàn ông tới gần. Kết cuộc, người đàn ông có thế lực nổi giận đuổi cô gái ra khỏi nhà. Thảm thương cho người con gái là thoát khỏi vòng ông chủ lại rơi vào tay lũ gia nô, chúng thay phiên nhau hành hạ người con gái. Địa ngục kéo dài trong vòng năm ngày thì nội vụ đến tai một người cũng ở trong vòng thế lực của người đàn ông kia nhưng có tình thương và tư cách nghĩa hiệp. Người này đứng ra can thiệp để giải phóng cho cô gái.

Đã sa vào địa ngục lại chẳng được một đồng bạc nắm trong tay cho đỡ tủi, cô gái cũng đành, cố cứu lấy mạng sống. Nhưng người đàn ông nhiều thế lực không biết nghe lời lũ gia nô ra sao đã cho người đuổi theo tới Qui Nhơn và cô gái đã biến thành một gái điếm đáng đưa ra tòa lên án. Vì tình trạng sức khỏe thảm hại của cô gái cho nên mới có vụ đưa tới bịnh viện.

Ông biện lý có bàn với tôi nên giải quyết vụ ngưòi con gái đó cách nào. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Tất cả vấn đề thu gọn vào một điểm: người con gái có đứng ra tố cáo nội vụ hay không. Ông biện lý cho biết đã chỉ vẽ cho cô gái biết nên làm và phải làm như thế nào và ông biện lý hứa tận tình giúp đỡ, nhưng cô gái đã từ chối, chỉ xin ông biện lý giúp đỡ cách nào để có thể trở về Trảng Bàng với mẹ. Cả hai chúng tôi thật tình đều muốn vụ mua bán đen tối đó phải được làm cho ra lẽ, nhưng suy nghĩ chán chúng tôi đi tới kết luận cứ nên chiều theo ý mong của cô gái là hơn hết, lương tâm chúng tôi có không yên nhưng cô gái sẽ yên và đó cũng là điều cô gái mong ước, lương tâm chúng tôi ít nhất cũng được cái cớ đó che đậy. Hai chúng tôi đã dễ dàng giúp cho cô gái có được mấy cái quần, mấy cái áo thay đổi (khi trở về Qui Nhơn cô gái mất hết những gì đã có trừ bộ quần áo trên người), chút tiền dận túi và một giấy máy bay Qui Nhơn -Sàigòn.

Tôi xác nhận người con gái làm công trong nhà tôi mới chết và người con gái tôi đã gặp ở Qui Nhơn đích thị là một. Nhưng tôi không thể hiểu tại sao đã về tới Sàigòn người con gái đó không về Trảng Bàng với mẹ lại đi làm công và tại sao chiều hôm nay đã tình cờ té lầu mà chết hay nhảy lầu tự sát ngay trong nhà tôi.

Đọc hết tờ biên bản và những lời khai, ông đại úy trưởng phòng Hình cảnh gấp tập hồ sơ lại, nói với cô thư ký ngồi ở bàn kế bên, cô thư ký ngơ ngác không hiểu, ông đại úy như nói một mình :

"Tất cả những người có liên quan tới cô gáỉ trong vụ này đều có biểu tỏ tình thương với cô gái. Nhưng bấy nhiêu tình thương đã không kéo được cô gái ra khỏi hoàn cảnh khốn khổ. Đặt bên thân phận cô gái, tình thương giống như một món trang sức đáng bày giữa hai ngoặc kép.

Xét hồ sơ này nhiều phần chắc là ông biện lý sẽ truyền xếp, điều tra bổ túc sẽ đụng phải những vách núi thế lực. Nếu ông biện lý là một người làm văn học nghệ thuật, với hồ sơ này ông ấy có thể soạn được một vở kịch, dựng lên một tuồng hát, hay quay thành một cuốn phim, cùng lắm cũng viết được một truyện ngắn, truyện của xã hội bây giờ."

