arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

    *** TRANG TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN VÕ PHIẾN VẪN ĐƯỢC TIẾP TỤC BỔ TÚC VỚI TÀI LIỆU MỚI ***

Cuối tháng 9 tôi nhận được thư của nhà văn Văn Quang từ Sài Gòn gởi cho một số thân hữu thông báo tin buồn là nhà văn, nhà báo, dịch giả Mặc Đỗ (tên thật là Đỗ Quang Bình) vừa qua đời tại Austin, Texas, hưởng thượng thọ 100 tuổi. Ông là một nhân vật nổi tiếng trong giới văn học Việt Nam Cộng Hòa, cũng là một trong những sáng lập viên của nhóm Quan Điểm và tờ báo Tự Do. Nhờ tin này tôi đã thực hiện một trang tưởng niệm về Ông ở website Cỏ Thơm:
 
Nhà văn Văn Quang cho biết: "trước 75 có gặp ông Mặc Đỗ ở tư gia trong cư xá Chu Mạnh Trinh cùng với Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn ăn uống và nói chuyện đời. Ông Mặc Đỗ hiền lành và không nóng nảy...".

Nhà văn Trịnh Bình An trong Ban chủ trương của Tủ Sách Tiếng Quê Hương vùng Hoa Thịnh Đốn nhận xét trong một bài viết về Mặc Đỗ năm 2014 như sau: "Mặc Đỗ là một tên tuổi lớn trong làng báo chí văn nghệ Sài Gòn trước 1975, nhưng giờ đây dường như chẳng còn ai biết tới ông. Không, phải xóa đi hai chữ “dường như” bởi vì thực sự chẳng còn ai biết tới Mặc Đỗ nữa. Khi tôi tìm kiếm trên mạng chỉ thấy vỏn vẹn vài truyện ngắn, vài dòng tiểu sử ngắn. Tại sao lại xảy ra như thế? Có thể vì Mặc Đỗ từng được biết tới như một dịch giả thay vì tác giả? Hay có thể vì Mặc Đỗ không tham dự vào các sinh hoạt văn chương hải ngoại? Dù sao, Mặc Đỗ cuối cùng đã quyết định gom một số truyện ngắn để cho ra đời tuyển tập “Truyện Ngắn” vào đầu năm 2014; cuốn sách dày 500 trang này tôi may mắn được một người bạn cho mượn về đọc..."

Vừa thực hiện xong trang "Tưởng Niệm Nhà Văn Mặc Đỗ" thì ngay tuần sau lại nhận được thêm tin buồn từ nhà văn Việt Hải (LA): Ông Võ Phiến (tên thật: Đoàn Thế Nhơn), một gương mặt lớn trong làng văn học Việt Nam cũng vừa giã từ chữ nghĩa và cõi thế ở Nam California, hưởng thượng thọ 90 tuổi. Ông là cây bút chính của tạp chí Bách Khoa trước 1975 và chủ trương tờ "Văn Học Nghệ Thuật" ở hải ngoại. Trong những ngày mưa gió bên miền Đông Hoa Kỳ vì ảnh hưởng của trận bão Joaquin, tôi bắt tay thực hiện trang "Tưởng Niệm Nhà Văn Võ Phiến". Những lần biên soạn như thế này, nhất là khi có thì giờ và yên tĩnh, tôi rất thích vì có dịp tìm hiểu thêm về tác giả và đọc lại những tác phẩm của họ. Mấy khi chúng ta bỏ thì giờ để lật lại những trang sách của các vị "tiền bối"? 

Riêng trường hợp của Võ Phiến, tôi thu thập được khá nhiều tài liệu về Ông từ các website trên internet: tác phẩm, hình ảnh, bài viết của văn thi hữu khắp nơi. Từ vùng Hoa Thịnh Đốn: Họa sĩ Đinh Cường và Biên khảo gia Nguyễn Ngọc Bích đã viết bài kỷ niệm về Võ Phiến và GS Hồ Bửu, Võ Học Tây Sơn Bình Định, người cùng quê với Võ Phiến, cũng qua Cali dự tang lễ. Riêng tôi, từ lâu đã thích tùy bút của Võ Phiến với lối nhận xét tỉ mỉ tinh tế và cách hành văn gọn, dùng từ địa phương dí dỏm, thật dễ đọc và lôi cuốn. Bài viết của Ông nhận xét về các "cây bút trẻ" như nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và nhà thơ Nguyên Sa cũng khá lý thú. Dĩ nhiên, tôi không tránh khỏi đọc các bài phê bình khen, chê qua lại về bộ sách "Văn Học Miền Nam" của Ông.

Xin thành kính chia buồn cùng tang quyến của 2 nhà văn Mặc Đỗ và Võ Phiến. Thành thật TRI ÂN hai Ông đã tận tụy suốt đời phụng sự cho nền văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm thật giá trị.
 
Phan Anh Dũng (6/10/2015 - Richmond, Virginia)


 

              

 

                       (Phân Ưu ở trên do nhà văn Trần Việt Hải soạn và gởi thân hữu ngày 1/10/2015) 

                           Mời đọc: "Xin Chia Tay Chào Bác Võ Phiến" - Việt Hải LA (pdf)

                  

                             Thủ Bút của Nhà Văn VÕ PHIẾN

                     

      

                     

                                                   Võ Phiến & phu nhân Viễn Phố

                            Lễ tưởng niệm nhà văn Võ Phiến
                                        Ngọc Lan/Người Việt October 3, 2015

WESTMINSTER, Calif. (NV) – Buổi tưởng niệm nhà văn Võ Phiến, một trong những đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại, do Nhật Báo Người Việt tổ chức, đã diễn ra trong không khí trang nghiêm tại Phòng số 1, Peek Family Funeral Home vào trưa Thứ Bảy, 3 Tháng Mười, với sự tham dự của gia đình, bạn bè, độc giả, đồng hương Bình Định, và nhiều người thuộc giới văn nghệ sĩ.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người điều hợp chương trình, đã nêu những nét chính về thân thế và sự nghiệp của nhà văn Võ Phiến ngay trong lời mở đầu.



Là người đầu tiên được mời lên phát biểu cảm xúc về sự ra đi của tác giả “Chữ Tình”, nhà văn Nhã Ca không nói về cảm nghĩ của riêng mình mà bà bày tỏ nỗi niềm qua sự “xúc động khi thấy nhà văn Doãn Quốc Sĩ lặng đến thắp một nén nhang cho người bạn đã đi trước mình.” Theo bà, “sự lặng lẽ của nhà văn Doãn Quốc Sĩ đã nói lên biết bao lời.”

Với nhà văn Nhã Ca không chỉ có “nụ cười Võ Phiến để lại hôm nay, ngày mai” mà “chữ nghĩa Võ Phiến sẽ còn lấp lánh mãi trong văn chương Việt Nam.”

Nhà văn Đặng Thơ Thơ Thì nhắc lại kỷ niệm thời “đọc lén” văn Võ Phiến thuở còn nhỏ trên căn gác xép, nhớ đến những nhân vật trong các tác phẩm của Võ Phiến.

Theo nhà văn Đặng Thơ Thơ, những nhân vật trong tác phẩm của Võ Phiến đã mở ra cho cô “một không gian thật mới mẻ, khó hiểu và quyến rũ, khác với thế giới của những quyển sách thiếu nhi, khác với Tự Lực Văn Đoàn. Thế giới này nói với tôi bằng một cách khác, một kiểu sắp đặt khác về trật tự không gian, thời gian, khác về cách biểu đạt ý tưởng, khác về cách chọn điều để nói và điều không nói.”

“Đây là một dạng văn chương không bao giờ cũ, nó thách thức mọi trào lưu, mọi trường phái. Văn Võ Phiến luôn luôn hiện đại bất cứ lúc nào. Những tác phẩm của Võ Phiến sẽ mãi ở lại với tôi, với thế hệ bây giờ và những người tiếp nối với tất cả niềm trân trọng.” Đặng Thơ Thơ khẳng định.

Bằng sự xúc động của riêng mình, kỹ sư, nhà thơ Trịnh Y Thư, nói như tâm tình, “Hôm nay chúng ta đến đây để nói lời từ biệt với nhà văn lớn nhất của văn học hiện đại, nhà văn Võ Phiến. Những tác phẩm ông để lại là khối gia sản vô cùng quý giá. Đó là những tác phẩm khi đọc lại ở bất kỳ thời gian, không gian nào cũng thấy thú vị, lôi cuốn và đôi khi bật ra những điều mới lạ mà mình đã không nhìn thấy khi đọc ở lần đầu. Ông đã nói được tiếng nói của thời đại mình . Ông cũng để lại cho hậu thế những suy ngẫm sâu sắc, mà một trong điều này là sự định nghĩa thế nào là một nhà văn.'

Hiền thê của nhà văn quá cố Nguyễn Mộng Giác, là bà Nguyễn Khoa Diệu Chi, cũng có mặt trong buổi tưởng niệm để nhắc lại mối thâm tình “rất thân thương, đáng nhớ ” với vợ chồng nhà văn Võ Phiến.

Ký mục gia Bùi Bảo Trúc chia sẻ cùng người tham dự những kỷ niệm mà ông có với tác giả “Thương Hoài Ngàn Năm”, người mà ông gọi là “người đàn ông tinh quái.” Ông kể về những bức thư được ông đặt vào chiếc hộp gọi là “Thư nhà”, để rồi vài năm sau đó bạn bè đã gửi tặng ông quyển sách của Võ Phiến cũng mang tên “Thư Nhà” xuất bản năm 1962.

“Quyển sách đó cùng với nhiều sách của Võ Phiến do bạn bè gửi sang tặng đã ảnh hưởng đến đầu óc, đến cảm quan của tôi, một thanh niên 19, 20 vừa mới rời trung học.” Ông nói.

Một cách xúc động, nhà báo Bùi Bảo Trúc đọc hai câu đối “gọi là tiễn chân ông già tinh quái”:

“Võ Phiến vẫn mãi gần bên Viễn Phố
Thế Nhơn luôn còn ở với người đời.”

Ông cũng đã dùng hai câu thơ của Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê “Tuổi già hạt lệ như sương/ Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan” để “khóc vĩnh biệt ông già tinh quái của tôi.”

Trong phần phát biểu của mình, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa nhận xét, “Nếu một tác phẩm lớn là một tác phẩm khiến chúng ta đọc, rồi đọc lại, đọc lại mãi mà vẫn thấy hay theo thời gian, nhất là với trình độ, kinh nghiệm, sự bầm dập của đời sống chúng ta càng thấy hay về cả học thuật lẫn nghệ thuật, thì tác phẩm Võ Phiến được xếp vào hàng những tác phẩm lớn.”

“Có thể mượn chữ cổ nhân để nói 'xếp tàn y ngôn ngữ mang đi tận cuối trời', mà cổ nhân ở đây chính là Võ Phiến. Nhưng ông đã không mang tàn y ngôn ngữ đến tận cuối trời mà ông để lại trọn vẹn cho chúng ta.” Ông nói thêm.

Với nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, thì “Điều quan trọng làm nên chất Võ Phiến, khiến ông trở thành người phát ngôn lôi cuốn, một cây bút tài tình của Việt Nam chính là ở những gì ông chọn nói và cách nói của ông.”

Không là người theo nghiệp văn chương chữ nghĩa, nhưng Giám sát viên, Luật sư Andrew Đỗ cũng có mặt tại buổi tưởng niệm để bày tỏ sự tôn kính của mình đối với một nhà văn lớn vừa ra đi.

Giám sát viên Andrew Đỗ nói, “Nhà văn Võ Phiến đã tạo ra một làn không khí mới để những người cầm viết được viết, được thở một cách tự do, độc lập, trong lành. Cho những thế hệ trẻ trong tương lai, những tác phẩm của bác Võ Phiến sẽ là những mảnh ván bể vụn trôi dạt trên bờ đại dương tự do để nhắc chúng ta bám víu vào đó và xây dựng lại một nền văn học lương thiện, đầy nhân bản.”



Nhà thơ Du Tử Lê thì cho rằng, “Nhà văn Võ Phiến là một trong rất ít nhà văn miền Nam xuất hiện trong tinh thần một kẻ sĩ sống giữa hoàn cảnh chia cắt bất hạnh của đất nước. Trong khi những nhà văn khác loay hoay đi tìm một cách viết khác cho nội dung văn chương của họ sao cho giống sự đổi mới của văn chương thế giới... thì nhà văn Võ Phiến vẫn lặng lẽ, bền bỉ dùng ngòi bút của mình, ngay từ những tác phẩm đầu tiên tố cáo tính chất vô nhân của chủ nghĩa cộng sản.”

“Đỉnh cao của ý thức nhân bản nơi nhà văn Võ Phiến là tác phẩm 'Bắt trẻ đồng xanh', đó là tiếng chuông báo động khẩn cấp thống thiết mà ông là người đầu tiên và cũng là nhà văn Việt Nam duy nhất lên tiếng khi ông nhìn ra nguy cơ cộng sản tẩy não đời sống của trẻ thơ miền Nam khi các em chưa có một chút ý thức. Tinh thần kẻ sĩ trong con người nhà văn Võ Phiến là một trong những nét son lớn trong sự nghiệp văn chương đồ sộ nhiều mặt mà ông đã tận hiến cho dân tộc, đất nước.” Nhà thơ Du Tử Lê nhận xét.


Cựu Trưởng Ty Thông Tin tỉnh Phong Dinh Phan Ngọc Tiếu, trong buổi tưởng niệm, nhắc lại kỷ niệm với Võ Phiến-Đoàn Thế Nhơn, với sự đóng góp trong chương trình thông tin tâm lý chiến không phải là nhỏ của ông.

Ông Hồ Bửu, người cùng quê Bình Định với nhà văn Võ Phiến, cũng bay từ Virginia về để nói lời tiễn biệt cùng tác giả “Văn Học Miền Nam Tổng Quan.”

Đặc biệt, vợ chồng nghệ sĩ Nga Mi-Trần Lãng Minh, ngay trong buổi tưởng niệm, đã tiễn nhà văn “Bắt trẻ đồng xanh” bằng bài dân ca quan họ Bèo Dạt Mây Trôi mà nhà văn Võ Phiến từng rất thích.

Thay mặt gia đình, ông Đoàn Giao Liên, con trai trưởng của nhà văn Võ Phiến, nói lời cám ơn cùng ban tổ chức và tất cả mọi người tham dự đã “dành một buổi tưởng niệm trang trọng, xúc động cho nhà văn Võ Phiến.”

Nhà văn Võ Phiến, tên thật là Đoàn Thế Nhơn, qua đời vào lúc 7 giờ tối ngày 28 Tháng Chín, 2015, tại Advanced Rehab Center of Tustin, Santa Ana, thọ 90 tuổi.

Nhà văn Võ Phiến là một tác giả quan trọng của văn học Việt Nam từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Trước 1975 ông là công chức thuộc bộ Thông Tin của Miền Nam, và đã cộng tác với tạp chí Bách Khoa cho đến 1975 với bút danh Tràng Thiên (một bút danh chung cho nhiều tác giả, nhưng từ sau 1965 hầu như chỉ dành cho một mình ông). Ông sang Hoa Kỳ từ 1975 và làm việc cho tòa Hành Chánh quận Los Angeles, California cho đến ngày về hưu. Tại hải ngoại, ông vẫn tiếp tục viết sách và cộng tác với các tạp chí văn học. Từ cuối thập niên 1970 ông đã chủ trương tờ Văn Học Nghệ Thuật, là tiền thân của tạp chí Văn Học sau này.

Võ Phiến là một tác giả đa dạng. Ông viết truyện ngắn, truyện dài, tạp luận, tùy bút, lý luận và phê bình văn học. Các tác phẩm đã xuất bản của ông gồm có, về truyện ngắn và tiểu thuyết: Chữ Tình, Người Tù, Mưa Đêm Cuối Năm, Về Một Xóm Quê, Đêm Xuân Trăng Sáng, Giã Từ, Thương Hoài Ngàn Năm, Thư Nhà...; về tùy bút, tạp bút: Tạp bút I, II, III, Đàn Ông, Ảo Ảnh, Phù Thế, Chúng Ta Qua Cách Viết, Đất Nước Quê Hương, Tùy bút I, II, Đàm Thoại v.v... Tại hải ngoại, ông đã bỏ công sức trong nhiều năm trời để soạn bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan nhằm lưu giữ nền văn học miền Nam đã bị Cộng Sản thiêu hủy từ sau 1975.

              Phóng sự của Người Việt về Lễ Tưởng Niệm Nhà Văn Võ Phiến

                                                          Phóng sự (video)

 

 


 

                      Ô Đặng Giao Liên, trưởng nam, đại diện gia đình Võ Phiến cảm tạ quan khách

Mà Có Nắm Tay Rồi Cũng Tuột

Một tối trăng (*)
Rồi một sáng mưa…
Hôm nay, mồng Bốn (**)
Lúc tàn trưa
Quan tài Võ Phiến không còn đó
Người ta đưa vào Nhà Hỏa Thiêu!
 
Những giọt nước mắt
Lệ trời và lệ người
Thi nhau nhỏ xuống trên nền đất
Gió chớm Thu
Buồn lắm, đủ chưa?
 
Bác Võ Phiến ơi
Chào vĩnh biệt
Nơi đây Viễn Phố, Bác nằm nghe!
Dẫu là hạt bụi nằm thao thức
Trọn một đời là giấc ngủ thôi!
 
Con lau nước mắt, con chào Bác
Không nắm bàn tay, được, cũng buồn
Mà có nắm tay, rồi, cũng tuột
Cổng đời khép chặt cánh Âm Dương!
 
Bốn mươi năm…chỉ là cơn mộng
Biết mộng mà sao lại ngủ vùi?
Non, Nước, Biển, Sông, Mây Trắng, hỡi
Bình nhang tàn rụng khói bay hơi!
 
Trần Vấn Lệ

 
(*)  Tối trăng 16 tháng 8 năm Ất Mùi, nhằm đêm 28 tháng 9 năm 2015, nhà văn Võ Phiến thở hơi cuối cùng. Ông chết!
(**) Buổi sáng 4 tháng 10 năm 2015, trời bỗng mưa, gia đình và bằng hữu làm Lễ Chào Vĩnh Biệt Ông, sau đó quan tài Ông được chuyển tới nhà hỏa thiêu, “Về đâu hạt bụi vàng thao thức theo bánh xe lăn vòng khát khao…” như thơ của Huy Cận…

                        Võ Phiến và “Sự Chờ Đợi”

            (Đặng Thơ Thơ đọc trong Lễ Tưởng Niệm nhà văn Võ Phiến ngày thứ Bảy, 3 tháng 10)

 Tôi được gặp nhà văn Võ Phiến vào năm lên 9 tuổi.

Lúc đó nhà bà ngoại tôi có một căn gác đầy sách, có đủ loại báo chồng chất, có toàn tập Văn, Bách Khoa, Sáng Tạo… Vào những buổi trưa vắng, tôi lên đó một mình, lục lọi, tìm đọc những thứ mà người lớn không cho trẻ con đọc. Căn gác gỗ mùa hè ở Sài Gòn rất nóng, không ai muốn lên gác vào giờ ấy, và vì vậy không ai phát giác ra việc tôi đã ở đó hàng giờ để đọc những thứ sách báo của người lớn. Và không ai biết rằng tôi đã gặp nhà văn Võ Phiến ở đó. Cùng với ông, tôi còn gặp nhiều người khác do ông dẫn đến. Một buổi trưa này, tôi gặp Anh Tư trong “Một Ngày Để Tùy Nghi”. Một buổi trưa khác, tôi gặp anh Bốn Thôi, ông Ba Thê, chị Bốn Chìa Vôi. Rồi lần lượt những Chàng/Nàng thay phiên nhau xuất hiện qua nhiều chương sách… Họ đến, họ nói, họ đi lại, họ suy nghĩ, rồi họ sống chung chật trong căn gác, ngay trước mắt tôi. Tất cả họ mở ra cho tôi một không gian khác, mới mẻ, và cũng khó hiểu, và cái khó hiểu này thật quyến rũ. Nó khác với thế giới tôi vừa đi qua của những bộ Thiếu Nhi, của Tự Lực Văn Đoàn. Cái thế giới này nói với tôi bằng một cách khác, khác về cách biểu đạt ý tưởng, khác về cách chọn điều để nói, và điều không nói. Nó lại đưa ra một kiểu sắp đặt khác về trật tự không gian và thời gian, và cách con người được soi chiếu trong không gian ấy. Nó rất mới, với tôi lúc ấy.

Và hôm qua, khi tôi thức khuya để đọc lại cuốn Võ Phiến Tuyển Tập, nó lại mới thêm một lần nữa trong tôi. Đây là một dạng văn chương sẵn sàng chấp mọi trào lưu, trường phái, mọi khuynh hướng, chủ nghĩa, đã và đang ào ạt đến rồi đi. Văn Võ Phiến không thể cũ, văn chương ấy luôn luôn hiện đại.

Nhiều tác giả có một đời sống sáng tác vô cùng sung mãn, nhưng người ta chỉ nhắc đến những tác phẩm đầu tiên của họ. Những gì viết sau đó chỉ là bóng của một sự nghiệp đã thiết lập quá sớm. Có những trường hợp như nhà văn J.D. Salinger qua đời năm 2010, lúc 91 tuổi, cuốn sách người ta nhắc đến như tiêu biểu cho sự nghiệp của ông là cuốn Bắt Trẻ Đồng Xanh xuất bản năm 1951. Tức là 59 năm trước đó. John Updike cũng than phiền rằng cho dù ông có cố gắng hết mức, để tự thay đổi cho những tác phẩm về sau, thì những cuốn đầu tiên vẫn cứ bị dùng làm nhãn hiệu gán cho ông, và những cuốn sau vẫn bị đem ra so sánh một cách vô cùng bất lợi, với những cuốn đầu tiên đó.

Nhưng đó không phải là trường hợp của nhà văn Võ Phiến.

Ở nhà văn Võ Phiến và tác phẩm của ông, đây là một hành trình hơn sáu mươi năm của một sự nghiệp bền bỉ, năng động, không ngừng, đa dạng, sáng tạo, từ Văn Học Miền Nam đến Văn Học Hải Ngoại, một vị thế phải nói là duy nhất.

Năm 2009, khi xuất bản cuốn Võ Phiến Cuối Cùng, Nhà văn Võ Phiến, trong một nhìn lại quá trình viết, đã tự vấn qua tùy bút “Thẫn Thờ”:
“Sáu mươi năm. Trong chừng ấy thời gian, được gì nào?
Hai tiếng được gì hàm ý chọn lựa. Thế nào là “được”. Thế nào là chưa “được”. Khó thay. Tự nó, cái viết có giá trị gì, có tầm quan trọng nào chăng? Cũng khó nói quyết.” (105)

Nhiều lúc nhà văn Võ Phiến gọi những tác phẩm của ông là đồ chơi, ông ví von sự vô dụng của những điều ông viết như sự vô dụng của cái gọi là tâm hồn:
“Không ai dùng tâm hồn làm cái gì cả. Hồn bất khả dụng, hồn vô sở dụng; nhưng là cái sở cứ. Có thể căn cứ vào nó để hiểu người xưa. Nghệ phẩm là những tài liệu, những chứng tích, chứng liệu. Nghệ phẩm không hữu dụng, nó hữu ích.
A, nghệ thuật!” (113)

“Không là đồ dùng, chỉ là đồ chơi. Chơi cho khoái thôi. Cho thỏa thích mê tơi thôi.” (111)

Điều này cũng là phát biểu chung của mọi ngành nghệ thuật. Những giây phút con người một mình chơi với chính họ, lúc một mình một căn gác riêng, lúc con người lặng lẽ nhìn vào, phát hiện, và phơi mở ra ánh sáng những điều ẩn náu bên trong họ,.. là những khoảnh khắc của nghệ thuật. Vì vậy, trong tùy bút “Hạ Hồi” của cùng tuyển tập, Võ Phiến đã nói đến cái nghệ thuật mà ông sử dụng trong những lúc chơi với chính mình. Đó là “Viết cho sâu vào, sâu tuốt vào tiềm thức”. (127)

Trong tiềm thức của nhà văn, ý tưởng về thời gian, cái chết, cuộc đời, và những gì còn lại của một cuộc đời, luôn là quan tâm và ám ảnh. Và những ám ảnh này luôn tìm cách tự thể hiện trên những trang viết của ông trong Võ Phiến Cuối Cùng. Chẳng hạn nói về nhân vật Cô Sáu trong “Hình Bóng Cũ”:
“Một cốt cách ở đời nó loáng thoáng khó bắt. Cái còn lại của một cốt cách: ít oi quá, mong manh quá.” (32)

Ông than thở như vậy cho người khác. Nhưng chẳng ai có thể than thở điều đó cho ông.

Cái cốt cách của một nhà văn, của nhà văn Võ Phiến, nó dày đặc, nó chồng chất, nó là cả ngàn trang sách, đủ mọi thể loại: truyện dài, truyện ngắn, truyện cực ngắn, ký, thơ, tùy bút, tạp luận, phiếm luận, nhận định, phê bình, biên khảo, dịch thuật. Cả một hệ suy tưởng nằm trong một nhân cách nhất quán và chính danh.

Không còn điều nào để lại cho đời quý giá hơn, giàu có hơn thế nữa.

Những ám ảnh về điều còn lại của một đời người đã xuất hiện trong tùy bút của Võ Phiến từ trước 1975, những tùy bút rất gần với truyện ngắn như “Một Chỗ Thật Tịch Mịch”, “Giọt Cà Phê”, “Cái Còn Lại”… Và ám ảnh này thể hiện rõ nét hơn trong thơ Võ Phiến từ thập niên 1990. Ít người nhắc đến thơ Võ Phiến, có lẽ vì mảng thơ của ông bị những khối lượng tiểu luận, nghiên cứu, và sáng tác đồ sộ đè bẹp. Có một bài thơ tôi rất yêu thích: “Sự Chờ Đợi”, viết năm 1995 trong tập Thơ (Thẩn). Bài thơ ngắn lắm, tôi xin phép đọc:

“Nó không hình không sắc
Tuyệt không có tiếng có lời
Nó không có gì. Chỉ là một đợi chờ lặng lẽ
Thế thôi.

Nó là sự chờ đợi từ vô thủy đến vô chung
Ai nấy lần lượt đến với nó, không ai gặp nó.
Tất cả đều hướng về nó, như hướng về ý nghĩa cốt tủy của chính mình.
Tất cả đi về hướng nó. Nó chờ.
Nó chờ một con kiến. Nó chờ một con voi.
Nó chờ một hạt bụi. Nó chờ một đoàn quân.

Trên dòng thời gian đang trôi, những kẻ xanh mặt bảo nhau: “Nó chờ.”
Những kẻ mặt xám như tro bảo nhau: “Nó chờ đấy.”
Những kẻ run rẩy, tắc cổ, nghẹn họng thì thào: “Sắp rồi. Nó thôi.”
Trông cái nắng ngoài song cửa, tôi nghĩ: Nó đang chờ.
Nhìn chiếc răng em trắng muốt, tôi thầm nghĩ: Nó đang chờ.
Mắt nhìn con chữ đang thành hình trên giấy,
                                                    tôi kêu thầm trong trí nhớ: Nó đang chờ.

Sự chờ đợi không lời mỗi lúc mỗi thiết tha
Và mỗi khẩn trương.”

(12-1995)

Đây là Sự Chờ Đợi chung của tất cả chúng ta. Sự Chờ Đợi nằm sẵn trong đời sống. Sự Chờ Đợi rất lớn ấy, tôi đồ rằng nhà văn Võ Phiến đã đến, đã nhìn tận mặt, một cách vinh dự và đường hoàng tự tại, một cách thảnh thơi và an nhiên, một phong cách đặc trưng Võ Phiến.

Hành trình của một người viết, dù dài hơi đến mấy, cũng sẽ có lúc phải chấm dứt. Nhưng hành trình của tác phẩm, thì sẽ vẫn thênh thang, sẽ ở lại với những người cùng thời, sẽ đi đến với những thế hệ sau. Những tác phẩm của nhà văn Võ Phiến, chắc chắn sẽ ở lại với tôi, với những người viết bây giờ, và những thế hệ tiếp nối, với tất cả niềm trân trọng.

Thứ Năm vừa rồi, nhà thơ Trần Mộng Tú cho biết một thánh lễ công giáo đã được cử hành ở nhà thờ St.Louise, thành phố Bellevue, tiểu bang Washington để cầu nguyện cho linh hồn nhà văn Võ Phiến.

Trong thế giới những người viết, và của riêng tôi, một nghi lễ khác đang diễn ra trong tâm tưởng. Vì văn chương, vốn là trò chơi bất tận, mà cũng là tôn giáo của tôi.

Xin được cám ơn nhà văn Võ Phiến

Đặng Thơ Thơ


                              Võ Phiến - Thụy Khuê

                    
                                            Nhà văn Võ Phiến (1925-2015)

Tiểu sử Võ Phiến

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.

1945, Võ Phiến gia nhập bộ đội trong một thời gian ngắn, sang 1946 ra Hà Nội học trường Văn Lang; đến tháng 12/ 1946, trở về Bình Định tham gia kháng chiến, sang năm 1947 về làm thuế quan tại Gò Bồi. Năm 1948, ông kết hôn với cô Võ Thị Viễn Phố (Võ Phiến là Viễn Phố nói lái) và ông dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V. Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin ít lâu rồi xin chuyển vào Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu Chữ tình (1956) và Người tù (1957), gửi bài đăng trên hai tạp chí Sáng Tạo và Bách Khoa. Từ tác phẩm thứ ba Mưa đêm cuối năm (in năm 1958, tại Sàigòn), Võ Phiến bắt đầu nổi tiếng, ông xin đổi vào làm việc tại Sài Gòn, cộng tác thường xuyên với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn … và trở thành một trong những cây bút chính của tờ Bách Khoa, cùng với Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh v.v… 1962, Võ Phiến lập nhà xuất bản Thời Mới.

Rời nước một tuần trước ngày 30/4/1975, một thời gian sau ông định cư tại Los Angeles, làm công chức thuế vụ.

Võ Phiến là một trong những người đầu tiên có công xây dựng nền văn học Việt Nam Hải Ngoại, chủ trương tập san Văn Học Nghệ Thuật từ 1978 đến 1979, rồi từ 1985 đến 1986. Tờ Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến là nguyệt san văn học có uy tín đầu tiên tại hải ngoại, là tiền thân của tờ Văn Học mà sau này Nguyễn Mộng Giác tiếp nối. Văn Học Nghệ Thuật đã mở dầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, hội tụ những cây bút cũ và mới, tạo ra một lớp người viết và người đọc tham dự vào văn chương tiếng Việt.

Từ tháng 7/1994, Võ Phiến nghỉ hưu nhưng vẫn viết, hiện ông sống tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ.

Ông là tác giả của trên dưới 30 tác phẩm gồm đủ mọi thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, tạp luận, biên khảo, phê bình, dịch thuật.

Tác phẩm đã in:



TIỂU THUYẾT: Giã từ (Bách Khoa, Sài-gòn, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), Nguyên vẹn (Người Việt, California, 1978).

TRUYỆN NGẮN: Chữ tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956), Người tù (Bình Minh, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, Sài-gòn, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm (Bút Nghiên, 1962), Về một xóm quê (Thời Mới, 1965), Truyện thật ngắn (Văn Nghệ, California, 1991).

TÙY BÚT: Thư nhà (Thời Mới, 1962), Ảo ảnh (Thời Mới, 1967), Phù thế (Thời Mới, 1969), Đất nước quê hương (Lửa Thiêng, 1973), Thư gửi bạn (Người Việt, California, 1976), Ly hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, California, 1977), Lại thư gửi bạn (Người Việt, 1979), Quê (Văn Nghệ, 1992).

TIỂU LUẬN: Tiểu thuyết hiện đại (bút hiệu Tràng Thiên, Thời Mới, 1963), Văn học Nga Xô hiện đại (Thời Mới, 1965). Tạp bút, ba tập (Thời Mới, 1965-66), Tạp luận (Trí Đăng, 1973), Chúng ta qua cách viết (Giao Điểm, 1973), Viết (Văn Nghệ, 1993), Đối thoại (Văn Nghệ, 1993).

BIÊN KHẢO: Văn học miền Nam tổng quan (Văn Nghệ, 1986), Văn học miền Nam, 6 tập, gồm 3 tập về truyện, 1 tập ký, 1 tập kịch – tùy bút và 1 tập thơ (Văn Nghệ, 1999).

DỊCH THUẬT: Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig) (Thời Mới, 1963), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois) (Thời Mới, 1964), Truyện hay các nước, 2 tập, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng (Thời Mới, 1965), Ông chồng muôn thuở (Dostoïevski) (1973).

Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến toàn tập, 9 cuốn (Văn Nghệ, 1993).

Võ Phiến không phân biệt rõ ràng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn, giữa truyện ngắn và tùy bút. Truyện ngắn của ông thường là truyện dài viết ngắn. Có những truyện ngắn lại được ông xếp vào loại tùy bút. Cho nên việc phân chia thể loại trong tác phẩm của Võ Phiến chỉ có tính cách tương đối.

Tuy viết nhiều thể loại, nhưng sở trường của Võ Phiến là truyện ngắn, truyện dài và tạp văn (tiếng chúng tôi tạm gọi chung cho tùy bút, tạp bút và tạp luận của Võ Phiến). Thơ ông không quan trọng so với văn và ông cũng không chuyên về biên khảo phê bình.

oOo

Là một trong những nhà văn hàng đầu của miền Nam, Võ Phiến có chỗ đứng và lối sống biệt lập, không theo thời thượng. Nề nếp công chức, chừng mực, ít tham dự các phong trào đổi mới, không theo nhịp sống hoa lệ của Sài gòn ban đêm, ông viết: “Không có xi nê, đánh bài, bơi lội, cải lương… gì hết. Quanh năm tôi ít trông thấy Sàigòn ban đêm. Chỉ có đọc, và thỉnh thoảng thấy cần len lỏi, vu vơ trong các ngõ hẻm” (Tạp bút, trang 407).

Thời 55-60, những trào lưu mới của văn học Tây phương rất thịnh hành ở miền Nam, Võ Phiến đọc nhiều, ông nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại và viết cả một cuốn tiểu luận về vấn đề này, nhưng trong sáng tác, ông không chịu ảnh hưởng rõ ràng một ai hoặc trường phái nào. Giữ phong cách một nhà văn độc lập, gần như cổ điển: ở truyện ngắn, truyện dài, giọng cân nhắc, chặt chẽ, mô tả tỷ mỉ, đôi chỗ tỏ ra quê mùa, khề khà thô vụng. Trong tùy bút ông buông thả hơn, giọng hóm hỉnh pha trò, có chỗ mỉa mai cay độc.

Ở miền Nam những năm 60, khi lớp trẻ đọc thơ Nguyên Sa, hát Tiễn em của Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng… thì Võ Phiến đưa ra những nhân vật quê mùa, tầm thường, như anh Bốn Thôi, ông Ba Thê Đồng Thời, chị Bốn Tản, Bốn Chìa Vôi, những thân phận lạc loài, không hẫp dẫn, chẳng ai bận tâm, mất thì giờ mô tả. Đó là những mảnh vụn, thừa thẹo của xã hội, sống âm thầm như chưa hề có mặt. Võ Phiến chiếu xuống từng mảng thân xác và tâm hồn ấy, ông banh bét ra, ông đi vòng vo quan sát, nhẩn nha trò truyện. Người nóng tính bực mình, chờ đợi một cái gì ghê gớm xẩy ra thì chẳng bao giờ thấy. Cho nên thời 55-75, ở trong nước, Võ Phiến không phải là một nhà văn ăn khách.

1975, di tản sang Hoa Kỳ, uy thế văn học của ông đổi khác. Người ta tìm đọc Võ Phiến. Trước hết, vì Võ Phiến là người tiên phong khơi lại nền văn học đang bị xoá sổ ở quê nhà; thêm nữa, nhà xuất bản Văn Nghệ của Võ Thắng Tiết in lại toàn tập Võ Phiến, trường hợp duy nhất tại hải ngoại, lần này sách bán chạy, nhiều người cầm bút hết lời ca ngợi. Nhưng lý do sâu xa nhất của sự biến đổi tâm lý trong lòng người đọc đối với tác phẩm của Võ Phiến là khi đã bị tróc rễ, đắm thuyền, mất hết cả, chỉ còn lại độc một chiếc áo vá trên vai, người ta mới thấy quý mến và trân trọng nó. Tác phẩm của Võ Phiến đối với người Việt di tản, như manh áo rách cuối cùng còn lại trên thân sau cuộc đổi đời, như bữa cơm đầu sau những ngày đói khát trên biển. Lạc loài, bơ vơ trên đất khách, không thể bám víu vào nguồn cội nào, những cụ già bị bấn ra khỏi nước đứng xếp hàng trước một tiệm chạp phô ở Paris để mua vài miếng trầu, miếng vỏ bỏ mồm. Trong cơn thèm khát quê hương thấu suốt thịt da, người ta chỉ còn biết bám vào hũ mắm cua chua, vào quả ổi tầu, vào chiếc bánh tráng Bình Định để ăn lai rai, ăn hàm thụ, mỗi ngày một miếng qua tác phẩm của Võ Phiến.

Tác phẩm của Võ Phiến chiếu vào phần u uẩn, khuất lấp trong tâm hồn những người dân tầm thường, quê mùa như ông Bốn Tản (Lẽ sống) chị Bốn Chìa Vôi (Chim và rắn), anh Bốn Thôi (Lại thư nhà), ông Ba Thê Đồng Thời (Giã từ), những thân phận lạc lõng, thừa thẹo, rách rưới, sống ngoài lề xã hội, trong một quê hương mà chiến tranh có thể tàn phá được tất cả, trừ những hũ mắm, những hạt trà… Đó là phần tinh túy nhất trong nước cốt quê hương, là mùi dân tộc mà nhà văn cất ra được dưới giọng văn khề khà, thô lậu, với nghệ thuật miêu tả tinh vi.

Những nhân vật của Võ Phiến khởi đi từ ký ức tuổi thơ của một cậu bé lớn lên trong thế giới đàn bà, bà nội và các cô, ở miền quê Bình Định; rồi từ Bình Định, phiêu bạt đi nơi khác, trôi dạt như chính bản thân ông trong các chuyến đi, chuyển nhà, chuyển ở.

Tác phẩm của Võ Phiến thầm kín nói lên những chua xót không nói ra được, làm bật những nín thinh của kẻ suốt đời tìm kiếm những mất mát của chính mình qua độc thoại mà không ai đối thoại. Tác phẩm của ông chiếu vào sự vong thân của con người khi phải bứt khỏi nguồn cội.

Ở những truyện thật hay như Người tù (1955), Dung (1956), Lỡ làng (1956), Anh em (1957), Thác đổ sau nhà, Lẽ sống (1958), Chim và rắn (1967), … ông có cái nhìn soi mói vào những chỗ hiểm hóc nhất về tâm lý và dục tính của con người. Nghệ thuật của Võ Phiến chủ yếu nằm trong sự mô tả.

Ở những truyện Lỡ làng, Anh em, Thác đổ sau nhà, Lẽ sống, chân dung con người được hình thành qua những ẩn ức dục tính. Trong truyện Dung, ông mô tả những động tác của một nhân vật trong bữa ăn, và qua cách gắp, cách nhìn, cách lựa món, Võ Phiến làm bộc lộ cái bản năng sâu kín nhất của con người. Trong truyện Người tù, ông mô tả một thanh niên biết mình sắp chết nhưng chưa được hưởng lạc thú thể xác, kể ra những fantasme, những tưởng tượng, để lừa người nghe và lừa mình. Truyện Chim và rắn mổ xẻ sự xuống cấp dần dần của một người đàn bà quê mùa tốt bụng ngây thơ như chim, sau nửa thế kỷ lặn lội trong chiến tranh và thù hận, trở thành rắn.

Con người luôn luôn muốn che đậy sự thật về mình, giấu mình dưới vỏ bề ngoài. Võ Phiến có khả năng lật tẩy cái bên trong con người bằng cách chỉ nhìn và ghi những gì phát tiết ra ngoài. Những ám ảnh nội tâm, những mặc cảm, những bản năng, những khát vọng… chẳng qua chỉ là phần chìm của tảng băng mà bề nổi có thể chụp bắt được. Nhưng phải làm sao chụp đúng lúc, phải bắt quả tang. Võ Phiến luôn luôn bắt quả tang đúng lúc cái giây phút con người sơ hở để lộ mặt thật của mình. Người ta thường nói Võ Phiến sắc sảo: sự sắc sảo của ông chính là ở chỗ đó: Ông bắt trúng, bắt quả tang, trong khi người khác cũng rình mà đôi khi không bắt được gì cả.

Nhà văn duy vật, vô thần
Sự mô tả chi li và ẩn ức tính dục


Truyện của Võ Phiến chiếu vào nội tâm u uẩn của con người, bằng nhiều cách, qua hai lối viết khác nhau: Giai đoạn đầu, truyện viết theo lối cổ điển, nhà văn đứng ngoài mô tả. Giai đoạn sau, ông vào trong da thịt của nhân vật.

Tâm lý là phần sâu nhất trong tác phẩm của Võ Phiến, nhưng ông không phân tích tâm lý theo lối truyền thống, mà trình bày theo lối hiện đại, tức là tâm lý được phát hiện qua cử chỉ, qua cách ăn nói, qua hành động và thái độ sống, tất cả nghệ thuật này được thực hiện qua sự mô tả chi li.

Tìm hiểu Võ Phiến là tìm hiểu về sự chi li này. Võ Phiến đọc nhiều và nghiên cứu khá kỹ về văn học hiện đại thế giới. Tuy ông cho rằng ông chịu ảnh hưởng Marcel Proust, nhưng đọc kỹ, thì cái chi li trong văn ông không giống cái chi li tìm thấy trong ký ức thơ mộng của  Proust mà gần với cái chi li hiện thực Hồ Biểu Chánh cộng thêm những yếu tính tiểu thuyết mới và những ẩn ức dục tính của Freud. Nói cách khác, văn phong Marcel Proust dựa trên tâm tưởng và đầy chất thi ca, Proust nghiêng về nghệ thuật và đời sống tinh thần, trong khi Võ Phiến chiếu vào hiện thực sinh tồn, vào cử chỉ đích thị, vào đời sống thể xác, vật dục.

Võ Phiến ảnh hưởng ai và ảnh hưởng như thế nào? Đó là những câu hỏi lý thú.

Có thể nói văn ông, ngoài những nét đặc thù Võ Phiến mà chúng ta sẽ xác định sau, còn có những yếu tố khác: có Freud trong cách trình bày ẩn ức tính dục. Có Nhất Linh trong việc đặt tên nhân vật, những Bốn Thôi, những Ba Thê Đồng Thời của Võ Phiến rất bà con với những ông Năm Bụng, Ông Giáo Đông Công Đức Tin Lành của Nhất Linh trong Xóm Cầu Mới, và cách lấy một phần của thân thể làm biểu tượng cho toàn diện, cũng rất Nhất Linh. Có Hồ Biểu Chánh trong lối mô tả chi tiết và sử dụng tiếng Việt. Có ảnh hưởng hiện sinh qua cách dùng hành động để xác định tâm lý và bản chất của nhân vật. Có Nathalie Sarraute trong cách mô tả hiện tượng trong tiểu thuyết mới, nhưng Sarraute chỉ nhắm vào hiện tượng bằng cái nhìn khách quan để ghi lại toàn diện sự thể mà không muốn «nói lên» một cái gì. Trong khi Võ Phiến soi tỏ hiện tượng để nói lên ẩn ức tính dục, ẩn ức tham lam trong nội tâm nhân vật. Tất cả những yếu tố tạm gọi là ảnh hưởng này, Võ Phiến đã nghiền nát trong tác phẩm, chúng đã bị Võ Phiến hoá, chúng đã trở thành bản chất của Võ Phiến, cho nên phải dùng kính hiển vi mới thấy được.

Trọng tâm các truyện hay của Võ Phiến luôn luôn chiếu vào nội tâm con người: con người bị hoành hành, bị dằn vặt bởi những yếu tố ở trong và ở ngoài mình. Yếu tố ở ngoài là hoàn cảnh, là môi trường: môi trường chiến tranh, hoàn cảnh bị bật rễ ra khỏi quê hương. Yếu tố bên trong, mới thực sự quan trọng, tức là phần thân xác, phần đòi hỏi của các cơ năng, các nhu cầu vật chất, đưa đến những hành động và cách sống, đưa đến sự sa đọa.

Trái ngược với những người chủ trương tinh thần làm chủ vật chất, những nhân vật của Võ Phiến bộc lộ phần bản năng, phần cơ thể, và chính phần đó mới làm chủ mọi sinh hoạt của con người. Và đó cũng là nền tảng tư tưởng của Võ Phiến.

Vì vậy, có thể nói Võ Phiến là nhà văn duy vật đầu tiên của Việt Nam, thực sự duy vật. Ông trình bày bản tính thâm sâu của con người qua những cử chỉ ăn uống bài tiết, tiêu hoá, sinh lý mà không hề bận tâm lo lắng đến phần tâm linh, tâm hồn, thường được coi là linh thiêng, cao cả, đối với người Việt. Không ai còn lạ gì sự chống Cộng triệt để của Võ Phiến, nhưng lại cũng không ai nhận ra tính chất duy vật gần như tuyệt đối trong tác phẩm của Võ Phiến. Và đó chính là cái mâu thuẫn sâu xa nhất trong tư tưởng của con người, nó nằm trong vô thức như một sự chống lại chính mình mà nhà văn không hề hay biết.

Ngay trong truyện ngắn Dung, in năm 1956, đã xuất hiện những yếu tính đặc thù này.

Nhận xét đầu tiên: trong Dung, Võ Phiến đã dùng hoán dụ như một thủ pháp tài tình. Nghiã là ông lấy một phần rất nhỏ của cơ thể để biểu dương toàn diện. Việc này trong thuật ngữ văn chương người ta gọi là làm một phép hoán dụ, thí dụ trong câu Chinh phụ ngâm: “Khách má hồng nhiều nỗi chuân chuyên”, tác giả lấy hai chữ “má hồng” để chỉ toàn diện người đàn bà đẹp. Thủ pháp này Tolstoï hay dùng trong văn, ví dụ khi tả cái chết của Anna Karénine, Tolstoï chỉ cho thấy chiếc ví tay của nàng rơi vãi tung toé. Nhất Linh rất thích phương pháp này của Tolstoï và ông cũng đã áp dụng tài tình khi tả Thu nằm ngủ hở cánh tay trong Bướm trắng. Đến Võ Phiến sức biến ảo lại khác lạ hơn nữa. Chúng ta thử xem cách ông giới thiệu cánh tay như một toàn thể quyến rũ như thế nào, ông viết:

“Bức hình lớn đàng xa kia vẽ thái tử Sĩ-đạt-ta bước vào phòng nhìn vợ một lần cuối cùng trước khi từ giã kinh thành ra đi. Trong phòng không có ngọn đèn nào, người đàn bà nằm ngủ thiêm thiếp dưới ánh sáng của ban ngày. Tiếp theo đó là bức hình vẽ đức Phật trầm tư dưới gốc bồ đề. Rồi trên tấm hình lóe sáng này là thái tử đưa lưỡi gươm lên tự cắt món tóc trên đầu mình trong lúc hai kẻ gia nhân đang xuống ngựa quỳ trước mặt xin rước người về. Mới nhìn lần đầu vào bức tranh này Phương đã chú ý đến hai cánh tay của đức Phật và cho đến bây giờ, mỗi lần quay về phiá ấy là anh lại nhớ đến hai cánh tay mềm mại, tròn nung núc và đỏ hồng hồng, hai cánh tay con gái quá đẹp. Trông thấy cánh tay ấy huơ lên chỉ có thể nghĩ là trong một điệu múa, có ai ngờ là vung gươm trong một cử chỉ dứt khoát, đoạn tuyệt với cõi đời phàm tục.” (Dung, trong tập Truyện ngắn 1, trang 24)

Cánh tay của đức Phật, có lẽ là lần đầu tiên được đưa vào tiểu thuyết một cách «gợi cảm» như thế, được ngắm nghía kỹ càng và thấy toát ra mùi vị con gái «hấp dẫn» như thế. Nhưng chưa hết, cánh tay ấy lại dẫn Phương liên tưởng đến một cánh tay khác:

“Hôm ấy anh nhìn qua cửa sổ, thấy Dung đang chải tóc, mặc chiếc áo cánh trắng, để trần hai cánh tay. Hôm ấy mới cách hôm nay có một tuần lễ. Hình ảnh còn rõ rệt quá. Tiếng con ngỗng kêu, mùi lá ướt của bờ rào chè răng cưa, mùi lá mục, đất ẩm bên đường đi, hình chiếc áo căng thẳng ở sau lưng và những nét dun lại trên vai áo Dung khi hai tay vươn lên đầu chải tóc…, tất cả, anh vụt thấy, nghe, ngửi lại được tất cả buổi mai hôm đó” (trang 24).

Võ Phiến vừa buông ra thủ pháp nghệ thuật đầu tiên của ông, đồng thời cũng đưa ra những ý nghĩ táo bạo đầu tiên của một nhà văn vô thần, gần như phạm thượng đối với đức Phật. Tuy vậy những điều ông viết ra hoàn toàn có lý và dựa trên sự thật, không có gì bổ báng cả. Những ai tinh ý đều nhận thấy những bức tranh vẽ đức Phật Thích Ca, khi còn là thái tử, thường có những nét rất con gái. Điều này phù hợp với cách biểu hiện các vị thần linh, ở Ấn Độ. Thật vậy, các vị thần như Vishnou hay Shiva, dù là đàn ông, nhưng thường được vẽ dưới nét đàn bà. Nhưng sự táo bạo phi thường của Võ Phiến là ông không chỉ dừng ở chỗ nhận ra cánh tay đức Phật giống con gái, mà ông còn nối kết cánh tay “tròn nung núc và đỏ hồng hồng” của đức Phật, với “cánh tay trần của Dung”, khơi trong đầu Phương những thức động dục tình lúc anh ta thấy Dung ngồi lễ Phật. Ở đây, sự thức động dục tình đến từ một bức tranh, tranh… Phật.

Một đoạn khác, Võ Phiến viết về bữa ăn, như sau:

“Tôi chưa thấy ai có lối ăn uống tàn bạo và bủn xỉn như hắn. Tiếc rằng những nét ấy không biểu lộ trong cặp mắt.

Vừa đối diện với mâm cơm, bằng một cái liếc rất nhanh, hắn đã định ngay được giá trị từng món ăn, chọn ngay được món ăn ngon nhất. Và từ đầu đến cuối bữa ăn hắn tấn công vào trọng tâm một cách kiên nhẫn, tàn bạo, nhưng khôn ngoan lạ kỳ. Có nhiều người đang ăn vụt chú ý đến món mà mình thích nhất gắp liền năm bẩy miếng, ăn lia liạ. Những người ấy hoặc quá thật thà hoặc lơ đãng; đôi khi lại là những người chăm nói chuyện, mà ít quan tâm đến việc ăn. Có người gắp quàng xiên tùy hứng không suy nghĩ. Có người tình toán rất công bình. Những người già những người bác nhược ăn uống yếu đuối thường ngập ngừng đưa đôi đũa lưỡng lự giữa mâm. Hạng lớn tuổi có khi tự do, thân mật đến lẩm cẩm, phóng đôi đũa ra sát mâm rồi mới chọn lựa. Ngọn đũa của thanh niên quyết định nhanh chóng không dè dặt. Người tỉ mỉ hay sửa soạn, tém vén kỹ lưỡng miếng đồ ăn trước khi bưng chén lên và. Mỗi người có một lối ăn. Riêng hắn thì hắn không tham lam một cách thực thà, không bao giờ gắp liên tiếp đôi ba lần món ăn ngon nhất. Nhưng hắn không có một phút lơ đãng. Hắn tính toán chu đáo, gắp khắp các đĩa, nhưng tổng kết lại thì thế nào cũng gắp được món ngon nhiều hơn cả. Và hắn theo dõi ngọn đũa của tất cả các thực khách, không dung thứ cho một người nào hơn mình. Hắn cạnh tranh kín đáo nhưng ráo riết. Hắn bực mình nhất là gặp phải kẻ lơ đãng. Kẻ lơ đãng đôi khi thình lình tấn công liên tiếp vào món ăn ngon, như một cua-rơ tự nhiên bức phá, làm cho hắn phải ra sức đuổi theo kèm sát. Có để ý đến thái độ của hắn trong những trường hợp này mới thấy hắn khéo léo thần tình. Hắn lầm lì như không hề quan tâm chú ý đến đối phương nhưng hắn suy tính chín chắn và phản công trả đũa, chận đứng đối phương rất nhẫn tâm. Bình thường thì ngọn đũa trí trá của hắn thu lại đầy ý thức chuẩn bị, rồi đột nhiên vụt phóng ra nhanh nhẹn lạnh lùng như một con cò già lão luyện phóng mỏ bắt ruồi, trăm lần không sai đích một lần.” (Dung, trang 35-36)

Đoạn văn trên đây trình bày toàn diện thủ pháp nghệ thuật và chiều hướng tư tưởng của Võ Phiến: Con người bày tỏ bản ngã trong bữa ăn qua thủ đoạn và cách tấn công vào các món. Đôi đũa được coi như vũ khí chiến đấu. Cục diện bữa ăn được mô tả như một trận chiến mà các đối thủ tàn sát nhau trong ván cờ người. Cách tiến thủ của đôi đũa được bày bố như cách thối lui của các lưỡi gươm, các tay súng trận.

Nhà văn thường tách rời hai địa hạt mô tả và địa hạt bàn luận: đã mô tả thì không bàn luận và đang bàn luận thì tránh mô tả. Cách mô tả của Võ Phiến rất đặc biệt, ông vừa tả vừa luận. Rất ít nhà văn làm như thế bởi vì làm như vậy rất khó, pha trộn hai thể loại khác nhau, văn dễ bị sống, luận ra đằng luận, tả ra đằng tả. Đằng này Võ Phiến thành công một cách thần tình: Ông vừa buông ra câu tả cách gắp của người lớn tuổi, chen ngay sau đó là câu luận về cách gắp ấy để rút ra một nhận định về tính tình kẻ gắp.

Võ Phiến sử dụng tinh vi đôi mắt nhà văn qua hai yếu tố: cái nhìn và lối nhìn. Nhưng ông không chỉ dừng lại ở đôi mắt nhà văn mà ông còn sử dụng tất cả những đôi mắt khác mà nhà văn bắt gặp trong các nhân vật. Nếu tiểu thuyết mới, còn được gọi là Ecole du regard, Trường phái cái nhìn thì đây, Võ Phiến cũng đã lập ra một trường phái nhìn riêng biệt của mình, ngay từ năm 1956, và ông dùng cái nhìn trong một dụng ý hoàn toàn khác với tiểu thuyết mới : Tiểu thuyết mới dùng cái nhìn để mô tả hiện tượng theo quan điểm triết học hiện sinh, tức là để chứng minh sự hiện hữu của thực thể, nó lù lù ra đấy, nó như thế đó, nó không đi từ một bản chất nào có sẵn, bởi hiện hữu có trước bản chất. Trong khi Võ Phiến dùng cái nhìn để soi mói vào bản chất tham lam, bản chất ghen tuông, đố kỵ của con người. Và theo ông tất cả những gì thúc đẩy hành động của con người, đều nằm trong hai đòi hỏi chính của thân xác, là ăn uống và sinh lý.

Võ Phiến cũng không chỉ dùng đôi mắt của mình để soi mói nhân vật mà ông còn bội phân đôi mắt ấy lên nhiều lần, tức là ông dùng mắt mình để theo dõi nhân vật, rồi ông dùng mắt của nhân vật này chiếu vào nhân vật khác. Sự chiếu qua chiếu lại giữa các nhân vật gây ra những ánh mắt phản hồi, tương tác, đối tác, cộng hưởng… do đó có thể nói Võ Phiến đã tìm cách thay đối thoại miệng bằng đối thoại mắt trong sinh hoạt của con người. Những gì sâu lắng thường không nói ra được, chỉ có thể cảm thấy và biểu thị bằng ánh mắt.

Tóm lại, hai yếu tố chính xây dựng nên nghệ thuật của Võ Phiến là con mắt và chi tiết, và những chi tiết nào đáng chú ý nhất đối với ông? Đó là những điểm trên thân thể con người: từ cánh tay nõn nà của đức Phật, hay cánh tay trần của Dung, đến đôi mắt cú vọ của Bình xoáy vào mâm cơm, hoặc sợi lông mũi hay vết nẻ trên gan bàn chân của anh Bốn Thôi… tóm lại, những chi tiết tầm thường nhất trên thân thể con người, không mấy ai chú ý, đều được Võ Phiến chiếu kính hiển vi vào và ông đã làm nên truyện lớn.

Bốn tác phẩm cột trụ : Giã từ, Lại thư nhà, Một mình và Đàn ông

Võ Phiến thật sự bước vào nghiệp văn sau 1954. Khoảng thời gian đầu từ 1955 đến 1959, ông còn ở Quy Nhơn, cũng là thời gian phát triển truyện ngắn, tác phẩm thường được xây dựng trong bầu khí tối sáng, tranh chấp giữa quốc gia và cộng sản. Tuy vậy, yếu tố chính trị chỉ là nền, mục đích chính của ông là làm lộ cá tính nhân vật, thể hiện sự giằng co giữa cá nhân và thân xác như trong các tác phẩm Người tù (1955), Dung (1956), Thác đổ sau nhà (1957) v.v ..

Giai đoạn hai, Võ Phiến chuyển nền chính trị sang nền ly hương, và trong thời gian này ông phát triển truyện dài. Tác phẩm Giã từ viết năm 1960, mở đầu cuộc ly hương của Võ Phiến: rời Bình Định vào Sài Gòn năm 1959. Ông mô tả cái đớn đau của những kẻ sống ngoài lề xã hội, những kẻ bị đánh bật rễ. Nhân vật Ba Thê Đồng Thời trong Giã từ sống như một ký sinh trùng, ăn nhờ vào kẻ khác, gió chiều nào cũng ngả, một kẻ mất gốc mang những u uất của con người trực diện với chiến tranh, tha hoá tột độ, tìm cách sống còn.

Giai đọan thứ ba: Phi thời gian. Từ 1965 trở đi, một số nhân vật tiểu thuyết của Võ Phiến thoát khỏi môi trường chiến tranh hoặc ly hương, để đứng riêng như những con người trần trụi, trực diện với nội tâm. Võ Phiến đã viết những tác phẩm giá trị như Một mình (1965) và Đàn ông (1966). Trong Một mình lấp ló ảnh hưởng triết học hiện sinh, Một mình là một thứ Buồn nôn của Võ Phiến: Con người nhận diện chính mình trong sự cô đơn gần như tuyệt đối.

Ở hải ngoại, Võ Phiến viết truyện dài Nguyên vẹn in năm 1978 về cuộc ly hương thứ nhì: từ Sài Gòn sang Mỹ. Nhưng Nguyên vẹn không đạt được nghệ thuật ở những tác phẩm trước, Võ Phiến đã không tạo được “không khí” Sài Gòn sau 75, có lẽ vì lúc đó ông đã đi rồi; hơn nữa, Võ Phiến không thoải mái trong những bối cảnh rộng lớn với nhiều nhân vật.

oOo

Nghệ thuật của Võ Phiến bộc lộ trong những không gian nhỏ, khép kín, từ truyện ngắn đến truyện dài. Có thể nói, bốn tác phẩm Giã từ, Lại thư nhà, Một mình, và Đàn ông, đã tạo nên sườn chính của tư tưởng và nghệ thuật Võ Phiến. Mỗi tác phẩm mang một sắc thái, nhưng đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, một nghệ thuật tỉ mỉ, sâu sắc. Ngòi bút ông xoáy sâu vào những cử chỉ nhỏ nhặt, vô nghĩa nhất để vẽ nên toàn bộ con người. Thế giới nhân vật của ông được hình thành qua những chân dung rõ nét, cá tính bộc lộ sâu sắc, luôn luôn bị dày vò trong ám ảnh nhục dục. Về mặt tư tưởng, Võ Phiến đi sâu hơn nữa về phía vô thần và duy vật. Về cách thể hiện, ông chuyển từ lối viết truyền thống, sang lối viết hiện đại hơn, tức là ông không còn đứng ở vị trí bên ngoài của người kể chuyện mà dần dần ông thâm nhập vào trong da thịt nhân vật để mô tả. Giã từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên, một truyện vừa, khoảng 80 trang, là sự bắc cầu giữa hai lối viết truyền thống và hiện đại. Lại thư nhà, hơn 60 trang, là tác phẩm chủ yếu, cô đọng không gian Võ Phiến, đưa chúng ta vào thế giới những nhân vật của ông. Đàn ông, chiếu vào những nhân vật ấy, nói đúng hơn là những người đàn ông ấy, qua con mắt của Chị Lê, người đàn bà làm điếm, nhìn khách hàng của mình dưới những khía cạnh trần trụi nhất. Chị Lê tìm ra “cái chung” của đàn ông: trong bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn là nhục dục, chỉ là nhục dục, là cõi mà họ tự do nhất, cõi mà họ sống thật nhất với chính mình. Một mình phân tâm nỗi cô đơn bệnh hoạn của con người khi chỉ còn có mình đối diện với chính mình.

Võ Phiến dùng những nhận xét tế vi, lấy chi tiết làm nên đại sự, để thăm dò lòng người dưới nhiều hình thức: Bằng phân tâm của Freud chiếu vào nội tâm u uẩn, ẩn ức tính dục của nhân vật. Bằng biện pháp hoán dụ, ông chiếu rọi vào một phần của cơ thể, để nói lên ẩn ức dục tính toàn diện của con người, những người sống ngoài lề xã hội, từ người tù đến gái điếm, từ già đến trẻ. Nhờ ảnh hưởng triết học hiện sinh, con người nhìn lại chính mình, không ai thoát khỏi sự cô đơn. Với những chi tiết chằng chịt, Võ Phiến dệt nên cấu trúc nội tâm phức tạp và bi đát của con người.

oOo

Lại thư nhà tiêu biểu cho cấu trúc toàn bộ tiểu thuyết của Võ Phiến. Không hiểu sao ông lại xếp Lại thư nhà vào loại tùy bút. Thực ra, đây là một truyện vừa và cũng là tác phẩm nền móng, xây dựng nên vũ trụ tiểu thuyết của ông, với nhân vật Bốn Thôi. Lại thư nhà tạo ra không khí và bối cảnh Võ Phiến, thế giới của những kẻ ở ngoài lề. Bốn Thôi tuy ở trong xứ, nhưng đã bị cách ly với người khác, với thế giới chung quanh. Bốn Thôi là kẻ ly hương trong thân phận mình, là đại diện sâu xa nhất cho những kẻ sau này phải bỏ nguồn cội đi tha phương cầu thực

Lại thư nhà, tuy được tác giả xếp vào loại tùy bút, nhưng chỉ vài trang đầu tạm có tính tùy bút: ông bàn phiếm về vài câu ca dao Bình Định và giới thiệu món mắm cua chua, đặc sản Bình Định. Đó là những trang vào truyện, để giới thiệu anh Bốn Thôi và người vợ thứ hai có “bàn tay quý giá” biết làm mắm cua chua.

Thế giới Võ Phiến bắt đầu từ nhân vật Bốn Thôi, nhưng bắt nguồn từ người bà: Bà tôi. Hình ảnh bà nội Võ Phiến, người đã nuôi ông từ thuở nhỏ. Bà tôi với cái dĩ vãng “tối lờ mờ” mỗi lần kể lại một mảng chuyện cũ bao giờ cụ cũng bắt đầu bằng hai chữ “mọi lần”. Cứ mỗi lần có “mọi lần” là lại có chuyện. Và trong những “mọi lần” như thế một nhân vật mới lại xuất hiện, mỗi thứ có một bản sắc, một sự tích riêng. Chính ở những “mọi lần” đó, phát sinh Võ Phiến, nhà văn duy vật đích thực đầu tiên của Việt Nam. Bà là nguồn, cháu là động cơ phát xuất nhân vật.

Những nhân vật ấy là ai: Là ông bá hộ Thành, là bà cử Tạ, là ông tú Từ Liêm… nhưng còn có thể là những thứ khác hẳn, như mắm, chẳng hạn. Mắm cũng từ bà:

“Trong thuả “mọi lần” như thế, rập rình rất nhiều ông tú ông cử, những người từng làm vinh dự cho “gánh” họ Huỳnh của bà tôi. Tuy nhiên tôi chú ý nhất đến các món đồ ăn. Đồ ăn của “mọi lần” có những món kỳ quặc. Bà tôi kiêu hãnh kể rằng bà đã từng có thể dùng bột trắng pha màu rực rỡ bắt hình bánh cỗ đồ bát bửu: bầu rượu, cây bút, cái tù và…, đã từng luộc những con gà và sửa soạn cho chúng nó thành hình ngư, tiều, canh, mục…, đã làm những chiếc bánh tét nhân chữ hạnh, chữ thọ, màu đỏ màu xanh, đã gói những cuốn chả mà khi cắt ra mỗi lát đều có hoa đỏ hoa vàng v.v… (…)

 Nhưng tại sao bên cạnh những cầu kỳ sang trọng như vậy, “mọi lần” cũng lại dung nạp rất nhiều mắm? Cảnh đói khổ với những điều xa xỉ của chỗ quyền quý kia làm cách nào mà tiếp xúc nhau mật thiết, dung hòa với nhau? Bà tôi làm sao có thể tưởng nhớ đến con gà Lã Vọng lại vừa có thể thông thạo và tha thiết với các món mắm mặn? Đó là chỗ mâu thuẫn (…)

 Về già, đáng lẽ bà được hoàn toàn thảnh thơi, không phải lo lắng gì nữa về sự sinh sống trong gia đình, thì rốt cuộc bà tôi vẫn có hai mối bận rộn, đó là rác và mắm”. (Tùy bút 2, trang 66-67)

Bà chính là nguồn cội các sự thể và nhân vật. Bà cụ suốt đời chỉ chăm có hai chuyện: ăn uống và rác rưởi, như thể phần dạ dày và phần phế thải là hai lo toan chính của bà cụ. Bà cụ chính là mẹ đẻ của tâm hồn duy vật. Bởi bà cụ đã chú ý đến cái thiết yếu nhất của con người là cái dạ dày. Bà vừa là ngọn nguồn của mắm, làm ra mắm, vừa phản ảnh tâm hồn thực tiễn của người Bình Định nói riêng và người Việt Nam nói chung. Anh Bốn Thôi sở dĩ được bà cụ chú ý đến bởi vì trong sáu người vợ của Bốn Thôi chỉ có mỗi mình chị Lộc, người vợ thứ hai biết làm mắm.

Như thế có thể nói rằng, trong vũ trụ của Võ Phiến hai yếu tố quan trọng nhất là đàn bà và mắm. Và hai yếu tố này sẽ chi phối toàn bộ tác phẩm của ông, từ tùy bút đến truyện ngắn truyện dài. Và cũng chính ở tác phẩm Lại thư nhà mà chúng ta có thể nhìn thấy phát xuất đó. Trong giang sơn Võ Phiến, người cầm đầu, người cai trị là đàn bà chứ không phải là đàn ông: một vũ trụ mẫu hệ và duy vật, phát sinh từ người bà. Bà tôi.

Trong Lại thư nhà, bà tôi và các cô là thế giới của tác giả. Bên cạnh đó có thế giới Bốn Thôi, cũng lại là một thế giới đàn bà với sáu người vợ liên tiếp. Thế giới thứ nhất dưới quyền đô hộ của bà tôi. Thế giới thứ hai, nổi bật là chị Lộc, người vợ thứ nhì. Chị Lộc kẻ đứng mũi chịu sào cả về vật chất lẫn tinh thần và khi chị Lộc chết, Bốn Thôi trở thành kẻ bất lực hoàn toàn, cả thân xác lẫn tinh thần.

Trong Đàn ông, người lãnh đạo tinh thần là chị Lê và nhân vật sa đọa là ông tú Từ Lâm và những người đàn ông. Võ Phiến dùng cái nhìn của một người đàn bà giang hồ để vẽ chân dung những người đàn ông. Họ đều gặp nhau ở “chỗ ấy”. Từ trẻ (Tạo) đến già (cụ tú Từ Lâm), “mọi đau khổ, cảm xúc, rung động cao thượng hay ham muốn yếu hèn … đều đưa người đàn ông đến chỗ gặp gỡ ấy”. Như thể một khi đã mất hết, dường như đàn ông chỉ còn có sinh lý là cứu cánh. Võ Phiến đã đào sâu xuống những đau khổ, u uất trong những thân phận đàn ông sa cơ, thất vận, phiêu bạt, bị bứt khỏi cỗi rễ của mình. Ông xóa tiệt những ảo ảnh về người đàn ông, từ già đến trẻ, phơi họ trần truồng trực diện với những đớn đau và ham muốn không giải quyết được.

Trong Một mình, nhân vật Hữu là một gã mạnh khoẻ, có công ăn việc làm, nhưng dần dần Hữu đi vào tình trạng bệnh tưởng, suy nhược, mất mình trong một thứ sa đoạ tinh thần không thể nào cứu vãn nổi.

Võ Phiến đưa ra một vũ trụ mà đàn bà luôn luôn làm chủ tình thế ở bất cứ hoàn cảnh nào. Những người đàn bà này thường có đầu óc thực tiễn, họ làm chủ hũ mắm, làm chủ rác rưởi, làm chủ thân xác. Chính họ nắm bộ máy sinh hoạt và sinh dục của đàn ông. Cái thế giới thực tiễn bao gồm các hoạt động phần dưới của cơ thể này có tên là thế giới duy vật.

Võ Phiến hầu như không đả động gì đến các sinh hoạt tinh thần, hoặc khi ông nói đến chỉ là để miả mai châm biếm nội dung những lời bàn phiếm, những cãi vã vô bổ về thời sự của những người đàn ông.

Trong một đất nước chiến tranh, người ta chỉ quen bàn đến các đại sự, đến tổ quốc, đến những lý tưởng cao siêu, hùng khí ngùn ngụt. Nam tính và hùng tính được phô trương mãnh liệt ở cả hai miền đất nước. Võ Phiến đưa ra một thế giới đàn ông, vặt vãnh, ăn bám, bất lực, tê liệt và sa đoạ. Ông đã đi ngược với niềm tin thời đại, chống lại hùng khí chiến tranh và đó là giá trị nhân bản cao nhất mà Võ Phiến đạt được với bức chân dung bi đát của xã hội qua ngòi bút mỉa mai châm biếm chua xót cực cùng.

Sự vong thân của con người khi bị bứt khỏi nguồn cội.


Tiểu thuyết của Võ Phiến chiếu vào sự tha hoá của con người, qua bốn nhân vật tiêu biểu, phản ánh bốn giai cấp: anh Bốn Thôi, trong Lại thư nhà, giai cấp bần nông, ông Ba Thê Đồng Thời trong Giã từ, giai cấp trung lưu tiểu tư sản, ông tú Từ Lâm, trong Đàn ông, giai cấp nhà nho, và Hữu trong Một mình, giai cấp trí thức thành thị.

Nhân vật Ba Thê Đồng Thời trong truyện Giã từ, biểu hiện thành phần tiểu tư sản ăn bám. Ông Ba Thê Đồng Thời không làm cái gì cả, ông chỉ sống vào vốn cũ, tức là cái thời mập mờ chẳng biết theo kháng chiến hay theo Pháp. Cái quá khứ rắm rối của ông, không mấy ai biết rõ, và ông cũng để cho bí mật bao trùm lên cái quá khứ trù phú ấy, như một cái nhà băng riêng và từ đó ông rút tiền ra tiêu dần. Nhờ cái quá khứ nhà băng ấy mà ông có được nhiều người quen tương đối khá giả hoặc làm lớn và cả cuộc đời còn lại, ông viết thư cho những người quen cũ vay tiền, thư ông viết luôn luôn bắt đầu bằng chữ “se a mi” (cher ami). Ba Thê Đồng Thời là sự tha hoá của những người nhập nhoạng, biết dăm ba câu tiếng Pháp, hai mang, bên nào cũng theo, miễn sao trục lợi. Thành phần này có lẽ rất đông trong xã hội, và chính nó đục nước béo cò đã nuôi dưỡng chiến tranh.

Ông tú Từ Lâm trong truyện Đàn bà, biểu hiện môt thành phần khác, thành phần đã qua cửa Khổng sân Trình, biết đôi chữ thánh hiền, để cho người đời trọng vọng. Nhưng nay ông cũng theo thời mới, ông mặc Tây, đeo kính râm, khoác khăn phu la, ông phê bình thời sự, ông nói sử sách kim cổ. Chị Lê, cùng quê Bình Định với ông, là người định mệnh trôi dạt vào Sài gòn, làm điếm. Nếu ông Ba Thê Đồng Thời chỉ ăn bám vào những người có tiền có thế lực, thì ông tú Từ Lâm còn xuống dốc một mức nữa, ông ăn bám cả vào người đàn bà lỡ vận đáng tuổi con cháu ông. Chi Lê nuôi ông, cả cơm ăn lẫn thể xác. Ông tú Từ Lâm là một trong những nhân vật đớn đau nhất mà tiểu thuyết Việt Nam đã sản xuất ra. Một sự xuống dốc cốt cách, trang trọng, gần như trịch thượng của thành phần chữ nghiã thánh hiền. Và như thế Võ Phiến đã gần như tiên đoán được những gì xẩy ra cho thành phần trí thức trong thời điểm về sau.

Trong Một mình, nhân vật chính là Hữu, một công chức thuộc lớp người trung niên, tương đối tân tiến. Hữu khác hẳn hai người trước, anh ta có học, ở thị thành và đi làm trong vị trí xác định, lương bổng vững vàng. Nhưng Hữu cũng không hơn gì những người kia. Vì sao?

Một mình viết năm 1963, không biết ở thời điểm ấy, Võ Phiến tiếp cận triết học hiện sinh như thế nào, nhưng Hữu là nhân vật tiểu thuyết đầu tiên của ông có cái nhìn hiện sinh. Nếu trong cuốn La nausée-Buồn Nôn, Sartre mô tả Roquentin như một nhân vật không ngừng ý thức thấy thân xác mình và ý thức ấy càng rõ, thì anh ta càng cảm thấy ghê tởm. Cảm giác buồn nôn là trạng thái xẩy ra khi con người ý thức được sự hiện hữu của thân xác mình. Sartre thuật lại cái cảm tưởng buồn nôn đó, trong đầu một gã đàn ông, mà sự cô đơn và nhàn rỗi, khiến hắn chú ý đến những dữ kiện sống sượng nhất của đời sống.

Trong Một mình của Võ Phiến không thấy buồn nôn gì cả, nhưng Hữu cũng là một công chức sống dư giả, nhàn rỗi, vì nhàn rỗi nên càng ngày anh ta càng soi thêm vào cái cơ thể mình để xem nó hoạt động như thế nào, và Hữu luôn luôn thấy mình bệnh. Càng ngắm nhìn sờ mó, soi xét thể xác mình, Hữu càng thấy nỗi khó chịu gia tăng, và sự nhận thức của anh ta theo đà kéo sang người vợ và anh ta cũng thấy Quỳnh đáng ghét, nếu không muốn nói là “buồn nôn”, hiểu theo nghĩa của Sartre. Từ đó Hữu quyết định tạm thời ngừng hoạt động sinh lý với vợ trong hai tháng. Võ Phiến theo sát Hữu ngày đêm: từ những câu chuyện vô thưởng vô phạt ban ngày ở sở, ở nhà, đến những suy nghĩ, những động tác đêm hôm trên giường với vợ hay với cô gái điếm. Tất cả được ghi lại hết không bỏ sót mảy may. Hữu càng tiến sâu vào sự sa đọa tinh thần và thể xác, càng thấy rõ mình chỉ có “một mình”, không thể có một thứ “công-tắc” nào khác: không ai hiểu, không ai yêu. Quỳnh làm bổn phận người vợ. Nga cô gái điếm chung đụng với Hữu vì tiền. Sự cô đơn của Hữu, kẻ thấy mình chỉ có độc “một mình” trong thế giới hiện hữu xung quanh, là một thử nghiệm rất mới mà nhà văn đưa ra ở thời điểm 1963.

Nhân vật đặc biệt nhất là anh Bốn Thôi. Bốn Thôi vừa là những dư thừa cặn bã mà xã hội khinh bỉ thải ra, nhưng đồng thời Bốn Thôi cũng lại là căn cước, là linh hồn và thể xác của cái xã hội đó, thậm chí là thần tượng, là anh hùng của xã hội đó nữa. Một xã hội đạo đức giả trốn mình trong các giá trị bệnh hoạn, không tưởng, gọi chung là tổ quốc. Phải bảo vệ tổ quốc. Nhưng thật ra cả hai bên đều xâu xé tổ quốc, đều bắn phá tổ quốc, đều dày xéo tổ quốc bằng bom đạn ngoại bang, bằng chính bàn tay mình bóp cò súng người.

Những nét trầy trụa của tổ quốc khắc trên mặt Bốn Thôi: “Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng phải cầm vũ khí trong tay: anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ… Và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc.

Vậy mà những hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở. Ở Hoa-thịnh-đốn, ở Mạc-tư-khoa, ở Bắc-kinh, Tân-đề-li, Vọng-các, Ba-lê v.v… ở khắp các nơi trên thế giới người ta theo dõi anh, bàn tán về anh. Người ta đem anh ra so sánh với người dân Đức ở Bá-linh, người dân Lào ở Vạn-tượng… người ta dòm ngó, dò xét cử chỉ của anh, cân nhắc, đánh giá sự can đảm của anh. Xung quanh hành động của anh chắc chắn có những cuộc mặc cả, những trù hoạch bố trí, những mưu mô âm thầm giữa nước này nước nọ. Và cũng có cả những lời hô hào, cổ võ, những tuyên bố lớn tiếng về nhiều vấn đề quan trọng, lý tưởng cao đẹp” (Tùy bút 2, trang 114-115).

Đấy là mặt tiền, mặt thấy được, mặt “quốc tế”. Về mặt hậu, Bốn Thôi hay tổ quốc hiện ra như một gã dớ dẩn, gã khùng trong làng. Anh có sáu đời vợ, nhưng anh ta lại là người bất lực, và cái thú duy nhất của Bốn Thôi là vặt lông mũi:

“Bốn Thôi tìm được cách tiêu khiển và mơ mộng trong việc vặt lông mũi. Đó là một cử chỉ nhỏ nhặt không ai để ý đến, nhưng rất quan hệ trong cuộc sống riêng của anh. Vì không phải là chuyện làm tốt, chuyện điểm trang gì, cho nên Bốn Thôi không bao giờ dùng đến cái gương. Hễ cứ lúc nào rảnh việc là anh đưa tay lên mũi, rờ rẫm, thăm dò, rình rập từng sợi lông mọc thò ra ngoài; vẻ mặt anh chăm chỉ đăm chiêu. Sự vặt nhổ như thế không phải không có lúc đau đớn, vì vậy có những khi anh nhăn nhíu mặt mày; những khi cho các ngón tay tìm kiếm, vẻ mặt anh khổ sở khó nhọc. Và đối với người ngoài thì cử chỉ đó còn có vẻ kỳ cục, tục tằn, khó coi, càng tăng thêm vẻ dớ dẩn của anh” (Tùy bút 2, trang 72-73).

Bốn Thôi là nhân vật tiểu thuyết kỳ lạ thứ ba sau A Q của Lỗ Tấn và Chí Phèo của Nam Cao. Nhưng trái hẳn với hai nhân vật kia, nếu Lỗ Tấn và Nam Cao đều chiếu vào những khiá cạnh bất bình thường của nhân vật, thì ngược lại Võ Phiến chiếu vào những khía cạnh bình thường nhất để tạo sự bất thường. Bởi không có người đàn ông nào là không một lần làm cử chỉ vặt lông mũi. Nhưng khi Võ Phiến chiếu kính hiển vi vào việc này, mô tả nó trên một trang sách, làm lộ tất cả bản ngã của nó ra, thì nó trở thành bất bình thường, thô lỗ, và kỳ cục. Nhổ lông mũi hoặc ngoáy tai, ngoáy mũi, khạc nhổ, là những cử chỉ mà bất cứ người nào cũng làm, nhưng là những cử chỉ không đẹp mắt, người ta chỉ làm khi một mình, bởi giáo dục xã hội dạy như vậy. Khi đứa nhỏ biết thò tay ngoáy mũi, thì cha mẹ nó bảo không được làm như thế, phải dùng mùi xoa hỉ mũi. Nhưng Bốn Thôi cứ khơi khơi làm cái việc khó coi này một cách công khai, chăm chỉ, hết sức tỉ mỉ, trước công chúng, là vì anh chưa được hưởng nền giáo dục nào cả. Nói khác đi Bốn Thôi là con người thuần túy trần truồng, con người người chưa bị xã hội hoá.

Nhưng điểm đặc biệt là nếu ta nhìn vào xã hội ta hiện nay, thì không chỉ có một Bốn Thôi mà chúng ta cũng lại thấy hằng hà sa số Bốn Thôi khác, ví dụ một vị chính khách đi công du nước ngoài, trong một buổi họp chính trị hay văn hoá cấp cao, thản nhiên ngồi ngoáy mũi trước bàn đàm thoại. Ấy là một vị Bốn Thôi thuần tuý.

Tất nhiên, để bào chữa, chúng ta có thể cãi đây là một phần của dân tộc tính, một cử chỉ tự nhiên, phơi bày bản chất con người trần trụi. Và thiên tài của Võ Phiến là ở chỗ đó: Chỉ cần mấy nét, Bốn Thôi đã phản ánh cái phần dân tộc tính xa xưa nhất, phần chưa được xã hội hoá ấy của dân tộc. Cử chỉ của Bốn Thôi, nếu nhìn từ phía con người xã hội hoá, là một cử chỉ bệ rạc. Nhưng nếu nhìn từ góc độ dân tộc tính, thì đó là cái gì đáng yêu, phải bảo tồn, không thể đụng chạm được, không thể thay đổi được. Mặc cho Việt kiều băn khoăn, ngượng ngập khi phải thông dịch cho một vị chính khách có những cử chỉ “chân chất” rất Bốn Thôi trong bàn họp quốc tế.

Khi Võ Phiến tạo ra nhân vật Bốn Thôi, cách đây nửa thế kỷ, chắc ông chưa tiên đoán được tình trạng Bốn Thôi “mở rộng” như bây giờ, mà ông cũng không muốn mỉa mai ai, ông chỉ chiếu kính hiển vi vào một cử chỉ tầm thường của một nhân vật quê mùa, một cá nhân chưa được xã hội hoá. Bốn Thôi biểu hiện thái độ người làng xã, chưa bước ra khỏi thôn mình, chỉ sống khoanh vùng trong không gian kín, chưa quen giao tiếp với người bên ngoài. Võ Phiến không có thái độ khôi hài, chế giễu mà ông muốn đưa ra cái bi đát nằm sau. Cử chỉ của Bốn Thôi, được ông phân tích như một hành động tự xoá mình trước công chúng, nghĩa là Bốn Thôi “vẫn ngồi trước mặt mọi người mà như không hề hiện diện trước một ai, vẫn có đó mà như không có, như là đang sống ở một thế giới nào xa cách tận đâu đâu, anh lặn chìm rất sâu khuất vào trong sự cô đơn của mình, dứt hết mọi liên hệ xung quanh mình và không buồn áy náy lo lắng gì về thái độ của mọi người” (trang 73).

Đối với Bốn Thôi, vặt lông mũi chỉ là một cách chữa bệnh bối rối và cô đơn. Để trốn cô đơn, Bốn Thôi thu mình trong một cử chỉ khó coi và bất cần thiên hạ. Nếu áp dụng tâm lý này vào vị chính khách chăm chỉ ngoáy mũi giữa một bàn tiệc, ở nước ngoài, thì cũng thấy ngay đó một cử chỉ cô đơn và bối rối. Ông cũng hệt như Bốn Thôi, là một người bình thường, làm những cử chỉ bình thường, với những cái đau bình thường.

Một ví dụ nữa: gan bàn chân Bốn Thôi bị nứt nẻ, nhất là về mùa rét, phải làm việc ngoài đồng, đất bùn nhét vào các vết nẻ làm anh đau đớn, nhưng thay vì chữa chạy, anh cứ ỳ ra. Khi người vợ thứ nhì là chị Lộc, nhìn thấy những vết nẻ, chị bèn lấy dầu rái dùng cái que, nhét vào các vết nứt ở gan bàn chân và anh đỡ đau. Chị Lộc là khía cạnh thứ nhì của dân tộc tính: cái gì cũng dầu rái, dầu rái chữa bách bệnh. Ở quê Bình Định, nguời ta dùng dầu rái, ở những nơi khác, người ta thay dầu rái bằng dầu cù là. Và đó là đặc tính thứ hai của người Việt.

Bốn Thôi bị bất lực mà anh không biết. Anh cưới cả thảy 6 người vợ, chỉ có chị Lộc là trung thành với anh suốt cuộc đời ngắn ngủi của chị. Còn bốn người đàn bà kia, mỗi người chỉ ở được ba bẩy hăm mốt ngày là bỏ đi. Người vợ cuối cùng lanh hơn, cho anh một bầy con và như thế là anh Bốn Thôi nuôi cả một gia đình con cái đầm ấm hạnh phúc.

Đọc Lại thư nhà, đọc đi đọc lại, lần nào chúng ta cảm thấy như có cái gì vừa xúc động, vừa rờn rợn, như Võ Phiến đã đi vào từng lỗ chân lông của nguời Việt, đi sâu vào dân tộc tính Việt, bởi phần đông người Việt đều thấy mình anh hùng, mà không biết mình bất lực. Bị lừa bịp mà không biết mình bị lừa bịp. Còn ở trong tình trạng làng xã, kể cả những người đi ra ngoại quốc đã lâu, mà vẫn không thấy mình chưa thoát khỏi tình trạng làng xã. Khư khư giữ thế đứng của Bốn Thôi, khép mình trong sự tự mãn, và do dó, bị tha hoá ngầm mà không biết.

Võ Phiến với bốn nhân vật tiểu thuyết đã trình bày sự tha hoá của bốn người đàn ông, bốn nền móng xã hội: nông dân, trung lưu, nho học và tây học, trong một giai đoạn giao thời, nhưng qua họ, ông đã vẽ nên sự trì trệ , sự tha hoá chung của dân tộc.

Tạp văn Võ Phiến

                         

Võ Phiến tài tình trong tạp văn. Tập Đất nước quê hương hội tụ phần lớn những bài hay nhất của ông. Ý là một trong những sở trường của Võ Phiến: ông giầu ý và giầu liên tưởng. Tùy bút của Võ Phiến xây dựng trên hai yếu tố đó. Ông chụp lấy một sự, một ý bất kỳ, ví dụ như: mắm, bọt trà, bánh tráng, hay… Quang Trung làm khởi điểm. Bất kể những «vật» ấy có thể chất khác nhau: lỏng, đặc, cứng hoặc… vua. Rồi ông “cầm” lấy “cái vật” ấy như ta cầm một hòn đá ném xuống nước, từ điểm rơi sẽ có hằng hà sa số những vòng tròn đồng tâm loang ra trong liên tưởng: ông có thể đi từ chiếc bánh tráng, tiếng trống Bình-định đến vua Quang Trung …, từ hạt bọt trà đến sự khăng khít sống chung của hai người đàn ông cùng yêu một người đàn bà; từ hũ mắm cua chua đến vết chân chị Lộc, đến những bất hạnh của anh Bốn Thôi; từ giáng điệu “rụp rụp” của người chủ quán đến tính sởi lởi của người miền Nam, đến ngôn ngữ miền Nam… Cứ thế ông bàn đi, tán lại. Đôi khi ông nói phứa. Ông đem những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nhận xét, kinh nghiệm đọc, đem lịch sử, ngôn ngữ, ký ức vào tạp văn để vẽ nên bản sắc sâu xa và thầm kín của dân tộc. Ông vừa bàn, vừa tán, vừa luận… một cách dí dỏm, châm biếm, mỉa mai, không cần chính xác. Cái quyến rũ đến từ chỗ bất ngờ, ỡm ờ, khả nghi, tin cũng được mà chẳng tin cũng được.