                             Trưa Trên Đảo San Hô - Mặc Đỗ 

                             

                           

 

                                        Mời đọc: toàn bài ở website Gió-O 

Người đàn bà tìm lại được mùa Xuân - Mặc Đỗ

Phản ứng đầu tiên của tôi là chùn bước lại, nghĩ rằng mình đã lầm nhà. Từ ngày người đàn ông Đại Hàn đó qua đời, lần thứ hai tôi bước tới cửa căn nhà nhỏ ở tận cùng một con hẻm giữa thành phố, lần thứ hai cách lần thứ nhất có tới mười tháng, lần thứ nhất đúng một ngày sau đám tang của người đàn ông. Mười tháng trời đã làm thay đổi hẳn một khung cảnh tôi tưởng như ăn sâu mãi mãi trong tim óc tôi như chất cường toan thấm xuống làm nổi bật những đường nét của bức vẽ trên một bản kẽm. Muốn mô tả được phản ứng đột ngột đó, tôi phải kể lại từ đầu những quan hệ của tôi với căn nhà đó, người đàn ông đó và nhất là người đàn bà đó.

Gia đình ông bà Kim sinh sống ở Việt Nam đã lâu lắm. Không ai tiện hỏi vì sao hai vợ chồng trẻ đã dời khỏi đất nước tìm tới làm ăn tại đây. Ông Kim buôn bán khá lớn. Bà Kim có đôi khi cho biết trước kia là một cô giáo, đã bỏ dạy từ ngày lấy chồng, ở Sàigòn bà Kim không có một hoạt động gì khác ngoài công việc nhà và phụ giúp đôi chút trong việc buôn bán của chồng. Tôi quen gia đình đó qua một cô bạn gái bạn học của Aki, con gái duy nhất của ông bà Kim. Tình quen ngày một trở nên đậm đà. Mỗi khi ở Đà Lạt xuống phần lớn thì giờ tôi để dành cho gia đình ông bà Kim. Tình quen của tôi khi đó rất hồn nhiên đối với tất cả ba người trong nhà, quen rồi trở nên thân vì cùng tìm thấy những điểm hợp với nhau. Chưa một giây phút nào tôi để ý thấy Aki đẹp, Aki coi tôi như một người bạn thường vậy thôi, ánh mắt không hề bợn một chút vương vấn. Riêng có bà Kim, hồi sau này có nhiều lần hỏi thăm tôi về gia đình, về những dự tính tương lai. Hồi đó đang chiến tranh, phong trào quốc gia đang được nhen nhúm. Những dự tính của tôi, nếu có, không tiện nói ra với ai. Nhưng qua những lúc buổi tối ngồi nói chuyện với bà Kim tôi biết người mẹ đang có những thắc mắc về cô con gái ngồi trong góc phòng chơi dương cầm những bản luân vũ của Chopin với một nhịp tôi thấy rằng quá chậm. Người chơi đàn dường như không đồng điệu với tác giả.

Rồi thế chiến chấm dứt. Bữa chia tay với gia đình Kim trước khi dời Sàigòn để về nước, một lần tôi nhìn thấy sâu trong tâm sự của bà Kim qua câu giải thích để từ biệt: “Bây giờ nước tôi đã độc lập rồi, chúng tôi phải đưa Aki về nước, để Aki lấy một người chồng Triều Tiên”. Mãi tới lúc đó tôi mới chợt nghĩ rằng Aki không phải là người Việt Nam. Từ bao nhiêu năm quen biết tôi chưa hề có một lúc nào phân biệt Aki với một thiếu nữ Việt Nam. Sinh ở Sàigòn, lớn lên, đi học, tới tuổi trưởng thành, Aki hầu như đã bén rễ với mảnh đất này.

Sau bữa chia tay rất nhiều biến cố đã tới trên đất Việt Nam, cũng như trên đất Triều Tiên. Những liên lạc dù muốn giữ cũng không thể có. Mãi tới khi quân đội đồng minh theo nhau kéo tới miền Nam Việt Nam, những hoạt động của kiều dân đồng minh trở nên sầm uất tại miền Nam Việt Nam. Một bữa tôi gặp Aki ở trước chợ Sàigòn. Tôi đang tính mua một gói trái cây cho có bạn hơn cho có gì khác đi, giống như có mấy bông hoa trưng trong bình trước cửa sổ, trong căn phòng của tôi nhìn xuống đại lộ. Tôi ngạc nhiên đến sững sờ ngó thiếu phụ đang đi tới ở trước mặt. Lời gọi tự thốt ra:

– Aki ?