Được hỏi về kinh nghiệm viết văn, Tchékhov cho biết: bất cứ một vật, một sự kiện gì, cũng có thể làm đề tài cho ông, ví dụ đang ngồi nói chuyện, mà bạn chỉ vào cái gạt tàn thuốc lá trên bàn, bạn bảo ông ấy viết về cái gạt tàn thuốc lá thì ngày hôm sau, bạn có thể đọc một truyện ngắn về cái gạt tàn thuốc lá. Võ Phiến có chỗ giống Tchékhov.

Về động lực nào thúc đẩy viết văn, Lâm Ngữ Đường có lối giải thích rất hóm hỉnh, ông bảo: người ta viết văn vì có con trùng nó đục khoét trong bụng, thành ra cứ phải viết, nếu không viết thì không thể chịu được. Võ Phiến có lần giải thích ông viết vì có yêu cầu đặt bài. Mỗi dịp bị chủ báo giục, là lại có bài. Tóm lại, viết văn là một chuyện vừa bị trùng ăn trong bụng, hay nói văn hoa hơn, là bị bức xúc, cắn rứt, vật vã, hoặc nói hoành tráng hơn, là vì sứ mệnh đòi hỏi. Nhưng có lẽ hai cái vụ trùng ăn và chủ báo thục giục là đúng hơn cả, bởi nếu không bị thúc thì chưa chắc anh đã nhả ngọc phun châu. Võ Phiến có chỗ giống Lâm Ngữ Đường.

Thử mường tượng cảnh: nhà văn nào trong bụng cũng đầy trùng như Lâm Ngữ Đường. Những con trùng ấy thoát ra bằng cách nào? Bằng cách phải có kẻ đặt bài. Vậy khi có động cơ đặt bài là các con trùng sửa soạn xuất hành. Và khi có chủ đề, do bất cứ ai đặt, như Tchékhov nói, là bọn trùng thừa dịp tẩu thoát, thế là có ngay một bài. Võ Phiến còn nghiệm thấy là cái thứ trùng ấy nó như cái giếng, càng múc lại càng đầy. Tạp văn của Võ Phiến là tổng hợp những yếu tố trên, cho nên tự thân, nó đã cho chúng ta cái cảm giác khinh khoát, bay nhẩy, tự nhiên, phóng khoáng, hoạt náo, chuyển động, không ngừng. Ví dụ, đề tài “chửi” là một trong những kiệt tác của ông, chúng ta thử tìm cách mổ xẻ xem tiến trình chửi này được hình thành như thế nào.

Tình cờ có sự nghĩ đến chủ đề “chửi”. Nghiã là có thể do chủ báo đặt bài, do đọc tác phẩm Ngôn ngữ và thân xác của Nguyễn Văn Trung, do đọc A.Q của Lỗ Tấn hay do đọc một cái tin trên báo nói về việc linh mục Trương Đình Hoè ở Pháp đang soạn một luận án tiến sĩ về ý nghiã cái chửi ở Việt Nam… Từ những do này, mới có bài chửi. Nhưng trong những do liệt kê trên thì có một do chính, đó là do đọc tác phẩm của Nguyễn Văn Trung. Trong cuốn “Ngôn ngữ và thân xác” của Nguyễn Văn Trung có một chương mổ xẻ cái chửi khá ngoạn mục trên bình diện triết học, tác giả phân tích và định loại một cách khoa học và sâu sắc về bản chất và ý nghiã của mỗi tình huống chửi. Vậy thủ phạm là Nguyễn Văn Trung.

Bài Chửi của Võ Phiến là một liên văn bản chửi, đi từ lập luận triết học về chửi, qua tác dụng trong ngôn ngữ A.Q, bằng phương pháp luận của Lâm Ngữ Đường. Tất nhiên Võ Phiến không đi theo con đường triết học, bởi ông rất ghét sự rắm rối. Ông chỉ dùng kết quả điều tra về bản chất và chủng loại chửi của Nguyễn Văn Trung để chiếu xuống trường hợp Lỗ Tấn bằng một lối luận hóm hỉnh rất Lâm Ngữ Đường. Qua ba thao tác ấy, ông đã sáng tạo ra tác phẩm chửi của Võ Phiến. Nghệ thuật tạp văn của Võ Phiến, do đó là một hợp chủng tài tình nhiều phong cách văn hoá trong một sự luận. Nền chính trong tạp văn là luận. Mỗi nhà tạp văn có một lối luận khác nhau.

Ví dụ Lâm Ngữ Đường có lối luận như thế này, về ẩm thực:

“Khổng Tử hiểu rõ thiên tính của con người, cho nên chỉ kể có hai thị dục lớn nhất là danh dưỡng và sinh dục, tức như nói nôm na thì là ăn uống và trai gái. Nhiều người đã khắc chế được sắc dục nhưng chưa có vị thánh nào khắc chế được ẩm thực quá bốn năm giờ liền. Cứ cách ít giờ thì trong óc ta nhất định nổi lên điệp khúc bất biến này: Bao giờ ăn đây?” (Sống đẹp, trang 47).

Vài trang sau ông viết tiếp:

“Muốn chiếm được lòng của người đàn ông thì nên theo con đường từ bao tử của họ. Khi nhục thể được thoả mãn rồi thì tinh thần bình tĩnh, khoan khoái hơn và người ta hoá ra đa tình, đa cảm hơn. Các bà thường phàn nàn rằng các đấng phu quân ít khi để ý đến những chiếc áo mới, giày mới hoặc kiểu tô lông mày mới của mình. Nhưng có bao giờ các bà phàn nàn rằng các ông không để ý đến món bíp-tếch ngon hoặc món trứng tráng ngon không? Lòng ái quốc là gì, nếu không phải là lòng yêu những món ngon mà mình được ăn hồi nhỏ” (Sống đẹp, trang 49).

Và trở về với kinh nghiệm của mình, ông viết:

“Mười năm trước tôi đã thử hoạt động chính trị, nhưng chỉ bốn tháng rồi tôi phải bỏ vì tự nhận ra ngay rằng mình không phải là hạng ăn thịt, mặc dầu vẫn thích món bíp-tếch. Đặc tính của loài ăn thịt là thích chiến đấu, mưu mô, lừa gạt, thao túng, đẩy lui kẻ thù; họ làm những việc đó một cách hào hứng, khéo léo, nhưng tôi thú thực rằng không tán thưởng thủ đoạn đó một chút nào cả.” (Sống đẹp, trang 53).

Trong những nhà viết tạp văn thì Võ Phiến gần gũi nhất với Lâm Ngữ Đường. Cả hai đều hóm hỉnh, đều chống cộng mà lại rất duy vật. Lấy tiếp ví dụ bài Chửi vì bài này tổng hợp tất cả thiên tài Võ Phiến trong sự luận. Trong bài Chửi, lập luận chia ra làm ba hồi, theo một chiến thuật rõ ràng:

1- Hồi một : so sánh và phân biệt hai tình huống khác nhau, giữa chửi và cãi :

 “Chửi là một cách xung đột bằng lời. Và chỉ bằng lời thôi, chứ không phải bằng những lý luận do lời nói phô diễn ra. Do đó, chửi nhau khác với cãi nhau.

Hai kẻ cãi cọ cố thắng địch bằng lý lẽ. Dĩ nhiên khi đôi bên đã to tiếng, mặt mày đã sưng sỉa lên, thì giá trị luận lý của những câu cãi thường không xuất sắc. Lúc bấy giờ ở mỗi người chỉ có tình cảm sôi sục hoành hành, chứ lý trí không còn sáng suốt bình tĩnh để đi sâu vào những suy luận tinh tế nữa. Dù sao, nội dung một cuộc cãi nhau cũng là lý luận; kẻ thua cuộc là kẻ “bí”. Để khỏi bí, người cãi phải lắng nghe, theo dõi lời lẽ của đối phương, hầu tìm cách bắt bẻ.

Chửi nhau thì trái lại, không cần nghe gì ở đối phương cả. Cơ sự đã bùng nổ, mạnh bên nào nấy chửi, lấy hơn. Kết thúc cuộc chửi lộn không ai thua vì bí. Thua ở đây có nghĩa hoặc là không đủ hơi sức để tiếp tục nên phải ngừng lời trước, hoặc là phải lãnh những lời nặng của đối phương mà vốn liếng hiểu biết của mình ít oi không cho phép trả lại những đòn nặng tương đương.”

Sau khi đã phân biệt rõ ràng chửi và cãi khác nhau như thế nào. Kết luận của hồi một: cãi thiên về lý và chửi là thiên về đánh.

2- Hồi hai: mô tả nội dung và thực chất của tác động chửi:

“Như thế, một trận chửi lộn giống như một trận đánh lộn. Một đằng vung tay vung chân vung cây vung gậy đập loạn xạ xuống kẻ thù; một đằng đập loạn xạ bằng lời. Đồ nọ, đồ kia, quân súc sinh… Đó là những đòn quất xuống, mong cho kẻ địch bị đau, không mong kẻ địch phải bí. Việc thiết yếu trong trận chiến này là đánh thật mạnh và làm thế nào để chịu đựng nổi những cú đánh của đối phương. Đánh được mạnh hay không là tùy cái vốn kiến thức chuyên môn của kẻ chửi. Để chịu đòn người ta cố gắng để khỏi phải nghe tiếng nói kẻ thù: hoặc bịt tai lại, hoặc chửi to và liền hơi để lấp lóng. Trong trường hợp không chửi lại người ta làm bộ phớt tỉnh, làm lơ, tỏ vẻ như không hề nghe thấy tiếng chửi của đối phương, như những tiếng đó không ăn nhằm gì, không đụng chạm và làm tổn thương mình chút nào.

Phương thức tấn công cũng như phương thức phòng vệ của chửi lộn cho thấy nó gần với chiến tranh, mặc dù phương tiện của chửi lộn là lời nói vốn có công dụng giúp cho hiểu nhau (…)

Hồi hai phô bày tất cả những ưu điểm và nhược điểm của sự chửi.

3- Hồi ba : đào sâu vào tâm lý của hành động chửi.

 Khi chửi, tình cảm trong lòng là thứ tình cảm ngùn ngụt của lúc lâm trận, tư thế bên ngoài là tư thế hầm hầm của chiến đấu, dự tính của hành động là những dự tính cực đoan ác liệt; tuy vậy rốt cuộc bạo động thực sự không xẩy ra, tổn thương cụ thể không hề có.

Bảo chửi là hành hung thì quá đáng: kẻ chửi chưa có hành động hung dữ. Nhưng bảo chửi chỉ là ước muốn điều dữ cho kẻ khác thì lại không đủ: kẻ chửi đã đi quá sự ước muốn suông. (…)

Bởi không ra tay làm được những điều mình mong muốn cho nên người chửi thường ước mong quá trớn. Trong một trận chửi, có thể nghe kê khai liên tiếp các việc, nào là bắt kẻ địch ăn cái này cái kia, nào là nhét cái này cái kia vào mồm kẻ địch… Giá có thể xông tới thực hiện lấy một chuyện thôi trong bấy nhiêu chuyện thì đã đủ hả giận rồi. Chính vì không làm một chuyện nào cả nên mới ao ước nhiều đến thế.

Một phần vì không phải đánh nhau bằng chân tay gậy gộc, không nhằm một cái đích xác thịt cụ thể; mà đánh nhau bằng lời nên được tha hồ vung vít vào những mục tiêu rộng lớn. Một phần khác, vì đánh bằng lời, bằng tưởng tượng, không thoả mãn được ước muốn, nên người chửi có khuynh hướng đi quá xa: sau khi dày xéo đối thủ, hắn còn xâm phạm tới tất cả những gì là quý trọng thân yêu nhất của đối thủ. Việc đụng chạm tới mồ mả, tổ tiên kẻ thù, có lẽ là do đó” (Chửi, Tùy bút 1, trang 90-93-94).

Như vậy bài chửi của Võ Phiến là rất công phu, bài bản, có nhập có xuất, chứ không phải là sự tình cờ, hú họa, tào lao; một thứ chửi chính luận, nghiêm trọng, có tính toán, có tiến thoái, có tâm lý, có phân tích, nói nôm na là chửi theo lối Bắc.

Một thứ chửi như vậy đòi hỏi ở độc giả một thái độ nghiêm chỉnh: Nếu đọc nó mà bạn muốn cười thì nụ cười ở đây cũng phải là chín chắn, bài bản, chính luận, nghiã là không được xô bồ lộ liễu, cười hô hố như khi nghe một người pha trò, mà là cái cười thầm, cười tủm tỉm, cười nụ, cười quay vào trong, một lúc mới cười, sau khi đã nghiền ngẫm, nói chung là cười… bác học, có đường lối, có suy nghĩ.

Một sự cười bình tĩnh như vậy đòi hỏi những phân tích sâu xa hơn: Nụ cười ở đây, phát sinh từ một sự tréo cẳng ngỗng toàn diện : tức là sự kiện thô tục nhất trong ngôn ngữ là chửi được mô tả bằng những lời lịch sự, sang trọng, trí giả, hàn lâm, lập luận đầy triết lý với những ngôn từ khoa học, chính xác, đại loại như: lý luận xuất sắc, tình cảm sôi sục, khuynh hướng đi quá xa, dự tính của hành động, vốn kiến thức chuyên môn, suy luận tinh tế, lý trí sáng suốt, v.v… Tóm lại, sự chửi và sự đánh đã được nâng lên hàng ngũ đối tác ở tầm cao nhất, hữu nghị nhất, đồng thời cũng được trình bày một cách nghiêm chỉnh nhất. Sự chửi được xếp ngang hàng với sự đánh, trở thành hai mục tiêu cao cả của đời sống. Tác giả dùng những phương pháp luận như khoa học so sánh để lý giải sự khác biệt giữa hai yếu tố phân lập: một bên là chửi thề, một bên là đánh lộn, được nâng cấp thành chửi đổng và chiến tranh. Một bên là bạo mồm, một bên là bạo lực, mỗi bên đều biểu dương cá tính dân tộc với niềm tự hào muôn thủa.

Cá tính dân tộc trổ lên trong những bức tự hoạ như thế, sau cái cười, là sự cay đắng, bi quan tuyệt đỉnh về con người qua ngôn ngữ.

Trong truyện, văn Võ Phiến trung hoà, neutre, giữ khoảng cách với những cảnh huống mô tả, ông không kéo độc giả về phe mình. Tuy đưa ra những nhân vật bi đát như anh Bốn Thôi, ông tú Từ Lâm, như ông Ba Thê Đồng Thời, như Hữu, nhưng Võ Phiến không hề bắt ta phải nhỏ lệ. Nếu độc giả có dư nước mắt thì đó là những giọt nước mắt chẩy vào trong, những giọt lệ không rơi ngoài tim mình như lời thơ Thanh Tâm Tuyền. Sự rơi vào trong ấy nhiều khi đau đớn hơn những giọt lệ ngoài Tương Phố.

Nếu trong truyện Võ Phiến, tính chất bi đát là vị cay cuối cùng còn đọng lại, thì trong tạp văn Võ Phiến, cái cười là dư vị. Và đằng sau cái cười, nếu độc giả còn muốn đi thêm bước nữa, mới thấy cái bi đát ẩn trong lòng giọt lệ cuối cùng.

Paris tháng 5/ 2008 – tháng 11/2008
Thụy Khuê
(Nguồn: thuykhue.free.fr)

                               Tùy Bút Võ Phiến - Nguyễn Hiến Lê
                                          

                                                 Võ Phiến & Nguyễn Hiến Lê

Tùy bút - tùy hứng mà phóng bút - là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Một cơn mưa, một giọng hát, một hớp trà, một trang sách, một tà áo phất phơ dưới gió, một tiếng ve rỉ rả trong rừng… bất kỳ một cảnh vật nào, một sự việc nào, hễ gợi hứng cho ta cũng có thể là đề tài một thiên tùy bút. Nó tựa như nhật ký mà không phải là nhật ký, vì nó là “bút” chứ không phải là “ký”; nó tựa như nghị luận mà không phải là nghị luận, vì nó là tùy hứng suy đoán chứ không phải dụng ý biện luận.

Nó phóng túng như vậy nên ta tưởng là dễ, nhưng có viết thử mới thấy khó. Trước hết nó phải thân mật, hấp dẫn như một câu chuyện thanh nhã giữa những bạn đồng điệu lúc ngồi bên một giàn hoa hay một ấm trà. Nó không cần dài - trung bình mươi trang trở lại - nhưng lời phải tự nhiên, có duyên, nội dung phải thay đổi, có ý vị.

Quan trọng nhất vẫn là nghệ thuật. Tiểu thuyết mà dở thì người ta vẫn gọi là tiểu thuyết; thơ mà dở thì cũng vẫn là thơ - thơ Con Cóc; còn tùy bút mà thiếu nghệ thuật thì không có tên để gọi vì lẽ không ai thèm nhắc tới, biết tới. Cho nên lựa thể tùy bút là làm một công việc mạo hiểm: chỉ có thành công hay thất bại, chứ không thể nhì nhằng được.

o O o

Ai cũng biết tài viết tiểu thuyết của Võ Phiến, nhưng theo tôi, tùy bút mới là thể dung nạp hết sở trường của ông, mới thật là đất cho ông dụng… văn.

Trong tập "Đất nước quê hương" này, chúng ta gặp lại tài nhận xét tinh vi, miêu tả sắc bén của ông trong tiểu thuyết. Mấy trang ông tả cách nấu, rót và uống chè Huế làm ta liên tưởng đến "Những chiếc ấm đất" của Nguyễn Tuân: nghệ thuật không kém mà lại dí dỏm hơn, nhẹ nhàng hơn, có hương vị của quê hương hơn. Nhưng đoạn ông tả một chủ quán ăn bình dân ở Cần Thơ, đọc mới thấy mê. Ông nghe được một tiếng “rồi” câm thừa thãi, như để múa men, biểu diễn sự thích thú sau một cử động của chủ quán, thì tôi phục ông quá.

Rồi những đoạn nên thơ về một đô thị hoang sơ, Gia Nghĩa: những “đàn én rộn ràng quấn quýt trên nóc chợ”, những tiếng ve “rỉ rả thâm trầm như vừa kêu vừa suy ngẫm… bắt đầu phát ra riu rỉu, vươn dần lên; đến một lúc, tự thấy sắp trở nên ồn ảo, nó giật mình tự hãm lại”.

Tiểu thuyết, dù sao vẫn còn hơi gò bó, không thể dễ dàng chuyện nọ bắt qua chuyện kia được, cho nên chỉ trong tùy bút chúng ta mới được hưởng cái ngạc nhiên nghe Võ Phiến đương khen chiếc áo dài phụ nữ ngày nay thì quay về chuyện Lê Quý Đôn bút đàm với sứ giả Triều Tiên ở Yên Kinh hai thế kỷ trước; hoặc đương nói về thuật đánh một lần mười hai cái trống ở Bình Định thì chuyển qua cách ăn bánh tráng. Giọng ông dí dỏm mà tình tứ: “Nếu quả Bình Định mất đi một điệu trống, phải đền lại một cái gì chứ? Chiếc bánh tráng nhé?”.

Cũng chỉ trong tùy bút, ông mới thỏa chí phóng ngọn bút mỉa mai nhẹ nhàng mà thấm thía của ông được: ông kể lịch trình Nam tiến và Tây tiến của chiếc áo dài phụ nữ, rồi kết: “Thế cho nên chúng ta tin mạnh ở sự thành công cuộc thống nhất đất nước bằng chiếc áo dài. Nó êm thấm, đẹp đẽ hơn những đường lối thống nhất bạo tàn biết bao!”; và làm sao chúng ta không mỉm cười khi ông bảo ở miễu bà Chúa Xứ (Châu Đốc) lễ bái đã được “hiện đại hóa”; không đau xót khi thấy ở một miền nọ - từ Cai Lậy tới Mộc Hóa - cờ nhiều hơn nhà, người đâu là có cờ đấy.

Sau cùng, cũng chỉ trong tùy bút ông mới có thể thỉnh thoảng đưa ra những suy đoán mà ông tự nhận trước là “vu vơ, liều lĩnh”. Kể ra đôi khi ông cũng hơi “phiêu lưu” thật - thể tùy bút cho phép chúng ta như vậy - nhưng nhiều chỗ phải nhận rằng ông sâu sắc, như khi ông phân tích tâm lý nhà Nguyễn thiên vị với người Nam, cả với cây cỏ trong Nam, hoặc khi ông bảo cuộc Nam tiến từ Bình Định vô Phú Yên, Khánh Hòa là “nhì nhằng” cho nên mới có ái tình Bình Phú (Bình Định - Phú Yên) trong cao dao. Nhiều suy diễn của ông về thơ, về ngôn ngữ, về cách đặt tên của người Thượng cũng làm cho tôi ngạc nhiên. Ông quả có óc tò mò, đọc nhiều và đi nhiều.

o O o

Năm 1969, vì ký tên trong một bản kiến nghị rất ôn hòa đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản, ông bị giải nhiệm. Về sau các diễn biến của sự việc đã đưa ông đến một chức vụ khiến ông có dịp đi đây đi đó khắp trong nước. Nhờ vậy, ông ghi lại những cảm tưởng khi ở Bạc Liêu, Mộc Hóa, khi ở Ban Mê Thuột, Bình Định… mà viết nên tập tùy bút này, phong phú hơn ba tập trước của ông nhiều. Vậy trong cái rủi vẫn thường có cái may. Và khi một nhà văn biết lợi dụng nghịch cảnh thì chẳng những có ích cho mình, mà còn có ích cho độc giả, cho văn hóa nữa. Đó cũng là một đề tài lý thú để ông viết tùy bút nữa đấy, ông Võ Phiến.

NGUYỄN HIẾN LÊ
Sài Gòn, ngày 25-3-1973
(Nguồn: "Đất nước quê hương". Tùy bút của Võ Phiến. Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn, 1973).


                         Văn Phong-Nhân Cách
                                                                Võ Phiến

                                                  (Võ Phiến)

Nguyễn Tuân là một nhà văn lỗi lạc; khen ông không lo bị hố. Có nhiều người khen, có nhiều cách khen. Lắm kẻ khúc khích trầm trồ, chịu nhất cái chỗ Bá Nhỡ đàn cho cô Tơ hát: Tiếng đàn nghẹn ngào u uất của Bá Nhỡ, “nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng” (Chùa Đàn). Cũng lắm người khoái kiểu ví von một chiếc roi chầu bị bẻ cong với hình ảnh người đàn bà ưỡn ngửa ra để tránh một chiếc hôn bạo.

Còn như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan thì ông ta tấm ta tấm tắc khen mãi cái tài tả cảnh của Nguyễn Tuân. Tả thú uống trà thì “thật tuyệt”. Tả cảnh đêm báo động đầu tiên tại Hà Nội thì “tuyệt khéo”. Tả cảnh bà Tú chở đồ ăn thức đựng từ Thanh Hóa ra Hà Nội cùng là cảnh Nguyễn đi xe đạp kèm lũ thợ đẩy xe bò gỗ thì “hay tuyệt”, “có thể làm đầu đề cho những họa sĩ nào ưa vẽ những cảnh đặc biệt Việt Nam”. Tả cuộc hòa nhạc của đám ca kỹ Tàu ở Hương Cảng thì “tuyệt hay, làm cho người đọc không lúc nào chán”. Tả một kẻ vô tài mà có tính huênh hoang thì “cực hay” v.v…

Tóm lại “Nguyễn Tuân có ngòi bút tả cảnh lúc hùng tráng, khi ghê rợn, lời văn lại hàm súc, kín đáo, làm cho người đọc ham mê” (Nhà văn hiện đại, quyển ba).

Nhà phê bình nói đúng phóc: Nguyễn Tuân còn tả nhiều cái nữa, phần lớn đều cực hay, tuyệt khéo, đọc không chán. Nhà phê bình không sai không hố chỗ nào, nhưng tôi cứ ngờ ông chưa khen đúng, chưa nhấn mạnh đúng vào cái hay của Nguyễn Tuân. Một nhà văn lớn lại có thể lớn vì khéo tả cái này cái nọ sao? Cũng như một nhà văn lớn lại có thể lớn vì mấy ý nghĩ ngộ nghĩnh, vì những lối nói nghịch ngợm vậy sao? Tả như thế, ví von như thế thì tài thật, thì quả nhiên đọc không thấy chán, đọc ham mê lắm. Nhưng một tác giả mà mê hoặc được người đời có lẽ không mê hoặc vì cái tài nọ tài kia. Chữ “tài” ở đây nghe cứ phảng phất cái nghĩa một kỹ thuật, một ngón nghề, một trò sở trường.

Người nghệ sĩ xuất hiện với đời là xuất hiện như một tâm hồn, chứ không phải như một tập hợp kỹ thuật, dù là kỹ thuật cao siêu. Người đời đến với một nghệ sĩ là tìm đến một tâm hồn; mấy ai buồn tìm hiểu các trò kỹ thuật làm gì đâu.

Thực ra, trong trường hợp Nguyễn Tuân, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cũng có chú ý đến chỗ này nữa. Ông Vũ “chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông (Nguyễn) và những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn.” Ông Vũ cho rằng “ông (Nguyễn) là một nhà văn đặc biệt Việt Nam có tính hào hoa và có cái giọng khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại” (Nhà văn hiện đại, quyển ba).

Vũ Ngọc Phan có nói về cái “trạng thái của tâm hồn”, nhưng nói không kỹ bằng nói về tài tả cảnh của Nguyễn Tuân; trong khi “trạng thái” mới là cái chính. Tôi buồn ông Vũ chỗ ấy.

“Trạng thái tâm hồn” theo cách nói của ông Vũ, hình như nó là cái phong thái riêng biệt của Nguyễn Tuân. Và nét phong thái ấy, cái cốt cách ấy của Nguyễn Tuân ông Vũ nói cũng đúng nữa: nó là một vẻ hào hoa mà khinh bạc đặc biệt Việt Nam. Thiết tưởng cái đó mới là chỗ độc đáo cốt tủy làm nên sức thu hút của nhà văn.

Phong thái con người nó xuất lộ ở một bản văn đầy nghệ thuật mà cũng có thể xuất lộ ngay ở những câu văn bừa bãi lôi thôi như ông Vũ nhận thấy. Đã có một cốt cách đẹp đẽ thì tả cảnh hay ho càng tốt, mà tả không hay cũng… tốt thôi. Thậm chí không tả, không luận gì hết trơn cũng vẫn tốt được, vẫn đẹp được. Này nhé, Nguyễn Tuân có lần viết: “Chao ôi! Đêm tối như đêm giao thừa. Vẫn lại mưa rả rích. Mưa trên sông. Mưa xuống mái bồng. Mưa trong lòng, — chuyện cũ… ới… ư hừ… ơ… ơi…” Lại có lần nữa viết: “Tôi tưởng còn lâu nữa mới về ở ngay dưới mái nhà của tôi bên sông Tô. Vừa tưởng thế và vừa hiểu luôn rằng như vậy là tôi đã phụ nhiều đến sự săn sóc, đến lòng gây dựng của hai đấng tác giả đời tôi. Chao ôi.” (Tùy bút)

Ý chẳng có ý gì cao xa, cảnh chẳng có cảnh gì ra trò; nhưng “trạng thái tâm hồn” Nguyễn Tuân thì vẫn hiển hiện. Và đó là cái đáng yêu.

(Nhà văn Nguyễn Tuân)

Hễ đọc thơ đọc văn mà đã bắt được nét đẹp của một phong cách, đã yêu nó, thì cứ thoáng thấy nó xuất hiện ở đâu là thích đấy, bất luận người nghệ sĩ đang nói gì, đang đề cập đến vấn đề gì, đang tả cái gì, đang kể lể con cà con kê về cái gì. Tả tiếng còi hụ nghe mà ghê, tả bà Tú thấy mà thương v.v…, có tai mắt tuyệt hảo, có khiếu quan sát tinh tường, có nhận xét sắc bén v.v… là chuyện nhỏ nhặt quá, so với một phong cách. Phong cách, nó phản ảnh một quan niệm sống, một thái độ ở đời, nó phản ảnh một khung cảnh xã hội, một thời đại, nó thừa kế các đặc điểm của một dòng dõi, một đường hướng giáo dục, một bầu không khí văn hóa v.v… Nó là cái dung mạo của một tâm hồn.

Hãy khoan nói đến hạng độc giả đọc cho vui, đọc những loại “truyện hay vì truyện”, có lắm gút thắt rối ren được tháo gỡ tài tình. Ngoài trường hợp ấy ra, nếu ta tìm đến cuốn sách cốt để gần gũi một tâm hồn, để bắt gặp một quan niệm nhân sinh, một thái độ ở đời, thái độ của người đồng loại đối với cái sống, cái chết, đối với tình yêu v.v…, nếu thế thì một khi đối diện một phong cách đẹp đẽ, tự nhiên mê tơi. Lúc bấy giờ ta trở nên rộng lượng, không chấp nê những món lẻ tẻ: câu văn cẩu thả, lời lẽ mù mờ v.v… Tha thứ được cả.

Nói ta rộng lượng, e chướng tai chăng? “Ta” là ai mà hách vậy? mà có quyền rộng lượng hẹp lượng đối với các văn gia thi gia? — Không, cái “ta” ấy không dính líu gì đến kẻ đọc người viết những lời bàn tán hôm nay. “Ta” đây là nói chung về độc giả, về khối quần chúng độc giả mênh mông, trải qua nhiều thế hệ, đã âm thầm thưởng thức, phán đoán, chọn lựa, đã tạo dựng nên tên tuổi của tác giả này, làm sáng tỏ giá trị của tác phẩm nọ.

Vừa rồi Nguyễn Tuân được nêu ra, rồi đây nếu có những tác giả khác lại được viện dẫn nữa, họ được nêu dẫn vì lẽ ấy: họ đã được quần chúng chọn lựa, họ đã trước tác hơn nửa thế kỷ; họ đã cách lớp chúng ta một khoảng thời gian khá rộng đủ để cho những phản ứng sôi nổi nhất thời kịp lắng xuống. Cũng vì vậy cái phần trước tác của họ được nói đến đây là cái phần trước 1945, cái phần đã cách xa, đã trải qua thử thách của thời gian, chứ không phải những gì họ mới viết sau này, khi “trạng thái của tâm hồn” họ đã đổi khác: phần sau còn chờ sự thẩm định trong tương lai.

Xin trở lại chỗ rộng lượng. Xuân Diệu có những câu thơ thế này:
“Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu.
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều
.”
(‘Xuân không mùa’)

“Vài ba sương mỏng thắm” là thế nào? Rồi lại còn “năm bảy sắc yêu yêu”, sắc yêu yêu là cái sắc ra làm sao? là cái sắc quái quỉ gì vậy? Đó là một từ ngữ địa phương, một lối nói riêng của vùng quê cha ngoài Hà Tĩnh hay của vùng quê mẹ trong Bình Định chăng? Chắc không phải thế đâu. Nếu “sắc yêu yêu” mà có đến từ một quê hương nào, thì cái quê hương ấy nên mang tên là Lúng Túng, là Quýnh Quáng. Đang ngon trớn, đang nói dồn nói dập, thi sĩ cứ phóng bừa tới, không muốn để cho những cân nhắc thận trọng, những trau chuốt tỉ mỉ chận mất đà của mình vậy thôi.

Trong cùng một bài thơ ấy, chúng ta còn có thể nhặt được những câu khác, đại khái cùng một lối như thế.
“Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa

hay:
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa

Hồi trước, có kẻ bảo rằng Xuân Diệu chịu ảnh hưởng Pháp, rằng những câu nọ là “Tây” quá. Ối, Tây nó đâu có ngọng nghịu vậy? Dù sao, Tây hay không Tây, những bài thơ như thế đã làm nên danh tiếng của Xuân Diệu. Nó ra đời năm 1939. Một năm sau khi xuất bản Thơ thơ, vào thời lẫy lừng nhất của thi sĩ.
Trong trường hợp khác, Xuân Diệu lại viết:
… “Nhưng ta sẽ yêu nhau mãi mãi,
mãi mãi là trong những phút giây.
Lâu dài là bóng là mây,
là môi kỳ ngộ là tay hảo cầu
.”
(‘Mãi mãi’)

Tại sao vậy? Tại sao phút giây lại là mãi mãi? bóng với mây lại là cái tồn tại lâu dài? Tác giả không giải thích những chuyện tréo tro ngược đời ấy, ông cứ nói, cứ tuôn ra liên tiếp những cái kỳ cục, để… thuyết phục! Và ông đã thuyết phục được, không phải nhờ lý luận, mà nhờ sức lôi cuốn của một niềm tin, của một giọng say sưa dồn dập, của một “trạng thái tâm hồn”: thiết tha, sôi nổi, nồng nàn.

Thành thử nhiều lúc hứng chí lên thi sĩ nói vội nói vàng. Chữ xô đẩy chữ, lời chen lấn lời. Cứ thế ông thu hút người, bất kể từ ngữ ông dùng có chính xác hay không chính xác, lập luận ông đưa ra có chặt chẽ hay không chặt chẽ. Một phong cách, nó quan trọng là thế.

Nhưng làm sao “bắt” được phong cách của một tác giả? Muốn thưởng thức, muốn phân tích, khen chê một cái tài tả cảnh, một lời văn điêu luyện: dễ hơn nhiều. Câu văn nằm chình ình trên trang sách; tha hồ đè nó ra, xem đi xét lại, vạch kẽ từng chữ mà bình mà phê mà giảng mà luận; tha hồ tách bạch từng ý mà hạch hỏi. Còn phong cách, nó phảng phất ở đâu? nó nương mình vào chỗ nào? vào câu nào chữ nào? trong hàng trăm hàng nghìn trang sách?

Biện biệt cho được cái phong cách của một tác giả cũng như của một con người, là cả một rắc rối. Không phải cách nói cẩu thả, vội vàng, bộp chộp nào cũng là một biểu lộ của nhiệt tình sôi nổi, không phải cứ tung bừa ra những lầm lỗi vấp váp thì bỗng dưng có một tâm hồn thiết tha say mê.

Nguyễn Tuân chỉ viết có hai chữ “chao ôi” rồi chấm dứt, rồi sang hàng: thế là tài hoa, là khinh bạc ư? — Ối! gì chứ hai chữ sang hàng thì có gì khó? Đời nay khối kẻ cứ một chữ sang một hàng, liên tiếp năm lần bảy lượt còn dám nữa là một lần! Một chữ, chấm sang hàng. Một chữ nữa, chấm sang hàng. Cứ ngúc nga ngúc ngắc, cà khục cà khặc. Đời nay thiếu gì kẻ dám làm thế? người ta đâu có ngán những trò đó. Khó khăn gì đâu? Phong cách học giảng thuyết dông dài liệu có chắc giúp người ta phân biệt được cái nhăn mặt của Tây Thi với những lối nhăn nhó của các nàng Đông Thi chăng? phân biệt một phong cách đích thực với những bản sao lem nhem chăng?

Biện luận thuyết giảng thì rối rắm, nhưng phong cách là một sự thực. Lấy lương tri ra trực nhận có vẻ giản dị. Bà mẹ của Tôn Quyền không phải là nhà tướng số, thế mà chỉ cần nhìn qua anh chàng Lưu Bị một cái là đủ biết ngay con người đàng hoàng, xứng đáng cho cô gái cưng gửi thân trọn đời. Lại như cái gã Hồ Ban nọ, đã chấp lệnh quan thái thú Huỳnh Dương đem củi khô chất quanh quán dịch, đã đem cả nghìn quân vây chặt, chỉ còn chờ một ngọn lửa châm là đốt cháy tiêu luôn chị em Quan Công, thế nhưng lỡ tò mò ghé mắt nhìn thử bộ dạng Quan Công ngồi đọc sách dưới đèn có một tí ti mà buột miệng kêu: “Quả thật đúng là người nhà Trời!” rồi cúi lạy, rồi mở cửa ải mời Quan Công vọt thẳng.

Ấy, người có cái cốt cách của người nhà Trời, nhác trông qua là biết, không cần phải thử tài cao thấp, phải theo dõi hành trạng một đời, phải nghe biện giải dông dài. Văn cũng có cái cốt cách của văn: cốt cách văn chương nhà Trời, cốt cách phong nhã, cốt cách sát phạt bạo liệt, cốt cách kiều mỵ lâm ly… Hợp thì thoáng qua một cái là thấy hợp, là “bắt” được ngay, là “chịu” liền.

“Chịu” như thế, e có thể bị bắt bẻ. Anh chàng Hồ Ban chịu Quan Công người nhà Trời, đó là tất nhiên. Bà mẹ Tôn Quyền chịu Lưu Bị, cũng là phải cách. Còn như đọc văn sao lại “chịu” một cái văn phong khinh bạc kiêu kỳ? có phải là nhảm không? có phải là chính trong cái nết na của mình đang có chỗ khiếm khuyết trầm trọng, khiến mình xa lánh kẻ khiêm nhu mà mỗi khi bắt gặp một dáng vẻ cao ngạo lại bất giác hớn hở tưng bừng như thể trâu gặp trâu ngựa gặp ngựa?

Mắng như thế là mắng đến nơi đến chốn. Kẻ độc giả phải lấy làm sợ hãi, vội vàng kiểm điểm lại lòng mình; và — thành thực mà nói — thấy quả có điều oan ức. Có sự ngưỡng mộ căn cứ trên các tiêu chuẩn đạo lý; có sự thưởng thức căn cứ trên các tiêu chuẩn thẩm mỹ. Bao nhiêu vẻ đẹp bày ra trong văn chương Đông Tây xưa nay không phải đều là vẻ đẹp cao khiết đoan chính cả. Bàng bạc một niềm nhân ái bao la như thơ Đỗ Phủ là đẹp, thấm thía nỗi u sầu hắc ám như thơ Edgar Poe, Baudelaire cũng là đẹp, hùng hồn dũng mãnh như Victor Hugo là đẹp, mà chán chường não nề như Verlaine, thê thiết như Hồ Dzếnh cũng lại có nét đẹp riêng v.v… Bắt được cái đẹp của phong cách Đỗ Phủ, Victor Hugo, chớ vội vênh váo cho là rồng gặp rồng; rung động trước cái đẹp của phong cách Verlaine, Baudelaire, vị tất đã là rắn khoái rắn.

Văn chương nghệ thuật không phải là chỗ phô trương những phong cách người Trời, những phong cách anh hùng chí sĩ. Thường khi, trái lại. Trong hội họa có thứ tranh quyến rũ vì sắc màu xanh lướt bệnh hoạn, vì những chiếc cổ dài ngoẳng, những bộ mông tục tĩu, trong thi ca có thứ thơ thu hút người vì vần điệu âm u, ảm đạm.

Nhân cách được phân biệt theo thiện ác; văn phong không có văn phong thiện với ác, chỉ có văn phong đẹp với xấu. Và cái hỏng nặng nhất cho người làm văn thơ là không có được một phong cách, dù chuyên làm văn thơ yêu nước thương nòi. Ì ạch viết suốt một đời mà xem ra chẳng thấy một phong cách gì: Chuyện khổ não ấy lại xảy ra đều đều.

Ta liên tưởng đến một chuyện khổ não trần gian khác, cũng lại thường xảy ra: tô phở không mùi.

Trong tác phẩm của Thế Giang có lần hai người trẻ tuổi nói chuyện về phở Thìn ở Hà Nội. Một người bảo: “Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó giở nắp thùng lên thì có sởn gai ốc không hả…? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!” Rồi người ấy lại bồi thêm câu nữa: “Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biết thì còn gì là phở?” (Thằng người có đuôi) Ôi! thật xứng đáng là những lời vàng ngọc về cái chân lý phở.

Hình như cổ nhân đã bận tâm nhiều lắm về mùi thơm của các món ăn. Trong vài món phổ biến như phở Bắc như bún bò Huế, mối bận tâm ấy từng thể hiện nơi chiếc muỗng và cái tô chẳng hạn. Tôi có cảm tưởng bát bún bò ngày xưa bưng ăn ở Huế nó nhỏ hơn ngày nay nhiều. Xưa kia, nó là cái bát tai bèo, vừa bé vừa cạn lại vừa dày cộm: dung lượng được mấy? Vì thế, thực khách có thể “thanh toán” bát bún bò tiền chiến thật nhanh chóng, thanh toán trong khi nó còn nóng hôi hổi, bốc hơi ngào ngạt. Bát bún bò mỗi ngày mỗi nở lớn thêm. Bát lớn quá, ăn mãi một hồi lâu chưa chịu hết, tất nguội lạnh, còn có mùi thơm nào bốc lên từ đống đồ ăn lạnh lẽo ấy nữa? Vả lại, bạn nghĩ coi: người hàng bún chỉ rắc hành tiêu lên mặt một lần, lúc làm xong bát bún bưng mời bạn xơi, chứ có ai đứng mãi bên cạnh mà hầu bạn, mà thỉnh thoảng lại chồm vào rắc hành rắc tiêu cho bạn đâu? Chút hương liệu rắc lên mặt làm sao thơm đến tận đáy bát? Thành thử bảy tám phần mười bát bún lớn, bạn ăn không mùi.

Tô phở nó lại càng lớn mạnh hơn nữa theo thời gian: phở tàu bay, phở tàu ngầm, phở xe lửa v.v… Toàn thể các loại phở “jumbo” ấy là những đấng khổng lồ làm khiếp vía các bậc phở tiền bối. Tại sao không tiếp tục giữ kích thước khiêm tốn cũ: mỗi lần ngon trớn, có đầy đủ yên-sĩ-phi-lý-thuần, ta gọi tiếp tô phở mini thứ nhì, có sao đâu?

Đó là chuyện cái tô. Lại còn vấn đề chiếc muỗng. Ngày còn học ở Huế, mỗi khi ăn bún bò, cả bọn chúng tôi ở cùng một nhà trọ thường ăn cái bún bò gánh đi bán dạo. Bà hàng bún làm xong bát bún hình như chỉ đặt ngang một đôi đũa trên miệng bát trước khi trao cái bát tai bèo đang bốc hơi vào tay thực khách. Tôi không nhớ có kèm theo muỗng. Chúng tôi vừa ăn vừa húp nước xùm xụp.

Trước kia, trên đường Nam tiến món phở chưa vượt qua sông Gianh, tôi không biết lối ăn phở theo phép tắc ngày xưa nó ra thế nào. Bây giờ thỉnh thoảng có bậc tuổi tác gốc miền Bắc nhắc rằng ăn phở trước kia cũng không hay dùng đến muỗng. Lý do là muỗng nó hại mùi.

Hãy tưởng tượng, nấu một món ăn vương giả thơm lừng dưới bếp, mà bao nhiêu vị khách quí thì say sưa bàn những vấn đề quốc quân trọng sự trên phòng khách. Để tỏ lòng ngưỡng mộ một vị thượng khách kính yêu nào đó, ta muốn cho vị ấy nếm thử món ăn đang ở thời điểm thơm ngon nhất. Ta lấy chiếc thìa con múc đầy một thìa, run rẩy mang lên phòng khách trút vào mồm thượng khách kính yêu. Kết quả ra sao? Kết quả là thượng khách đớp phải một món ăn vô vị: món ăn còn đó mà mùi thơm đã chết mất dọc đường. Món ăn dù quí đến chừng nào mà chỉ “trích tuyển” ra một muỗng con, mang đi vòng vo, thì cũng không còn giữ được hương vị nữa.

Vì thế cái muỗng phở trích tuyển đưa lên mồm nó cũng chịu ít nhiều thiệt thòi. Chịu khó bưng tô phở lên mà húp thì mồm chỉ húp một ngụm mà mũi hưởng được cái thơm của cả tô. Nếu quả thật trước kia ăn phở không dùng muỗng thì, một lần nữa, các bậc tiền hiền lại đáng ca ngợi.

E có kẻ cho rằng tôn kính tiền nhân thì nên để trong lòng, còn ngoài mặt hãy nên dung hòa với phép ăn uống của địa phương: ngồi ở một tiệm ăn trên đất Hoa Kỳ, bưng nguyên cái bát to tướng lên mà húp, có khó coi chăng?

— Lấy con mắt người Mỹ mà coi, có khó thật. Nhưng một khi người Mỹ cũng bưng bát lên húp, thì cái coi không còn khó nữa. Tại các tiệm ăn Nhật, thỉnh thoảng người ta vẫn có dọn những món xúp không ăn bằng muỗng. Thật tình mà nói, riêng phần tôi, tôi chỉ gặp một thứ xúp lỏng, ngửi qua mùi chẳng thấy thơm tho gì, thế nhưng theo phép vẫn bưng cả tô để thưởng thức cái mùi mà mình chưa quen. Các thực khách người Mỹ chung quanh cũng vui vẻ làm như thế cả. Không khó coi là mấy.