Thiếu phụ mỉm cười dịu dàng đúng như hồi nào cũng nụ cười đó trên gương mặt cô bạn gái còn là một thiếu nữ  học trò. Aki đáp:

– Anh !

Chiếc áo màu đen đơn sơ, khuôn mặt không có phấn son. Hôm đó tôi mới nhận thấy Aki đẹp. Aki tíu tít mời tôi về nhà. Trên xe tôi được biết vắn tắt

Aki đã có chồng được ba tháng thì xảy ra chiến tranh Nam Bắc. Aki cùng chồng ở miền Nam còn ông bà Kim kẹt lại ở miền Bắc vì bà Kim không muốn dời xa quê nhà một lần nữa, cho dù chỉ di cư xuống miền Nam. Aki cùng chồng tới Sàigòn đã được nửa năm, chồng của Aki là một kỹ sư làm việc cho một hãng thầu lớn, cứ làm việc tại công trường hai tháng lại trở về làm việc tại Sàigòn một tháng. Căn nhà của Aki ở tận cùng một con hẻm giữa thành phố. Mới bước vô căn nhà tôi đã có ngay một định kiến: Aki không có hạnh phúc.

1361344475077

Căn nhà gọn gàng, xinh xắn nữa, không sang trọng nhưng đầy đủ. Aki dẫn ra giới thiệu với tôi hai thằng con, một đứa lên năm, một đứa lên ba. Một chút hồng ửng lên trên má khi Aki cho biết thêm:

– Trước đó đã hai lần Aki bị sẩy thai.

Tôi hỏi thăm về chồng của Aki. Đó là lẽ tự nhiên, là bổn phận nữa. Xưa kia đã thân với gia đình ông bà Kim, gặp lại Aki sau bao nhiêu lâu cách xa, tôi rất muốn thân trở lại với gia đình Aki. Tôi đón nhận chồng Aki như một người bạn cũ. Nhưng Aki xem ra rất ít hứng thú nói chuyện về người chồng. Ngoài những điểm đã được biết qua câu chuyện thăm hỏi trên xe, tôi được biết thêm chồng của Aki mới đi Qui Nhơn được ba ngày, sau một tháng ở Sàigòn. Câu chuyện bắt qua những than thở của Aki về cái nạn người làm, Aki nói:

– Ngày xưa Aki sung sướng quá, mọi chuyện đều có Má lo, Aki đâu có biết ngó chi tới những chuyện trong nhà. Ngày xưa người làm của Má tốt lắm. Bây giờ đối xử với người làm khó quá, Aki lại hiền quá, cứ bị tụi nó làm tới. Suốt ngày Aki phải lo đối phó với người nhà. Hai đứa nhỏ chúng nghịch phá, không có người làm không được. Aki chỉ muốn một mình làm lấy, nhưng làm không nổi.”

Tôi nghe nói mới khám phá thêm một điều nữa: Aki mệt mỏi thấy tội quá!  Nhưng nếu tôi cũng bắt chuyện nói với Aki về vấn đề người làm khác nào tôi thảo luận với một nhà thiên văn về toán học. Tôi chỉ biết ngồi yên nghe Aki nói. Lát sau ra về, trở về căn phòng cao ngó xuống đại lộ tôi đem theo vương vấn mãi nhận xét Aki đẹp. Câu chuyện trao đổi với Aki trong lần gặp lại đầu tiên sau nhiều năm cách xa quả tình hết sức nhạt nhẽo. Tôi nhớ lại giống hệt cảm tưởng ngày xưa hai người quen ở trên hai toa xe lửa tốc hành tình cờ nhìn thấy nhau trong khi hai đoàn xe gặp nhau tại một ga xép, tốc độ có chậm lại nhưng cả hai đoàn xe cùng không ngừng bánh, hai người quen nhìn thấy nhau, nhận ra nhau, cùng háo hức nhưng không thể trao đổi được gì.