Mùi thơm của một món ăn, người ta bảo vệ nó cẩn thận như thế, vai trò nó quan trọng như thế, cái thế giá của nó cao như thế, mà sự lợi ích “cụ thể” của nó ra làm sao? Nói về phở chẳng hạn: Phở là món để ăn, không phải để ngửi. Xưa nay thiên hạ hăm hở vào tiệm phở không phải cốt mua lấy tô phở, ngồi ôm hít một lát rồi ra đi thỏa mãn. Đó không phải cách thưởng thức phở chính thống. Ấy thế mà cái phở không thơm, cái phở “đi sắp ngã vào nồi cũng không hay” thì lại không “còn gì là phở”! Có kỳ cục không chứ?

Phở cốt để ăn, vậy cái thực chất của phở là bánh phở, là nước dùng, là miếng thịt, là những sách những nạm v.v…, đó mới là những cái cụ thể để hưởng, còn thơm với không thơm thì hưởng ra làm sao? Thơm không phải là cái ngon của phở; chẳng qua nó chỉ báo hiệu cái ngon. Thưởng thức cái ngon thì được, thưởng thức cái… báo hiệu thì thưởng thức làm chi? Vậy mà không báo hiệu thì… “còn gì là phở”! Kỳ cục thật.

Kỳ cục như văn thơ. Đọc Nguyễn Tuân chẳng hạn là để xem chuyện cô Tơ chuyện cậu Lãnh Út, chuyện cái da cái tóc của chị Hoài, cái cười cái nói của phu nhân họ Bồ v.v… nó ra làm sao. Đó mới là thực chất cụ thể. Ăn phở thì ăn thịt ăn bánh, còn cái mùi chỉ để… ngửi chơi. Đọc sách thì đọc chuyện đọc ý, còn phong thái là cái vô hình phảng phất, chỉ để… ngửi chơi. Vậy mà chính cái đó mới làm cho Nguyễn Tuân thành Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính thành Nguyễn Bính, Phan Khôi thành Phan Khôi, cũng như xưa kia cái văn phong đó đã làm cho Lý Bạch thành Lý Bạch, Tô Đông Pha thành Tô Đông Pha v.v… Cái đó chứ không phải là những tài tả cảnh hay ho, là những tư tưởng cao siêu nào.

Hôm nay chúng ta nói lếu nói láo về cái mùi của văn thơ, về chuyện ngửi văn thơ, đừng tưởng là có gì mới mẻ. Người xưa đã từng có lần mắng cái mũi vô duyên của mình khi nó sục sạo, ngửi phải câu thơ thi xã đấy.

Võ Phiến

                               Một số tác phẩm của VÕ PHIẾN

            

            

            

       

              

                

              

                  MỜI ĐỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA VÕ PHIẾN (pdf):

               Chiếc Áo Dài - Võ Phiến      Bà Con Chòm Xóm - Võ Phiến       Cái Còn Lại - Võ Phiến           

                         Cô Quỳ Còn Không? - Võ Phiến        Gùa, Gắn và Gụ - Võ Phiến

              Một Chỗ Thật Tịch Mịch - Võ Phiến       Người Chồng Bất Thường - Võ Phiến

  Thác Đổ Sau Nhà - Võ Phiến    Thương Hoài Ngàn Năm - Võ Phiến      Mưa Đêm Cuối Năm - Võ Phiến

          Xem Sách - Võ Phiến            Nằm Chơi - Võ Phiến          Vươn Ra Ngoài Cuộc Sống - Võ Phiến

           Giã Từ - Võ Phiến (tiểu thuyết)   Tạp Văn "Cuối Cùng" - Võ Phiến   Tạp Bút - Võ Phiến

                            Nguyễn Xuân Hoàng, "Kiểu Cách mà Hững Hờ" - Võ Phiến

       Vũ Hoàng Chương - Võ Phiến      Nguyên Sa - Võ Phiến         Võ Phiến Đọc/Đọc Lại Nhất Linh


     Một ngôi sao trên vòm trời văn học, nhà văn Võ Phiến
                                            Nguyễn Ngọc Bích


                                           

Một nhà văn lớn, một ngôi sao sáng trong vườn văn-học Việt-nam vừa mới ra đi. Hôm qua, trong lúc tôi đang lái xe trên đường từ Maryland về thì anh Bùi Bảo Trúc kêu tôi từ Quận Cam nói: “Anh Bích ơi, anh Võ Phiến chắc sắp ra đi rồi. Chị Võ Phiến đã mời Thầy Viên Lý đến tụng kinh cho anh và gia-đình đoán là bất cứ giờ nào anh ấy có thể sẽ quy tiên.” Quả như rằng, đến 7 giờ tối thứ Hai, 28 tháng 9, 2015, nhà văn Võ Phiến, một cây bút hàng đầu của Việt-nam tự do và của cộng-đồng hải-ngoại, đã trút hơi thở cuối cùng.

Không bất ngờ

Sự ra đi của ông không phải là một chuyện bất ngờ. Từ nhiều năm nay, ông đã phải ngừng viết vì chứng bệnh Alzheimer của tuổi già, lúc nhớ lúc quên. Nhà văn Trùng Dương, cách đây hơn 5 năm, đã đến thăm ông bà Võ Phiến, kể:

Buổi viếng thăm anh chị lần này đã để lại trong tôi một xúc động mãnh liệt… Đến nơi lúc 11 giờ đã thấy chị đứng sẵn ở cổng bên mấy bụi hoa hồng chờ khi tôi lái xe vào khoảng sân trước nhà để xe (nay đã biến thành kho chứa sách vì đã nhiều năm anh chị không lái xe). Bước vào nhà đã thấy anh áo quần tề chỉnh, cả đội mũ nữa, chắc cho ấm đầu, với mái tóc trắng còn lưa thưa, đang chờ khách. Tôi cảm động lắm, vì rõ ràng là anh chi đang ngóng chờ khách phương xa.”

Kinh-nghiệm này hoàn-toàn ăn khớp với hình ảnh vợ chồng tôi có mỗi khi có dịp sang Quận Cam và đến thăm anh chị Võ Phiến. Vẫn một sự hiếu khách và ân cần săn đón niềm nở dành cho một người chỉ đáng tuổi em mình, vẫn một sự tò mò hỏi han về công việc văn-học của khách (khác hẳn nhiều người gặp khách chỉ kể về mình). Tôi còn giữ được không ít những lá thư anh viết cho tôi, khuyến khích tôi trên mỗi chặng đường nghiên cứu của tôi. Như năm 1983, vợ chồng tôi có viết chung một tiểu-phẩm mang tên "Những địa-tầng ngôn ngữ trong lịch-sử tiếng Việt" được cụ Nguyễn Khắc Kham khen, trong khi anh Võ Phiến thì vui hẳn:

Bản Tin Văn Hóa của Cung Tiến ở Minnesota liên tiếp mấy kỳ đăng loạt bài về ngữ học của Anh, đọc thích ơi là thích. Không dám khen các tác giả về kiến thức rộng…, tôi lấy làm thích thú đặc biệt là những suy tìm, nghĩ ngợi, nhận xét rất thâm thúy và tinh tế… Tôi ngờ những bài này ở trong một cuốn sách, cắt đăng từng kỳ báo chậm quá, người đọc phải chờ đợi lâu quá. Anh có dự tính nào về việc in cuốn này chăng? Nếu có xin Anh báo tin cho tôi biết với. Tôi chắc ở vùng Nam Cali này có nhiều người muốn mua đấy.”

Rồi anh kết-luận thật dí dỏm:

Lâu quá tôi ít thư từ cho ai, không có thư thăm Anh, nhưng mới nhận được Bản Tin Văn Hóa mới hôm qua, khoái quá, không thể không ba hoa với Anh vài lời.” (Thư từ Los đề ngày 20 tháng 9 năm 1983)

Lần khác, anh nhận-định chung về tình-hình nghiên cứu ở hải-ngoại: “Tình hình biên khảo về văn học VN do người Việt hải ngoại lâu nay khá bi quan. Từ sau cụ Hoàng Xuân Hãn, thường thường không mấy ai phát giác ra cái gì mới mà chỉ tổng kết những thành quả khảo cứu của các học giả trong nước. Vì vậy khi được đọc những bài của Anh với những phát giác mới, những bài khảo cứu có tinh thần sáng tạo, tôi thật khoái và thêm tin tưởng ở hoạt động văn hóa của bà con hải ngoại chúng ta.” (Thư đề ngày 7 tháng 12, 1983)

Sang đầu năm 1984, anh lại viết cho tôi về hai chữ Nôm nhức óc mà cho đến gần đây chưa mấy ai đọc được cho chính-xác:

Vụ ‘song viết’ tôi cũng nghĩ là anh thắng, các nhà nghiên cứu ngoài Bắc thua… Nhân dịp Đào Duy Anh bị ‘chôn’ sống [ở ngoài Bắc], tôi có ý kiến là anh nên tìm cách phổ biến bài nghiên cứu của anh càng rộng càng hay. Đề phòng một ngày kia, Hà nội dùng ngay những phát giác của anh mà tỉnh bơ không nhắc tới tên anh. Lúc bấy giờ mình lấy những tờ báo đã đăng bài của anh ra làm bằng chứng” (Thư đề ngày 25 tháng 1, 1984) mà tố-cáo sự gian lận của họ."

Sở dĩ tôi hơi dông dài nhắc về một vài kỷ-niệm của tôi (cái tôi đáng ghét) với anh Võ Phiến như trên đây là để thấy là như một người đàn anh trong văn-đàn, anh lúc nào cũng ưu ái theo dõi công việc của người khác mà anh coi như đồng-nghiệp chứ không phải đòi ăn trên ngồi trốc như một ông tiên-chỉ trong làng văn. Đó là một đặc-điểm của cái mà nhà văn Mai Thảo gọi là “cộng-hòa chữ nghĩa” (“la République des lettres” nói theo kiểu Pháp) trong đó chỉ có anh em chứ không có ai chiếu trên, ai chiếu dưới—một điểm đặc-thù của văn-học miền Nam và của hải-ngoại.

Một tổng-tác-phẩm đồ sộ


Sinh năm 1925 ở Bình-định, ông có tên thật là Đoàn Thế Nhơn nhưng lấy tên vợ, Viễn Phố, đảo lại thành bút-hiệu Võ Phiến—một ý-tưởng vừa ngộ nghĩnh vừa đáng yêu. Bắt đầu viết từ rất sớm (1943 trên Trung Bắc Tân Văn), tham-gia kháng-chiến xong bỏ về thành, cùng với một số bạn ra tạp-chí văn-học Mùa Lúa Mới ở miền Trung. Thời-gian trước năm 1975 vì làm trong ngành kiểm duyệt của Bộ Thông tin nên có dịp theo dõi rất sát sinh-hoạt văn-học của miền Nam. Nhờ những hiểu biết này mà về cuối đời, ông đã viết được ra một cuốn văn-học-sử rất giá trị mang tên Văn học Miền Nam: Tổng quan (Văn Nghệ, 1987, đã được Võ Đình dịch sang tiếng Anh và G.S. Nguyễn Xuân Thu xuất bản ở Úc) và dựa vào quyển này ông lại thu thập và tuyển chọn được một bộ hợp-tuyển “Văn học miền Nam” gồm 7 quyển, trong đó có ba quyển giới-thiệu Truyện dài và truyện ngắn, một quyển dành cho Ký, một quyển dành cho Kịch và Tùy bút, và một quyển dành cho Thơ (tất cả đều do nhà xuất bản Văn Nghệ của ông Võ Thắng Tiết in ra).

Bên cạnh đó nhà xuất bản Văn Nghệ cũng in ra Toàn Tập Võ Phiến gồm Tùy bút (I và II), Tạp Luận, Tiểu Luận, Truyện ngắn (I và II), Tiểu thuyết (I và II), Tạp Bút. Tóm lại, một tổng-tác-phẩm rất đồ sộ. Sau này, nhà xuất bản Người Việt cũng lại cho in một Tuyển tập Võ Phiến bìa dầy rất trang trọng. Trong những tác-phẩm của ông mà được người ta nhắc đến nhiều có: các tiểu-thuyết Mưa Đêm Cuối Năm (Giải văn chương toàn-quốc 1960), Giã từ (Bách Khoa, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), và các tập truyện ngắn Chữ tình (Bình Minh, 1956), Người tù (Qui Nhơn, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm (Bút Nghiên, 1962), Ảo Ảnh (1967), Phù Thế (1969), chưa kể ông còn có một số tác-phẩm dịch (Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà dịch Stefan Zweig, Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại dịch André Maurois, Truyện hay các nước I và II, dịch với Nguyễn Minh Hoàng, và Ông chồng muôn thuở dịch Dostoyevsky). Đặc-biệt mê Võ Phiến thì có Võ Đình (có lần anh tả cho tôi cái óc quan-sát đặc-biệt tinh tế về một con ruồi của Võ Phiến trong truyện “Một ngày để tùy nghi”), Thụy Khuê cũng đã viết một thiên khảo cứu về Võ Phiến trên Hợp Lưu số 103 (tháng 12/2008) và Nguyễn Hưng Quốc đã có nguyên một cuốn sách dài viết về Võ Phiến (1996). Một giáo-sư người Mỹ, ông John C. Schafer, cách đây gần 10 năm cũng đã có Võ Phiến and the Sadness of Exile (“Võ Phiến và nỗi buồn lưu vong”), một cuốn chuyên-đề do Northern Illinois University in ra (Monograph Series on Southeast Asia, 2006).

Tỵ nạn sang Mỹ, ông bắt đầu viết lại với Thư Gửi Bạn (1976), rồi Lại Thư Gửi Bạn (1978), Ly Hương (1977, viết chung với Lê Tất Điều) và truyện dài Nguyên Vẹn (1978, đã được James Banerian dịch sang tiếng Anh). Tiểu-luận của ông viết ở Mỹ đã được Nguyễn Ngọc Bích, Huỳnh Sanh Thông dịch sang tiếng Anh và truyện ngắn của ông (do Võ Đình, Phan Phan, và Huỳnh Sanh Thông dịch) cũng đã được đưa vào sách Landscape and Exile (Marguerite Bouvard, ed., Boston: Rowan Tree Press, 1985). Sang thập niên 1990, ông còn có thêm các tác-phẩm Truyện thật ngắn (1991), Quê (1992), Viết (1993), Đối Thoại (1993), Sống và Viết (1996), và Thơ Thẩn (1997), tất cả cũng do nhà xuất bản Văn Nghệ ở Cali in ra.

Không chỉ viết, ông là một trong những cây bút cột trụ của báo Bách Khoa trước năm 1975, ông còn lập ra nhà xuất bản Thời Mới để in sách của mình và của những tác-giả trẻ mà ông tin tưởng là có tương-lai nên muốn giới-thiệu với công-chúng.

Lăng-xê các cây bút trẻ

Một vài người ác-ý cho rằng Võ Phiến chỉ thích giúp và giới-thiệu các cây bút nữ ra với công-chúng. Nhưng theo Hồ Trường An, viết trong sách Cảo thơm lần giở (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ xb, 2015), nhà xuất bản Thời Mới của ông, ngoài sách của chính Võ Phiến, còn in sách của Võ Hồng, Lê Tất Điều, Thế Uyên, Y Uyên, Đỗ Tấn bên cạnh Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ… Ngoài ra, tuy không in tác-phẩm của họ, ông Võ Phiến vẫn làm cho công-chúng chú ý đến Hoàng Ngọc Tuấn, Trùng Dương…

Sang Mỹ, Võ Phiến là một trong những người đầu tiên cầm bút trở lại mặc dù ông thừa biết là nhà văn mà mất đi độc-chúng thì cũng như cá bị ném lên trên cạn. Mặc dầu vậy, ông vẫn viết và cho rằng chỉ cần còn bạn tri kỷ là còn “thư gửi bạn” được. Ông tin tưởng đủ ở văn-học Việt-nam hải-ngoại để cùng Nguyễn Mộng Giác lập ra một trong những tạp-chí văn-học đầu tiên ở xứ người, tờ Văn Học Nghệ Thuật, sau này trở thành tờ Văn Học (do Nguyễn Mộng Giác chủ-trì một thời-gian dài).

Mô-tả cách viết của Võ Phiến, Trùng Dương nói khá chính-xác:

“Mặc thời đại vi tính với Internet, anh vẫn viết tay. Tôi còn nhớ có lần nghe anh nói anh phải cảm ơn thấy da thịt của tay mình tiếp xúc với mặt giấy mới yên tâm sáng tác được, hay một ý tưởng tương tự. Tôi hình dung mặt tờ giấy đối với anh có lẽ cũng giống như cái ‘security blanket’ đối với nhiều trẻ nhỏ. Nhưng từ vài năm nay anh không viết nữa. Một đời gắn liền với chữ nghĩa bỗng như hụt hẫng, thừa, chị nói với riêng tôi, nước mắt ứa ra. Anh không biết tại sao mình sống lâu như vậy. Tôi vỗ về cánh tay trái mới té gãy và còn băng bột của chị. Chị rất sợ lỡ phải ‘đi’ trước anh, vì không biết ai sẽ chăm sóc anh được như chị chăm sóc anh. Chị không muốn con cái phải bận tâm nhiều về cha mẹ già. Hôm chị té gẫy tay, mãi sau khi đi bác sĩ băng bó xong, đến tối mấy người con mới hay…

“Tôi ra về, trong đầu lởn vởn ba câu thơ của anh làm năm 1986, mà chị đọc cho tôi nghe trước đó. Tôi đã hỏi chị ‘sao chỉ có ba câu, thay vì bốn?’ Chị đáp, ‘ai mà biết, cô hỏi tác giả xem.’ Tôi đáp, nhìn sang cửa phòng đã khép, ‘thôi để anh nghỉ.’ Tôi xin phép về, cũng để chị nghỉ nữa. Tôi nghĩ với riêng mình, có những điều tốt hơn không cần giải thích. Vả, tôi nghĩ là tôi hiểu vì sao bài thơ chỉ có ba câu:

Ra đi, tuổi chẳng năm mươi.
Năm mươi tuổi nữa, nào nơi ta về?
Ngàn năm mây trắng lê thê…”

 

Nguyễn Ngọc Bích


       Tôi không còn nghe thác đổ sau nhà - Đinh Cường

                                          


từ biệt anh Võ Phiến,

Mai kia ta đi mất
Tháng tư cuối vườn hoa tử đằng tím ngát

(Võ Phiến)

Tháng tư hoa tử đằng tím ngát
mà trời mới chớm thu lá phong vàng
anh ra đi rồi sao. chị hết đưa anh ra
công viên trước nhà từ mấy tháng nay
anh không còn đi nổi nữa. anh nằm …

chín mươi tuổi. thôi anh như vậy là thọ.
để lại cho đời cả một gia sản văn chương
anh là nhà văn lớn của Việt Nam, của cả thế kỷ
hai mươi. nếu thay đổi vùng địa lý. chính trị.
Việt Nam mình  không biết trọng nhân tài

Võ Phiến. Dostoyevsky hay Gabriel
Garcia Marquez ở ba đất nước khác biệt
nhưng ở những nơi kia được tôn vinh
biết chừng nào. nhà văn mình chỉ chốn
chợ lao xao. ồn ào tiếng nói không phải.
anh như ông Phật chuyện gì cũng bỏ qua thôi [1]

nhìn anh phút cuối nằm đó. có Thầy Viên Lý
có chị Viễn Phố chắp tay tụng niệm
có chuỗi hạt bồ đề có cả trang kinh
ở  xa bên này miền Đông tôi tụng niệm tiếp dây chuyền

anh ra đi thanh thản yên lành là Phước Đức.
từ nay tôi không còn nghe tiếng thác đổ sau nhà ...[2]

Virginia  Sept 30, 2025
Đinh Cường

[1] trong bài thơ "Rồi cũng bỏ qua thôi", mùa thu năm 1995

[2] một chương truyện "Thác đổ sau nhà" của Võ Phiến

Võ Phiến tên thật Đoàn Thế Nhơn, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1925
tại Bình Định - mất lúc 7 giờ chiều ngày 28 tháng 9 năm 2015 tại California. thọ 90 tuổi

             

   BỐN MƯƠI NĂM VÕ PHIẾN NHÀ VĂN LƯU ĐẦY
                      NGÔ THẾ VINH - Chủ Nhật, ngày 26 tháng 4 năm 2015

                                                 

"Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy." Võ Phiến

Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...

Rồi qua người bạn tấm cám Nghiêu Đề, qua toà soạn Bách Khoa, tôi quen ông từ những năm trước 1960 cho tới khi ra hải ngoại về sau này.

Võ Phiến Bắt Trẻ Đồng Xanh

Võ Phiến viết Bắt Trẻ Đồng Xanh, đăng trên Bách Khoa tháng 10 năm 1968, tựa đề từ cuốn sách dịch của Phùng Khánh Phùng Thăng The Catcher in the Rye của nhà văn Mỹ J.D. Salinger, nhưng nội dung bài viết thì lại nói về kế hoạch cộng sản miền Bắc đưa trẻ em từ trong Nam ra Bắc huấn luyện rồi sau đó đưa trở về miền Nam. Cộng sản cũng đã làm như vậy sau khi ký hiệp định Geneve 1954. Võ Phiến viết:

“…trong giai đoạn ác liệt sau cùng của chiến cuộc tại miền Nam này, nếu không vì lý do quan trọng, đảng và nhà nước cộng sản nhất định không bao giờ khổ công gom góp thiếu nhi ở đây đưa ra Bắc, trải qua bao nhiêu gian nan khó nhọc… họ đang ra sức thực hiện một kế hoạch bắt trẻ qui mô trên một phạm vi hết sức rộng lớn: đồng loạt người ta phát giác ra trẻ em bị bắt ở khắp nơi từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Pleiku, Kontum, đến Mỹ Tho, Cà Mau, người ta gặp những toán trẻ em chuyển ra Bắc Việt bằng phi cơ từ Cam Bốt, hoặc bị dẫn đi lũ lượt trên đường mòn Hồ Chí Minh…”

“Hỡi các em bé của đồng bằng Nam Việt xanh ngát bị bắt đưa đi, từng hàng từng lớp nối nhau dìu nhau ra núi rừng Việt Bắc! Riêng về phần mình, các em đã chịu côi cút ngay từ lúc này; còn đất nước thì sẽ vì những chuyến ra đi của các em mà lâm vào cảnh đau thương bất tận. Tai hoạ xẩy đến cho các em cũng là tai họa về sau cho xứ sở.”(Võ Phiến, Bắt Trẻ Đồng Xanh, Bách Khoa 10/1968)

Bắt Trẻ Đồng Xanh hoàn toàn không phải là tùy bút hay truyện ngắn mà là một bài chính luận, một bạch thư tố cáo dã tâm của người cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ thực sự muốn có hoà bình, nếu có hoà đàm thì đó chỉ là bước hoãn binh chiến lược, họ vẫn chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khác. Bài viết như một tiên tri, một báo động đã thực sự gây chấn động dư luận bên trong cũng như ngoài nước, với cái giá Võ Phiến phải trả là bị Việt Cộng lên án, và cả hăm doạ tính mạng tiếp sau cái chết của ký giả Từ Chung tổng thư ký báo Chính Luận, do bị đặc công CSVN ám sát. Theo Lê Tất Điều, đã có lúc Võ Phiến nghĩ tới tạm lánh xuống vùng Hoà Hảo, một khu được coi là miễn nhiễm với mọi xâm nhập của cộng sản. Đó cũng là lý do tại sao, Võ Phiến có thời gian làm giáo sư văn chương trường Đại học Hoà Hảo, Long Xuyên. Trong nghịch cảnh cũng có cái may, nơi đây anh quen một đồng nghiệp trẻ Đỗ Văn Gia, lúc đó cũng đang dạy bộ môn Triết học Đông phương. Sau này ra hải ngoại, chính anh Đỗ Văn Gia trong thời gian làm giảng viên văn học và ngôn ngữ Việt Nam tại Đại học Cornell từ 1982, đã giúp nhà văn Võ Phiến rất nhiều tư liệu ban đầu để có thể hoàn tất bộ Văn Học Miền Nam.

Bánh tráng xứ Nẫu trên đất Mỹ


Từ thập niên 1980, lúc đó hai anh chị Võ Phiến đều là công chức quận hạt Los Angeles, ngôi nhà số 5621 Baltimore St. Highland Park là nơi Võ Phiến đã sống quãng thời gian 23 năm. Nhà có vườn rộng đủ loại cây trái chanh cam bưởi, nhiều nhất là những cây hồng giòn sai trái nặng trĩu cành, có cả bức tượng bán thân của Võ Phiến, tác phẩm điêu khắc của Ưu Đàm, con trai của hoạ sĩ Rừng. Trong nhà, ngoài những kệ sách, không có tượng Phật hay tượng Chúa, chỉ có đơn giản một bàn thờ nhỏ cúng gia tiên. Cũng nơi đây, Võ Phiến đã viết một số những tác phẩm tại hải ngoại: bộ Văn Học Miền Nam, Thư Gửi Bạn, Nguyên Vẹn, Truyện Thật Ngắn, Đối Thoại...

Những lần tới thăm anh Võ Phiến, thường là thứ Bảy cuối tuần vì khách cũng như chủ nhà còn ở tuổi lao động đi làm. Khách thăm thường đi theo nhóm. Khi thì với Nguyễn Mộng Giác và anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, khi thì với Tạ Chí Đại Trường, Thạch Hãn Lê Thọ Giáo; khi thì với anh chị Trần Huy Bích, chị Bích thì rất thân thiết với chị Võ Phiến.

Trùng Dương từng gọi chị Võ Phiến là "người đàn bà đằng sau bộ Văn Học Miền Nam 1954-75." Nhưng tưởng cũng nên ghi nhận thêm ở đây, một số khuôn mặt bằng hữu khác đã cung cấp các bộ sách tiếng Việt giai đoạn 1954-75 từ các thư viện Đại học Pháp, Mỹ giúp anh Võ Phiến tư liệu để có thể hoàn tất bộ Văn Học Miền Nam. Như Đặng Tiến từ Âu châu, Trần Huy Bích qua liên thư viện Đại học UCLA, Đỗ Văn Gia từ Đại học Cornell, hoạ sĩ Võ Đình và trước đó từ 1983, học giả Huỳnh Sanh Thông từ Đại học Yale (dịch giả The Tale of Kiều), là người giới thiệu Võ Phiến xin được grant/ trợ cấp từ Chương Trình Nghiên Cứu Đông Dương thuộc Uỷ Ban Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Hoa Kỳ (Indochina Studies Program, Social Science Research Council).

Và khách tới thăm thường ở lại ăn trưa với anh chị Võ Phiến. Bữa ăn gia đình do chị Võ Phiến chăm sóc, đôi khi có thêm một hai món khách đem tới. Cho đến nay, có một món chị Võ Phiến cho ăn không thể nào quên, đó là bánh tráng thuần túy Bình Định nhúng nước, chấm với nước mắm chanh ớt. Chanh thì có sẵn trên cây, chén nước mắm nhĩ đỏ au những lát ớt cũng hái từ vườn nhà. Món ăn giản dị và lạ miệng như vậy mà ai cũng lấy làm ngon, và khách cảm thấy ngon hơn nữa khi chủ nhà dí dỏm liên hệ món bánh tráng xứ Nẫu tới chiến thắng của vua Quang Trung, bánh tráng đã được dùng như lương khô trong cuộc hành quân thần tốc từ Nghệ An tiến ra Thăng Long dẹp tan 20 vạn quân Thanh.

Nói chuyện với Đặng Tiến 1998


Ngày 11-04-98 anh Võ Phiến đã gửi cho tôi bản photocopy 3 trang viết tay bài nói chuyện với Đặng Tiến kèm theo ít dòng ghi chú: "Thưa anh, đây là bản soạn, không phải nguyên văn lời nói. Khi nói có lời Đặng Tiến xen vào đôi chỗ. Theo lẽ thì phát thanh vào 28-10-1998. Không biết rồi có đúng vậy không." Thân, Võ Phiến




Đặng Tiến bút hiệu Nam Chi, cây bút phê bình văn học từ cuối thập niên 1950, là "bạn cựu" của nhà văn Võ Phiến [bạn cựu là chữ của Võ Phiến để chỉ những cố tri], Đặng Tiến với Võ Phiến như Bá Nha Tử Kỳ, Đặng Tiến liên tục theo dõi và rất tâm đắc với những thành tựu văn học của Võ Phiến rất sớm từ 1954 tới mãi về sau này, và cũng đã có rất nhiều bài phê bình điểm sách của Võ Phiến.

Riêng tôi, không được nghe buổi phát thanh ấy, nhưng nếu có thì nội dung chắc sẽ không khác với bản gốc viết tay của anh Võ Phiến. Qua anh Phạm Phú Minh, eMail liên lạc với Đặng Tiến hiện ở Pháp, anh trả lời là hoàn toàn không nhớ. Tôi không ngạc nhiên vì cũng đã 17 năm qua rồi. Tiếp đó tôi gửi phóng ảnh 3 trang viết tay của Võ Phiến buổi nói chuyện với Đặng Tiến, với hy vọng anh ấy có thể sẽ nhớ ra và cho tôi biết thêm chi tiết. Nhưng rồi ba ngày sau cũng vẫn Đặng Tiến trả lời: "Gửi NTV: Tôi không nhớ ra, sẽ moi trí nhớ trả lời anh sau. Giữ liên lạc. ĐT"



Với anh Võ Phiến, câu chuyện 17 năm trước thì không hy vọng gì anh còn nhớ, tôi vẫn ghi lại đây nội dung buổi nói chuyện rất ngắn ấy, với 3 trang viết tay [chỉ có 938 chữ] như một chút tư liệu văn học, có giá trị như một Tổng Quan về Văn học Miền Nam giai đoạn 1954-75.

 Thưa anh [Đặng Tiến],
"Cuối thời tiền chiến, ông Vũ Ngọc Phan kiểm điểm một thời kỳ văn học 30 năm của Việt Nam. Trong mọi bộ môn sáng tác bằng văn xuôi ông chỉ đếm được ba người ở Nam phần và Trung phần (VP ghi chú thêm bằng bút chì bên lề: Hồ Biểu Chánh, Thanh Tịnh, Nguyễn Vỹ). Tất cả đều viết truyện. Về bộ môn kịch, ký, tuỳ bút... không có ai cả.

Cuối thời 1954-75, ông Cao Huy Khanh kiểm điểm riêng về bộ môn tiểu thuyết trong 20 năm ở Miền Nam. Ông bảo số người viết truyện xấp xỉ 200; trong số ấy trên dưới 60 người có giá trị. Giả sử có ai ngờ vực Cao Huy Khanh quá nặng tình bè bạn, và ai đó hạ số ước lượng xuống còn một nửa - tức 30 tiểu thuyết gia thì 20 năm này cũng gấp 10 lần 30 năm trước. Ấy là chưa kể đến những tuỳ bút gia, kịch tác gia của thời kỳ sau.

Về mặt khác, hồi tiền chiến ở Trung phần - từ Phú Yên vào đến Bình Thuận - chưa có nhà văn nhà thơ nổi tiếng; và ở khắp các tỉnh Nam phần - ngoài ông bà Đông Hồ ra - cũng chưa thấy vị nào tiếng tăm rộng rãi trên văn đàn. Nói vậy là căn cứ theo ông Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh.
Thế rồi trong khoảng 20 năm sau 1954 lần lượt xuất hiện những văn thi sĩ tên tuổi ở Phú Yên (VP ghi chú thêm: Võ Hồng), ở Ninh Thuận Bình Thuận (VP ghi: Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Đức Sơn), ở Cà Mau (VP ghi: Sơn Nam), Long Xuyên (VP ghi: Nguyễn Hiến Lê), ở Gia Định (VP ghi: Tô Thuỳ Yên), Vĩnh Long (VP ghi: Nguyễn Thị Thuỵ Vũ), Sóc Trăng (VP ghi: Vương Hồng Sển)... Số văn nhân thi sĩ tăng cao chừng ấy, địa bàn văn học nghệ thuật mở rộng đến chừng ấy, như vậy là một đóng góp.  

*

Một đóng góp khác là cái tinh thần tự do, phóng khoáng của thời kỳ văn học này. Thiên hạ nói nhiều về sự đàn áp tinh thần trong những thời ngoại thuộc: hoặc thuộc Tàu, hoặc thuộc Tây. Thực ra, không cứ những thời ấy, ngay lúc nước nhà độc lập, các chế độ quân chủ phong kiến hay chế độ dân chủ cộng hoà ở ta cũng không dung thứ thái độ khích bác nhà cầm quyền. Ngay khi độc lập dân chủ, vẫn thường chỉ có một cái tự do được ban phát rộng rãi, là tự do ca ngợi bề trên.

Ở Miền Nam Việt Nam thời 1954-75, giữa hoàn cảnh chiến tranh, đã phát triển một nền văn nghệ khác hẳn. Trên sách báo tha hồ nở rộ những nụ cười sảng khoái, công kích điều sai chuyện quấy, đùa riễu những phần tử xấu xa. Phần tử ấy không thuộc hạng Lý Toét Xã Xệ. Không hề có nhân vật nào thấp bé như thế bị bêu riếu trong thời kỳ này. Nạn nhân là từ hạng những tay cầm đầu một tỉnh cho đến các vị cầm đầu cả nước. Tiếng cười cợt ngang nhiên, hể hả, râm ran khắp cùng trên mặt sách báo...

Mặt khác, mọi quan niệm nhân sinh, mọi tín ngưỡng, hay có dở có, cao thâm có mà ngông cuồng gàn dở cũng có nữa, tha hồ được tìm hiểu, trình bày, quảng bá.

Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.

*

Sau tính cởi mở tự do, chúng ta có thể chú ý đến một đóng góp nữa. Tôi muốn nói về hiện tượng suy tưởng triết lý ở Miền Nam trong thời kỳ 1954-75. Đến cuối thời tiền chiến, tiểu thuyết ở ta đã có trên dưới mười loại, trong đó có những loại tâm lý, loại luân lý, nhưng khuynh hướng triết lý thì bấy giờ chưa có trong tiểu thuyết. Qua thời kỳ 1954-75 ở Miền Nam Việt Nam các băn khoăn triết lý xuất hiện đồng loạt trên nhiều địa hạt sáng tác: trong tiểu thuyết, trong thi ca, trong kịch bản, trong tuỳ bút. Có lúc triết lý tràn lan như một món thời thượng; và nó bị chế giễu.

Tuy vậy nó đã đến đúng lúc, hợp hoàn cảnh. Dân tộc đang chết hàng triệu người vì sự bất đồng ý thức hệ, bất đồng quan niệm sống. Vào lúc ấy sao có thể không suy nghĩ về lẽ sống, sao có thể điềm nhiên phó thác tất cả cho lãnh đạo? Mặt khác, lúc bấy giờ cũng là lúc nhiều trào lưu tư tưởng mới đang gây xáo động lớn ở Tây Phương, phản ứng ở Miền Nam chứng tỏ chúng ta có một tầng lớp trí thức nhạy bén, có cuộc sống tinh thần sinh động.

*

Nền văn học 1954-75 ở Miền Nam Việt Nam trong thời gian qua bị ém giấu, xuyên tạc. Nó gặp một chủ trương huỷ hoại, gặp những bỉ báng hồ đồ. Nó chưa được mấy ai lưu tâm tìm hiểu, phán đoán cách đứng đắn, tử tế. Những điều tôi vừa nêu ra chắc chắn còn thiếu, còn sai còn cạn cợt. Việc đánh giá nền văn học ấy gần như chưa được bắt đầu nghiêm chỉnh.

[Xin chào anh Đặng Tiến. Xin chào quí vị thính giả.]  Võ Phiến, 10-1998

Bộ Văn Học Miền Nam 1954-75

Khi Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến là vào thời điểm tháng 10 năm 1998, chỉ một năm trước khi Võ Phiến hoàn tất toàn tập bộ Văn Học Miền Nam [với tập I là Văn Học Miền Nam Tổng Quan xuất bản 1986 và tập cuối cùng là Bút Ký Kịch Miền Nam, xuất bản 1999]. Tưởng cũng cần lưu ý câu phát biểu cuối của nhà văn Võ Phiến: "Việc đánh giá nền văn học ấy gần như chưa được bắt đầu nghiêm chỉnh."

Như vậy có thể nói, cho dù Võ Phiến đã phải lao động bền bỉ suốt 15 năm [1984-1999] để hoàn tất bộ sách Văn Học Miền Nam nhưng chính ông chưa hề tự coi đó là một công trình hoàn hảo nên vẫn ao ước việc đánh giá nền văn học 1954-75 cần được bắt đầu nghiêm chỉnh.

Cho dù bộ sách Văn Học Miền Nam của Võ Phiến có những hạn chế đưa tới nhiều tranh cãi khá gay gắt. Người ta đã nặng lời trách ông về những phần thiếu sót trong bộ sách ấy: như khi ông đã gạt một số tên tuổi văn học của thời kỳ 1954-75 ra khỏi bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan, rồi cả cách ông phê bình các nhà văn, nhà thơ được ông chọn đưa vào sách cũng bị ông sử dụng cái sở trường văn phong tuỳ bút/ nay thành sở đoản để châm biếm mỉa mai cá nhân với nhiều thiên lệch.

Nhà văn Mặc Đỗ nhóm Quan Điểm thì thật sự bất bình, Mai Thảo nhóm Sáng Tạo trong lần trò chuyện cuối cùng với Thuỵ Khuê 07/ 1997 cũng không kềm được cảm xúc nói tới "bọn vua Lê chúa Trịnh", và nói thẳng: "Võ Phiến cũng có chỗ được chỗ không được. Đại khái như phê bình văn học, đối với tôi thì không được. Văn Học Miền Nam tổng quan đó thì không được. Thơ dở. Tạp văn hay." (2)

Nhưng khách quan mà nói, ngòi bút Võ Phiến cũng không thiếu phần tự trào, và cả châm biếm bản thân mình. Khi trả lời phỏng vấn Lê Quỳnh Mai trong chương trình Văn học Nghệ thuật đài TNVN Montréal 29-10-2000, nhà văn Võ Phiến đã không ngại khi ví mình như một Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng: "Nói tới sự may mắn, chắc chị còn nhớ tới Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, nếu tôi có được một số độc giả chú ý, chẳng qua cũng như anh chàng Xuân Tóc Đỏ trong truyện ấy thôi." (4)

Bản thân Võ Phiến cũng đã biết rất rõ phản ứng của giới cầm bút về bộ sách Văn Học Miền Nam. Trong thư nhà văn Võ Phiến gửi Lê Thị Huệ Gió-O ngày 16/02/2001:

"Anh chị em cầm bút thời 1954-75 ở Miền Nam, nhiều người phiền trách tôi về bộ sách này lắm. Tôi chịu trận thôi. Viết mà cốt cho ai cũng… thương (!) thì thành ra cái quái gì." (3)

Nếu độc giả bình tâm đọc lại Lời Nói Đầu của cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan, Võ Phiến đã bàn qua về "lý do biên soạn cuốn sách đầy những lôi thôi thiếu sót này." [sic]

Ông đã giải thích rất rõ:
"Trước hết mình không phải là một nhà phê bình nhà biên khảo gì ráo mà tự dưng xông ra làm công việc biên khảo phê bình là chuyện không nên. Hơn nữa hoàn cảnh thật là khó: xung quanh không có tài liệu mà mình thì không có điều kiện để đi tìm tài liệu, lấy gì tham khảo?"

Ông cũng tiên đoán được cả những hệ luỵ như: " viết cái gì có liên quan đến kẻ khác, có chê khen người nọ người kia mà viết qua quýt thì bị mắng mỏ xỉa xói tưng bừng là cái chắc."

Cân nhắc như vậy, nhưng ông vẫn viết tiếp:

" Ấy vậy mà nghĩ đi nghĩ lại chán chê rồi tôi lại quyết định cứ viết cuốn sách này. Trước hết là vì chỗ nặng tình với một thời kỳ văn học kém may mắn. Thật vậy, thời kỳ 1954-75 gặp cái rủi ro hiếm thấy, là trong suốt hai mươi năm trời không có được lấy một nhà phê bình chuyên nghiệp. Nhưng trước khi có sự công bình, sự sáng suốt, hãy chỉ mong được chút lưu tâm...

Thời kỳ 1954-75: câu chuyện hủy diệt văn hóa phẩm Miền Nam từ 1975 đến nay không ai là không biết. Ta đã không thể ngăn chận được việc phá hủy, không thể bảo tồn được cái thành tích văn học nọ, thì ngay lúc này cũng nên có một tổng kết, một kiểm điểm sơ lược, để về sau những ai lưu tâm còn có chút căn cứ sưu khảo. Không thế, sao đành?"



Vì chỗ "nặng tình với một thời kỳ văn học kém may mắn... rốt cuộc đành miễn cưỡng viết cuốn sách này trong những điều kiện rất không nên viết. Viết như là một sơ thảo, một bản nháp, một gợi ý, nhắc nhở, một cách nêu vấn đề, để sau này những người có đầy đủ tư cách và điều kiện sẽ viết lại một cuốn xứng đáng." (1)

Biết thiếu sót, biết trước có những hạn chế nhưng chính Võ Phiến, trái với bản chất thâm trầm và thận trọng cố hữu, Võ Phiến vẫn liều lĩnh - như một "risk taker", ẩn nhẫn làm một công việc tốn rất nhiều công sức và cả nhiều rủi ro như thế. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trong suốt hơn 15 năm từng bước hoàn thành công trình Văn Học Miền Nam với hơn ba ngàn trang sách ấy, Võ Phiến vẫn đang là một công chức sở Hưu bổng làm việc full time cho quận hạt Los Angeles, như vậy là ông đã phải làm việc ngoài giờ và những ngày cuối tuần. Võ Phiến về hưu tháng 7 năm 1994, ông tiếp tục viết thêm 5 năm nữa để hoàn tất toàn bộ Văn Học Miền Nam 1999. Nếu không có hùng tâm, với công sức của một cá nhân khó có thể làm được như vậy.

Nhưng để rồi khi viết xong, chính Võ Phiến không khỏi ngẩn ngơ tự hỏi: "Cái đã viết ra đó là cái gì vậy? Là lịch sử hai mươi năm văn học Miền Nam chăng? Là kiểm điểm phê bình nền văn học Miền Nam chăng? 3/4 Rõ ràng nó không xứng đáng là lịch sử, là phê bình gì cả. Nó không có cái tầm tổng hợp rộng rãi, nó thiếu công phu suy tìm và phân tích đến nơi đến chốn về bất cứ môn loại nào khuynh hướng nào. Chẳng qua chỉ có những nhận xét rất khái lược, liên quan đến nền văn học và các văn gia một thời mà thôi." (1)

Bao nhiêu phê phán từ trong và ngoài giới văn học đối với công trình Văn Học Miền Nam 1954-75 của Võ Phiến, thực ra cũng không có nghiêm khắc hơn phần "tự kiểm" của chính Võ Phiến trong Lời Nói Đầu, Văn Học Miền Nam Tổng Quan tập 1.

Công trình nghiên cứu của Võ Phiến cần được đánh giá đúng vào giai đoạn thập niên đầu ngay sau 1975 với hoàn cảnh ra đời của nó: khi mà trong nước có cả một sách lược huỷ diệt toàn diện, xoá sổ nền văn học Miền Nam 20 năm ấy, công trình của Võ Phiến như một nỗ lực sưu tập và cứu vãn/ rescue mission, nên xem như một khởi đầu đáng được trân trọng.

Ai cũng hiểu bộ sách Văn Học Miền Nam "không chuyên nghiệp" của Võ Phiến sẽ không bao giờ là bộ sách phê bình văn học duy nhất hay cuối cùng, nhưng đó là một bước tạo thuận/facilitation khởi đầu, một roadmap dẫn tới cả một khối tài liệu đồ sộ để tham khảo, nó như một giàn phóng cho những công trình hoàn chỉnh kế tiếp. Đây chính là phần trách nhiệm và nghiệp vụ của giới phê bình chuyên nghiệp, họ cần có hùng tâm để "bắt đầu nghiêm chỉnh"việc đánh giá nền văn học 1954-75 bằng những tác phẩm xứng đáng thay vì cứ mãi xoáy nhìn vào "nửa phần vơi" của bộ sách Võ Phiến.

Một câu hỏi được đặt ra: ai trong chúng ta có thể "bắt đầu nghiêm chỉnh" một công trình nghiên cứu như vậy? Một câu hỏi tiếp theo: ai sẽ thừa kế kho tư liệu phong phú mà anh Võ Phiến có được trước khi rơi vào quên lãng?

Lê Ngộ Châu hoà giải

Năm 1994, anh Lê Ngộ Châu và con gái sang Mỹ. Với 18 năm điều hành tờ Bách Khoa, anh có nhiều thân hữu: Võ Phiến có lẽ là người anh thân thiết nhất. Trong chỗ rất riêng tư, khi biết giữa anh Võ Phiến và Nguyễn Mộng Giác có "vấn đề" trong sự chuyển tiếp từ tờ Văn Học Nghệ Thuật sang tờ Văn Học.

Nguyễn Mộng Giác với Võ Phiến vốn là người cùng tỉnh. Võ Phiến tâm sự: "Gặp một tác giả đồng tỉnh là một niềm vui mừng, lại phát giác ra ở tâm hồn tác giả nọ một số đặc điểm địa phương đã làm nên cái đẹp của tác phẩm thì lý thú biết bao! Làm sao cầm lòng được? Phải nói về Bình Định chứ chị!" (4)


Nhưng rồi cái tình đồng hương ấy cũng không tránh được trục trặc trong vấn đề điều hành tờ Văn Học và chọn bài vở khi mà Võ Phiến còn đứng tên chủ nhiệm và Nguyễn Mộng Giác là chủ bút. Rất bén nhạy, Lê Ngộ Châu cảm thấy ngay được sự "nghẽn mạch" giữa hai người. Anh Lê Ngộ Châu sốt sắng đóng vai "hoà giải" - vẫn chữ của Lê Ngộ Châu.

 

Như một cái cớ, tôi tổ chức buổi họp mặt tiếp đón anh Lê Ngộ Châu tại một clubhouse trên đường Bellflower, Long Beach nơi tôi cư ngụ. Dĩ nhiên có anh Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác; riêng Lê Tất Điều đưa anh Võ Phiến tới nhưng bận nên không tham dự; và có khoảng hai chục thân hữu quen biết anh Lê Ngộ Châu và tạp chí Văn Học có mặt hôm đó: các anh Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, Từ Mai Trần Huy Bích, Trúc Chi, Thạch Hãn Lê Thọ Giáo, Khánh Trường, Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy... Chỉ riêng cái tình "tha hương ngộ cố tri" ấy, qua những trao đổi, như từ bao giờ anh Lê Ngộ Châu vẫn lối nói chuyện vui dí dỏm và duyên dáng, anh đã như một chất xi-măng nối kết mọi người. Và cũng để hiểu tại sao, trong suốt 18 năm tới 1975, anh Lê Ngộ Châu đã điều hợp được tờ Bách Khoa vốn là một vùng sôi đậu phức tạp như vậy.

Đó là lần thăm Mỹ duy nhất 1994 của anh Lê Ngộ Châu, cũng như ông giám đốc Nhà sách Khai Trí, cả hai đều chọn trở về sống ở Sài Gòn. Năm 2006, trong dịp đi thăm Đồng Bằng Sông Cửu Long, tôi gặp lại anh Lê Ngộ Châu nơi toà soạn Bách Khoa, 160 Phan Đình Phùng ngày nào, anh vẫn nhớ và nhắc tới buổi gặp gỡ hôm đó. Khi hỏi anh về cuốn hồi ký 18 năm tờ báo Bách Khoa, anh Lê Ngộ Châu cười dí dỏm trả lời:



"Anh Vinh hỏi Võ Phiến có cho tôi viết không?" Anh Châu muốn nói tới những chuyện ngoài văn học diễn ra ở toà soạn Bách Khoa trong suốt thời kỳ ấy. Khi trở lại Mỹ, chỉ ít lâu sau được tin anh Châu mất ngày 24-9-2006, anh thọ 84 tuổi.

Võ Phiến 75 tuổi, quá mức ước ao

Tháng 12 cuối năm 1998, tôi nhận được thiệp chúc xuân của nhà văn Võ Phiến, anh viết:
Một năm nữa lại sắp qua, vậy mà lẽo đẽo mình cũng lần mò tới tuổi 75: quá mức ước ao! Anh sắp tới lục tuần chứ ít sao, lục tuần là tuổi tung hoành múa bút khoẻ lắm. Xin chúc anh chị sang năm mới được mọi sự an lành. Riêng anh nên có sách mới xuất bản. Thân mến, Võ Phiến

Thực sự anh Võ Phiến lúc đó mới 73 tuổi, anh sinh năm 1925, tuổi Ất Sửu.

Cả ba bạn văn: nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà báo Như Phong và anh Lê Ngộ Châu cùng tuổi Quý Hợi (1923), hơn Võ Phiến hai tuổi.  Doãn Quốc Sỹ vẫn gọi đùa Lê Ngộ Châu là Lê Quý Hợi và anh ấy là Doãn Quý Hợi. Ba ông Quý Hợi thì nay chỉ còn một Doãn Quốc Sỹ. Nhà báo Như Phong mất 2001 tại Virginia, chủ nhiệm Lê Ngộ Châu mất 2006 tại Sài Gòn.

Cũng vẫn thư nhà văn Doãn Quốc Sỹ gửi anh Lê Ngộ Châu  [29/08/1996] có nhắc tới Võ Phiến mà anh gọi đùa là cụ Võ Bình Định: "Được xem bức ảnh cụ Võ Bình Định mặc màu áo sơ-mi rất trẻ, nhìn ảnh cụ cười mà tưởng như nghe thấy cả tiếng cười hóm hỉnh của cụ điểm xuyết trong câu chuyện tại toà soạn Bách Khoa ngày nào."

Trước ngưỡng tuổi cổ lai hy, Võ Phiến đã trải qua hai cuộc mổ tim lớn / Coronary Artery Bypass Surgery; lần thứ nhất 1985 khi Võ Phiến mới 60 tuổi, anh bắt đầu bị ám ảnh về cái chết:

Ra đi tuổi chẵn năm mươi,
Năm mươi tuổi nữa nào nơi ta về?
Ngàn năm mây trắng lê thê... (1986)

Bảy năm sau 1992, Võ Phiến 67 tuổi lại phải bước vào cuộc mổ tim lần thứ hai khó khăn và phức tạp hơn. Anh bi quan và bị ám ảnh nhiều hơn về cái chết.

Anh đã đặt bút viết về Cái Sống Hững Hờ: "Bản thân tôi trước đây có lần phải vào bệnh viện chịu mổ xẻ, tôi ngậm ngùi viết những lá thư gửi lại bạn bè, nhờ một văn hữu thân tình trao giúp cho, sau khi mình...ra đi. Hoá ra rồi sau cuộc giải phẫu tôi tiếp tục sống nhăn. Sống và ngượng ngập vu vơ.

Năm tháng trôi qua. Quá bát tuần, tôi lén lút hướng một chút tưởng tượng về cái kết thúc của đời mình. Chắc là gần thôi. Liếc mắt phớt qua tí ti, sợ gì? Liếc qua xong rồi liếc lại, tôi ngạc nhiên không nhận thấy một xúc động bất thường nào xảy ra cả. Cuộc sống đang tiếp diễn vẫn tiếp diễn đều đều...

Tạo Hóa có lòng lành, nhón tay khe khẽ điều chỉnh lòng người. Tuổi người càng cao, lòng người càng bớt sôi nổi, bớt tha thiết. Rốt cuộc còn lại một sự hững hờ: ‘Chết? ai mà khỏi? Việc gì phải sợ?’ Tôi âm thầm nghĩ ngợi và ngờ rằng đây là lúc xuất lộ cái từ tâm của Hóa Công. Chúng ta không nên mè nheo đòi hỏi cho được vừa huýt sáo mồm vừa chết. Chỉ mong những bước chân đến ngôi mộ của chính mình sẽ là những bước thong thả, hững hờ. Đại khái thế thôi.”  

Khi chị Võ Phiến cũng nghỉ hưu, không còn nhu cầu ở gần sở làm nữa, năm 2003 anh chị dọn về vùng gần Little Saigon. Ngôi nhà mới xinh xắn hai tầng trong một cư xá yên tĩnh cuối đường số 5 thành phố Santa Ana, cũng có một khoảnh vườn rất nhỏ với những cây hoa hồng ở bờ dậu, và một ít cây trái; vừa sức để chị Võ Phiến bước qua tuổi 70 vẫn còn có thể vui thú điền viên và chăm sóc. Ngoài những sách tái bản như Võ Phiến Toàn Tập, Cuối Cùng được coi là tác phẩm sau cùng của Võ Phiến hoàn thành nơi ngôi nhà mới, viết xong 2007  Nxb Thế Kỷ 21 cho in năm 2009.

Võ Phiến bước vào tuổi 90

Sinh ngày 20 tháng 10, 1925, sáu tháng nữa, 2015 Võ Phiến vừa tròn 90 tuổi. Có lẽ anh là một trong số ba nhà văn Miền Nam ở hải ngoại sống thọ nhất, chỉ sau nhà văn Mặc Đỗ 98 tuổi [sinh năm 1917] sống ở Austin Texas, nhà văn Doãn Quốc Sỹ 92 tuổi [sinh năm 1923] hiện sống ở Nam California.

Lại vẫn dùng một câu viết 17 năm trước trong một thiệp xuân của Võ Phiến 1998: "Một năm nữa lại sắp qua, vậy mà lẽo đẽo mình cũng lần mò tới tuổi 90: quá mức ước ao!"

Và cuộc sống của Võ Phiến "vẫn cứ tiếp diễn đều đều". Chị Viễn Phố, vợ anh vẫn che dù cho anh đi bộ mỗi ngày với walker có bánh xe lăn. Nhìn chung theo khía cạnh y khoa, ở nhóm tuổi 90 ấy, thể lực của anh Võ Phiến được xem là khá tốt cho dù trí tuệ anh đã có nhiều phần lãng đãng, cái lãng của người cao tuổi / senile dementia. Anh không nhớ hết những khuôn mặt thân quen nhưng với vài người "bạn cựu" - vẫn chữ của Võ Phiến - thân thiết lâu năm như Hoàng Ngọc Biên, Đặng Tiến, Lê Tất Điều... anh vẫn giữ được một trí nhớ xa/ remote memoryqua các cuộc nói chuyện điện thoại gần đây và cả ở những lần gặp mặt.

Vậy mà đã 40 năm, với hai lần Võ Phiến khóc khi di tản khỏi Việt Nam: một lần ở toà soạn báo Bách Khoa trên đường Phan Đình Phùng, lần thứ hai trên con tàu  Challenger khi rời đảo Phú Quốc. (5) Bốn mươi năm ấy 1975-2015, với bao nhiêu nước chảy qua cầu, như một nhà văn lưu đầy Võ Phiến vẫn sống làm việc trong sự cô đơn buồn bã. (6)

Bài viết tháng Tư này, gửi tới nhà văn Võ Phiến khi anh bước vào tuổi thượng thọ 90, ngưỡng tuổi 90 xưa nay là hiếm. Cũng gửi tới hai anh chị Võ Phiến và Viễn Phố lời chúc "cây đời thì vẫn cứ mãi xanh tươi" (7)   

NGÔ THẾ VINH
Long Beach 04/ 2015

Tham Khảo:

1/ Văn Học Miền Nam Tổng Quan. Lời Nói đầu. Võ Phiến. Nxb Văn Nghệ 1986. http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3056
2/ Lần trò chuyện cuối cùng với Mai Thảo. Thuỵ Khuê 07/ 1997
http://hopluu.net/a1153/noi-chuyen-voi-nha-van-mai-thao-va-tran-vu
3/ Lê Thị Huệ. Võ Phiến, Văn Chương Mất Trí Nhớ. 11-2012
http://www.gio-o.com/Chung/LeThiHueVoPhien.htm
4/ Lê Quỳnh Mai phỏng vấn nhà văn Võ Phiến. Tác giả, với chúng ta. Nxb Khôi Nguyên, Montréal Canada 2004.
5/ Ngô Thế Vinh, Bốn Mươi Năm Dương Nghiễm Mậu và Tự Truyện Nguyễn Duhttp://damau.org/archives/35745
6/ John C. Schafer Võ Phiến and the sadness of exile. Southeast Asia Publications, Center for Southeast Asian Studies, Northern Illinois University, Mar 1, 2006
7/ Johann Wolfgang von Goethe. All theory, dear friend, is gray, but the golden tree of life springs ever green. Faust pt.1 (1808) 'Studierzimmer'

                               Võ Phiến, những lần gặp sau cùng
                     Blog / Nguyễn Hưng Quốc (http://www.voatiengviet.com/)

                       

                                              Võ Phiến & Nguyễn Hưng Quốc

Mỗi lần có dịp qua Nam California, một trong những người đầu tiên tôi đến thăm bao giờ cũng là Võ Phiến. Chủ yếu là vì tình thân. Tôi quen với khá nhiều người cầm bút Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, nhưng người tôi gần gũi nhất có lẽ là Võ Phiến. Gần, chủ yếu là vì, trong thời gian viết cuốn Võ Phiến (2006), tôi đọc ông nhiều và rất kỹ; và cũng vì, trong suốt thời gian chuẩn bị tài liệu cho cuốn sách ấy, kéo dài cả mấy năm, tôi và Võ Phiến thường xuyên liên lạc thư từ với nhau. Thư, thoạt đầu, khá khách sáo; sau, cứ dần dần thân thiết. Sự thân thiết, thoạt đầu, giống như tình bạn, thứ bạn vong niên trong văn nghệ, dần dần, giống như tình gia đình: Tôi xem Võ Phiến như một ông bác. Khi đã xem như bác, việc thăm viếng trở thành một cái lễ, một thứ bổn phận.

Nói đến khái niệm “lễ” hay “bổn phận”, tự dưng nhớ đến Nguyễn Mộng Giác. Năm 1989, khi từ Pháp qua Chicago dự một cuộc hội nghị về văn học, Nguyễn Mộng Giác rủ tôi bay về California chơi với anh vài ngày. Vừa ra khỏi phi trường Los Angeles, Nguyễn Mộng Giác bảo đứa con gái, người ra đón chúng tôi, chở thẳng đến nhà Võ Phiến; tối, về nhà anh, ăn cơm xong, Nguyễn Mộng Giác lấy xe chở tôi đến thăm Mai Thảo. Trên đường, anh nhỏ nhẹ bảo, đó là cái lễ đối với các bậc trưởng thượng trong làng văn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Tôi vẫn kính trọng cả Võ Phiến lẫn Mai Thảo và xem hai người như những đại thụ có nhiều thành tựu và đóng góp không những cho văn học ở miền Nam trước năm 1975 mà còn cả cho văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975. Nhưng tôi không xem việc thăm viếng họ như một bổn phận. Với tôi, chỉ có bổn phận trong văn học chứ không có bổn phận về phương diện xã hội. Và trong văn học, cách bày tỏ sự kính trọng tốt nhất đối với các thế hệ cầm bút đi trước, ngay cả với những người tài hoa nhất, là đọc họ rồi vượt qua họ, kể cả chống lại họ, hoặc nếu không, viết khác họ.

Mà kể cũng lạ. Trong giới cầm bút nổi danh trước năm 1975 sau này sống ở hải ngoại hầu như chỉ với Võ Phiến là tôi xem như một ông bác. Với những người khác, ngay cả với Mai Thảo, chỉ nhỏ hơn Võ Phiến một tuổi, tôi chỉ xem như là anh. Nói chuyện với Mai Thảo, theo đề nghị của chính ông, tôi gọi bằng “anh” và xưng “em”. Không những vậy, có lúc tôi còn xem ông như một đứa em nữa là khác. Đó là những lần, lúc tôi còn ở Paris, ông bay từ California sang chơi. Sau khi ăn uống hay đi dạo phố, đưa ông xuống trạm xe điện ngầm để về nhà Trần Thanh Hiệp, nơi ông ở trọ, sau khi dặn dò đường đi nước bước, rồi nhìn cái ánh mắt lúc nào cũng mơ mơ màng màng, cái dáng người cao lêu khêu và cái bước chân hơi xiêu xiêu của ông, tự dưng tôi thấy bất an. Sợ ông đi lạc. Sợ ông băng qua đường ẩu, xe đụng. Sợ vu vơ đủ thứ. Như sợ cho một đứa em ngơ ngác giữa phố lạ. Những lúc ấy, tôi quên bẵng là ông đã từng qua Paris nhiều lần và rất giỏi tiếng Pháp. Với Võ Phiến, chưa bao giờ tôi có cảm giác ấy. Nhìn ông và nói chuyện với ông, tôi có cảm giác như đang đối diện với một ông lão mới từ quê lên. Từ dáng dấp đến vẻ mặt, có vẻ gì hơi hơi thật thà, hơi hơi quê mùa, nhưng đôi mắt của ông thì khác: Lúc nào cũng tinh anh, cũng nhanh nhẹn, toát lên vẻ gì vững vàng, có thể đương đầu với mọi tình huống và mọi bất trắc.

Chuyến đi Mỹ thứ hai của tôi là vào cuối năm 2007. Tôi đi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh. Ông bà Võ Phiến khăng khăng mời tôi về nhà ở. Từ chối mấy cũng không được, tôi bèn giao hẹn: Chỉ ở hai ngày đầu, sau đó, sẽ ra ở khách sạn với bạn bè để được tự do và thoải mái, có thể đi sớm về khuya bất cứ lúc nào cũng được, không áy náy về việc gây phiền hà cho người khác. Ông bà đồng ý. Khi chúng tôi đến, ông bà rất mừng rỡ, nói chuyện huyên thuyên, sau, dẫn chúng tôi lên lầu và chỉ phòng: “Phòng này là của anh Hoàng Ngọc-Tuấn; còn phòng này là của anh Nguyễn Hưng Quốc.” Trong lúc chúng tôi dọn dẹp đồ đạc và thay quần áo sau chuyến bay dài dằng dặc mười mấy tiếng đồng hồ từ Úc sang, hai ông bà xuống tầng dưới ngồi uống trà chờ. Khoảng 15 phút sau, khi tôi từ trên lầu bước xuống, Võ Phiến đang ngồi trên chiếc ghế mây ở phòng khách, đứng bật dậy, nhào đến cầm tay tôi lắc lắc, mừng rỡ: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả? Trời ơi, lâu quá!” Tôi hơi giật mình, nhưng vội giữ vẻ bình thản, đáp: “Vâng, cháu mới qua. Bác khỏe không?” Suốt ngày hôm ấy cũng như ngày hôm sau, cứ mỗi lần tôi đi ra ngoài chơi, trở về nhà, ông cũng đều chào đón một cách rất niềm nở ngay từ cửa: “Anh Quốc, anh mới ở Úc qua hả?” Lúc ấy, lần đầu tiên tôi nhận ra chứng bệnh của ông: bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s). Có lẽ chỉ ở giai đoạn sơ khởi: mất trí nhớ ngắn hạn. Nói chuyện, ông vẫn kể vanh vách các kỷ niệm liên quan đến Chế Lan Viên và Lam Giang lúc ông còn học ở Qui Nhơn, đến Hoài Thanh và Đào Duy Anh lúc ông học ở Huế. Ông nhắc đến thơ Đường, thơ Tống, tranh Tề Bạch Thạch, các trào lưu văn học ở Pháp trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chỉ có điều là ông hay lặp lại các câu chuyện ông mới kể. Có lúc, trong một buổi ăn trưa, ông kể chuyện tranh của Tề Bạch Thạch đến hai ba lần. Lần nào cũng say sưa, mạch lạc, rất sinh động và cũng rất sâu sắc.

Sau đó, hầu như năm nào tôi cũng sang California và năm nào cũng ghé thăm Võ Phiến. Thân thể ông vẫn khỏe mạnh, da dẻ ông vẫn hồng hào, nụ cười ông vẫn hiền lành, giọng nói ông vẫn chất phác, nhưng tai ông càng lúc càng nặng và bệnh mất trí nhớ càng lúc càng trầm trọng. Ông ít nói hẳn. Trong các buổi họp mặt hay ăn uống chung, ông chỉ ngồi lặng lẽ cười, lâu lâu cất lên lời than thở: “Tôi lú lẫn rồi anh ơi! Tôi là người bỏ đi rồi!” Vừa nói vừa lắc đầu, đôi mắt ánh lên vẻ buồn rười rượi. Đến thăm, tôi chỉ nói chuyện với bà Võ Phiến là chính; còn ông, sau những cái bắt tay mừng rỡ và nồng ấm, lại ngồi lặng lẽ. Lâu, lâu lắm, mới góp tiếng. Thường là những câu chuyện cũ. Và những lời than vãn. Than không viết được. Rồi than không đọc được.

Giữa năm 2013, tôi sang California và thăm Võ Phiến. Gặp, ông vẫn mừng rỡ cầm tay tôi lắc tới lắc lui. Ông nhận ra tôi nhưng ông không nhớ tên tôi. Chủ yếu tôi chỉ nói chuyện với bà. Chưa bao giờ tôi thấy một người phụ nữ nào yêu chồng và chăm sóc cho chồng một tận tụy, chi li và tỉ mỉ như bà Võ Phiến. Bà lo cho ông từng miếng ăn, từng tách trà, từng viên thuốc. Bà đánh máy từng trang bản thảo viết tay của ông. Bà lo cho danh tiếng và sự nghiệp của ông. Bà quan tâm đến từng lời khen tiếng chê chung quanh. Đọc những bài báo có ác ý về ông, bà tức lồng lộn, vừa kể vừa chì chiết. Còn Võ Phiến thì vẫn ngồi lặng lẽ, miệng vẫn cười hiền lành nhưng ánh mắt thì nhìn vào khoảng không trước mắt, buồn buồn, xa vắng. Lâu lâu ông chép miệng thở dài: “Tôi lú lẫn quá rồi anh ơi!”

Lần ấy, bà Võ Phiến đưa tôi bức thư ông Võ Phiến viết ròng rã trong mấy tháng trước đó nhưng chưa kịp (hoặc quên) gửi. Thư không đề ngày. Toàn bộ nội dung như sau:

Thân gửi anh Nguyễn Hưng Quốc,

Rốt cuộc rồi tôi cũng đi tới một quyết định: Phải viết cho được một lá thư gửi tới một số anh em chí thiết.
Tự dưng hơn nửa năm nay tôi phát lú. Rồi lú nặng. Quên thật mau dĩ vãng của mình. Quên lung tung, thật mau. Từ lâu tôi nặng một tai; năm bảy năm nay chỉ nghe được một tai. Gần đây, tai ấy cũng nghỉ luôn.
Một người ngẩn ngơ, nghe được ít, lấy làm khó chịu mỗi khi gặp có người khác: Tôi trốn lần, trốn lần. Nhà tôi đại diện, bận bịu quá trời.
Điếc, quên – cả cặp ấy xúm nhau biến tôi thành kẻ ngớ ngẩn.
Tôi trốn tiếp xúc với người, lẩn thẩn đọc sách. Đọc mỗi lúc một thêm vất vả: đọc đâu quên đó. Dần dần sách nào cũng hoá khó hiểu. Sợ sách, rồi ngán luôn cả báo.
Tôi thành đứa vất đi rồi anh ơi.
Tôi tìm nguyên do. Nhớ lại mười mấy năm trước, hồi còn ở xóm Glendale bên Los Angeles – xóm nhỏ - đa số là dân da đen. Một hôm, độ bảy tám giờ tối gì đó, tôi đi dạo trước mặt nhà, gặp chỗ vắng, thiếu ánh sáng, thình lình bị một tên da đen đánh mạnh vào mặt. Tôi ngất. Nó lục túi lấy chẳng bao nhiêu (vì mình đi dạo bộ cho tiêu cơm trước mặt nhà). Tỉnh ra, tôi được đưa đi bệnh viện. Rồi yên. Nhưng đầu óc hư hỏng – chắc là từ đó.
Bây giờ càng lúc càng tệ. Trí óc hết xài.
Nhà tôi khổ sở vì tôi, vất vả quá trời.
Tôi năm nay 86 tuổi ta. Già quá rồi. Nay mai, chịu hết thấu, ra đi cũng phải thôi.
Cả tháng nay tôi yên trí là mình đang lủi thủi đi về cõi khác. Định đi êm, không nên kể lể vớ vẩn với ai làm gì. Chuyện xoàng quá. Không đáng trầm trồ.
Nhưng rốt cuộc rồi thấy nên để dăm ba kẻ thân thiết. Chuyện nhảm mà trịnh trọng bảo mật, e kỳ cục.
Thân chúc anh chị và các cháu mọi sự an lành.
Võ Phiến


Đọc, tôi thấy buồn hiu hắt. Có cảm tưởng như nghe một lời trối trăng. Chuyến ấy, tôi ở Nam California chỉ có khoảng hơn một tuần, nhưng tôi vẫn tranh thủ ghé đến thăm ông bà Võ Phiến đến ba lần. Tôi sợ, khi về lại Úc, sẽ không còn cơ hội để gặp ông lần nữa. Lần thăm cuối cùng, ông bà dẫn tôi đi ăn trưa ở một tiệm Mỹ trong cái công viên gần nhà. Suốt bữa ăn, Võ Phiến hỏi tôi mấy câu. Hỏi đi rồi hỏi lại.

“Văn học trong nước hiện nay có gì lạ không, anh?

Tôi đáp: “Cũng chả có gì lạ bác ạ. Không thấy xuất hiện cây bút nào thật mới và thật hay.”

Ông tặc lưỡi: “Cả nước đến mấy chục triệu người mà không có ai viết hay cả. Lạ nhỉ? Tôi không biết gì cả. Tôi lú lẫn rồi anh ơi!

Rồi ông ngồi im, nhìn mông vào quãng trống trước mặt. Năm mười phút sau, ông lại hỏi:
“Chế Lan Viên bây giờ ra sao, hả anh?”

Tôi đáp: “Chế Lan Viên mất lâu rồi, bác ạ.”

Ông lại tặc lưỡi: “Vậy hả? Tôi nghiệp quá! Tôi lú lẫn rồi, không nhớ gì nữa cả.” Rồi ông lại hỏi:

“Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?”

Tôi đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều đọc và nhiều người khen lắm.”

Ông lại tặc lưỡi: “Lạ nhỉ? Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”

Im lặng một lát, ông lại hỏi: “Anh thấy văn học ở trong nước bây giờ thế nào hả anh?”

Tôi lại đáp: “Không có gì đặc biệt cả, bác ạ.”

Và ông: “Lạ nhỉ. Nước đến mấy chục triệu người mà không ai viết hay. À, mà Chế Lan Viên bây giờ sao, hả anh? Ổng còn viết lách được gì nữa không?”

“Không. Ổng mất năm 1989, hơn 20 năm rồi, bác ạ.”

“Ồ, tội nghiệp quá! Tôi lú lẫn quá, không nhớ gì nữa cả. À, mà bây giờ ở trong nước có ai còn đọc tôi nữa không, anh?”

“Có chứ, bác. Sách bác mới được in lại ở trong nước đó.”

“Lạ nhỉ. Nhưng văn học ở trong nước có gì lạ không, anh?”

Cứ thế, chừng ấy câu hỏi, trong suốt buổi ăn trưa, được ngắt quãng bởi những lúc trầm ngâm im lặng và ngó mông vào khoảng trống. Với mỗi câu hỏi, để trả lời, tôi cứ lặp lại, thật ngắn gọn, nhấn mạnh từng chữ, phát âm thật to để ông có thể nghe được. Bà Võ Phiến nhìn tôi, rươm rướm nước mắt, có lẽ vừa thương chồng vừa áy náy cho tôi. Trên đường về nhà, bà thì thầm với tôi, giọng nghẹn ngào: “Bác thương bác trai quá. Một người thông minh sắc sảo đến như vậy mà bây giờ đâm ra nghễnh ngãng, lẩn thẩn, thật tội nghiệp!” Tôi vừa an ủi bà vừa nghĩ ngợi bâng quơ về các câu hỏi của ông. Chúng tiết lộ những ám ảnh sâu xa không ngừng day dứt trong tiềm thức của ông ngay cả khi ông không còn nhớ gì cả. Ông nhớ những người bạn, những người thầy, những người quen biết cũ. Ông loay hoay muốn biết về tình hình văn học Việt Nam. Ông tò mò về sức sống của những gì ông đã viết. Và ông cũng không ngớt dằn vặt về những cái quên ngớ ngẩn của mình. Nét tâm lý đầu phổ biến đối với mọi người lớn tuổi; hai nét kế tiếp phổ biến trong giới cầm bút; nét thứ tư mang tính đặc thù của Võ Phiến: ý thức tự giác rất cao, lúc nào cũng tự quan sát chính mình như một người ngoại cuộc. Trước, lúc còn khỏe, thói quen tự quan sát ấy biến ông thành một trong vài nhà văn có khả năng phân tích giỏi nhất của Việt Nam thời kỳ 1954-75. Bây giờ, khả năng tự quan sát ấy chỉ làm cho ông bất an. Trước, qua việc tự quan sát, thấy những cái yếu đuối của con người được phản ánh qua tâm hồn của chính mình, ông đâm ra yếm thế và hay châm biếm; bây giờ, thói quen tự quan sát ấy chỉ biến ông thành một người đầy mặc cảm: lúc nào ông cũng sợ lộ vẻ ngớ ngẩn dưới mắt người khác, do đó, ông tránh né đám đông; khi không thể tránh né được, ông chỉ ngồi lặng lẽ tự gặm nhấm những nỗi khổ của một người tự thấy mình đang trôi dần trôi dần vào cái chết.

Võ Phiến không mất trí nhớ hẳn. Thường, ông chông chênh, chòng chành và lãng đãng giữa nhớ và quên. Cái ông hay quên nhất có lẽ là những cái mới. Mới, thoạt đầu, từ câu nói vừa thốt đến công việc vừa làm; sau, dần dần bao gồm cả nhiều năm hoặc có khi nhiều thập niên về trước. Một lần, trong bữa ăn trưa tại nhà ông, nhà văn Ngự Thuyết nghịch, hỏi Võ Phiến tên của những người ngồi cùng bàn. Tên tôi và Hoàng Ngọc-Tuấn: ông không nhớ. Tên của ba người bạn ở ngay tại California và thường xuyên đến thăm ông, Ngự Thuyết, Trúc Chi và Phạm Phú Minh: Ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ được tên hai người: Đỗ Quý Toàn và Lê Tất Điều, hai người ông quen biết ở Sài Gòn từ trước năm 1975. Cuối năm 2013, tôi gửi tặng ông cuốn Văn học Việt Nam tại Úc: Chính trị và thi pháp của lưu vong mới xuất bản tại Úc qua nhà văn Phạm Phú Minh. Mấy tuần sau, Phạm Phú Minh email cho tôi, kể:

“Quốc thân,

Hôm nay nhân Thành Tôn và ông Văn Nghệ có việc đến nhà ông bà Võ Phiến, anh đã nhờ họ mang cuốn sách của Quốc cho ông bà.

Thành Tôn kể lại, ông Võ Phiến cầm cuốn sách xem rất kỹ rồi hỏi: ông Nguyễn Hưng Quốc này là ai mà in sách đẹp đẽ sang trọng quá thế này? Thành Tôn nói ông ấy dạy đại học bên Úc thì ông Võ Phiến nói: Hèn gì!”

Đọc, tôi không ngạc nhiên, nhưng vẫn buồn. Buồn đến độ mãi đến ngày mồng 8 (tức ngày 7 tháng 2 năm 2014), tôi mới gọi được cho ông để chúc Tết một cách muộn màng. Lạ, lần này, ông lại tỉnh táo một cách lạ thường. Khi bà Võ Phiến chuyển điện thoại và bảo Nguyễn Hưng Quốc gọi, ông rối rít:

    Anh Quốc hả? Trời ơi, anh ở Úc hay đang ở Mỹ vậy?
    Dạ, cháu đang ở Úc.
    Trời ơi, ở xa vậy mà gọi điện thoại, quý quá. Nhưng tốn tiền lắm, anh ơi.
    Không sao đâu, bác ạ. Bây giờ gọi điện thoại viễn liên rẻ lắm.
    Tháng 7 này anh có qua Mỹ không?
    Dạ, không. Tháng 12 cháu mới qua.
    Ồ, còn cả 10 tháng nữa, không biết tôi có còn hay không. Năm nay tôi đúng 90 rồi, bết bát lắm, anh ơi. Tôi chẳng còn đọc hay viết gì được nữa cả. Hỏng hết rồi.
    Thôi, cũng đâu cần đâu, bác. Bác đọc và viết cả đời rồi. Bây giờ bác cố nghỉ ngơi để giữ gìn sức khỏe.
    Anh định sống luôn ở Úc hay có về Việt Nam sống không?
    Khi nào Việt Nam có tự do, có lẽ cháu về chứ.
    Tôi thì hết hy vọng rồi. Chỉ có chết ở Mỹ thôi.
    Cũng chẳng sao, bác ạ. Về bằng tác phẩm được rồi. Gần đây, ở trong nước, người ta bắt đầu in lại sách của bác, tổ chức hội thảo về bác đó. Ai cũng khen cả.
    Vậy hả, anh? Trời, tôi chẳng biết gì cả. Bây giờ tôi lú lẫn, đọc ít lắm. Những điều anh vừa nói, tôi mới nghe lần đầu. Lạ quá, phải không anh?

Cứ thế, dù giọng ông hơi yếu, nhưng câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc, không có dấu hiệu gì lẫn cả.

Tháng 12 năm 2014, tôi sang California và ghé thăm ông bà Võ Phiến mấy lần. Chỉ nói chuyện được với bà. Còn ông thì ngồi im lặng ngó lung về phía trước. Không thể đoán được lúc ấy ông đang nhìn gì và nghĩ gì. Chỉ thấy xa vắng và cùng với sự xa vắng, sự mênh mông, ở đó, tôi đoán, ông không thấy ai trước mặt, không thấy khung cửa kính trong suốt, không thấy hàng cây xanh lá đang lao xao với gió, không thấy bầu trời đầy nắng và thưa thớt mây; ông chỉ thấy khoảng trống thăm thẳm, vời vợi, không cùng. Ý tứ, chưa bao giờ tôi hỏi ông có sợ không. Nhưng trong một bức thư nào đó gửi tôi, ông bày tỏ: Không. Ông diễn tả một cách dí dỏm, đại khái, ông Trời tinh tế lắm: Ổng làm cạn kiệt sức sống trước khi lấy hẳn đi sự sống của con người. Sự mệt mỏi khiến người ta bớt sợ. Không sợ nhưng tôi đoán, vẫn lo. Trước cuộc viễn du vào cõi vô tận ấy, tôi nghĩ, ai cũng lo. Người thường lo cho con, cho cháu, cho chắt. Người cầm bút còn thêm một nỗi lo khác: các tác phẩm của mình. Với người cầm bút, bất cứ người cầm bút nào cũng vậy, điều mong muốn đầu tiên bao giờ cũng là được đọc; điều mong muốn lớn nhất và tha thiết là được đọc lại, đọc lại mãi, không phải bởi một người hay một số người mà là bởi nhiều thế hệ, những thế hệ, nói theo Trần Tử Ngang, nhà thơ thời sơ Đường, “lai giả”, những kẻ mình không bao giờ gặp và biết. Khi Nguyễn Du viết “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, thật ra, tự thâm tâm, ông chỉ muốn hỏi: sau này, mấy trăm năm sau, có ai còn đọc Truyện Kiều của ông không? Võ Phiến, với căn bệnh Alzheimer’s quái ác, có thể không nhớ tên bạn bè thân thiết, không nhớ ai còn ai mất, không nhớ những gì ông đã viết và đã xuất bản, không nhớ ngay những gì ông vừa mới nói, vẫn đau đáu một ám ảnh: Có ai còn đọc ông không?

Nguyễn Hưng Quốc
(1/10/2015)

                                 Những bài viết về Võ Phiến của Nguyễn Hưng Quốc (pdf)

    Tìm hiểu thế giới nhân vật của Võ Phiến - Nguyễn Mộng Giác
                      Nguồn: Văn Học số 19 Nhân dịp tái bản tập TRUYỆN NGẮN I của Võ Phiến

"Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng phải cầm vũ khí trong tay: anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ... và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc.

Vậy mà những hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở. Ở Hoa Thịnh Đốn, ở Mạc Tư Khoa, ở Bắc Kinh, Tân Đề Ly, Vọng Các, Ba Lê... ở khắp các nơi trên thế giới người ta theo dõi anh, bàn tán về anh. Người ta đem anh ra so sánh với người dân Ðức ở Bá Linh, người dân Lào ở Vạn Tượng... người ta dòm ngó, dò xét cử chỉ của anh, cân nhắc, đánh giá sự can đảm của anh, tài nghệ của anh. Xung quanh hành động anh chắc chắn có những cuộc mặc cả, những trù hoạch bố trí, những mưu mô âm thầm giữa nước này nước nọ. Và cũng có cả những lời hô hào, cổ võ, những tuyên bố lớn tiếng về nhiều vấn đề quan trọng, lý tưởng cao đẹp."
(Thư Nhà)

Đấy, cuộc đời của Bốn Thôi. nhân vật tiêu biểu nhất của Võ Phiến. Người nông dân cục mịch có nét mặt buồn hiu lạnh lẽo. thiếu hẳn sự vồ vập mãnh liệt. nhưng trong lòng, chất chứa không biết bao nhiêu khát vọng tội nghiệp. Người nông dân ấy không có cái bề ngoài coi được. Anh xấu trai, nghèo nàn, chậm chạp, vụng về. Thú vui độc nhất cho cả một kiếp đời dài là trưa trưa, tìm một chỗ dừng chân thật tịch mịch, nghếch mũi lên không mơ màng mằn mò nhổ từng sợi lông mũi. Bao nhièu người đàn bà ghé tạm, cùng anh đi chung một đoạn đường. Họ đã bỏ đi vội. Anh không oán, không trách. Anh đều đặn, cần mẫn thăm nom lo lắng cho gia đình nhà vợ cũ, trong khi vẫn âm thầm quờ quạng tìm lấy một chút tình thân mới. Anh đi tìm hoài, lòng xao động khắc khoải, hồn lo âu hối hả mà nét mặt vẫn "rầu rầu, nguội lạnh như người ngoại cuộc...". 

             

Nguyễn Mộng Giác                    

                                 Mời đọc: toàn bài viết của Nguyễn Mộng Giác (pdf)

                    Võ Phiến Những năm 1960
                                              NGUYỄN VY KHANH


Về mỗi tác giả, người đọc và cả "nhà phê bình" vẫn thường có thái độ tổng quát hóa, như Nhất Linh là tác giả Đoạn Tuyệt, Nguyên Sa chỉ là nhà thơ tình yêu, Thanh Tâm Tuyền nhà thơ tự do, Võ Phiến (sanh năm 1925) là nhà văn "chẻ sợi tóc làm tư", v.v. Tuy nhiên, một sự nghiệp văn chương trong thực tế không thể chỉ là một hào quang cũng không thể đóng nhãn, đóng hộp. Văn chương và con người của một tác giả nếu sự nghiệp lâu dài về thời gian, đều có những thay đổi, những thăng trầm, biến động, nếu không như lửa với nước thì cũng như những tiếng sóng. Thanh Nam và Lê Tất Điều chẳng hạn sau khi ra khỏi nước đã có những tác phẩm khác biệt hẳn những gì họ đã xuất bản trước 1975. Tìm cho ra cái động trong một sự nghiệp đòi hỏi nhiều công phu, tuy nhiên việc điều nghiên từng tác phẩm đặt trong khung cảnh thời gian, cũng có thể giúp hiểu biết hơn về tác giả đó. Trong chương này, chúng tôi xin thu hẹp vào một giai đoạn viết của Võ Phiến, với những tác phẩm của ông xuất bản trong suốt thập niên 1960.

Miền nam vĩ tuyến thứ 17 sau 1954 vốn quen với hai luồng văn học từ hai thủ đô văn nghệ, một mới, Sài Gòn và một cũ, Hà Nội, đã ngạc nhiên đón nhận một nhà văn từ miền Trung là miền đến lúc ấy vẫn nổi tiếng về thơ hơn là văn: nhà văn Võ Phiến gây chú ý ngay từ những tập truyện ngắn đầu tay xuất bản ở Qui Nhơn vào đầu nửa cuối thập niên 1950: Chữ Tình xuất bản năm 1956 và Người Tù một năm sau đó. Lúc đó ông cộng tác thường xuyên với tạp chí văn chương Mùa Lúa Mới ở Huế và gửi bài đăng trên Bách Khoa và Sáng Tạo ở Sài Gòn. Hai tập truyện ngắn Chữ Tình và Người Tù ra đời hợp không khí chính trị những năm đầu của nền đệ nhất cộng hòa, về văn chương không có mới lạ, có thể nói bình thường, hơi quê, văn theo tiêu chuẩn chung, chưa đặc sắc.

Không khí văn chương trong các "tác phẩm" xuất bản sau ngày chia đôi đất nước là của thời kháng chiến chống Pháp trước đó, không khí đấu tranh chính trị, tâm tình người dân yêu nước, cuộc sống khó khăn trong những vùng cộng sản. Võ Phiến từng sống và tham gia cuộc kháng chiến đó, ở liên khu V, nhưng ông cũng đã từng ly khai và bị tù tội vì bất đồng quan điểm chính trị. Một nền cộng hòa dân chủ mới được thiết lập ở miền Nam. Trong bầu không khí chính trị mới, tự do và dân chủ đó, văn chương Võ Phiến, cũng như của Đỗ Tấn, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ,..., những con người từng theo kháng chiến, đã gặp cả ba yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa"! Văn chương đó đã góp phần xây dựng chính trị miền đất mới trong giai đoạn đắp nền của thời đệ nhất cộng hòa.

Tác phẩm của Võ Phiến đã đáp ứng những chờ đợi của con người thời đó. Những đấu tranh chính trị với cộng sản, những nhân vật như đồng chí Thọ, cán bộ Lung, Hạnh, Dung, v.v... Những chuyện xảy ra ở Bình Định và liên khu V, đã cũng như ở các liên khu kháng chiến khác. Đấu tranh con người và chính trị là một! Con người trong Chữ Tình và Người Tù là nhữnh con người bị thời cuộc lôi kéo và "con tạo" cán nát. Những con người sống trong tù hãm, tâm hồn muốn được bình thường đã phải bị động, xô đẩy theo phe, phải có thái độ. Lê Nọ giết người, Huỳnh Thiện Thủ già nua vụng dại như con trẻ, Linh mơ mộng được in sách, Hòe có vẻ hơn những con người trong nhà tù nhưng lại bị tình yêu vây hãm và vẫn phải bám sự sống còn. Võ Phiến đã cho người đọc thấy sự ưu thời mẫn thế của ông!

Các truyện trong hai tập đầu Võ Phiến lấy đề tài và chất liệu trong những biến cố chính trị xã hội tác giả từng sống qua, chứng kiến, kể cả việc đấu tố, lao tù. Từng thủ thế, từng "biết" sống với một kẻ thù cực kỳ nguy hiểm, khi đặt bút viết, Võ Phiến đã cho thấy có một cái nhìn thông suốt, có "bùa chú" đàng hoàng. (Sau 1975, có cả một chiến dịch bôi xấu văn nghệ sĩ miền Nam cộng- hòa trong số có Võ Phiến. Người đọc sẽ "thích thú" lây với ông khi đọc những "tác phẩm" tố cáo những cái họ gọi là "thủ đoạn" chống Cộng bằng văn chương của ông). Những cảnh đời quá khứ gần, những nhân vật và tình tiết được đào sâu, tỉ mỉ và nhà văn thường lộ nụ cười hóm hỉnh, tỏ lộ một số đặc điểm của địa phương, rất địa phương, một địa phương "mới" cho văn học Việt Nam cho đến đó. Các tác phẩm sau này của Võ Phiến sẽ xác nhận thêm địa phương tính này của ông với đủ chi tiết và cách nhìn. Đặc điểm này ông liên tục bận tâm, qua mỗi lời nói, nhân vật và khung cảnh câu chuyện, và qua nhiều tác phẩm nếu không muốn nói là hầu hết.