Hai ngày sau ở nơi làm việc tôi nhận được một cú điện thoại. Hôm gặp lại trước khi ra về Aki có hỏi địa chỉ của tôi. Tôi lưỡng lự không muốn chỉ căn phòng cao nhìn xuống đại lộ, tôi cho Aki địa chỉ và số điện thoại nơi làm việc của tôi, dặn nên điện thoại trước nếu Aki có dịp muốn ghé nơi đó kiếm tôi. Tôi sốt sắng mời Aki ghé văn phòng.

Chừng nửa giờ sau Aki tới. Tôi hơi ngạc nhiên thấy Aki cũng bận áo màu đen, nhưng không phải chiếc áo hôm trước. Aki lăng xăng, tò mò nhìn ngắm khắp nơi trong căn phòng làm việc, dễ thương như cô em gái đến chơi với người anh. Căn phòng nhỏ và bừa bộn, tôi thấy hai ba lần Aki nheo mũi ra vẻ chê, nhưng chỉ cười, không nói gì. Tới ngồi đối diện với tôi, mỗi người trên một trong hai chiếc ghế bành màu da đã cũ kê trong góc phòng, Aki hỏi tôi:

– Thuốc lá của anh đâu?

Tôi vội vàng chạy lại chỗ bàn viết lấy gói thuốc và bao diêm. Aki cầm lấy cả thuốc lẫn diêm, tự ý châm một điếu hút, không để tôi quẹt lửa cho. Aki lại nói, câu nói tôi chẳng hiểu ý nghĩa:

– Mỗi lần Aki hút thuốc là một lần Aki có tự do.

Ý hẳn nhìn thấy ánh mắt ngu ngơ của tôi. Aki giải thích:

– Chồng của Aki không muốn cho Aki hút thuốc. Aki hút lén nên tưởng như có tự do.

Tôi đáp một câu quá vô duyên:

– Cấm hút thuốc có lẽ đúng. Thiên hạ ở ngoại quốc đang rần rần hô hào bỏ hút. Hút thuốc có hại thì phải.

Aki không giấu vừa ngạc nhiên vừa bực tức, để lộ hết trên nét mặt phẫn nộ tôi thấy còn đẹp hơn lúc thường:

– Anh cũng đồng ý với chồng Aki sao ? Hút thuốc là một dịp tự do của Aki. Anh không được quyền cấm Aki.

Tỏi thấy khôn ngoan hơn hết là để cho hai ba hơi khói làm nguôi nỗi giận của cô bạn. Tôi lặng yên không đáp. Aki cũng không thèm nói gì nữa.

Lát sau tôi mới nói, chính tôi nói xong cũng ngạc nhiên vì câu nói của mình bỗng dưng có hàm ẩn một tình ý. Tôi nói:

– Tôi không cấm. Tôi còn tiếc là không làm chủ một hang thuốc lá ấy chứ.

Aki cười được ngay, vui tươi, giòn giã và đáp:

– Biết điều như vậy thì được, chứ không Aki sẽ bỏ về, không thèm nói chuyện nữa. Aki rất ghét nếu anh giống như chồng Aki. Anh biết không, Aki đã thu xếp mọi việc ở nhà rồi, có con bạn tới chơi, nó bằng lòng coi nhà và coi hai thằng nhỏ cho Aki. Aki sẽ đi chơi với anh chiều nay, đêm nay, tới khuya mới về.

Không nhưng, chẳng sửa soạn trước, tôi bỗng thấy, như đi ngoài phố bất đồ ngửi thấy một phút thoáng qua ở sau lưng một người đàn bà mùi nước hoa ưa thích, mọi tương quan giữa Aki và tôi đã đổi thay từ bao giờ. Có ai lại từ chối hạnh phúc đột ngột đến. Tôi đáp:

– Đã lâu quá không nói chuyện với Aki, bữa trước gặp chưa nói được gì. Aki thu xếp được bấy nhiêu thì giờ không biết có đủ không đấy.

Aki cười bằng mắt, tôi lại ngạc nhiên thêm, tưởng như mới có thêm một linh khiếu đón nhận, nhưng Aki vội buồn ngay, nói:

– Biết thế nào là đủ, hả anh ? Báo tin cho anh biết, Aki đang cần được an ủi. Aki không sung sướng.