Vì an sinh của miền Nam cộng hòa, nơi tập hợp mới của con người không cộng sản, văn chương chống cộng, tố cộng, đề cao tự do, cảnh tỉnh người dân về hiểm họa cộng sản là thiết yếu, là những viên gạch không thể thiếu trong hoàn cảnh. Nhiều biến cố dồn dập đến từ miền Bắc như Cải cách ruộng đất, như vụ án Nhân văn giai phẩm (3-1956, nhưng 1-1960 mới xử) xuất từ chiến dịch Trăm hoa đua nở ở Trung quốc, và cả từ thế giới như biến cố tân bí thư đảng Liên xô Khruschev tố khổ Staline, rồi dân chúng Budapest (Hung Gia Lợi) theo làn gió "xét lại" nổi dậy tháng 10-1956 bị chiến xa Liên xô đè bẹp một tháng sau đó: bức màn sắt buông xuống một phần nhân loại. Quách Thoại giương cao ngọn cờ dân chủ:

"Đến lúc phải tỉnh thức
(...) Hỡi các lực lương dân chủ
Chúng ta phải gây lại sức mạnh hùng cường
Vì độc tài thì vô lượng
Âm mưu, lý thuyết, tổ chức, thủ đoạn
Hành động thì dã man vô lường
Ôi chao! đau thương không thể tưởng
Hỡi các lực lượng dân chủ
Hãy thận trọng đoàn kết và dũng mãnh bước lên đường"
(Hỡi Các Lực Lượng Dân Chủ)

Doãn Quốc Sỹ dứt khoát vai trò của người trí thức, phải bỏ chủ nghĩa cộng sản, đề cao dân tộc tính và tình người khi còn có thể. Tháng 10-1956, tạp chí Sáng Tạo ra mắt. Trong bài Sài Gòn, Thủ Đô Văn Hóa mở đầu, Mai Thảo đã mạnh mẽ lên tiếng:

    Sài Gòn, thủ đô văn hóa Việt Nam. Không phải là một danh từ, một câu nói suông nhạt. (...) Sài Gòn đã đứng vào vị trí, đã nhận nhiệm vụ mình, sau khi Hà Nội đã từ bỏ nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa vượt tuyến đã sáng lên ở đây hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ, mạnh sẵn có. Thành phố hòn ngọc của châu Á, tinh hoa của đất nước - đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu, trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt của một mùa văn hóa, mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ hệ thống" (l).

Khẳng định của Mai Thảo là một diễn dịch khác của một cơ cấu xã hội và chính trị bị-động, phải đối phó tức thời với kẻ thù cộng sản. Đảng Cần Lao được tổ chức như cơ cấu của kẻ thù, đòi hỏi hy sinh và một lòng, một mục đích. Với những phương tiện tương đương. Sáng Tạo không đi ra ngoài quỹ đạo đó! (Về lý thuyết và hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, tổ chức đảng phái như đảng Cần Lao là đúng - tài liệu sau này của cộng sản Việt Nam cũng đã xác nhận những lo sợ của họ đối với Cần Lao nhất là ở miền Trung; nhưng về sau, nhiều vị ở hàng lãnh đạo của chế độ đã đi quá đà, xa dân, và đối lập nội bộ cũng thiếu tổ chức dân chủ, khiến miền Nam rơi vào hỗn loạn để rồi thua cuộc chiến vào tháng tư năm 1975.

Đúng như Mai Thảo đã viết, "những cỏ hoa tươi tốt của một mùa văn hóa (...) thành tích, kết quả đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ hệ thống", trong đó có Võ Phiến với Chữ Tình, Người Tù rồi Mưa Đêm Cuối Năm. Tập Mưa Đêm Cuối Năm do nhà Tự Do xuất bản ở Sài Gòn năm 1958, được giải thưởng Văn chương toàn quốc 1959-1960 đã xác định vị trí của ông đối với người đọc lúc bấy giờ.

Miền Nam đến cuối thập niên 50 đã có được những cơ cấu chính trị và xã hội nền tảng của một chế độ dân sự hiện đại. Nhưng từ năm 1960, đã bắt đầu có những tiếng nói khác nhịp với chính quyền. Nhóm Caravelle (4-1960), rồi đảo chính ngày 11- 11-1960, rồi hai phi công thả bom dinh Độc lập 2-1962, những nỗ lực chính trị của một số người của chế độ muốn cứu nền đệ nhất cộng hòa không kết quả, bàn cờ domino khiến "đồng minh" Hoa Kỳ thiếu kiên nhẫn muốn đi nước cờ theo ý mình, bèn cấu kết đưa đến đảo chính 1-11-1963, rồi chỉnh lý, biểu dương chính trị, tôn giáo, v.v. Miền Nam bốc lửa, nếp thanh bình tương đối của thời ngưng chiến sau 1954 dần mất. Nhà văn cũng như bao người dân khác, bị thời cuộc xáo trộn, phải đối phó. Sinh hoạt văn hóa cũng bị biến cố thời thế ảnh hưởng, và ảnh hưởng nặng nề. Những Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, ... đề xướng văn nghệ "hôm nay" thì sau 1960, những tạp chí Văn Học, Nghệ Thuật, Văn, v.v. đã "hiện đại" mạnh mẽ hơn! Rồi sự góp mặt của một thế hệ nhà văn trẻ hơn như Lê Tất Điều (Khởi Hành, l961), Nguyễn Đình Toàn (Chị Em Hải, 1961), Dương Nghiễm Mậu (Cũng Đành, Gia Tài Người Mẹ, xuất bản cùng năm 1963). Người hiểu biết sẽ thấy khi chế độ đệ nhất cộng hòa bị lật đổ, chống Cộng sẽ hết còn dễ dàng. Và một tuổi trẻ năng động trong hành trình trí thức và tâm cảm, nhiều khắc khoải, ưu tư, nhưng họ lại có thể không cùng kinh nghiệm kháng chiến hay chống Cộng.

Vẫn tiếp tục chống cộng sản độc tài, áp bức nhưng khởi từ cuộc sống mới của thập niên 60, Võ Phiến sẽ đi sâu vào những phân tích tâm lý và con người phổ quát qua con người của quê hương Bình Định của ông. Năm 1959, ông vào ở hẳn Sài Gòn, xuất bản Đêm Xuân Trăng Sáng, Giã Từ, Thương Hoài Ngàn Năm, Thư Nhà, v.v.

Đến Đêm Xuân Trăng Sáng, xuất bản năm 1961, tập truyện ngắn đồ sộ về số trang (370 trang, sau tách thành hai cuốn ĐXTS và Về Một Xóm Quê khi tái bản), Võ Phiến được người đọc nhìn như một tác giả điêu luyện, có tính chất "thời đại" với những phân tích tâm hồn và quan sát con người rất tinh tế. Nhân vật của ông thêm sức mạnh và "bản lĩnh"! Đêm Xuân Trăng Sáng gồm 8 truyện ngắn: Lẽ Sống, Tâm Hồn, Anh Em, Đêm Xuân Trăng Sáng, Thị Thành, Thác Đổ Sau Nhà, Về Một Xóm Quê, Tuổi Thơ Đã Mất đến với người đọc như một đảm bảo văn tài của tác giả Võ Phiến. Nhìn chung, qua các truyện ngắn này, Võ Phiến chứng tỏ tài quan sát và phân tích tâm lý con người, tận cùng sâu thẳm của con người, tài xây dựng nhân vật vừa điển hình vừa đặc thù. Các nhân vật sống động với bề mặt diện mạo cử chỉ và bề sâu tâm tình xúc tích. Họ là những người dân quê, là những ông phó lý, chủ tịch Liên Việt, những quân nhân hay ông tướng Hùng Sơn hoang đường.

Võ Phiến, một cây viết mới và "khác", ông chẻ sợi tóc làm tư, viết những chuyện như "cái chạy loanh quanh của một con kiến vàng trên cái tay đầy những sợi lông măng của nàng", hay truyện một anh cán bộ bị "phục viện" vì sốt rét ngã nước. Nằm một chỗ tình cờ anh nhìn thấy một hạt thóc vương vãi đã nẩy mầm và cái lá non nhỏ đã nhú đang bay phe phẩy. Trong truyện Băn Khoăn, con người kháng chiến cũ ngồi ôn lại "quảng đời đầy tội lỗi, buồn thảm, gớm ghiếc" vừa qua đó của mình. Nơi kháng chiến, những cán bộ ở rừng như Lung (MĐCN) đạo đức khả nghi, đời sống sinh lý quá phóng túng, bất thường. Thác Đổ Sau Nhà là một kết cuộc tự nhiên của Hạnh bỏ chồng vì anh theo Đảng không nhân tính vì đã bị vong thân chỉ nghĩ đến lợi dụng!

Đêm Xuân Trăng Sáng là một tập truyện ngắn đúng nghĩa, xúc tích về bề dày, về nghệ thuật viết của tác giả. Cái tinh tế từ ba tập truyện đã xuất bản nay thành cay chua tàn nhẫn hơn. Chủ nghĩa hoài nghi trở nên thường trực hơn qua các dòng chữ. Như S. A. Kierkegard từng sống với ám ảnh trọn đời theo đuổi, Võ Phiến không muốn tin để khỏi mất mát, cứ hoài nghi để tiến xa trí thức, nhất là chống những sự thật chủ quan đóng khuôn. Con người hiện hữu là cái cớ để tương phản, đau khổ và lo âu tự do hoành hành. Cứ bi quan thì sẽ khỏi bị cuộc đời chơi phổng tay trên. Võ Phiến, con người từng nếm mùi tù cộng sản, từng nếm những tranh luận hơn thua liên hệ đến sự sống còn mà không là những tranh luận trí thức suông! Võ Phiến đã nhìn thấy rõ tâm hồn của con người, ít ra là qua những nhân vật quen thuộc của ông, ông đã thấy cả những bế tắc và phức tạp của cuộc đời. Nhân vật Thảo chẳng hạn, ngoại tình thường trực dù luôn tự kết án là "Bậy! Bậy vô số!".

Tâm sự tha hương bắt đầu rõ nét. "Tôi muốn kể chuyện dâu bể của xóm tôi. Những quả rằng xóm quê tôi tầm thường chẳng phải là nơi linh địa. Cho đến những điền dâu bể cũng tầm thường nhạt nhẽo, chẳng thành chuyện ra hồn. Chỉ nghe một cái gì buồn rả rích từng giọt từng giọt của trận mưa dai dẳng kéo dài, kéo dài qua... qua cái gì? Qua suốt mười mấy năm dài chưa dứt sao?" (VMXQ). Một số truyện ngắn trong tập này như Anh Em, Tuổi Thơ Đã Mất đưa người đọc vào một thế giới hoang đường rùng rợn. Trong Tuổi Thơ Đã Mất, nhân vật Bành mới bốn mươi hai tuổi đời đã khoác hình dong già nua mà lại đầy mặc cảm ám ảnh về sự héo hắt của mình. Con ma quấy rầy đeo đuổi có thể là chính ông ta, ma sẽ cho ông lại xúc giác và sống lại dĩ vãng với người yêu và tuổi thơ. Truyện Anh Em gây khiếp hãi về một thế giới hoang đường mơ hồ, qua một ngôi nhà ma và thời buổi chiến tranh, trong khung cảnh tình cảm anh em họ. Ma quỷ đến quấy nhiễu gia đình người chú đang gặp vận đen, khiến quên cả lo cho con cái. Con ma phải chăng vẫn tiếp tục khuấy phá tâm sự nhân vật "tôi" như "một bàn tay thóc mách từ dĩ vãng đưa về", dai dẳng, qua cái cảm giác "rêm rêm" "như còn rung đến da thịt" và trong trí tưởng, "hình ảnh một cổ tay trắng tròn" của em Hạnh?

Giã Từ (l962) là truyện dài đầu tay của Võ Phiến. Nhân vật "tôi" muốn dứt khoát với quá khứ, đã chôn sâu quá khứ trong lòng đất quê hương, thị xã Qui-Nhơn, để bỏ đi đến một nơi thật xa làm lại cuộc đời. Một bữa tiệc chia tay, có nhiều người bạn và có ông Ba Thê Đồng Thời. Câu chuyện xoay quanh ông Ba Thê Đồng Thời, gia đình với vợ ông ta, hai thằng con tên Toàn và Phong và đứa con gái tên Loan. Ba Thê Đồng Thời choán hết chỗ. Ông này cũng như ông bác Đại Cuộc cùng giỏi nói dai nói nhiều, từng hoạt động cho phía bên kia. "Tôi" ẩn khuất nhưng đẩy đưa câu chuyện. Giã từ quê hương, "tôi" đi lính vì Loan, người yêu, đi làm cứu thương, ra chốn trận mạc, lại gặp Toàn con ông Ba Thê Đồng Thời về sau chết trận. Rồi các con ông Ba Thê Đồng Thời mỗi người một ngả. Loan bồng con theo chồng tập kết, vợ Toàn chắp nối với một hàng binh Lê-dương, Phong làm kẻ cướp giật. "Tôi" hóa ra trơ trọi, trở về sống với những người già cũ quen xưa: ông bác già và (lại) vợ chồng Ba Thê Đồng Thời, suốt ngày cứ rỉ rả chuyện quê nhà và cuộc đời. Ông bác Đại Cuộc về già hay lẫn, vui như trẻ nít, quên cả quá khứ. Chị Toàn biệt tăm bên Áo quê chồng - "thêm một người nữa trong bọn dứt khoát giã từ quá khứ".

"Tôi nhìn từng vết thương trên cây cối, từng dấu tích tàn phá sửa đổi trong vườn cố đoán ra những hoạt động xảy ra trong những năm tôi vắng mặt, lòng bùi ngùi". "Tôi" chán họ, những kẻ cũ già hoặc "bỏ đi", muốn sống một giai đoạn mới, thoát khỏi "thời buổi bây giờ"! "Quá khứ của chúng tôi gầy đi nhiều quá" Thôi đành phải giã từ! "Tôi tưởng như mình cũng đang cúi hôn trên cái dĩ vãng gồm toàn những chuyện đau lòng ngớ ngẩn. Vừa hôn vừa ngạc nhiên không hiểu tại sao mình làm như thế". Năm 1959, Võ Phiến cũng đã giã từ Qui Nhơn vào sống ở thủ đô.

Thương Hoài Ngàn Năm (l962) gồm 3 truyện ngắn với khung cảnh làng quê An Quí: Thương Hoài Ngàn Năm, Viết Thư Buổi Trưa, Đến Khi Ma Chết. Chuyện những con người bình thường, tầm thường là khác, nhưng họ sống những thảm kịch lớn và những đời sống nội tâm sôi nổi. Thương Hoài Ngàn Năm kể chuyện yêu đương không bình thường của Bạch, có lẽ vì nàng là đứa con thật của ông bà Nghĩa trong khi ba cô chị của nàng là con do lang chạ của bà mẹ với ông lý trưởng. Viết Thư Buổi Trưa là chuyện tình sôi nỗi qua thư từ hơn là qua gặp gỡ. Đến Khi Ma Chết thì chính con ma chuông cũng muốn yên mà không được, sau khi đã quyết theo vợ chồng Hải Thọ lên chốn thị thành để quấy phá trả thù.

Ở những năm đầu thập niên 60 này, Võ Phiến đã thành công bắt người đọc theo ông vào những ngõ ngách của nội tâm con người, những chỗ u ẩn nhất. Bằng những chi tiết cuộc đời, những mảng tâm linh huyền hoặc. Bằng khả năng biểu tỏ những cảm thức của mình trước sự vật và biến cố. Bằng tính bi quan như cố hữu của mình. Bằng cách đả động đa phần đến những khía cạnh hoặc sự việc tiêu cực, tầm thường.

Thư Nhà (1963) gồm những chuyện mà "hình ảnh những nhân vật rầu rĩ lố lăng, không hứa hẹn một vinh dự gì cho chỗ quê hương" (LTN), nhưng thêm một lần tác giả trải bầy tình yêu quê hương làng An Quí của ông cũng như thị xã Qui Nhơn hình thù như "hình quả tim rất xinh" - nơi ông trải qua tuổi học sinh. Truyện thứ nhất, Ngày Xuân Êm Đềm, tả đời sống ở thị xã Qui Nhơn, chuyện những người láng giềng thân thiết. Những tình cảm quê mùa nhưng tha thiết, hội nhập. Một cuộc sống địa phương, ngày nay khó tìm thấy. "Nghe kỹ mà xem. Vui biết chừng nào, tiếng nước rụng từng giọt rả rích". Đến Thư Nhà là chuyện Qui Nhơn và Sài Gòn: dĩ vãng, cũ, xưa. Ở trong ni lạc lõng nhớ ngoài tê xa lắc, qua những lá thư trao đổi, lòng yêu quê hương làng mạc thắm thiết, đã đi mà không xa vì xa mà chưa chắc đã "lẫm liệt"!

Lại Thư Nhà đặc sắc hơn cả, "mắm cua chua" được dùng làm đầu câu chuyện để tác giả viết về quê hương Bình Định, xoay quanh anh nông dân Bốn Thôi người xấu trai nhưng có đến sáu đời vợ trong đó bốn bà bỏ nhà trốn đi vì ông bất lực về sinh lý. Chị Lộc người vợ thứ hai có tài làm mắm cua chua, chị chịu đựng cảnh có chồng như không, nhưng chị chết sớm vì mụn nhọt độc trên mặt. Người vợ cuối thì chịu ở chung nhưng ngoại tình và có con với người khác. Tác giả tả chị Lộc "Trên thân người nở nang ấy, mọi hình nét đều có vẻ rộng rãi, dịu dàng. Ngững tầm mắt lên một thân người như thế người ta cảm thấy một cảm tưởng yên ổn trong tâm trí. Mặc dù khoảng ngực của chị có thể mở rộng và đầy, người nhìn thấy không hề bị khích động mà chỉ cảm thấy một thích thú thoải mái như là nghỉ ngơi. Trong âm thanh của tiếng nói, trong cái ngước mặt chậm chạp mà chắc chắn không ngập ngừng có một vẻ gì vừa hiền dịu vừa nhẫn nại, vừa vững chải vừa ổn định..."

Một người nữ dịu dàng hiền lành hiếm hoi, có thể đem lại hạnh phúc cho bất cứ người đàn ông nào, thương chồng dù bất lực, khiến anh Bốn Thôi "lần hồi tin cậy ở cuộc sống". Tình vợ chồng - dù sao đi nữa - càng rõ nét hơn khi chị Lộc chết, anh Bốn Thôi đã đêm hôm khuya khoắc vác cuốc đi thăm nước ngoài đồng, nhìn con đom đóm bay lập lòe rồi "gõ ngón tay vào cán cuốc kêu loong coong" mà hát ngêu ngao nho nhỏ một mình hiu quạnh - anh là người vẫn hay lẫn trốn cô đơn với thói vặt lông mũi như một cách "lặng lẽ tự xóa mình", cũng là lúc anh có thể mơ mộng triền miên.

Rồi chiến tranh, anh Bốn Thôi tầm thường trở thành biểu tượng. "Trong đời anh đã trầy lên trật xuống, nhục nhã nhiều phen vì vợ con, rốt cuộc là để gầy ra cái tập thể nhỏ bé trong đó anh cảm thấy yên tâm không cần biết đến cuộc sống mênh mông. Thế rồi mãi anh ta vẫn không được yên. Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng cầm vũ khí trong tay; anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ... và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc..." Trời, làm sao anh Bốn Thôi ở ngoài cuộc chiến được, một cuộc chiến tranh ác ôn, mà ác ôn nhất vẫn là ở chốn nhà quê! "Vậy mà hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở (...) Ở khắp các nơi trên thế giới, người ta theo dõi anh, bàn tán về anh...". Đáng chớ, vì Bốn Thôi chiến đấu và bị thương. Võ Phiến mỉa mai cay độc thời đại của ông, cuộc sống của ông: "Mà như vậy mới phải chứ, việc anh làm là nằm trong khuôn khổ cuộc tranh chấp giữa những lý thuyết lớn lao và cao đẹp mà (...) Thời kỳ này quan trọng. Công việc của những người như Bốn Thôi có ảnh hưởng tới mai sau. Nói một cách văn hoa, anh ta đang làm lịch sử đấy chứ; lâu nay anh ta vẫn rầu rầu làm ra lịch sử với một vẻ hững hờ, nhẫn nại".

Võ Phiến tiếc rẻ một người Nho học như ông tú Từ Lâm uống cà phê theo cách uống trà: "Trông hai bên Đông Tây gặp nhau tình cờ ở nơi cái già nua lẩm cẩm, ở những ngày tàn rất tiêu điều của ông tú Từ Lâm, người ta nghĩ thà rằng nó đừng gặp gỡ nhau lại hơn". Một Khổng Ất Kỷ (Lỗ Tấn) Việt Nam tàn lụi với thời thế, ở đường cùng, hành xử tồi tệ đến đáng thương hại! Võ Phiến còn đi xa hơn nữa, nghi ngờ cả cuộc đời, đạo lý, thấy Bốn Thôi phải nuôi lũ con ngoại tình của bà vợ thứ sáu, ông phán "Không hẳn là vui vẻ sung sướng", và khi thấy vợ Bốn Thôi đi ăn hàng nhưng chối là đi xin nước bún về cho con: "Kỳ thực ai cũng biết chị đã mất rất nhiều tiền lúc vào lò bún, mà không phải để uống nước cho khỏe. Bởi nước bún chẳng ai bán bao giờ".

Đấy là thế giới của "bà tôi", của kỷ niệm, của thế giới lờ mờ của dĩ vãng, của thế giới "mọi lần". Tập Thư Nhà chấm dứt trong bi quan, chậm chán, có cười thì cũng đắng cay: "Chiều vẫn còn mưa nữa trời. Những con én chiều bay lẻ đã lặn mất vào bóng tối". Đêm, bóng tối, cũng như mưa, những cơn mưa dài ngắn, được Võ Phiến liên tục dùng đến khi viết cũng như những ám ảnh và tâm sự của kẻ tha hương bàng bạc trong nhiều tác phẩm của ông. Thôn làng An Quí và thị xã Qui Nhơn, những nơi tác giả đã sống, trải dài trong nhiều tác phẩm của ông, truyện, tiểu thuyết cũng như tạp bút.

Cho đến khi Võ Phiến xuất bản Thư Nhà, miền Nam thanh bình, Võ Phiến bằng lòng với chế độ chính trị và xã hội, do đó ông hăng say về văn hóa, làm văn chương, đưa vào tác phẩm mình "một" sứ mạng văn chương nào đó; tuy nhiên không ồn ào như các nhà văn nghệ thuộc nhóm Sáng Tạo và Quan Điểm! Từ đầu thập niên 60, Võ Phiến đã chứng tỏ văn chương trưởng thành, tinh tế và điêu luyện. Và cũng từ thời gian này, ông nghiên cứu các trào lưu văn nghệ hiện đại mới ở các nước Âu Mỹ, cả Nga Sô; ông viết Tiểu Thuyết Hiện Đại (l963) và dịch nhiều tác phẩm hiện đại trong số có truyện của S. Sweig,... với bút hiệu Tràng Thiên cũng như mở nhà xuất bản Thời Mới. Và người đọc chứng kiến một Võ Phiến mới, rõ nét hơn. Nếu tìm ảnh hưởng của việc nghiên cứu này vào nghệ thuật viết của ông thì chỉ thấy ông phân tích tâm lý kỹ hơn, quá kỹ là khác và bi quan dai dẳng hơn. Có thể nói khó tìm thấy những tâm tình, cảnh vật và nhân vật hiện sinh trong tác phẩm của ông, khác với nhiều nhà văn đồng thời. Lối tả tỉ mỉ "lẩm cẩm" những vật tầm thường có thể hiểu như lối tả của Jean-Paul Sartre trong Buồn Nôn (La Nausée), thật ra gần với tâm tính con người Bình Định của ông hơn! Ông có bi quan, lạnh lùng nhưng thực chất tha thiết, có hậu, không như nhiều nhà văn theo khuynh hướng "tiểu thuyết mới" hay hiện sinh.

Những năm cuối thập niên 60, Võ Phiến có hai ám ảnh: một văn chương và một thời đại. Về văn chương, ông ngưng viết truyện ngắn, xoay qua viết tùy bút hoặc nặng tùy bút như Ảo Ảnh, Phù Thế, Thư Nhà. Về thế sự, Ông viết những nhận định về xã hội, văn hóa mà ông gọi là "tạp bút" (Tạp Bút l,2,3).

Một Mình (1965) là tiểu thuyết được viết vào năm 1963 nhưng xuất bản 2 năm sau, được coi như đánh dấu quặt văn nghiệp Võ Phiến. Khung cảnh địa lý Sài Gòn thay vì làng An Quí và thị xã Qui Nhơn quen thuộc, và không khí tiểu thuyết nặng nề khó thở như cuộc sống của Hữu, nhân vật chính. Con người trở thành đối tượng của ngòi bút Võ Phiến. Một con người cuộc đời tầm thường công chức nhưng sống xa lạ một phần như anh chàng Grégoire Samsa trong Métamorphose của F. Kafka, phần khác như anh chàng A. Roquentin trong La Nausée của Jean-Paul Sartre và Meursault trong L'étranger của Albert Camus.

Những cử động tầm thường của mỗi ngày trong công sở, những đợt xếp mới xếp cũ. Mỗi cử chỉ, mỗi đồ vật được Hữu gán cho đủ mọi lý luận và quan sát, nhất là từ những người đàn bà của đời chàng như Yến, Thúy Mẫn, Cúc, những người yêu công khai và lén lút, như Quỳnh, người vợ, như Châu, "cô bé", con ông ký Ngà, người bạn già, mà chàng yêu, cứ tưởng hết yêu rồi có lúc thấy như hãy còn yêu, như Nga, gái đĩ. Con người cuối cùng ra là bất khả cảm thông, kẻ này là "địa ngục" cho kẻ kia. Với Nga, Hữu "loay hoay vô ích" tìm cách "xông vào cuộc sống của kẻ khác. Dù nỗ lực thế nào chàng vẫn loanh quanh bên ngoài, trong sự lạnh nhạt: May lắm, là trong một thái độ lạnh nhạt ôn tồn, phải chăng, như của Nga đối với chàng (...) Nàng vẫn dễ dãi, buông thả, tử tế - mà dửng dưng, hờ hững, lãnh đạm, bất khả xâm phạm, bất khả kích động. Nàng vẫn cứ nguyên vẹn (...) nguyên vẹn mãi như nàng là khoảng không". Nhưng hình như trong tư tưởng, khi tâm hồn Hữu hạnh phúc, hân hoan thì chàng cũng đã cảm nghiệm rõ sự cảm thông "giữa chàng và người và cảnh xung quanh có một cảm thông tin cậy, có một hòa đồng khắng khít". Những giây phút ấy không nhiều, nhất khi chàng đã ra đời và bắt đầu bệnh hoạn, yếu đuối. "... bây giờ thì chàng tha hồ quấy động... vẫn không có tiếng vang dội nào. Lạnh lùng, im ỉm. Giữa chàng và bên ngoài, và người chung quanh, chỉ còn có những liên hệ vụ lợi, thực tế, cần thiết". Nhiều đồ vật ngày nhỏ, hột mụn nặn được ở vành tai, vết thẹo nơi xương bả vai cô đĩ, v.v. với Hữu, đều là "những kỷ niệm thân thiết lạ lùng"! Chàng, một con người quen "lặng lẽ chuẩn bị chu đáo", quen "thiết tha đeo dính vào cuộc sống, không chịu lỏng tay buông rời"! Một mình và cái tôi đáng sợ như câu nói của Jean Cau mà tác giả trích ở đầu tiểu thuyết: "Je suis seul et j'ai peur de moi. De moi! De moi!".

Đến giai đoạn cuối của thập niên 60, thời của trực diện, có các tạp chí Đất Nước (l1-1967), Tin Văn (6-1966), Đối Diện (7-l969), Trình Bày, Vấn Đề, Tiếng Nói, v.v... Nguy cơ đang đến với miền Nam khi chiến tranh đang lún sâu vào bế tắc và thất bại với một đồng minh ngày càng lộ thâm ý dùng miền Nam như một con cờ tráo bán. Võ Phiến chuyển sang viết nhiều tạp bút và tùy bút nghiêng hẳn về chính trị và cộng tác với đài Mẹ Việt Nam. Xã hội đang thay đổi nhiều, văn hóa đang mất giá trị, Võ Phiến phải lên tiếng. Nhà văn và giới trí thức hoang mang, bối rối trong một cuộc sống buồn vì chiến tranh triền miên không lối thoát, không khí buồn thảm của những cái chết, người dân ở thôn quê phải bỏ làng mạc chạy lên đô thị hoặc vào các trại tị nạn. Rồi đồng đô la của đồng minh tràn ngập xã hội miền Nam khiến đời sống và văn hóa phải đảo lộn, xáo trộn. Không lối thoát, mất tự tin. Thảm kịch của con người trí thức đứng trước con đường một chiều, không U-turn, cũng không thể chạy trốn thực tại, sai trái với "thiên chức" của mình.

Đàn Ông (1966): Thế giới đàn ông qua những người đàn bà Lê, Thục. Thường trực bị "sự đè nặng của cá tính đàn ông lên cuộc đời mình", chị Lê bỏ Qui Nhơn theo chồng tên Khảo, vào sống ở Sài Gòn, rồi có thai với nhân tình, rồi cặp với nhân ngãi khác. Chị luôn bị đàn ông ám ảnh; những cử chỉ thân mật hay một chi tiết nhỏ nhặt trên thân thể một người đàn ông cũng làm cho chị lo trước một chân trời mới và định mệnh của mình. Biết phải mất cuộc sống tự chủ nhưng lại thích bị khuất phục, thu hút. Cuối cùng vì quá tin cậy và thụ động trước số mệnh, vả lại thường bị dĩ vãng ám ảnh, chị rơi vào tay "vụng về" của ông tú Từ Lâm người làng chị cũng tìm vào đô thành. Chị bị ông làm "chuyện không đẹp, đáng giận" như bao đàn ông khác cuối cùng đều đi đến đó, nhưng ông tú già và dở, "không có gì cả, không có được chút gì... Sự cố gắng thất bại, cố gắng để tạo một mối liên quan gần gũi thực sự với kẻ khác". Thục, bạn giang hồ của chị Lê thì khác, vì đàn ông, Thục tự tử nhiều lần, tự tử như xúc máy vì sau mỗi lần, nàng như sống tại. "Đàn ông có thất bại chăng chỉ là sự nghiệp đổ vỡ, danh dự lem luốc: bề ngoài cả. Còn họ (đàn bà), mỗi lần họ thất bại là mỗi lần con người họ bị tổn thương, tâm hồn họ ê chề đau đớn; thân xác họ bị xúc phạm tới chỗ kín đáo nhất, thâm thiết nhất, trọn vẹn hồn và xác họ bị mất mát". Thân phận đấy chăng?

Ảo Ảnh (1967) gồm 7 bản văn được tác giả gọi là "đoản văn". Xem Sách lướt qua cuộc đời của một thi sĩ già với những chi tiết tầm thường của cuộc đời như mất người yêu, bút chiến nhưng tác giả đã ngừng lại lâu ở nơi "an tâm" của nhà thơ bên tủ sách. Khắc khoải trong một không gian lạnh lẽo nhưng có những cái mờ nhạt nhất của sự sống, gây phấn khởi nơi con người. "Giã từ cái dạ non của mẹ để ra ngoài đời, con người vẫn luôn luôn mơ hồ nhớ về cái quê hương nguyên thủy của mình, nơi mình đã trải qua một thời cô đơn trong ấp ủ ấm áp. Một nghệ sĩ già, thỉnh thoảng ngắm nghía mấy nhúm tóc bạc óng ánh như cước của mình, cần được ngắm nghía trong khung cảnh an toàn như thế chứ. Một nghệ sĩ già không vợ, không con, không còn cha mẹ, không còn liên hệ nào với làng quê của mình nữa. Một nghệ sĩ già sau ba mươi năm vất vả với những cảm nghĩ của chính mình, những đòi hỏi của kỹ thuật thể hiện, những khen chê của đời... Gian phòng, hãy tối lại một chút cho gần với cái ấm cúng trong lòng mẹ thủa nào...".

Người Chồng Bất Thường vì hình như thừa hưởng tính của tổ tiên hay ghen tương quá độ, ghen có thể vũ phu khiến gia đình tan vỡ. Thảm kịch qua người vợ, bỏ chồng xong lại thấy cuộc đời mình mất ổn định. "Những cái tát ấy làm cho tôi thấy trên đời có một ý chí xác quyết không phân vân. Ngày nào còn sống bên chàng, bên cạnh sự hung tợn dữ dội lôi cuốn của chàng tôi có cảm tưởng thế giới quanh tôi có vẻ vững vàng ổn cố. Bao giờ chàng cũng đi quá mức một chút, thật đáng tiếc. Phải chi chàng đừng chém, đừng có ý định giết tôi, tôi sẽ vui lòng ở mãi với chàng". Vì "Sự đe dọa của một ý chí, không đáng lo hãi bằng sự đe dọa của trống rỗng, của cái khoảng không, không chiều hướng, không ý chí trước mặt mình". Võ Phiến đã hiểu tâm lý những bà vợ bị chồng đánh nhưng vẫn vui sống bên cạnh!

Truyện Cái Còn Lại là một đào sâu quá khứ và vô thức, để tìm thấy và nhận chân những cái vụn vặt rườm rà tạo thành sự sống và nó thường nằm lẫn lộn đâu đó tưởng đã khuất trong khi có thể là ngọn đèn vàng cạch tầm thường, khuất lấp trong cái thường nhật vô danh như thế, vẫn sáng đâu đó nơi chàng suốt ba mươi năm". Nhưng tác giả đang triết lý "vụn" bỗng vội vàng nói đến những chuyện quan trọng của đời người: "Bây giờ là ba mươi năm sau... bây giờ mẹ chàng đã qua đời trên mười lăm năm, tóc trên đầu chàng, mười phần bạc đến bảy tám... sau khi chàng có người vợ thứ hai, người này gian díu với một thằng bạn khiến chàng nhúng tay vào một vụ sát nhân".

Năm Ba Lá Thư là những lá thư tình được hờ hững đọc lại, như cuộc đời buồn bã, không ý nghĩa. Truyện Ế Ị đưa người đọc đến với thế giới âm thanh lạc lõng một buổi trưa trong xóm nơi đô thị vốn ồn ào. Đó là tiếng rao mơ hồ, "giọng của một người xẩm, trong trẻo... Nó cất lên giữa khu phố như tiếng con chiền chiện ngoài đồng nọ. Cả hai đều làm cho trời thêm xanh, nắng thêm sáng, mây bạc phiêu phiêu thêm cao". Tiếng rao khiến anh công chức tên Đỗ cảm động và đồng thời nhớ đến sự thoải mái tươi mát của làng quê xưa, quá khứ đang "tiếp tục sống trong lòng hiện tại". Nhưng theo tác giả, "chờ đợi tiếng rao ngân nga nọ, như là đang vuốt ve một ảo tưởng thanh bình". Truyện Hội An khoác vẻ vừa nghiên cứu vừa triết lý, cũng là một khởi điểm để con người lắng nghe tiếng thở dài của thời gian và những xao xuyến của thời đại.

Đoản văn cuối, Giọt Cà Phê, gây nơi người đọc nhiều cảm xúc tột cùng. Chỗ ngồi nhìn phin cà phê nhỏ giọt là "chỗ u cốc ẩn cư tư tưởng của người đô thị". Và những giọt cà phê "rụng chậm" như là cái cớ để "chàng" nhớ dĩ vãng và cả những điều "nhảm nhí". Marcel Proust "đi tìm lại thời gian đã mất" khởi từ mẩu bánh quả bàng (madeleine) thời tuổi nhỏ. "Chàng" ở đây, từ những giọt cà phê chảy chậm nhớ lại những kỷ niệm, cả cuộc đời và cậu Bảy nghệ sĩ hay "nói" Vân Tiên, khiến chàng dù không sợ chạm trán với cái chết đã đi đến kết luận không thể "ghét bỏ cuộc đời này (...) Đó là chỗ nhược căn bản của con người (...) Mai sau khi chàng đã nằm kỹ dưới ba tất đất, áo quan lâu ngày - dù là thứ áo quan tốt của cửa tiệm danh tiếng bên kia lề đường - sẽ mục rã, chàng nằm yên tiếc rằng từ ngày chàng rời mặt đất sự chuyển biến trong thân thể chỉ xảy ra có một chiều, ngày mai mềm đến hai môi, ngày kia sập mất cái mũi... Cứ thế. Chán quá đi mất. Suốt mùa khô ráo thời gian dài bất tận, không có bình minh, hoàng hôn, không có đêm ngày, không có gì nhắc nhở đến cuộc sống trên kia. Thế nhưng khi mùa mưa đến thì khác. Nước mưa thấm vào đất, âm thầm len lỏi qua nhiều lớp đất, như qua một cái phin vĩ đại. Cuối cùng đến mặt áo quan, nó dừng một chút, lưỡng lự, ngập ngừng, thăm dò. Nhưng áo quan đã mục: nó được phép. Bèn có những giọt nhỏ xuống: một giọt bên phải, một giọt bên trái, một giọt... Thôi, đúng rồi! đúng vào cái nơi trước kia vốn là trái tim của chàng". Ý thức sáng suốt lẫn với hoang mang đau đớn của thân phận làm người. Như vậy ở cuối tập Ảo Ảnh, Võ Phiến tỏ lộ lòng tha thiết yêu thương con người, vì tình yêu đó mà ông đã không bỏ qua những chi tiết dù nhỏ nhặt của cuộc đời, những kỷ niệm dù kỳ quặc của kiếp người. Giọt cà phê mà lại soi sáng thấy rõ cái kiếp người!

Với Phù Thế (l969), Võ Phiến đi sâu chuyện thế sự và thể văn tùy bút mà xa lần thể truyện ngắn hay tiểu thuyết thông thường. Những đoản văn xen lẫn những suy tư miên man về những vấn đề hôm nay, về cuộc đời bị động, mơ tỉnh trộn lẫn với quá khứ và những hy vọng, chờ đợi cho ngày mai. Trong Một Ngày Để Tùy Nghi là suy nghĩ từ những tiếng động của chiến tranh và mưa rơi không dứt. Lúc Dừng Nghỉ khởi từ cuộc đời quay cuồng cùng phố xá ồ ào và chiến tranh, đưa tư duy đến những quan hệ với người khác, quan hệ như một ám ảnh thường trực. Một Chỗ Thật Tịch Mịch cần đến để lắng nghe cuộc đời dang tàn tạ, cái tàn tạ cũng là để dĩ vãng vùng lên, để những khắc khoải của tâm hồn day dứt. Thao thức trong vắng vẻ, một trực diện với mình "không nồng nàn". Không tha nhân, mà vật thì vô tri, xa vời!

Nụ cười dí dỏm, lối nói duyên dáng và con mắt tinh tế chính trị của nhà văn Võ Phiến buổi đầu văn chương, đến đầu thập niên 60 đã biến thành cay chua một cách sáng suốt và hài hước hậu ý giáo dục như Socrate ngày xưa khi bị chế độ xử án đã dám "làm hỏng" thanh thiếu niên. Sáng suốt nhìn thẳng, nói thẳng, đối đầu với vấn đề trước mặt, đi tới cùng tinh túy của sự thật. Từ châm chọc, bông lơn đưa đến bi quan tột độ chuyện thế sự, nhưng mà một bi quan có văn hóa, thâm trầm, không lộ liễu. Năm 1968, sau vụ tấn công tết Mậu Thân, ông viết hai bài tạp bút gây chú ý: Bắt Trẻ Đồng Xanh cảnh cáo hiểm họa kẻ thù vì nhu cầu chiến tranh sẽ bắt cóc trẻ con trong Nam đưa ra Bắc huấn luyện rồi gửi trả về chiến trường miền Nam. Bài Tiếng Cú cảnh giác cách giải quyết chiến tranh của miền Nam sẽ đến từ áp lực và công luận mệt mỏi. Cộng sản với Võ Phiến là một ám ảnh đời, một kinh nghiệm sống chết của riêng ông và vì thế ông biết là thảm họa chung.

Võ Phiến muốn thuyết phục bằng lý luận và chi tiết của sự việc hơn là bằng tuyên truyền và khẩu hiệu của các chính trị gia. Thâm trầm, tinh tế nhưng bi quan và hoài nghi thường trực, đồng thời đôi khi cũng từ bi, khoan dung với kẻ thấp và khinh miệt, uy dũng, lãnh cảm với kẻ cao. Và đến một lúc nào đó không thể đồng lõa với chính quyền - ông là một công chức cao cấp, ông đã lên tiếng: ngày 5-3-1969, cùng một trăm văn nghệ sĩ khác, ông đã ký kiến nghị yêu cầu chính phủ bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản. Hậu quả ông đã bị bãi chức chánh-sự-vụ ở bộ Thông Tin.

Võ Phiến, một nhà văn không tai tiếng, cần mẫn với văn chương, một công chức gần trọn đời, một giám khảo các Giải thưởng văn nghệ toàn quốc và hội viên Hội đồng văn hóa giáo dục trước và sau đó. Lên tiếng vì Võ Phiến nghi ngờ cái tuyệt đối, tuyệt mỹ. Cái đẹp đối với ông là những cái bình thường. Võ Phiến tiêu biểu cho con người bất mãn, với những kẻ tàn độc trong kháng chiến, trong cuộc sống; tóm, ông bất mãn với thực tại. Anh Bốn Thôi tầm thường, xấu trai, bất lực sinh lý, chỉ mong có được một cuộc sống bình thường mà không được, anh không theo thời, cuối cùng anh vẫn bị lôi kéo, cho nhập cuộc, nhập phe! Thao thức, ước vọng, hay Võ Phiến góp tiếng nói trách nhiệm của mình! Trong một hoàn cảnh bi đát, đã trễ!

Đọc Võ Phiến không dễ, vì đọc ông không phải để cho qua thì giờ. Đọc xong thường người đọc bàng hoàng, nghi ngờ, có thể ý thức mệt mỏi, lo hơn, dằn vặt hơn: những cuộc đời quê mùa, những kẻ bình thường nhưng sao phải khốn cùng, khắc khoải? Nhân vật của Võ Phiến là những con người cục mịch, quê mùa, với những cái tên gợi hình như chị Bốn Chìa Vôi, anh Bốn Thôi, Ba Càng Cua, Ấm Sứt, Hai Mỏ Gẫy, Tư Huệ Héo, gợi cảm như ông tú Từ Lâm, anh Nam Hà, Thập Tam,... Họ, nhiều người nét mặt "rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc", một rầu rầu bình thản hoặc rầu rầu vì lạc loài, phải sống âm thầm nhưng tâm hồn thì sôi sục đầy khắc khoải, khát vọng thường cũng rất bình thường, có khi là một nỗi cô đơn hiu hắt, có khi là những mất quân bình đáng thương hại. Họ sống cho kỳ vọng của mẹ cha hoặc sống vì người khác.

Võ Phiến không dựng những nhân vật lạc quan hoặc có cuộc sống hạnh phúc từ đầu đến cuối. Không chiến tranh thì cũng ai đó trong gia đình dòng họ xóm làng làm rốt cuộc đời lặng lẽ. Mà cái lặng lẽ này cũng đầy nghi ngờ vì ngầm chứa những oán thù, nợ nần, truân chuyên... chỉ đợi lúc bùng vỡ. Làm người dân thường như những nông dân của Võ Phiến cũng không dễ, mà những nông dân cục mịch đó cũng ngày càng biến dạng trong văn chương Việt Nam và ở ngoài đời họ cũng đô thị hóa tại chỗ với TV, ca nhạc, vật dụng thường nhật và y phục. Nhưng tâm hồn họ? Trong tình cảnh lưu vong của nhiều người Việt hiện nay, nhất là lưu vong dứt khoát không ỡm ờ, đọc chuyện nông dân của Võ Phiến lại càng thấm thía hơn, một thấm thía trong bất lực, như một dĩ vãng đã quá tầm tay với!

Cái bi quan của Võ Phiến, cái không khí buồn tột cùng hay bất lực trong tác phẩm ông, như đã lây đến thế hệ viết văn trẻ hơn ông như Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Ngọc Tuấn, Trần Thị NgH., v.v. Ở hải ngoại sau 1975, Võ Phiến sẽ đẩy cái bi quan khi nhẹ khi mạnh thời trong nước thành một loại bi quan bi đát, ông cười cợt cả số mệnh mà hình như ông cũng ở trong cái đối tượng cười cợt đó. Và bảo thủ như chưa từng. Ở đường cùng, tối tăm, bơ vơ, bức tường đã chắn, như thân phận thật sự "lưu dày" của người Việt tự do sau ngày 30-4-1975. Quá đau khổ chăng, tuyệt vọng chăng?

Phải chi Võ Phiến tiếp tục dùng tài điêu luyện tâm linh và bén nhậy để viết về con người hôm nay ở những năm cuối một thế kỷ, khi mà âm khí nặng nề và tâm linh thể hiện dưới nhiều hình thức và ảnh hưởng nhiều đến người Việt nhất là ở hải ngoại! Những chị Lộc, chị Lê, Hữu, Khảo, anh Bốn Thôi, ông tú Từ Lâm, ... cũng nhiều mà những Trần Hùng, Trần Kỳ Vỹ, Phùng Văn Nước, Hoàng Gia Lộc, bác Đại Cuộc, ... cũng không thiếu! Nhưng đa số nay mặc đồ lớn, thắt cà-vạt, lái xe hơi, mà nếu có lâm vào tình trạng như chị Lộc cũng đã có trả lời sẵn của ... xã hội! Võ Phiến là một nhân chứng của thời ông và là một nhân chứng can đảm và bi quan. Hôm nay nhìn lại, ông đã không phải không có lý: 30 tháng 4, trại cải tạo, những con người mất ... nhân tính, tù đày vì lời nói, lương tâm, v.v...

 

9-9-1998
Nguyễn Vy Khanh
Văn Học Việt Nam Thế Kỷ 20
Một Số Hiện Tượng và Thể Loại
Nxb Đại Nam, 2004

Chim và Rắn: cái nhìn tương đối trong văn chương Võ Phiến
                                                          ĐẶNG TIẾN

"Sau khi mình chết mà con cháu có làm tới quận công, sao bằng đang sống mà gặp được sự chung tình
." (Võ Phiến)

                    

Tạp chí Văn học (Cali) có lần đã đăng một tạp luận của Võ Phiến: «Đối thoại về thịt cầy».

Người quen đọc Võ Phiến sẽ ngạc nhiên: cái gì vậy cà? Xưa nay có bao giờ nghe Võ Phiến đòi đối thoại? Hai chữ đối thoại nó lơ láo trong từ vựng Võ Phiến. Và sao lại đối thoại về thịt cầy, một món ăn mà ông chưa chắc đã sành ? Ông đã viết về thịt ếch, thịt rắn, thịt rùa, có nghe chuyện thịt cầy bao giờ đâu? Chắc là ông ngụ ý cái gì đây. Tôi lại có dịp suy nghĩ thêm về tác phẩm Võ Phiến.

Ngày nay, chúng ta đang có gần đầy đủ tác phẩm Võ Phiến qua bộ Toàn tập mà nhà xuất bản Văn Nghệ đã dần dà in ra từ nhiều năm nay. Võ Phiến sử dụng nhiều thể loại, và qua các tập Tùy bút, Tiểu luận, ông đề cập tới nhiều đề tài: cái ăn, cái mặc, cách nói, cách viết, cỏ cây, chim cá, người ngợm; trong văn học, ông viết về truyện dài, truyện ngắn, truyện xưa, truyện nay, từ câu thơ tám chữ đến bài chòi. Lạ là ông chưa viết gì về món hát bội, nay gọi là tuồng cổ, một thể loại đặc biệt của quê ông, như Tản Đà đã có lần nhận xét: Tuồng Bình Định, rạp Phú phong. Sao lại có sự thiếu sót đó ? Võ Phiến nhất định phải hiểu biết về tuồng, trong cái nôi văn thơ của tuổi thơ, bằng cớ là có khi ông trích một đoạn tuồng dài của Tú Thận: «Ãi ãi quan hầu nhập yết nhập yết…» trong truyện Về một xóm quê (1957).

Suy nghĩ lang bang, tôi chợt nhớ đến truyện ngắn Trăng lu của Lê Vĩnh Hòa được xây dựng trên một vở tuồng, Trảm Trịnh Ân. Lê Vĩnh Hòa là em ruột Võ Phiến, theo kháng chiến từ thời chống Pháp rồi chống Mỹ. Võ Phiến, thỉnh thoảng rời rạc đây đó, có nhắc đến em mình một cách gián tiếp, như trong truyện Anh em (1957) « từ khi quê quán chúng tôi trải qua những biến cố to lớn… thì em Tân tôi đã xử sự ra một người dân đầy trách nhiệm. Nó mạnh dạn rời bỏ gia đình tham gia vào cuộc chiến đấu dài suốt mười năm (…) Nó hết lao những mũi nhọn vào ngoại địch thì liền quay lại lao vào những người đồng bào khác thành phần. Nó cất phương tiện chiến đấu thời loạn mà dùng một phương tiện chiến đấu thời bình. Nói cách khác, nó làm văn sĩ, một văn sĩ chiến sĩ. Nó viết những câu não nuột, ai oán về những cuộc sống bần hàn trong sạch giữa một xã hội bẩn thỉu, nhớp nhúa. Nó thành hẳn ra một kẻ hiệp sĩ hào hoa của thời đại đấu tranh giai cấp rồi.

Còn tôi (…) tôi cũng lìa bỏ gia đình ba má tôi, nhưng không phải để tham dự vào một sự nghiệp cách mạng nào.» («Anh em» đăng trong Đêm xuân trăng sáng, nxb Nguyễn Đình Vượng, Sài gòn 1961, tr. 150, in lại trong Truyện ngắn 1, nxb Văn Nghệ, California 1987, tr. 162, có lược bỏ một đoạn.)

Đoạn văn mỉa mai, chua chát mà vẫn đằm thắm. Hai nhà văn anh em đã chọn những con đường khác nhau, vì đã có hai lối nhìn khác nhau về cuộc sống. Tôi xin trở lại chuyện tuồng hát bội với một giả thuyết : Võ Phiến chưa viết gì về hát bội vì nghệ thuật tuồng xa cách với nhãn giới ông : tuồng là một nghệ thuật cách điệu – «dưới chân không ngựa cũng ra roi» - và những nhân vật cường điệu, bị đẩy tới cực độ của cái tốt và cái xấu: những Tần Cối hay Nhạc Phi, Tạ Thiên Lăng hay Khương Linh Tá đều không xê dịch được trong không gian Võ Phiến trong đó «một con nhện đu đưa ở đầu một sợi dây tơ thả lửng lơ giữa nhà. Một con ong bầu bay quẩn vài vòng rồi chui vào cái lỗ khoét ở lòng trính. Một con chuột nhỏ, thấy im vắng chạy ra đến giữa nền nhà, rồi ngập ngừng, đứng lại, quơ cái đuôi nhọn một cách e ngại. Con nhện chạy quanh cây cột rình bắt con ruồi. Và bụi mọt lặng lẽ rơi lên mặt chiếc phản gỗ ở phía chái nhà trên… và mỗi tiếng trở mình của tôi trên chiếu đủ làm kinh động cả cái thế giới những con chuột con dán.» (Thư nhà, nxb Thời Mới, Sài gòn 1962, tr.128. In lại trong Tùy Bút II, nxb Văn Nghệ, California 1987, tr.100.) Thế giới ấy làm sao chịu nổi tiếng la hét “ãi ãi quan hầu nhập yết nhập yết” của hí trường hát bội? Và sân khấu tuồng cổ làm sao dung dưỡng được “những nhân vật rầu rĩ lố lăng, không hứa hẹn một vinh dự gì cho chỗ quê hương”? (Thư nhà, câu cuối).

Có lẽ vì vậy mà chưa thấy Võ Phiến viết gì về hát bội chăng?

1. LẼ SỐNG

Ta hãy đi xa hơn vào tư tưởng của tác giả Về Đâu. Trong tập truyện Đêm xuân trăng sáng (1961) truyện ngăn “Lẽ sống” mang cái tên tiêu biểu, kể cuộc đời một ông già, ông Bốn Tản – vì là người tản cư – trôi giạt từ Quảng Nam vào Bình Định, một thời gian sống nhờ gia đình người kể chuyện, rồi tấp sang những đứa cháu hờ, nhận ông là bác, để sai vặt không công. Cuối cùng sống nhờ vào một cô gái điếm, già và nghèo, ông bị hàng xóm phê phán “một ông già nhà quê tuổi trên tám mươi làm sao có thể đến ở bên cạnh chứng kiến sự làm ăn của một người đàn bà giang hồ (…) Nó ngủ với khách thì ông ta gác cửa. Đêm nào nó đi chơi thì ông già giữ nhà (…) cái ông già này trời hành”. Kết cuộc, ông cụ chết thê thảm trong một tai nạn xe cộ, để lại một bọc giấy. “Tôi lại mở gói giấy ra thì là hai chiếc quần lót và một cái “xu-chiêng” đàn bà (…) Của con đĩ già, tôi gật đầu. Còn lại một ít máu phọt từ chỗ sọ vỡ của ông Bốn Tản và mưa bay mây mù giữa đồng” (Truyện “Lẽ sống” trong Đêm xuân trăng sáng, tr. 62, 73 và 74).

Chúng ta ghi nhận ở đây sự hoài nghi của Võ Phiến trước những lý tưởng đạo đức và chính trị lớn lao, xa vời. Có những người chết vì trung quân ái quốc, vì một lập trường, chính kiến, thì cũng có người chết bên cạnh, chết với, chết vì một ít đồ lót của con đĩ già, và Lẽ sống của họ dừng lại chỗ ấy. Các đạo lý, tôn giáo, chế độ chính trị tìm cách nâng cao lẽ sống con người, nhưng đồng thời cưỡng ép con người khi phải nhón gót, khi phải quì gối, khom lưng cho vừa với tầm thước một lý tưởng nào đó. Con người không phải ai cũng có, hay có khả năng có, một lý tưởng ; đa số tìm thấy hạnh phúc trong lẽ sống tầm thường nhất; “một ít đồ lót của con đĩ già” là một biểu tượng, nó thô bạo vì nó trả lời lại một xã hội thô bạo, một giai đoạn lịch sử thô bạo, một ý thức hệ độc tài đàn áp, trấn áp con người bằng những lý tưởng, lập trường, quan điểm. Con người không phải ai ai cũng yêu nước. Thế mà tôi buộc anh phải yêu nước; không phải yêu nước một cách tự nhiên, chung chung, mà bằng lập trường giai cấp, trên quan điểm này, chỉ thị nọ, nghị quyết kia. Võ Phiến đã nêu lên vấn đề tự do con người, trước những giáo điều nói chung, chứ không riêng gì với người cộng sản. Nhưng người cộng sản cảm thấy bị va chạm và tổn thương nhiều nhất, vì lập trường và vị trí độc tôn của họ. Và họ xúm vào xỉ vả Võ Phiến, gọi ông là “biệt kích văn nghệ”; họ chửi bới hạ cấp mà không chính xác, nên vô hình trung, làm quảng cáo cho Võ Phiến, biến ông thành một thứ lãnh tụ chống cộng, điều mà ông vẫn mang ra chế riễu.

Truyện Lẽ sống đã đưa hình tượng đến lằn mức giới hạn, để chúng ta có thể hiểu rằng: cuộc sống, tự nó, là lẽ sống. Không cần tìm ý nghĩa cuộc sống ở đâu xa: sự sống, trong mỗi hơi thở của mỗi tế bào, đã mang ý nghĩa của nó. Lịch sử trong giai đoạn khắc nghiệt đã lất át ý nghĩa đó, nhưng không thể hủy diệt vì nó là cơ bản, là nhựa sống của nhân loại. Võ Phiến đau đớn và chua cay, nhưng công bình và thân ái, đã nhận xét: “tiếc thay cuộc tranh chấp lớn lao thường khi bị bắt buộc phải khuấy động đến cả những đời sống hèn mọn, phải dùng đến những phương tiện nhỏ ấy, để làm ra cái lớn lao” (Thư nhà, tr.148). Làm ra cái lớn lao? Làm lịch sử là một cách… viết tắt – chữ của Võ Phiến đấy!

Cái lớn lao và những cuộc đời nhỏ nhặt là một chủ đề thường xuyên lảng vảng trong văn chương Võ Phiến. Truyện Về một xóm quê bắt đầu bằng cái chết của một người anh: “Khi anh tôi đi chuyến dân công cuối cùng, anh không cho giặt chiếc chiếu vẫn lót cho đứa cháu trai đầu lòng mới mười ba tháng, anh muốn mang theo cả mùi nước tiểu của con để những đêm nằm trên núi bớt nỗi nhớ con… Anh Hai tôi chết không có mồ, và cũng không chắc được vùi đến ba tấc đất”. (Trong Đêm xuân trăng sáng, tr. 310).

“Chuyến dân công cuối cùng”… tác giả không xác định thời điểm, nhưng người đọc đoán là chiến dịch Tây Bắc khoảng 1953-1954 đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ. Chúng ta không bình luận về những mất mát trong chiến tranh – họa sĩ Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong chiến dịch này – mà chỉ ghi nhận hình ảnh người công dân đi làm nhiệm vụ - thành tâm hay miễn cưỡng, có hay không có ý thức công dân – đã mang theo mùi nước tiểu của đứa con thơ. Liệu những nhà lãnh đạo chính trị sẽ đánh giá ra sao? Dù sao những con người tầm thường ấy – mà xã hội cho là thấp kém – lâu nay vẫn rầu rầu làm ra lịch sử với một vẻ hững hờ, nhẫn nại –(Thư nhà, tr. 149), nhưng lúc cần thì cũng phải tàn bạo, như Bốn Thôi trong Thư nhà “tên địch đã bị bác ta đập một báng súng vào đầu, tên ấy vẫn còn bị nằm đó” (tr.146). Tôi chạnh nhớ đến truyện Đôi mắt (1947) của Nam Cao: “vô số những anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm đến vợ con”. Dĩ nhiên, những người ấy sẽ là những anh hùng dũng sĩ, họ được hưởng những vinh quang mà đa số nhân vật Võ Phiến không bao giờ mơ tưởng. Nhưng có quả thật người chiến sĩ của Nam Cao không hề bận tâm đến vợ con không? Trên căn bản người dân quê Việt nam có thật khác nhau như thế không? hay chỉ có những lối nhìn khác nhau về con người, những quan niệm khác nhau về Lẽ sống?

2. CHIM VÀ RẮN

Con người vươn tới một lý tưởng, giống như lực sĩ nhảy sào, lấy trớn, bám vào cây sào, nhảy cao, càng cao càng hay, mà không còn suy nghĩ gì nữa : con người có lý tưởng khi lao vào trận tuyến, e cũng đến thế thôi. Nhưng trước đó, hay sau đó, nhất định họ đã suy nghĩ, phân biệt cái tốt và cái xấu, điều đúng với điều sai. Nếu họ không suy nghĩ sâu xa, thì sẽ có người làm giúp, viết thành những cương lĩnh lý thuyết tràng giang. Nói chung lý tưởng là một hiện tượng xã hội, dần dà điều kiện hóa con người; nó là ý thức chủ đạo – conscience dominante – theo lời người mác-xit ; nó là “đại học chi đạo” trong xã hội Khổng giáo. Nhưng khi xã hội điên đảo thì tư tưởng chủ đạo cũng lung lay. Chúng ta còn nhớ chuyện thời chúa Trịnh, Lê Duy Mật khởi loạn, bắt được Phạm Công Thế và hỏi “Ông là người khoa bảng, sao lại theo nghịch?” Thế cười trả lời “Lâu nay danh phận không rõ, lấy gì phân thuận nghịch?” Hoặc lời nói của Nguyễn Trang khi lừa bắt được chúa Trịnh Khải nộp cho Tây Sơn ”Sợ thầy không tày sợ giặc, quí chúa không bằng quí thân”.

Đất nước Việt Nam đã chịu đựng những trận chiến tranh ghê gớm. Ngày nay, có kẻ đã tổng kết số bom đạn trút xuống làng mạc chúng ta. Có ai tính sổ được những tang tóc, mất mát, thù hận trên đất nước ? Ngày nay, những chính nghĩa đốp chát nhau chan chát, còn những vết thương đang âm thầm nhức nhối có bao nhiêu nhà văn chịu lắng nghe, bên ngoài những gào thét thị phi ?

Những đau thương câm lặng của người dân vô tội, được Võ Phiến gói ghém trong một truyện ngắn. Chim và rắn (1967), đăng ở tạp chí Bách Khoa (số 265-266 ngày 15-01-1968). Khi xin phép xuất bản, truyện đã bị kiểm duyệt của Sài Gòn thời đó gạch xóa rất nhiều – dường như là tác phẩm Võ Phiến bị kiểm duyệt chiếu cố nhiều nhất (Bách Khoa (phỏng vấn) số 302 ngày 11-08-1969), in lại trong Tạp bút, nxb Văn Nghệ, California 1989, tr. 408). Truyện kể lại những tàn phá của chiến tranh trên cuộc đời của chị Bốn Chìa Vôi, một phụ nữ nông thôn trong một làng xôi đậu ở miền Trung, “một người nghèo rớt mồng tơi, nhà dột cột xiêu, một chị đàn bà lôi thôi lếch thếch vú bỏ lòng thòng… Chị kiếm củi, mò cua, bắt ốc, lúc ở mép suối, lúc ven rừng ven đồi”. Nhờ vậy mà chị có thể vừa làm bạn với Chim, vừa làm bạn với Rắn, trong khi loài người thích chim mà sợ rắn. Chồng bị bom chết, chị gả con gái cho một hạ sĩ quốc gia, tiệc cưới gần tàn thì bị ném lựu đạn, “anh hạ sĩ chết ngay tại chỗ, còn chị Bốn Chìa Vôi thì đứt đi nửa ống chân, khắp người lỗ chỗ đều có mảnh lựu đạn ghim“ dân làng đồn rằng chính đứa con trai chị Bốn theo “lực lượng” đã ném lựu đạn để trừng phạt người em gái lấy lính ngụy. Chị được chữa chạy tại tỉnh lỵ, có khả năng tìm việc làm tại thành phố, nhưng rồi vẫn về quê.“

“Chị trở về làng làm gì? chị đã mất một người chồng, một đứa con rể ở làng. Một đứa con gái dở dang và một đứa con trai thất lạc. Như vậy không đủ ê chề rồi sao ? chị còn trở về làng làm gì với thân hình thủng nhiều vết và với cặp nạng ? Để có thể thản nhiên trở về chỗ tử địa, chỗ sấm sét ấy, con người phải được hướng dẫn bởi một thứ tình cảm mãnh liệt, không biết là thứ tình cảm gì tốt hay xấu, nhưng nó phải thật sự mãnh liệt. “Chị về không phải vì tình yêu làng mạc, không phải như Thập Tam trong Thư nhà ngày áp Tết về làng để nghe tiếng gà gáy hay chó sủa. Chị Bốn Chìa Vôi về làng là để trả thù.“ Có người nói chị bây giờ như con hổ thọt, chị dữ tợn vô song. Thằng Bướm bị phục kích hai lần, đều do chị mách. Ba Thiên cho vợ về quy chánh (…) chị Bốn Chìa Vôi cứ lồng lên : nó mang nợ với đồng bào nhiều quá lắm. Nó phải trả. Hồi chánh thế nào được (…). Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng. Biết bao giờ gỡ cho xong. Nhưng họ say rồi, họ bị hút vào cơn lốc…”

Chim và Rắn ngoài những đặc sắc riêng, còn tổng hợp được nhiều ý tưởng và phong cách Võ Phiến. Ở đây, tôi chỉ ghi lại hai điểm: cái nhìn tương đối của tác giả đối với cái tốt, cái xấu. Người kể chuyện “tôi” nâng niu một cánh hoa lan vì “một vết trắng trên lá lan” mà ông tưởng là phân chim: lòng vẫn tiềm tàng một niềm khao khát nhớ nhung. Bỗng nhiên gặp một giọt phân chim, niềm vui bừng dậy. Nhưng vài hôm sau mới biết đó là phân một chú thạch sùng, một loài bò sát như rắn, sự ngộ nhận không thể tha thứ được, một sai lầm nham nhở, bẽ bàng.

Cái tốt với xấu, chính với tà, chân với ngụy, có lúc cũng như “một vết trắng trên lá lan” – phân chim hay là phân rắn. Nhưng điều nguy hại – điểm thứ hai – là nó đã đưa đến hận thù, đã biến một phụ nữ chất phác, hồn nhiên như chị Bốn Chìa Vôi thành một con vật chính trị hung bạo, “một con hổ thọt, dữ tợn vô song, đứng về phe nhất định đòi nợ”. Và Võ Phiến, từ 1967 đã bày tỏ một ưu tư lớn về dân tộc, một ưu tư chính đáng, ngày nay, hiện giờ đang dày vò, hành hạ lương tâm người Việt chúng ta.

“Mai sau, khói lửa với quằn quại chấm dứt, nhưng cái nét tàn nhẫn nọ rồi có sẽ lưu lại như một di tích trong tâm hồn chị và những người như chị , lưu lại như một thêm thắt vào cái vốn các đặc tính truyền thống của dân tộc chăng ? (…) Chém giết lọc lừa suốt một phần tư thế kỷ, như thế liệu có thành một tập quán sinh hoạt gây một tệ hại tâm lý?”

Chúng ta vốn tự hào về truyền thống dân tộc. Nay truyền thống ấy được thắt thêm một cái gút hận thù. Nên tự hào thêm chăng ? Tôi bâng khuâng nhớ đến ông Bốn Tản trong truyện Lẽ sống ở đầu bài này, một ông già nhà quê trên 80 tuổi … còn lại một ít máu phọt từ chỗ sọ vỡ … một ít đồ lót của con đĩ già…

Lẽ Sống của ông già nhà quê, chắc gì đã nhảm nhí? Và “mưa bay mây mù giữa đồng”

Tôi lạc đề rồi. Nay xin trở lại với đề bài. Nghe Võ Phiến đòi “đối thoại về thịt cầy”, mình bèn ham, muốn thừa gió bẻ măng, đối thoại với Võ Phiến một mách, về một món ăn mà mình có nhiều hy vọng sành hơn ông ta. Nhưng nghĩ mãi không ra ý. Nghiệm cho cùng, ăn vẫn dễ hơn là viết.

Thịt cầy, người ta ăn hay không ăn, thích hay không thích, chẳng có gì phải đối thoại. Dù cho thi hào Nguyễn Du có thích thịt cầy, hay người Mỹ, đỉnh cao của văn minh công nghiệp, có không chấp nhận thịt cầy như Võ Phiến đã ra công trình thuyết, thì cũng không ảnh hưởng gì đến mùi vị một món ăn. Đối thoại về thịt cầy nghĩa là… không đối thoại gì cả. Nghĩa là tắc tị ! Như những lời qua tiếng lại về văn học, về chính trị hiện nay. Ông Ba Thê Đồng Thời thế mà thâm.

Sống, chó được phân chia thành nhiều loại, đẳng cấp phân minh. Chết, chỉ còn lại hai loại: chết có ích, chết trên mâm cơm, để bồi dưỡng cho nhân loại tiến bước, vươn lên lý tưởng, chết như vậy là cầy. Còn chết bình thường, dù cho mồ yên mả đẹp, vẫn là chó; chó chết còn tệ hơn chó sống. Gọi nhau là “đồ chó” đã là tệ, chửi là “quân chó chết” còn nặng nề hơn. Cái đạo lý của con người, kể ra cũng sơ lược.

Chiều cuối năm. Nhớ bạn hiền. Mùa đông chiều xuống sớm. Chưa thèm rượu mà đèn đường đã sáng. Nhớ xa xôi. Nhớ một câu văn Võ Phiến không biết đọc ở đâu. Có thể không phải Võ Phiến. Chỉ đơn giản thế này thôi:

    “Trời! một ngọn đèn vàng cạch tầm thường khuất lấp trong một cái thường nhật vô danh như thế, vẫn sáng đâu đó nơi chàng suốt ba mươi năm (…)

    “Chiều vẫn còn mưa bay nửa trời, những con én chiều bay lẻ đã lặn mất vào bóng tối…”.

Chiều nay 28 -9 -2015, ngọn đèn đã tắt.

Và con én chiều bay lẻ đã vĩnh viễn lặn mất vào bóng tối.

Viết 1991, cập nhật cho ngày tang Võ Phiến
Orléans, 29-9-2015
Đặng Tiến
(Nguồn: diendantheky.net)

Phụ chú:
Sinh thời Võ Phiến đã tâm đắc với bài này, nên chọn in lại trong tác phẩm Đối thoại (nxb Văn Nghệ, California, 1993) với ghi chú trong phần phụ lục : “thiên bút ký của nhà phê bình văn học Đặng Tiến , nhân một bài văn mà nhìn lại một đời viết lách, nhận định sâu sắc, lời lẽ thấm thiết : những suy tưởng, thuyết luận trong phong cách một bài thơ “ (tr. 125).

             Tạp-Chí Bách Khoa Và Văn-Học Miền Nam
                                                                 Nguyễn Vy Khanh

"Rồi sau hai tạp-chí Sáng Tạo và Chỉ-Đạo cũng ra mắt cùng tháng 10 năm 1956, là tạp chí Bách Khoa số 1 ra mắt ngày 15 tháng 1 năm 1957 và số cuối 426 ra ngày 20 tháng 4 năm 1975. Tòa soạn đặt ở số 160 đường Phan Đình Phùng, Sài-Gòn. Năm 1957 là năm có nhiều biến cố văn-hóa và chính-trị quan-trọng: Đại hội Văn-hóa diễn raở Huế do chỉ đạo của cố vấn Ngô Đình Nhu từ ngày 6-1-1957. Viện đại học Huế cũng được mở cùng năm (khánh thành ngày 12-11) và Văn Bút cũng được thành lập ngày 21-10. 1957, năm của một khởi đầu văn-hóa miền Nam tự do!

Tạp-chí Bách Khoa xuất thân từ Hội Văn-hóa Bình-dân (có trường Bách khoa bình dân) và theoNguyễn Hiến Lê, nhóm chủ trương “xin được nhãn báo (manchette) của tờ Bách Khoa bình dân đã chết từ số 2, cắt hai chữ “Bình dân” đi; rồi hùn nhau để tục bản”(1). Bách Khoa trong Thay Lời Phi Lộsố ra mắt 15-1-1957 xác định mục đích của tạp chí: “quy tụ mọi người không cần cùng một tôn giáo, một quan điểm chính trị, một tổ chức chính trị chặt chẽ mới có thể trở thành bạn đường trong lúc tìm
kiếm bất chấp đến dĩ vãng nếu hiện thời đi cùng một con đường” đồng thời cho biết bài vở “không cứ phải cao siêu, vì trải nghiệm của người lao động cũng quan trọng như lý thuyết của học giả” mà cũng không nhất thiết “chỉ nói về một tôn giáo, vì đạo đức của Phật giáo cũng đáng để ta tôn trọng như lòng nhân ái của Chúa Jesus”. Trong số đầu tiên này Phan Mai (Nguyễn Văn Trung) giới thiệu 'người' trong
tác phẩm của Saint-Exupery, Huệ Châu nói đến địa vị của nhạc Jazz trong nghệ thuật hiện đại, Văn Quỳ viết về văn chương nước Mỹ; ngoài ra Huỳnh Văn Lang và Bùi Văn Thinh nói đến kinh tế, thương mại, Phạm Ngọc Thảo cho biết thế nào là quân đội mạnh, v.v. Hoa-Kỳ đã để lại dấu ấn ngay từ những số đầu – một cuộc chiến văn-hóa tranh với ảnh-hưởng Pháp!Tạp-chí Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều khiển và viết bài về kinh tế; Phạm Ngọc Thảo viết về
quân sự, chính trị, ... Năm 1958, Lê Ngộ Châu điều hành khi ông Lang đi tu nghiệp ở Mỹ, nhưng báo vẫn đứng tên Huỳnh Văn Lang cho đến tháng 2-1965 dù sau đảo chánh 1-11-1963, ông Lang bị đảo chánh bắt vì tội ... Cần Lao. Bách Khoa cũng từ tháng 2-1965 phải đổi thành Bách Khoa Thời Đại, Lê Ngộ Châu đứng tên chủ nhiệm, và đến tháng 1-1970, lấy lại tên Bách Khoa. Thời đầu tạp-chí được tài trợ và nhận quảng cáo liên tục từ các công ty lớn, về sau một số các cơ quan, công ty vẫn tiếp tục
đăng quảng cáo cùng được sự hổ trợ của các viên chức cao cấp và cuối cùng là do độc giả ở Sài-Gòn và miền Trung ủng hộ. Tuy nhiên sau vụ Tết Mậu Thân 1968, độc giả miền Trung bị giảm, mà vì giấy báo, nhân công nhà in theo đà vật giá gia tăng do đó Bách Khoa phải giảm số in; thời 1959-1963 mỗisố bán được từ 4500 đến 5000 trong đó 1000 độc giả mua dài hạn 100 ở ngoài nước (2), sau 1968 xuống còn phân nửa và nhân viên tòa soạn chỉ còn hai người, cho đến ngày đình bản, cuối tháng 4-1975. Và hình như Bách Khoa là tạp-chí duy nhất của miền Nam thời này mà các số đầu phải in lại theo nhu cầu của độc giả!..."

                                      Toàn bài viết của Nguyễn Vy Khanh (pdf)

      

                                Hai lần gặp Võ Phiến - Song Thao

         

Từ trái: Ông bà Song Thao, ông bà Võ Phiến, Ông bà Thành Tôn, nhà thơ Đạm Thạch (Hình chụp tại nhà ông bà Võ Phiến. (Santa Ana, 02/2010)

Nguyễn Mộng Giác là người đưa tôi tới gặp Võ Phiến lần đầu vào cuối năm 2006. Chính xác là vào đúng ngày lễ Giáng Sinh năm 2006. Lúc đó anh Nguyễn Mộng Giác chưa vướng căn bệnh ung thư gan ác nghiệt và nhà văn Võ Phiến còn rất khỏe mạnh. Võ Phiến là tác giả tôi mến mộ từ tạp chí Bách Khoa ngày nào. Từ thời sinh viên, tôi đã quen với anh Bốn Thôi nhổ cái lông mũi mà tốn bốn trang giấy in. Võ Phiến là nhà văn có lối viết tỉ mỉ, rề rà mà nếu không quyến rũ được người đọc thì dễ làm các độc giả bỏ cuộc. Tài của Võ phiến nằm trong việc níu kéo được người đọc ở lại với nhân vật của ông. Nhưng có lẽ ông chẳng cần níu kéo. Chính cái rề rà của ông làm cho nhân vật của ông rõ nét hơn, thân mật với độc giả hơn.

Trên xe, trước khi tới nhà, tôi phân vân không biết xưng hô làm sao. Trước đó tôi đã nghe một vài bạn văn cho biết là Võ Phiến chỉ thích mọi người gọi là anh vì trong văn giới không có già trẻ, không có trước sau. Nghe vậy biết vậy, nhưng trong lòng tôi vẫn thấy ngại ngại làm sao. Tôi loay hoay suy nghĩ mãi rồi mới hỏi anh Giác: “Mình phải xưng hô với ông Võ phiến ra sao cho phải?”. Anh Giác vừa lái xe, vừa quay sang nhìn tôi. Một lúc, anh mới chậm rãi: “Anh thì tôi không biết sao nhưng tôi vẫn xưng là bác cháu vì chúng tôi có thân tình với nhau từ lâu, hàng xóm từ xa xưa ở Việt Nam. Tùy anh!”. Trái banh lại được anh Giác đá qua tôi. Tuổi tác thì ông và tôi cách nhau chỉ nhỉnh hơn một giáp, bác cháu cũng kỳ. Nhưng cái bóng của ông qua 1ớn, anh tôi sao tiện. Đầu tôi cứ loay hoay cho tới khi anh Giác ngừng xe. Đã tới nhà. Căn nhà nho nhỏ nhưng rất dễ thương. Mảnh đất trước nhà đầy hoa trái Việt Nam.

Người ra mở cửa là bà Võ Phiến. Nụ cười bà tươi khi anh Giác giới thiệu tôi. Bất giác tôi nghĩ tới tên bà. Đây là bà Viễn Phố mà chúng tôi ở Montreal vẫn chuyện trò nửa vui đùa nửa thú vị về cái tên của bà. Cái tên thiệt đẹp. Chắc chắn không phải cái tên mà ông chồng nhà văn đặt cho bà vì đây là tên khai sanh có từ thời ông còn một nơi bà còn một nẻo. Nhưng cái tên này đã được ông chồng nhà văn tung hứng để thành một cái tên sẽ còn sống mãi trong văn học sử nước nhà. Ông đã lật ngược cái tên thân yêu Viễn Phố thành bút hiệu Võ Phiến của ông.

Nhà văn Võ Phiến từ trong phòng ra đón chúng tôi với nụ cười rộng. Tôi buột miệng: “Chào bác!’. Vậy là tiếng “bác” bật ra ngoài sự đắn đo của tôi. Câu chuyện trên ghế sa-lông của chúng tôi dĩ nhiên toàn chuyện chữ nghĩa sách vở. Hình như nói tới chuyện viết lách là đúng tần số của một Võ Phiến đã hưu trí mà chưa hề mỏi mệt với chữ nghĩa. Ông hỏi thăm tôi về những anh em văn nghệ ở Montreal. Có những người ông biết như các anh Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn. Có những người ông chỉ biết tên nhưng còn xa lạ. Ông sốc nổi: “Anh em còn viết được chi là hay rồi. Làm được chi cứ làm, mà phải làm gấp kẻo không còn thời gian nữa”. Võ Phiến và Mai Thảo là hai nhà văn rất trân trọng những người viết sau. Tôi đồ chừng có lẽ bỗng nhiên bị bứt ra khỏi khối độc giả trong nước, sống nhờ nơi không phải là quê hương của mình, họ thấy trống rỗng. Không nhìn quanh được, họ nhìn ra sau và thấy lạnh gáy nếu đam mê của họ bị trống rỗng phía sau. Vậy nên những người viết sau mang hơi thở làm họ ấm áp hơn.

Đang nói chuyện, ông bỗng đứng dậy đi vào phòng. Bà Võ Phiến mời chúng tôi dùng nước. Bộ trà rất Việt Nam hài hòa với khung cảnh rất Việt Nam của phòng khách. Tôi có cảm tưởng như ông bà muốn tạo lại hình ảnh quê hương nơi ngoài quê hương. Tôi ngó quanh phòng, nghĩ: không biết căn phòng xưa kia ở Sài Gòn của ông bà có nét nào đọng lại trong căn phòng viễn xứ này không? Một lát, ông ra lại. Tay ông cầm một cuốn sách dày cộm. Ông đưa cuốn sách bề thế cho tôi: “Tặng anh cuốn sách anh em vừa in cho tôi”. Đó là cuốn “Tuyển Tập Võ Phiến” do Người Việt xuất bản. Cuốn sách nặng trên tay tôi. Những con chữ nằm bên trong nặng, dĩ nhiên. Nhưng nặng cả về đơn vị đo lường. Lúc đó cuốn sách nằm trĩu trên tay tôi. Chỉ khi viết bài này tôi mới thử nghịch ngợm cân. Đúng 3 kí! Có lẽ anh Phạm Phú Minh, người chăm lo từ A tới Z cho cuốn sách ra đời cũng không hề biết số kí này. Lật tới cuối cuốn sách, số trang là 1080 trang.

Sách bìa cứng, trình bày rất trang nhã trên nền là hình bầu trời xanh nhạt với những đám mây trắng lững thững trôi. Nhà văn Võ Phiến rất trân trọng công sức của các văn hữu đã hoàn thành cho ông một cuốn sách để đời. Tôi mở sách ngó lướt qua. Mắt rất thư thái với lối trình bày giản dị, sáng sủa, được in trên giấy nền vàng nhạt dịu dàng. Ông cầm lại cuốn sách, chỉ cho tôi trang đầu. Tôi chôn mắt đọc. “Bản của anh Song Thao, Santa Ana 25-12-2006”. Dưới dòng đề tặng là hai câu thơ:

Gặp nhau quen ít biết nhiều
Văn thơ một chữ trăm điều vấn vương


Tôi cảm động đến ngây người. Những con chữ nho nhỏ, chân phương, ngay hàng thẳng lối như nhảy múa trước mắt tôi. Ông đã nhớ tới những bài phiếm mà đầu đề chỉ độc một chữ của tôi. Hồi đó phiếm của tôi xuất hiện đều đều mỗi số trên tờ Thế Kỷ 21 do anh Phạm Phú Minh làm Chủ Bút. Bà Viễn Phố cho tôi biết rất thích những bài phiếm này. Ông có đọc hay không, tôi không tiện hỏi. Lối viết mà anh em bào là rất dí dỏm của tôi chắc còn một quãng đường dài mới gần được lối viết cũng rất dí dỏm của ông. Biết đâu chẳng có chuyện đồng khí tương cầu! Nói thì nói vậy cho vui chứ ai có nổi cái dí dỏm của ông:

Nghe đâu Trời sắp gọi ta
Chuyện đâu có chuyện xảy ra lạ đời!
Không ta ai gọi tên Trời?


Lần thứ hai tôi tới nhà ông bà Võ Phiến là vào năm 2010. Đúng vào dịp tết Nguyên Đán. Lúc đó anh Nguyễn Mộng Giác đang chống chọi với bệnh tật. Phái đoàn tới chúc tết ông bà Võ Phiến kỳ này khá đông đảo. Anh Phạm Phú Minh, anh chị Thành Tôn, anh Đạm Thạch và vợ chồng tôi. Mới có bốn năm mà tôi thấy sức khỏe của ông kém hẳn kỳ thăm trước. Mái tóc bạc của ông trắng và xơ xác thêm nhiều. Thời gian của tuổi già thường có bước đi nhanh phát khiếp. Nhưng bước đi của chính người già lại ngắn ngủn và chênh vênh. Ông đi đứng đã khó khăn, Nói năng cũng chậm rãi hơn nhiều. Nhưng khi nói chuyện chữ nghĩa ông như kiếm lại được nhiệt huyết tưởng như đã cạn héo từ lâu. Tôi có mang tặng ông mấy cuốn sách của tôi. Ông run rẩy ôm chúng vào lòng rồi chậm rãi bày ra trên mặt bàn. Ông rở rẫm từng cuốn, gục gặc đầu: “Bây giờ mà anh em còn in được sách như vậy thì vui quá!”. Cả một đời người sống với sách vở. Viết và in. In sách của ông và sách của bạn văn. Ngày còn ở Việt Nam, ông có nhà xuất bản Thời Mới. Sách mới đích thực là cuộc sống của ông.

Rồi ông lại vào phòng trong. Một lúc sau ông lập cập bước ra. Trên tay lại có một cuốn sách. Ông cầm rất gọn gàng vì cuốn sách này nhỏ và mỏng hơn cuốn Tuyển Tập lần thăm trước ông mang ra tặng tôi. Chỉ còn 184 trang. Khổ sách cũng nhỏ hơn. Cũng cái bìa có nền trời màu xanh nhạt với những đám mây lững thững trôi, chữ “Võ Phiến” màu đen, chữ “Cuối Cùng” màu đỏ. Chữ “Tuyển Tập” trên bìa cuốn sách dày cộm ông tặng tôi bốn năm trước cũng màu đỏ. Hai cái bìa giống nhau tưởng như không có chi thay đổi. Vậy mà có. Chữ “tuyển tập” như một thu vén văn nghiệp bề bộn của ông. Chữ “cuối cùng” như một dấu chấm hết. Dứt khoát. Cái dứt khoát hết sức tội nghiệp. Ông đã thu dọn đời ông sao? Đâu còn cái lạc quan trong từng chữ viết, từng lời nói của ông. Anh em văn nghệ tới vấn an ông thường kháo với nhau một giai thoại. Bao giờ cũng vậy, khi tiễn một người tới thăm ra về, ông cũng bắt tay chặt chẽ, gửi theo một câu nói: “Đây là lần áp chót nghe!”. Với ông, không bao giờ có lần chót. Vậy mà lần này ông cho in cuốn sách với cái tựa “Cuối Cùng”. Trong đoạn cuối cùng của bài cuối cùng của cuốn “Cuối Cùng” ông hạ bút: “Nhưng sau sự sống, con người – mọi người – đều sẽ có dịp gặp một sự nữa: là sự chết. Sự chết thì sao? Liệu tự nó có biết chết một cách tử tế cho thiên hạ nhờ tí không? Tôi âm thầm nghĩ ngợi và ngờ rằng đây là lúc xuất lộ cái từ tâm của Hóa Công. Chúng ta không nên mè nheo đòi hỏi cho được vừa huýt sáo mồm vừa chết. Chỉ mong những bước chân đến ngôi mộ của chính mình sẽ là những bước thong thả, hững hờ. Đại khái thế thôi. Và Tạo Hóa đã xếp đặt như thế”. Cuối bài ông ghi dấu: “Santa Ana, 2009”.

Cũng năm 2009, một năm trước ngày tôi thăm ông lần chót, cũng đúng ngày tết Kỷ Sửu 2009, ông đã ngậm ngùi:

Xưa từng có xóm có làng
Bà con cô bác họ hàng gần xa
Con trâu, con chó, con gà
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri
Múa may mãi chẳng ra gì
Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời
Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.


Cuốn “Cuối Cùng” được nhà xuất bản Thế Kỷ 21 của anh Phạm Phú Minh in năm 2009, 6 năm trước ngày ông nhìn lại cuộc sống lần cuối cùng. Như vậy ông cũng không có chi vội vã. Trong 6 năm đó ông lãng đãng sống. Khi nhớ khi quên. Không biết ông có còn theo dõi được bước đi của thời gian nữa không. Ông có biết mình đã ra đi không. Sáu năm không gặp ông, tôi chẳng biết chắc được chuyện chi.

Tôi tưởng tượng khi gặp Mai Thảo, Nguyên Sa, Thảo Trường, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng ông có biết mình đã đổi cõi không. Từ cõi có bằng hữu, ông về một cõi cũng có bằng hữu. Thôi thì ta lại vãn chuyện chữ nghĩa. Ông ở cõi kia nhưng chữ nghĩa của ông vẫn để lại cõi này. Cõi kia có chữ nghĩa không, tôi mù câm. Nhưng chắc là có. Nếu không thì ông mất mát tới tận cùng.

Năm 1975, khi di tản qua Hoa Kỳ, ông đi nhưng đã tính tới chuyện về.

Ra đi tuổi chẵn năm mươi,
Năm mươi tuổi nữa nào nơi ta về.
Ngàn năm mây trắng lê thê.


Sáng nay, vừa thức dậy, nghe tin ông về, tôi rút trong kệ sách ra hai cuốn sách ông tặng tôi, ngắm hai cái bìa giống hệt nhau có những đám mây trắng trên nền màu xanh nhạt. Ngàn năm mây trắng lê thê. Ông về thật rồi sao!

Song Thao
29/9/2015


           Hành trình văn chương Võ Phiến - Du Tử Lê

                     

                                                 Du Tử Lê & Võ Phiến

" ... Ðó cũng là thời gian giới văn nghệ sĩ miền Bắc di cư vào Nam, hiện diện một cách lấn lướt, ồn ào ở hầu hết mọi sinh hoạt VHNT: Từ báo chí tới thơ, văn, âm nhạc, phát thanh, hội họa, kịch nghệ...

Do đấy, tôi không biết vì lý do tế nhị, hay bắt nguồn từ một nguyên nhân nào khác, một số nhà văn có ảnh hưởng lớn thời đó, như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Trần Phong Giao... đã đồng tình chọn nhà văn Võ Phiến, như một tài năng văn xuôi, đại diện cho những cây bút miền Trung. Và, nhà văn Bình Nguyên Lộc là ngọn cờ đầu của văn xuôi miền Nam...

Sinh thời, cố thi sĩ Nguyên Sa cũng biểu đồng tình với chọn lựa vừa kể, khi ông nhấn mạnh, đó là chọn lựa mang tính “quân bình ba miền đất nước.” Hoặc dí dỏm hơn khi ông dùng cụm từ “nhu cầu cân bằng sinh thái.”

Theo tôi thì, nhà văn Võ Phiến không phải là người tạo được văn phong (style) riêng, mới như Mai Thảo. Khi Mai Thảo là người khởi đầu cách biến những động tự, tính tự, trạng tự, giới tự, thậm chí liên tự... thành danh từ, làm chủ từ cho một mệnh đề..."

                                              Toàn bài viết của Du Tử Lê (pdf)

          Võ Phiến, cuối cùng tôi được gặp - Luân Hoán

                      

                                          Thành Tôn, Võ Phiến, Luân Hoán, Thái Tú Hạp


"Trong văn giới của Việt Nam Cộng Hòa có hai người tôi rất ngưỡng mộ, kính phục: nhà văn Nguyễn Văn Xuân và  nhà văn Võ Phiến. Với ông “Quảng Nam Học” (1), tôi được may mắn gặp mặt nhiều lần. Ngược lại,  với ngài “Biệt Kích Văn Hóa” (1), tôi hụt nhiều cơ hội đối diện.