Tiếp theo nỗi hân hoan chợt đến không hẹn, tôi nhận thấy một gánh nặng trên vai. Nhưng tôi cũng đón nhận hân hoan không kém, bao giờ tôi vẫn coi Aki như một người em gái.

Tiếp tục hút thuốc, Aki ngồi kể cho tôi nghe đời sống hiện tại của mình. Tiền bạc Aki có vừa đủ, không thừa, không thiếu. Chồng của Aki là một người bảo rằng keo kiệt thì không đúng, nhưng hết sức tính toán về tiền bạc. Người đó đã nhất định trong những năm còn trẻ và có cơ hội đi ra nước ngoài kiếm được nhiều tiền, những năm đó phải là những năm ra sức làm việc, ra sức hà tiện, gom góp phương tiện để tạo một tương lai vững vàng, cho hai vợ chồng và hai đứa con, hai đứa con đang có và những đứa con sẽ có thêm nữa. Chồng của Aki có một quan niệm hết sức cổ điển về gia đình. Aki không phải không thương chồng, nhưng (phải chăng ảnh hưởng của nếp sống tại miền Nam Việt Nam, nơi mà Aki sinh trưởng) Aki cũng muốn sống cái tuổi trẻ của mình. Aki cho tôi biết từ ngày lấy chồng Aki không có lấy một ngày nào có thể nói là được hưởng thụ, Aki có nhiều bổn phận quá: bổn phận đối với cha mẹ chồng, bổn phận với chồng, bổn phận với con. Cùng chồng trở lại Sàigòn, Aki hy vọng sẽ tìm thấy đời sống thoải mái ngày xưa. Nhưng suốt ngày Aki bù đầu vì hai đứa con, vì công việc nhà. Không đi chợ lấy bị người làm ăn lời, chồng Aki la; không vô bếp nấu nướng cho món ăn hợp với ý thích của chồng, chồng Aki la; không kịp trông nom hai thằng nhỏ nghịch phá, rủi có sây sứt thịt da một chút chồng Aki cũng la. Người đàn ông Đại Hàn được quý trọng lắm, chồng và gia đình nhà chồng Aki quý hai thằng nhỏ hơn Aki nhiều. Có một lần, tại Hán Thành, thằng con lớn chạy chơi trên hè phố bị một thẳng nhỏ khác cỡi xe đạp cán đau chân một chút, chồng Aki đánh Aki không tiếc tay, có sự chứng kiến của hai ông bà mẹ chồng rất đồng ý. Nhiều lần khác Aki đã bị chồng đánh.

Aki không nghiện hút thuốc lá, thỉnh thoảng muốn hút chơi một điếu, lập tức bị chồng Aki la. Vì bị la như vậy cho nên thỉnh thoảng có mặt chồng, Aki lại muốn hút một điếu, để bị la. Aki bảo hút thuốc để có tự do là vì thế. Những ngày chồng Aki đi Qui Nhơn vắng, Aki đâu có thích hút, có bao giờ Aki mua sẵn một gói thuốc cho mình đâu.

Aki nói:

– Bữa đưa anh về nhà chơi, Aki thấy mắc cỡ ghê, vì nhà cửa bừa bãi. Hồi xưa còn sống với Má, anh có thấy Aki lo trang trí trong nhà không? Bây giờ phần vì Aki buồn, phần vì không có ngày giờ, không đủ sức để lo được hết mọi thứtrong nhà. Với lại Aki đâu có lúc nào yên tịnh để mà ngồingắm một bình bông. Aki khổ lắm, anh ơi. Aki cần được an ủi.

Lần thứ hai Aki nhắc lại câu nói: “Aki cần được an ủi”.

Câu nói đem đến cho tôi vừa mừng vừa lo. Cái mừng bàng bạc, chưa tiện phân tách. Còn cái lo thì rõ rệt. An ủi Aki cách nào? Có một biện pháp quyết liệt có thể làm được và hi vọng giải quyết dứt khoát những gì đang làm khổ người bạn gái. Tôi đã nghĩ ngay tới nhưng điểm nào có thể nêu ra trong bản lý đoán. Nhưng tôi băn khoăn tự hỏi không biết mình có quyền đưa ra biện pháp đó không. Chắc chắn Aki sẽ níu lấy như một chiếc phao cứu mạng. Nhưng đưa cho một thằng nhỏ đang khóc chiếc kẹo ngọt không phải là một giải pháp can đảm và có suy tính. Tôi bèn mua thì giờ bằng cách tạm lảng chuyện. Tôi nói:

– Aki đã sắp đặt thì giờ để đi chơi với tôi, vậy tôi đề nghị một chương trình: Nếu Aki thích đi dạo phố, chúng ta có thể đi ngay bây giờ. Chừng nào mỏi chân chúng ta sẽ đi ăn tối. Tôi còn nhớ những món ăn Tây mà Aki thích, tôi biết một nơi sẽ dọn cho Aki những món đó mà nấu ngon nhất. Ở đó tôi cũng biết còn có những chai muscadet thật trong khe đúng như ngày xưa Aki vẫn thích. Ban đêm của Sàigòn bây giờ thua kém ngày xưa, ăn bữa tối xong chỉ còn hai cách, một là đi coi hát, coi chiếu bóng, hai là ghé một phòng trà ca nhạc…

Aki háo hức ngắt lời tôi:

– Aki không đi dạo phố với anh đâu, người Đại Hàn ở Sàigòn khá đông, Aki có thể gặp một người quen với chồng Aki. Đoạn đầu trong chương trình của anh Aki muốn đổi là đi coi chiếu bóng. Aki không cần coi phim, Aki thích cái bóng tối êm ả ở một góc xa trong rạp chiếu bóng, ngồi yên đó cầm tay anh, để thấy trong lòng êm tịnh. Ở rạp chiếu bóng ra chúng mình sẽ đi ăn, hai đoạn sau Aki để phần anh lo liệu, Aki đồng ý trước.

Tôi biết trước không khí trong những rạp chiếu bóng bây giờ không còn êm ả như ngày xưa, nhưng vẫn cứ chiều theo ý cô bạn. Cũng may buổi chiều hôm đó rạp vắng, Aki đỡ thất vọng phần nào. Trong tiệm ăn sau đó tôi được cái thú ngồi ngắm bạn ăn uống rất ngon lành. Chút men rượu làm ửng hồng hai má và thêm chút sáng trong mắt người thiếu phụ. Tôi thấy Aki lúc vui cũng đẹp như Aki lúc giận. Suốt bữa ăn chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa, tạm quên cái bây giờ bất ổn.

chồng tây4

Ngồi ở một góc tối trong ca quán, tình ý trong những lời ca khiến cho Aki trở lại với tâm sự. Tôi cố gắng giữ là một người anh, cố gắng tìm một giải pháp êm đẹp cho gia đình Aki. Tôi đề nghị chừng nào chồng Aki ở Qui Nhơn về Aki sẽ điện thoại cho tôi và tôi sẽ tới chơi. Biết đâu tôi chẳng có cơ hội đem một luồng gió mới trong gia đình Aki. Tại sao vợ chồng Aki không tính ở luôn tại Việt Nam, như ông bà Kim ngày xưa. Xa với đất nước, tiêm nhiễm lần lần không khí phóng khoáng của cái miền dễ sống này, biết đâu chồng Aki sẽ chẳng thay đổi tâm tính, học được một quan niệm sống mới thích hợp với Aki hơn. Trong bóng tối tôi không nhìn thấy ánh mắt và nụ cười của Aki đáp lại ý kiến của tôi, nhưng tôi nghe thấy tiếng cười thốt ra rất buồn. Aki nói:

– Nếu anh muốn Aki sẽ giới thiệu với anh chồng của Aki. Nhưng Aki sợ rằng anh sẽ thất vọng lắm. Chồng Aki là một hải đảo, những lời nói của anh chỉ như sóng vỗ. Aki còn sợ rằng anh tới chỉ đem thêm buồn cho Aki vì chồng của Aki hay ghen lắm. Aki có cảm tưởng cuộc đời của mình cứ đi sâu mãi trong một thạch động, thét rồi quên mất lối ra, đành đi luôn cho tới đâu thì tới.

Những lời nói đứt ruột như thế tôi làm sao cưỡng lại nổi, cho nên tôi ôm lấy lưng Aki, nắm một bên vai Aki và nói:

– Aki đừng tuyệt vọng. Đã gặp lại Aki, biết Aki ở trong hoàn cảnh khó khăn, tôi sẽ lo cho Aki, nếu cùng kế chúng ta sẽ có thể có biện pháp quyết liệt. Aki cứ tin rằng trở lại miền Nam nhiều nắng này Aki đang đi ra khỏi đường hầm, tìm thấy ánh sáng ở đầu đường. Ở Đại Hàn Aki có thể rất bơ vơ, ở Sàigòn Aki có bạn.

Khuya đó tôi đưa Aki về nhà. Tôi vội vàng chào hỏi để trở lên xe, từ chối không bước vô nhà theo lời mời của bạn. Tôi muốn giữ toàn vẹn tỉnh táo để có thể khách quan suy tính về trường hợp Aki. Tôi muốn ngay thẳng đứng ở cương vị của tôi để lo cho Aki tìm lại được nắng ấm của miền Nam, hơn là đứng hẳn về phía Aki, hàm hồ đi thẳng tới một giải pháp quyết liệt. Tôi chưa quen biết chồng của Aki. Đàn ông có cả ngàn cách biểu tỏ tình yêu. Tôi đâu có bằng cớ gì để nhất quyết rằng chồng của Aki không thương Aki. Ông bà Kim ngày xưa mà tôi quen thân đâu phải là kiểu mẫu duy nhất của một gia đình Triều Tiên. Do dự như vậy có thể là một thái độ thiếu can đảm đối với một người bạn gái. Nhưng tôi cũng hiểu lắm một ngàn biểu tỏ can đảm của người đàn ông trước một người đàn bà mà người đó nhận ra rằng rất đẹp.

Trong vòng hơn ba tháng sau buổi gặp gỡ đó tôi không gặp lại Aki, tuy mỗi sáng ngủ dậy tôi đã nghĩ tới Aki, trong ngày thỉnh thoảng tôi lại nghĩ tới Aki, trong giường trước khi nhắm mắt ngủ tôi cũng nghĩ tới Aki. Có mấy lần Aki điện thoại cho tôi, trong thời gian người chồng còn ở Qui Nhơn, nhưng tôi khéo léo tránh một buổi gặp gỡ thứ hai, chỉ vì sợ rằng gặp rồi không kết thúc được đẹp đẽ (trạng từ này không thật, nhưng tôi không tìm được từ nào khác) như buổi gặp đó.

Khi chồng Aki ở Qui Nhơn về và ở lại Sàigòn một tháng, một buổi chiều Aki có điện thoại cho tôi, báo tin như vậy, nhưng Aki lại kết luận: “Có lẽ anh chả nên đến!” Tôi không trái lời Aki. Tôỉ không đến.

Cũng đến non một tháng sau, một buổi chiều tôi lại nhận được một cú điện thoại của Aki. Aki ngắn ngủi báo tin cho tôi biết chồng của Aki đã qua đời trong một trận phục kích ở gần công trường ngoài Qui Nhơn. Tôi vội vàng lấy xe chạy đến nhà của Aki. Chúng tôi chỉ kịp nói với nhau qua loa ba câu. Aki phải vội cùng với hai đứa con đi Qui Nhơn và sau đó có lẽ đi luôn Hán Thành. Xe hơi của hãng thầu Đại Hàn đang đợi để đưa Aki lên Tân Sơn Nhứt. Aki hẹn sẽ viết thư hay điện thoại cho tôi khi trở về Sàigòn.

Năm bữa sau tôi được một người đàn bà điện thoại mời tới nhà Aki. Người đàn bà Đại Hàn nói tiếng Anh không rành, cái vốn Anh ngữ của tôi cũng có hạn, cho nên tôi chỉ biết đại khái xác của người chồng Aki được đưa về Sàigòn và đã được hỏa táng, Aki cùng hai con đưa tro tàn của người chồng về Hán Thành trên chuyến máy bay cất cánh đêm hôm qua. Sau cùng người đàn bà Đại Hàn đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ. Aki viết cho tôi có đúng một hàng chữ: “Aki sẽ trở lại, sẽ điện thoại cho anh biết khi tới.”

tam-tit-14

Tôi trở lại căn nhà ở tận cùng một con hẻm giữa thành phố sau mười tháng trời đằng đẵng bặt tin Aki. Phản ứng đầu tiên của tôi là chùn bước lại, nghĩ rằng mình đã lầm nhà. Mười tháng trời đã làm thay đổi hẳn một khung cảnh tôi tưởng như ăn sâu mãi mãi trong tim óc tôi như chất cường toan thấm xuống làm nổi bật những đường nét của bức vẽ trên một bản kẽm. Khung cảnh trong đó Aki đã sống khổ, không có tự do như Aki đã nói.

Chính Aki ra mở cửa cho tôi. Khung cảnh bên trong căn nhà tôi mới thoáng thấy từ ngoài đường đã rạng rỡ khác hẳn trước, đèn sáng hơn, màu tường tươi mát hơn, đồ đạc ít hẳn đi, tranh vẽ tô điểm trên tường, với Aki hiện ra trước khung cửa mở rộng tôi càng thấy hoàn toàn không phải là cảnh cũ. Nhưng tôi chăm chú tới Aki nhiều hơn.

Không còn mái tóc dài lòa xòa như biếng chải, Aki đã cắt tóc ngắn và uốn gọn trên đầu. Cái cổ thon nhỏ của Aki của thời con gái đã trở lại như một đài hoa nâng cái đầu với miệng cười, sống mũi, đôi má, cặp mắt, làn mi, vầng trán, những thứ đã khiến tôi nhận thấy Aki đẹp. Tôi còn kinh ngạc hơn nữa thấy Aki đã biến hẳn thành một cô gái Việt Nam với chiếc áo dài màu tím hoa cà.

Aki cho biết mới trở lại Sàigòn có ba bữa. Căn nhà với mọi món trang trí mới đã được cô bạn gái ở Sàigòn lo cho Aki từ cả tháng nay, Aki trở lại Sàigòn là vào ngay một khung cảnh mới. Từ mười tháng nay Aki không viết thư cho tôi vì muốn để cho một quãng thời gian dài ngăn cách hẳn với dĩ vãng. Với lại trong mười tháng qua Aki cũng rất bận rộn lo mọi thủ tục giấy tờ để dứt khoát với hoàn cảnh cũ. Gia đình nhà chồng của Aki nhất định đòi giữ hai đứa con của Aki, Aki cũng đành.

Chuẩn bị đời sống mới đã xong, Aki đã nhận lời làm việc cho một ngân hàng Mỹ tại Sàigòn, với cái vốn Anh, Pháp ngữ đã có, nói rành tiếng Việt, thông thạo tốc ký, Aki đúng là cô thư ký bằng vàng và được trả lương khá hậu. Aki đã sắp sẵn bữa ăn tối dành cho tôi cùng ăn. Aki nói:

– Từ Hán Thành qua Aki không mang món quà gì cho anh hết, trừ một hũ kim chi, món dưa mà ngày xưa Má vẫn cho anh ăn đó. Ăn xong anh phải đưa Aki đi nghe nhạc như hôm nào. Nhưng hôm nay Aki đã vui, Aki không làm cho anh buồn nữa, Aki trở lại Sàigòn đã tìm thấy nắng, đã tìm lại được mùa Xuân.

Mãi tối hôm đó Aki mới hỏi tôi về chỗ ở của tôi. Tôi đáp, tôi đang sống một mình trong căn phòng trên lầu cao nhìn xuống đại lộ.

Mặc Đỗ


                                                  

      

THAM KHẢO:

Các bài viết và hình ảnh của Mặc Đỗ, Ngô Thế Vinh, Trịnh Bình An ... từ nhiều websites, đặc biệt từ: Gió-O, Học Xá, Da Màu ...

     Xin vui lòng gởi thêm tài liệu và ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com