Được gặp mặt, được bắt tay, được ngồi nghe những câu nói gởi trực tiếp đến với mình, từ một người danh tiếng,  quả thật là một kỳ thú, một hãnh diện. Tuy không cố tình săn đuổi những cơ hội này, nhưng nếu hữu duyên có được sự hội ngộ, tôi sẽ rất phơi phới trong lòng. Bằng hữu, dù là đàn anh, đàn chị, đàn em, đàn…cháu,  vẫn quí báu như nhau. Không được là bằng hữu, chỉ tương kính xã giao cũng vô vàn sung sướng.

Với nhà văn Võ Phiến, được quen biết ông, được gặp mặt ông,  kể như có thêm một hạnh phúc. Chắc chắn nhiều bạn sẽ nhăn mặt, cho rằng tôi có phần tâng bốc, ra chiều nịnh bợ. Không sao. Đây là niềm vui tôi tìm thấy, khi cảm nhận mình được hưởng ké cái rực rỡ của một nhân tài, bất cứ họ hoạt động ở lãnh vực nào.

Sự tâng bốc của tôi dành cho nhà văn Võ Phiến nếu có, cũng là chuyện bình thường, bởi những gì ông đã dành cho nền văn học Việt Nam không nhỏ chút nào. Để xác định điều này, chúng ta thử ghé qua từng trang đời của ông, một cách vắn tắt..."

                           Toàn bài viết của Luân Hoán (pdf)

cảm nhận,  đọc võ phiến

hỉnh mũi.  đón một làn hương
sương trong buổi sáng an thường buổi mai
ong-ve-điều-tiếng, lúc này
nhẹ nhàng như áng mây bay trên trời
a ! vẫn chốn ấy.  riêng ngồi
tang thương sáng đẹp dáng ngời khổ hoa
kệ lòng.  sướt mướt lu loa
có khi cảm thức lượt là gai chông
hóa ra chiếc áo phiêu bồng
mặc sương cởi nắng cũng hồng tâm si
mở cửa ra.  ôm nhận.  quỳ
xuống chấp chới đời thi vị này

như thế
kính tặng anh chị Võ Phiến Viễn Phố

khi cười miệng nở như hoa
mắt sáng như sao trên trời
tay vỗ về âu yếm đời
trái tim dịu dàng thổn thức
khi khóc mùi mẫn hân hoan
từ cực lạc vô biên
khóc khổ đau chín muồi
khóc nồng nàn cảm xúc
nước mắt nóng.  mềm
hạt hạt viên thành
kim cương bất hoại
khi đứng.  ngồi.  khi đi
an lòng
nhẹ thể
như mây lướt qua
sương móc đầm đìa
mặt đất
cúi sát thân tâm
ngồi
đi            đứng
thật tự nhiên
ngồi bình yên
như thế

hoàng xuân sơn
30 tháng chín 2015

    Võ Phiến, Nghìn Năm Mây Trắng Lê Thê - Phan Tấn Hải

" ... Võ Phiến khi viết văn đã đóng vai người đi thám sát, ông nhìn, ông ngó, ông quan sát, ông đứng dậy để nhìn phía sau nhân vật chính, ông cũng nghiêng người xuống để nhìn cổ tay thon của một thiếu nữ trong truyện hay bước vào bếp một tiệm hủ tiếu để nhìn ông chủ băm thịt, trụng nước sôi… Và ông đi cùng tận các ngõ ngách tâm lý của nhân vật -- một cách viết rất là Pháp trong một ngòi bút rất là Việt.

Khi Võ Phiến cầm cây bút lên, với ông đó là những chuyến đi – và kể lại những chuyến đi được ông nhìn bằng cặp mắt xuyên ba cõi.

Nghĩ như thế nào về Võ Phiến? Với tôi, văn nghiệp của ông là những cánh đồng xanh, nơi đó ông dẫn độc giả qua các vườn kỳ hoa dị thảo, và khi đọc ông, chúng ta có thể đọc đi đọc lại một trang, thậm chí một đoạn văn mà vẫn thấy ưa thích và nhận ra có điều để học. Với tôi, văn nghiệp Võ Phiến cũng là một ngọn núi, nơi nhiều nhà văn có thể ngước lên nhìn và tự nhủ, sao cứ mãi thấy bóng mát của ông lẩn khuất trong ngòi bút của mình.

Tôi đã nghĩ như thế, trong buổi chiều, trong ngày cuối đời của nhà văn Võ Phiến hôm Thứ Hai 28-9-2015 khi chở nhà văn Nhã Ca tới một bệnh viện Santa Ana, nơi nhà văn 90 tuổi đang nằm bệnh, với tình thân vợ con ông vây quanh.

Chiều ngả bóng xuống. Tôi chở nhà văn Nhã Ca về tòa soạn Việt Báo. Trên đường First St., nắng chiều chói vào mắt, nhiều lúc không thấy rõ phía trước và mơ hồ cả các đèn ngã tư. Thảng thốt trong lòng tôi tiếng nói mơ hồ, “Nắng sắp tắt rồi.”

Nhiều phút sau đó, bà Viễn Phố điện thoại cho chị Nhã Ca rằng nhà văn xứ Bình Định vừa ra đi lúc 7 giờ tối ..."

 

Phan Tấn Hải

                                                    Toàn bài viết của Phan Tấn Hải (pdf)

                        

" ... Trưa mồng một Tết chúng tôi gồm anh chị Đỗ Quý Toàn, anh chị Nguyễn Tường Thiết, chị Trùng Dương, chị Đỗ Ngọc Yến, chị Bùi Bích Hà, anh Phạm Phú Minh, anh Đỗ Việt Anh và Trần Mộng Tú đến chúc tết anh chị Võ Phiến và ăn bữa cơm tân niên. Căn nhà anh chị ở trong một khu chung cư an toàn, lịch sự ngay giữa thành phố Santa Ana. Tôi đã tới đây hơn một lần thăm anh chị. Cứ hai, ba tháng tôi từ Seattle bay xuống Quận Cam thăm các con và ở với chị Hà ít ngày. Chị Hà bận lắm nhưng cũng cố thu xếp đưa tôi tới thăm anh chị Võ Phiến, vì biết anh chị rất vui khi có bạn đến thăm. Căn nhà hơi rộng cho hai người lớn tuổi, nhưng lúc nào cũng ngăn nắp, sạch sẽ. Cây quýt trước cửa mỗi năm vẫn trĩu quả như những chiếc đèn lồng đỏ ai mang treo trên đó, hoa hồng nở quanh năm bên lối vào nhà. Vườn sau có hoa bông giấy, hoa lan, hoa huỳnh anh, và một giàn cây mơ tam thể (đã có lần tôi hái vào làm món chả trứng lá mơ của người Bắc cho anh chị thưởng thức). Trong nhà có bàn thờ gia tiên, trên tường có thơ thủ bút của Vũ Hoàng Chương, tranh của Võ Đình.

Chị Võ Phiến hơi gầy đi so với lần gặp mấy tháng trước, chị rất minh mẫn, và nhớ mọi việc cũ, mới. Chính vì sự minh mẫn này làm chị lo lắng hơi quá về sức khỏe của anh, chị lan man lo cả đến những sự rủi ro chưa tới. Anh Võ Phiến nói ít, cười nhiều, anh tặng mỗi người một trang giấy hoa tiên có in bài thơ anh mới viết cho cuộc họp mặt này. (Còn làm thơ, có nghĩa anh chưa lãng như anh Minh lo). Chúng tôi phụ chị dọn bữa ăn tân niên. Rượu bồ đào được rót ra, mầu đỏ sóng sánh trong những chiếc ly thủy tinh trong suốt, tiếng ly chạm vào nhau với lời chúc mừng một năm đang bước vào tuổi đời mỗi người. Mầu đỏ chiếc áo dài chị Võ Phiến mặc, hắt xuống đĩa bánh chưng xanh, đĩa cá kho, đĩa giò chả, nhuộm thành mầu tết ấm áp vào cả một khoảng không gian chung quanh. Tôi nhìn anh chị, nhìn bằng hữu quây quần, thấy thời gian, thấy tình nghĩa, thấy quê nhà, thấy cả lưu vong trên mỗi chúng tôi. Thường chuyện của những văn nghệ sĩ khi ngồi vào với nhau bao giờ cũng là chuyện viết gì bây giờ? Ai viết đều tay, ai viết hay, ai viết phê bình, ai làm thơ? Nhưng trong bữa ăn trưa của ngày đầu năm này chúng tôi chỉ nói đến thời gian, đến bạn hữu xa gần, đến lần họp mặt tới.

Ở với anh chị đến gần xế trưa, cũng phải xin phép về sợ anh chị mệt. Anh chị còn lưu luyến lắm, nhưng cũng đành chia tay. Mọi người cùng về, để lại anh chị và căn nhà mênh mông. Vào trong xe, quay đầu nhìn lại, thấy anh chị đứng cạnh nhau, vẫy hai bàn tay già trong nắng xuân chấp chới. Muốn khóc!

Hơn ba mươi năm quê người, bao nhiêu nhà văn lưu vong, bao nhiêu dòng chữ được viết ra, bao nhiêu cuốn sách đã in, bao nhiêu trang mạng được thiết lập. Những vết thương mở ra, băng lại… rồi lại mở ra, cứ thế, biết bao lần! Nước mắt tưởng lau khô, vẫn ứa ra vào những lúc rất bất ngờ.

Đấy, đời của những người cầm bút lưu vong là thế. Nhưng không sao. Điều quý nhất của chúng tôi bây giờ là: “tình bạn,” nó vượt lên trên cả ngàn ngàn trang giấy và trăm trăm dòng chữ, giúp chúng tôi thăng hoa cả hạnh phúc lẫn nỗi buồn."

Trần Mộng Tú

Tháng Giêng/Kỷ Sửu (
Trích trong bài "Những Cánh Chim Lưu Xứ" của Trần Mộng Tú)

 

              Võ Phiến, một vài chung quanh - Đặng Phú Phong

Ông Võ Phiến gọi Nguyễn Mộng Giác là một người “thàng”(hậu). Ông Nguyễn Mộng Giác cũng gọi Võ Phiến là “thàng”. Và, hai ông định nghĩa thàng như sau:

Nguyễn Mộng Giác: "Thàng" không phải là hiền. "Thàng" là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc.” (Đặc san Tây sơn –Bình Định,1999)

Và Võ Phiến: “Thàng là chữ riêng của người Bình Định, và cũng là chữ riêng để mô tả người Bình Định. Thàng cũng nói là thàng hậu; thàng hậu nghiã gần như hiền hậu, nhưng còn đi xa hơn hiền hậu nữa kia, vì nó có khả năng mô tả, hiền hậu thì không. Hiền hậu, thực thà là một đức tình, một nết hay; thàng hậu còn là một vẻ người hiển hiện ra bên ngoài, trông rõ mồm một. Người thàng, thàng từ tiếng cười giọng nói, nét mặt, thàng đi. Mà người thàng thì trời ơi, trong trí nhớ của tôi, tôi mường tượng mọi người Bình Định đều thàng hết: anh Ba, chị Bốn, ông Bảy, bà Năm, cô Tư, cậu Tám vv… Hết thảy, không ai là không thàng. Muôn người như cùng một vẻ, một giọng.”(Võ Phiến viết tựa cho Cuốn Ngựa Nản Chân Bon của Nguyễn Mộng Giác.).

Chữ Thàng, trước hết, là chữ của người Bình Định, nếu tính vào thời điểm 2015 này thì “thàng” đã thành chữ cổ. Thuở thiếu thời (thập niên 1950) tôi thỉnh thoảng nghe song thân tôi dùng chữ “thàng” để nói về một người nào đó trong thôn xóm. Tôi hiểu lơ mơ “thàng” có nghĩa là hiền, là… thàng. Sau đó do việc di chuyển chỗ ở, tuy rằng chỉ ra tỉnh lỵ, tôi không còn nghe ai dùng chữ thàng nữa. Rồi chữ thàng biến mất trong mớ chữ nghĩa lơ tơ mơ của tôi. Cho đến khi tôi đọc Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, nhất là thời gian ở hải ngoại, chữ thàng được hai ông định nghĩa thật rốt ráo, đến cho dù không phải là người Bình Định cũng có thể hiểu rõ ràng “ thàng” và “người thàng “ là như thế nào. Và, chữ thàng cũng được giới văn học thường xử dụng để chỉ 2 ông Nguyễn và Võ.

Ông Nguyễn thì thật sự là dòng họ Nguyễn. Còn họ Võ của ông Võ Phiến thì không phải vậy. Ông, tên khai sinh là Đoàn Thế Nhơn, vì yêu cái tài sắc, cảm cái tấm lòng đôn hậu của vợ ông là bà Võ Thị Viễn Phố, từ bút hiệu Đắc Lang ( Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật.) ông đã nói lái Viễn Phố thành Võ Phiến làm bút danh cho đến cuối đời. Tôi ngờ rằng khi nói lái ông Võ Phiến đã bị lợn cợn khi Viễn Phố lái ra sẽ thành Vỗ Phiến nghe nó không ra làm sao cả. May quá! Có cứu tinh đây rồi. Bà Viễn Phố họ Võ. Vậy thì cứ việc thẳng tay ném đi cái mũ. Thành ra Võ, lại là họ của nàng cũng là họ của chàng. Khéo thay chữ nghĩa! Hai người mãi mãi bên nhau và chỉ một. Tôi thật sự xúc động khi nhìn tấm hình ông bà mỗi người một bên đẩy chiếc senior walker cùng đi bách bộ. Keo- sơn- gắn- bó là đây.

Giới văn nghệ sĩ gọi thêm ông một cái tên “Ông già tinh quái”. Nhưng tại sao là “ông già”?. Chỉ khi ông già rồi mới viết văn “tinh quái” hay sao? Tôi e rằng không phải vậy. Chất “tinh quái” của Võ Phiến đã có từ lâu. Từ lâu lắm lận. Từ Người tù (1955), Dung (1956), Lỡ làng (1956), Anh em (1957), Thác đổ sau nhà, Lẽ sống (1958)…. Từ : Anh Bốn Thôi, chị Lộc, Ba Thê Đồng Thời, ông Tú Từ Lâm, Hữu….

Lại một phen chữ nghĩa! Cái này phải tôn Võ Phiến là bậc thầy. Ông cứ nhẩn nha viết. Bắt người ta phải hút theo chữ nghĩa “chẻ sợi tóc làm tư, làm tám” của ông. Lâu lâu, cắc cớ đưa ra những ý tưởng làm độc giả giật mình, phải đọc lại lần nữa, rồi giật mình lần nữa (không khỏi cười mỉm thích thú ): “Cái ông này thâm thật, tài thật”. Tinh quái, trước hết là tinh tế. Ông nhìn sự việc thật tinh tường qua ngòi bút điêu luyện, làm chủ vấn đề sự kiện. Điều này người đọc dễ dàng nhận ra ở những bài tạp bút, tùy bút của ông. Còn quái thì sao? Ông Võ Phiến có “quái” không? Thiệt là khó! Tôi xin nhón nhóm chữ  “suy đoán vu vơ" của ông dùng để khiêm tốn bày tỏ ý kiến của mình: “quái” là không phải bình thường, quái là lạ, nhưng không phải là quái dị. Còn gì nữa nhỉ. Ờ, phải có cái hậu là vui, qua quá trình soi thấu sự uyên thâm. Như vậy  “ông già tinh quái“ ở đây chỉ cho sự uyên bác, thâm trầm, hóm hỉnh lấy được sự kính nể từ nhiều người khác. Nếu cần thêm một chút mắm muối, tôi có thể mượn đoạn văn của Võ Phiến để cho ý của mình đậm nhạt: “Nghề viết văn loay hoay một cách …cảm động. Riêng người Việt lại còn mối cảm kích đối với cái ngôn ngữ của mình sử dụng… Hơn sáu mươi năm trước thường đọc lang thang, môt hôm tôi gặp bài “Đợi Thơ” của Hồ Dzếnh. Lời lời hoa mỹ, câu nào câu nấy chật ních những địa danh xa xôi, mơ hồ, mộng ảo, tôi mê tơi, “ngâm” đi “ngâm lại”:

(…) Tô Châu lớp lớp Phù kiều
Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam
Rạc rời vó ngưa quá quan
Cờ treo ý cũ mây dàn mộng xưa
Biển chiều vang tiếng nhân ngư
Non xanh thao thiết trời thu rượi sầu
Nhớ thương bạc nửa mái đầu
Lòng vương quán khách nghe màu tà huân
(…)”.

Lời không hiểu mấy, ý không rõ mấy, nhưng mặc kệ: tôi thích, mê tơi. Tôi có chú ý đến mấy tiếng “non xanh thao thiết”. “Thao thiết” ám ảnh tôi. Xanh thao thiết là xanh cách nào? Không biết đích xác, nhưng tôi cho đó là một chữ tài tình, đúng với màu núi “nọ”(?)…”. (Viết lách, trong Cuối Cùng, Võ Phiến)

Cũng từ đoạn văn trích trên nó điển hình cho cách Võ Phiến đã đưa ngôn ngữ nói thành ngôn ngữ viết thật tài tình. Không biết cơ man những “câu nào câu nấy chật ních”, “tôi mê tơi” nằm trong các tác phẩm của ông.

Tôi là người Bình Định nên ưa ông cũng chỉ là chuyện thường. Tôi có chắc một điều là người miền Bắc, miền Nam cũng rất yêu, thích ông. Tôi cũng chắc rằng nếu có người dịch toàn bộ tác phẩm ông ra tiếng nước ngoài, họ cũng sẽ thích ông . Giống như người Việt thích Stefan Zweig qua những bản dịch của ông.

Tôi không có ý định bước vào văn nghiệp của Võ Phiến. Chỉ một vài, thật ít, chung quanh ông. Mà thôi!



Đặng Phú Phong


                                           

LỜI NÓI ĐẦU

Sách, hễ thích thì viết; từ hồi nào tới giờ tôi vẫn yên trí thế nên thấy không việc gì phải phân trần tại sao viết cuốn này tại sao viết bài nọ. Người đọc sách trên đời chẳng ai cần biết những cái tại sao ấy, chỉ cần sách đừng quá dở, quá nhảm. Vả lại đến như đệ nhất danh phẩm của dân tộc là Truyện Kiều mà về lý do sáng tác tác giả cũng chỉ cho biết là để bà con “mua vui” trong “một vài trống canh”, thế thôi; mình chưa chi đã bi bô lắm lời chẳng hóa ra muốn chọc cười thiên hạ sao?

Ấy thế mà hôm nay trước khi bắt đầu tôi lại thấy cần bàn qua về lý do biên soạn cuốn sách đầy những lôi thôi thiếu sót này. Sở dĩ thế là vì thoạt tiên thấy sờ sờ trước mắt những lý do không nên biên soạn.

Trước hết mình không phải là một nhà phê bình nhà biên khảo gì ráo mà tự dưng xông ra làm công việc biên khảo phê bình là chuyện không nên. Đây không phải việc dễ dàng; ngay trong giới chuyên môn bình và khảo mỗi một thời đã có được mấy người thành công để lại những công trình đáng tin cậy, huống hồ kẻ tay ngang sao dám xía vào bôi bác?
Hơn nữa hoàn cảnh thật là khó: xung quanh không có tài liệu mà mình thì không có điều kiện để đi tìm tài liệu, lấy gì tham khảo? Bảo rằng tác phẩm của một thời gần gũi như thời 1954-1975 vừa qua mà không còn tìm được ở các thư viện Âu Mỹ thì khó tin, nhưng trong thực tế làm sao có thể đi tìm ở khắp các thư viện Âu Mỹ. Cho đến nay người cầm bút thoát nước ra đi kể ra đã khá nhiều, mấy ai trong số ấy đem theo được tác phẩm của chính mình. Hiện còn được lấy một vài tác phẩm của mình trong nhà đã là trường hợp may mắn đáng mừng rồi; rất nhiều kẻ không có lấy một cuốn nào. Tự mình cố công tìm kiếm, mua hay mượn sao lại sách của mình đã thiên nan vạn nan, nói gì đến việc sưu tầm khắp các văn thi gia? Xin được lấy chuyện riêng làm thí dụ: hồi còn ở trong nước trước sau viết và in được vài chục cuốn sách, sang đây tôi thử tìm thì thấy tại thư viện trường Cornell có 11 cuốn, thư viện Quốc hội Hoa Kỳ có 5 cuốn, thư viện trường Yale có 9 cuốn, thư viện trường Nam Illinois có 6 cuốn; phần lớn các danh sách lặp nhau, những cuốn thiếu thì các nơi đều thiếu; ấy là chưa kể đối với những bài đã đăng tản mác trên các báo mà chưa in thành sách thì sự săn tìm còn vất vả hơn nhiều (mà đây là phần quan trọng nhất trong toàn bộ trước tác của một số văn gia). Tôi vừa nói đến chuyện “tìm kiếm”, đó chẳng qua là tìm ra cái tên sách mà thôi, chứ không phải là tìm mang được sách về nhà, nhẩn nha thưởng thức, suy ngẫm, khảo bình: thư viện đại học Mỹ bây giờ không hay gửi sách Việt ngữ đến các độc giả xa xôi. Vậy thì nên bỏ công ăn việc làm để từ tây nam sang đông bắc Hoa Kỳ đến với sách chăng? nên nhờ bạn bè những miền gần thư viện bỏ công ăn việc làm của họ mà đi sao chép hộ chăng? sao hết tác phẩm của hai mươi năm văn học?!

Hoặc có kẻ bĩu môi: “Chao ôi! chỉ tìm đọc lại những cuốn sách ra đời cách đây mới hơn mười năm mà nói như chuyện dời non lấp biển!” Vâng, có lẽ chuyện ấy sẽ rất dễ dàng, sau này, đối với những nhà văn chuyên nghiệp thành công tại nước này, sẽ dễ dàng khi cộng đồng Việt kiều đã bắt rễ, lớn mạnh, có khả năng đài thọ cho các hoạt động văn hóa. Còn hiện nay, chúng ta sống trong một hoàn cảnh khác.

Hiện nay chúng ta không có kẻ cầm bút chuyên nghề chuyên nghiệp nào cả trên đất Mỹ, chỉ có những người vừa làm ăn theo cái đà hối hả của xã hội này vừa viết lách qua quýt vào những ngày nghỉ, những dịp hở tay hiếm hoi. Tiến hành công việc trong điều kiện như thế chắc chắn sẽ bị chê là thiếu tinh thần trách nhiệm. Thi phú làm ra để vịnh hoa xuân lá thu, vịnh cây quạt cây đa, hay thậm chí để ca ngợi lãnh đạo xưng tụng cách mạng v.v..., thơ phú ấy có thể làm thật kỹ cũng có thể làm qua quýt: hay thì được truyền tụng dở sẽ bị vất đi là rồi. Làm dở có hại chăng bất quá chỉ hại cái “danh” của tác giả. Còn như viết cái gì có liên quan đến kẻ khác, có chê khen người nọ người kia mà viết qua quýt thì bị mắng mỏ xỉa xói tưng bừng là cái chắc.

Đã thế, lại còn cái này mới thật rắc rối: Số là trong thời kỳ 1954-75 riêng phần tôi trót múa may vung vít khá nhiều, bây giờ viết về thời kỳ văn học đó mình lại “nhận định” về những hoạt động của mình thì sự lố lăng biết để đâu cho hết? Hoặc giả đừng nhắc nhở gì tới, cứ vờ vĩnh làm như không hề biết có mình, lờ tịt đi, được chăng? Như thế, có vẻ gian quá. Hay là hãy giả vờ chê bai nhặng xị cả lên? Khốn nỗi quân tử khắp hải nội hải ngoại có phải là trẻ con cả đâu, người ta sẽ che miệng cười rinh rích. Còn như rủi ro mà hở ra cái giọng âu yếm thì chết với thiên hạ ngay. Cho nên xưa nay chẳng ai làm cái việc dại dột này. Nếu gặp lúc đứng ngồi không yên, trong người cảm thấy muốn viết quá lắm, thì trên đời thiếu gì chuyện để viết mà cứ phải nhất định lao vào cái công việc vừa nhọc nhằn vừa lố bịch như thế?

Ấy vậy mà nghĩ đi nghĩ lại chán chê rồi tôi lại quyết định cứ viết cuốn sách này.
Trước hết là vì chỗ nặng tình với một thời kỳ văn học kém may mắn. Thật vậy, thời kỳ 1954-75 gặp cái rủi ro hiếm thấy, là trong suốt hai mươi năm trời không có được lấy một nhà phê bình chuyên nghiệp. Trên báo chí vẫn có những bài điểm sách, giới thiệu, phê bình; nhưng hầu hết là bài của giới sáng tác nhận xét lẫn nhau. Như thế không phải là không có giá trị, dĩ nhiên. Tuy vậy những cái đó không thể thay thế công việc của nhà phê bình chuyên nghiệp. Người sáng tác nhân khoái một tác phẩm hay bực mình về một tác phẩm nào đó mà cất lời, lời nói lắm lúc chủ quan. Họ nói theo cái quan niệm nghệ thuật của họ, thường khi thiếu công bình. Mà thực ra họ cũng chẳng bận tâm mấy đến chỗ công bình trong sự khen chê; bận tâm chính yếu của họ là thành công trong sáng tác. Trong khi ấy nhà phê bình lấy việc phát huy được cái hay cái đẹp của người khác làm sự thành công của mình, xem những bất công, lầm lẫn, thiếu sót trong sự nhận xét người khác như sự thất bại của chính mình; do đó mà phải thận trọng. Ngoài ra, đã chọn lấy nghiệp, người phê bình trước khi đi vào các tác phẩm thuộc những lãnh vực, bộ môn khác nhau, đến với những tác giả thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, trước khi khảo sát sự kiện văn nghệ trong những liên hệ với bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị khác nhau v.v..., họ lại phải tự trang bị lấy một cái vốn kiến thức rộng rãi, điều không nhất thiết cần nơi những người sáng tác. Trong sự tìm hiểu về các thời kỳ văn nghệ, quần chúng trông cậy ở họ.

Bảo rằng ở Miền Nam[1] Việt Nam trong vòng hai mươi năm không người có tài phê bình văn học thì không đúng. Đặng Tiến chẳng hạn, vào đầu những năm 60, khi ông hãy còn rất trẻ, đã viết trên Tin Sách những bài phê bình thật sắc sảo thâm trầm, và sau này khi Miền Nam gần sụp đổ nhà Giao Điểm có in một tác phẩm xuất sắc của ông, nhận định về một số thi sĩ cả xưa lẫn nay, cuốn Vũ trụ thơ. Thế nhưng Đặng Tiến không hề nhận cái công việc theo dõi suy tìm về thời kỳ văn học 1954-75; ông chợt đến chợt đi, khi sống trong nước khi ở nước ngoài, khi xuất hiện khi vắng mặt thật lâu trên văn đàn. Lại như Lê Huy Oanh, như cô Phương Thảo, như Cao Huy Khanh, từng viết những bài về các thi sĩ và tiểu thuyết gia; tuy nhiên mới chỉ có những bài lẻ tẻ đăng báo. Rốt cuộc văn học Miền Nam Việt Nam vẫn chưa hề được ai theo dõi nhận xét trên toàn bộ, cho chúng ta một cái nhìn tổng quát, dù là đại khái.

Trong quần chúng khi nhắc lại thời kỳ 54-75 ở Miền Nam, có kẻ nhớ đến bà Tùng Long được yêu thích rộng rãi, có người nêu tên nữ sĩ Lệ Hằng viết hay ác, có kẻ bảo Thanh Tâm Tuyền mới thật cao siêu, có người lại nhớ đến ông Chu Tử tài ba quấy động thiên hạ một thời v.v... Chín người mười ý, loạn xị cả lên. Thậm chí, hồi trước 75, ở ngay trong nước, trong giới giáo chức giảng dạy về văn chương ở bậc trung học chẳng hạn, mấy ai đưa ra cho học sinh được một ý niệm chung chung về tình hình văn học thời kỳ mình đang sống, về những diễn biến tâm trạng của thời đại phản ảnh trong từng giai đoạn nghệ thuật, về các khuynh hướng của thi ca, của tiểu thuyết v.v... Chẳng qua trên các sách giáo khoa chỉ có những đoạn trích giảng và chút ít tiểu sử của một số tác giả may mắn. (Ông Cao Huy Khanh có nghiên cứu về bộ môn tiểu thuyết cùng các tiểu thuyết gia trong thời kỳ này, nhưng sách chưa kịp phát hành thì Miền Nam sụp đổ.)

Đối với cái sinh hoạt tinh thần và tình cảm của một thời kỳ xa hơn, thời kỳ trước 1945, chúng ta không hề có sự bối rối như thế; được vậy là nhờ ở công trình tổng kết của Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh. Cũng như đối với tình hình văn học hiện tại ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ v.v..., dù là người ngoại cuộc, chúng ta nhìn vào cũng không đến nỗi lúng túng: bao nhiêu sách nhận định phê bình sẵn sàng hướng dẫn những kẻ bỡ ngỡ qua các ngóc ngách diễn biến, các chủ trương trường phái phức tạp nhất. Bối rối hơn cả vẫn là cái nhìn của chúng ta về ngay những hoạt động tinh thần của chính chúng ta.

Cả một thế hệ văn học không có phê bình, toàn bộ thành tích văn nghệ phản ảnh những cảm nghĩ băn khoăn, những buồn vui khóc cười của hai mươi triệu đồng bào trong suốt thời gian hai mươi năm, rồi lây lất phôi pha với năm tháng, chẳng ai màng xét đến, tìm hiểu đến. Buồn biết mấy!

Hoặc có người bảo: “Hãy thong thả! làm gì mà cuống lên thế. Bây giờ chưa có phê bình thì rồi sau sẽ có. Muốn phán đoán công bình sáng suốt cần có một khoảng cách thời gian.” — Có lẽ thế. Nhưng trước khi có sự công bình, sự sáng suốt, hãy chỉ mong được chút lưu tâm. Vả lại kẻ đồng thời nếu thiếu sáng suốt thì lại có sự cảm thông của người trong cuộc. Giả sử trong khi suy nghĩ về mấy bài thơ của Lý Thường Kiệt, Đặng Dung, Hồ Xuân Hương v.v... mà ta bắt gặp đâu đó một tài liệu viết về văn học của một người đương thời, chắc chắn không khỏi lấy làm mừng rỡ. Có được một ý kiến phát biểu ngay lúc bấy giờ dù thế nào vẫn quí hóa hơn là phải chờ hoặc tám chín trăm hoặc đôi ba trăm năm sau để nghe lời “sáng suốt” của những kẻ lạ hoắc, xa lạ với tâm sự của người xưa, với phong tục xưa, xã hội xưa, và trong tay chỉ nắm dăm ba tư liệu còm cõi, lạc loài.
Sau hiệp định Genève, tôi về gia nhập vào cái sinh hoạt văn nghệ Miền Nam tuổi đã ba mươi; từ đó trong hai mươi năm viết văn làm báo, cùng với hàng trăm bạn bè, kẻ tả người hữu, kẻ già người trẻ, kẻ Nam người Bắc v.v... mải miết say mê. Có lúc ai nấy chứa chan hy vọng, ăm ắp hoài bão ước mơ; có lúc hầu hết não nề chán ngán. Chuyện mừng vui đắc ý có nhiều mà điều vất vả khổ nhục cũng lắm. Thế rồi khi đời đã về chiều, bỏ cuộc ra đi, ở nơi đất lạ không khỏi có lúc ngơ ngác: “Những bạn bè vui buồn có nhau trong hai mươi năm cũ bây giờ ở đâu?” Tại một thị trấn tây bắc Hoa Kỳ, Thanh Nam có lần kiểm điểm:

“Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa.”

(‘Thơ xuân đất khách’, Đất khách)

Đó là những “đứa” may mắn nhất. Trải qua một thời chiến tranh dài rồi trong cơn tan rã sụp đổ mà lại thoát đi được chẳng qua là một số ít. Trong số còn lại, có kẻ gục ngã trên chiến trường (Y Uyên, Doãn Dân v.v...), có người phải dùng cách nọ cách kia mà kết liễu cuộc đời (Nhất Linh, Tam Ích, Dzoãn Bình v.v...), có kẻ bỏ mình trên đường thoát thân tìm tự do (Chu Tử, Trần Đại...), có người gục ngã vì tù đày (Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn...), và rất đông là cái số quằn quại trong lao tù, có kẻ đến tận ngày nay chưa thoát khỏi (Như Phong, Duy Lam, Phan Nhật Nam, Trần Dạ Từ, Doãn Quốc Sỹ...).

Thân thế của họ thế ấy, văn nghiệp như thế kia..., làm sao mình chẳng nặng lòng.
Vừa rồi ta nói đến những thiệt thòi của một thời kỳ văn học không phê bình. Thời kỳ 1954-75 không phải chỉ chịu một điều bất hạnh ấy thôi: câu chuyện hủy diệt văn hóa phẩm Miền Nam từ 1975 đến nay không ai là không biết.

Còn nhớ hôm thứ hai 26 tháng 5 năm 1975, lúc bấy giờ chúng tôi còn ở một trại tị nạn trên đảo Guam, buổi sáng thức giấc nghe phát thanh cái tin tại Sài Gòn có lệnh cấm bán sách xuất bản dưới chế độ cũ và từ thứ năm tuần trước các tiệm sách đều đóng cửa. Mấy anh em cầm bút có mặt trong trại nhìn nhau lắc đầu: Chúng tôi mới ra đi được nửa đường thì sách ở quê nhà đã đi đời.

Sách cũ bị cấm bán, rồi bị tịch thu. Tịch thu đi tịch thu lại năm lần bảy lượt cho kỳ sạch vết tích. Mãi sáu năm sau ngày chiếm Sài Gòn, đầu năm 1981 cộng sản lại mở một đợt càn quét sách báo đối lập. Sau ba tháng hoạt động, tức là đến tháng 6-81, họ đã đạt được những thành tích đăng tải trên Tạp chí Cộng Sản số tháng 10-81: trên toàn quốc tịch thu 3 triệu ấn bản, riêng tại Sài Gòn 60 tấn ấn phẩm.

Những câu chuyện về tịch thu, đốt phá, cấm đoán, hủy hoại sách báo tại xứ ta từ xưa đến nay xảy ra quá nhiều, đã thành chuyện quá phổ biến. Sự mất mát trong văn học lớn lao đến nỗi một nữ sĩ nổi tiếng như Hồ Xuân Hương mà chỉ không đầy hai thế kỷ sau đã mất gần hết dấu vết, khiến văn giới có lúc đâm ra nghi ngờ về bà, nghĩ rằng người nữ sĩ tinh nghịch nọ chỉ là một huyền thoại, một chuyện bịa đặt lưu truyền trong quần chúng. Ông Lữ Hồ đã nêu ra câu hỏi: “Có chăng một bà Hồ Xuân Hương?”[2]

Cái sự rủi ro xảy đến cho Hồ Xuân Hương chẳng qua chỉ là sự mất mát tự nhiên, vì thiếu bảo quản; đàng này lớp văn gia đối thủ của cộng sản là nạn nhân của một chính sách hủy diệt nghiệt ngã mọi vết tích. Thành thử, nếu xứ xứ vẫn còn cách biệt nhau như hồi thế kỷ XVIII, nếu sách Việt ngữ không thoát ra ngoài và được lưu giữ ở ngoại quốc, thì sau này người ta tha hồ ngơ ngác hỏi nhau: “Có chăng một ông Khái Hưng? Có chăng một bà Nhã Ca? Có chăng một ông Phan Khôi? Có chăng một bà Thụy Vũ? v.v... Có chăng những nhân vật huyền hoặc, tuyệt vô tung tích ấy?” Mà dù cho có sự tàng trữ ở nước ngoài, có sự trốn chạy của sách Việt, thì cái phần được cứu thoát cũng không mấy lớn lao. Thật vậy, trước 1975 học giả Nguyễn Hiến Lê đã cho xuất bản hơn một trăm tác phẩm, bây giờ mở tập thư mục thư viện Quốc hội Hoa Kỳ ấn bản 1982 đếm thử được bảy nhan đề! Ta đã không thể ngăn chận được việc phá hủy, không thể bảo tồn được cái thành tích văn học nọ, thì ngay lúc này cũng nên có một tổng kết, một kiểm điểm sơ lược, để về sau những ai lưu tâm còn có chút căn cứ sưu khảo. Không thế, sao đành?

Văn học Miền Nam 54-75 không có phê bình, văn học Miền Nam đang bị tiêu hủy. Chưa hết. Chung quanh nó còn diễn ra lắm trò lố bịch: tôi muốn nói đến câu chuyện “văn học giải phóng Miền Nam”. Nhà nước cộng sản dựng lên một nền văn học, cho cán bộ nghí ngố om sòm về nền văn học ấy, cố gây ra cái cảm tưởng đây mới là nền văn học chân chính của Miền Nam, là tiếng nói tự do của nhân dân Miền Nam; còn bao nhiêu sách báo xuất hiện trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong vòng 20 năm qua không phải là văn hóa phẩm đâu, đó là những món sản xuất theo lệnh của CIA cả đấy. CIA sai khiến ngụy quyền, ngụy quyền sai khiến bồi bút viết cái nọ cái kia, cái thì gieo rắc chủ nghĩa hiện sinh, cái thì mô tả cảnh dâm ô đồi bại, cái thì xúi giục chống cộng v.v..., tất cả cùng nhằm một mục đích đầu độc quần chúng làm hại nhân dân cả.

“Văn học giải phóng” mới là văn học chân chính của Miền Nam, ông Phạm Văn Sĩ viết một cuốn sách về nền văn học ấy,[3] trong sách ông cẩn thận dành ra một phần phụ lục để thóa mạ “văn nghệ vùng tạm chiếm”. Đáng tiếc là không có phần nào dành nói về việc tạo thành văn nghệ giải phóng. Bởi vì việc đánh tráo một nền văn học tất nhiên ngộ nghĩnh, mà sự chế tạo nên một nền văn học cũng ly kỳ, đáng nói lắm chứ, không sao?
Xem nào, văn học giải phóng là do những ai? Ông Phạm Văn Sĩ kể ra những tên như: Nguyễn Đức Thuận, Thanh Hải, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Huỳnh Minh Siêng, Trần Bạch Đằng, Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Trung Thành, Phan Tứ, Nguyễn Vũ v.v... Ông không chịu nói ra cái điều lý thú này: là tất cả những kẻ vừa kể trên đều được phái từ ngoài Bắc vào. Những kẻ mới lớn lên thì được đảng dạy dỗ cẩn thận, cũng có người được cho đi rèn luyện tận bên Tàu bên Nga, có người là con ông cháu cha, xuất thân từ gia đình đảng viên cao cấp, bố là yếu nhân trong chính phủ. Hạng cao niên hơn thì lại là những văn nghệ sĩ đã có tên tuổi ngoài Bắc, đổi tên đổi họ, hóa thân làm người mới: Lưu Hữu Phước hóa làm Huỳnh Minh Siêng, Nguyễn Văn Bỗng hóa thành Trần Hiếu Minh, Nguyên Ngọc hóa ra Nguyễn Trung Thành, Bùi Đức Ái thành ra Anh Đức, Trần Bạch Đằng làm Hưởng Triều, làm Hiểu Trường, Lê Khâm hóa thành Phan Tứ, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi v.v...

Bảo rằng những văn nghệ sĩ ấy gốc từ Miền Nam nên những gì họ viết ra có thể cho vào văn học Miền Nam? - Nếu thế thì tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương v.v... phải trả về văn học Miền Bắc cả?

Lại bảo rằng những người gốc Nam kia đã trở về sáng tác ngay tại Miền Nam cho nên rất có thể cho vào văn học Miền Nam? - Những cán bộ kia chợt ra chợt vào chưa hẳn đã viết ở trong Nam. Mà giả sử họ có ở lại hẳn trong Nam một thời gian[4] thì lại vẫn là chuyện kỳ cục. Hãy tưởng tượng trường hợp chúng ta đưa nhạc sĩ Phạm Duy ra thả dù ở một vùng biên giới Hoa Việt nào đó, đổi tên làm ông Trần Doai, thi sĩ Tú Kếu đổi làm Tú Cối, các nhà văn Trần Dạ Từ, Doãn Quốc Sỹ v.v... thành những ông Phạm Nhật Nghiêm, Hồ Hải Dương v.v..., rồi trốn nấp trong khoảng núi rừng Bắc Việt, cứ cất lên đều đều tiếng nói của nhân dân cách mạng, nhân dân giải phóng Miền Bắc, được chăng? Lại thử tưởng tượng ngày trước chúa Nguyễn bỗng có ý kiến đưa Đào Duy Từ ra Đàng Ngoài? Vâng, bình thường thì Đào Duy Từ cứ ở Đàng Trong; lấy vợ sinh con đều đặn, ăn lộc chúa Nguyễn, lãnh quan tước Đàng Trong, đến một lúc nào đó chúa Nguyễn thấy “nhân dân” Đàng Ngoài cần lên tiếng bèn hạ lệnh cho Đào Duy Từ mang tay nải lẻn lút trở ra Bắc, đào cái hầm thật sâu nấp thật kín, rồi ngồi dưới đó cất lên tiếng nói giải phóng của toàn thể nhân dân Đàng Ngoài. Người của Đàng Ngoài sáng tác ngay trên lãnh thổ Đàng Ngoài đấy mà. Được chăng?

Nghe chuyện như thế chúng ta ở Miền Nam bò lê bò càng ra mà cười, rồi xúm nhau đàn ngang cung, xúm nhau làm thơ chua thơ đen thơ xám v.v... Thế là hỏng.

Người cộng sản không cười. Họ trịnh trọng trình bày vấn đề. Xong, họ trịnh trọng đưa hai tay lên ngang ngực vỗ lép bép; tất cả cùng vỗ tay theo. Mọi người nhất trí, họ tiến hành kế hoạch. Chuyện kỳ cục đến đâu họ cũng làm được. Họ làm ra mặt trận giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra chính phủ giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra quân đội giải phóng Miền Nam bằng người của họ, tại sao họ không làm ra được một đội ngũ văn nghệ sĩ, một nền văn học giải phóng Miền Nam bằng người của họ mang vào, sau khi đã dạy dỗ kỹ càng và tiếp tục “lãnh đạo”, kiểm soát chặt chẽ. Vả lại trong một xã hội mà người quốc trưởng có thể lần lượt đội hết tên này đến tên kia, ký hết “bút hiệu” này đến “bút hiệu” nọ, viết sách tự ca tụng mình inh ỏi, tự tâng bốc mình lên tới mây xanh, cho in đi in lại phổ biến tưng bừng khắp nước, như thế mà vẫn đẹp mặt như thường,[5] thì văn nghệ sĩ thay đổi vùng để kể xấu đối phương có gì là kỳ cục đâu? Làm được tất.

Họ làm một cách trịnh trọng, không cười, và thế giới Tây phương trịnh trọng ghi nhận những gì họ nói họ làm. Do chính sách tiêu diệt tàn tích văn hóa Mỹ ngụy, một ngày kia dần dần không ai tìm thấy sách của Chu Tử, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương để đọc nữa, không ai nghe nói đến Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn... nữa, những tên tuổi ấy mỗi lúc một phai mờ, trở nên mơ hồ, rồi tác phẩm của Phạm Văn Sĩ tái bản sẽ lặng lẽ bỏ đi phần phụ lục. Lúc bấy giờ khi cần biên khảo về văn học Việt Nam thời kỳ 1954-75, với tài liệu sách báo do nhà nước Việt Nam phổ biến rộng rãi, cung ứng đầy đủ, các học giả Tây phương tha hồ hăng hái nghiên cứu về cái văn học giải phóng như là nền văn học chân chính, nền văn học duy nhất của Miền Nam Việt Nam, với những tác phẩm sáng chói kể chuyện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chuyện “tục ăn thịt người” ở Miền Nam[6] v.v... với những văn nghệ sĩ cách mạng Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Huỳnh Minh Siêng v.v... thường thường nhất trí quan điểm với những nghệ sĩ cách mạng Miền Bắc Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bỗng, Lưu Hữu Phước. Và đối với Tây phương sẽ chỉ còn có nền văn học ấy ở Miền Nam. Chúng ta thấy hài hước? Thật hài hước chết người.
Vì những chuyện như thế, rốt cuộc đành miễn cưỡng viết cuốn sách này trong những điều kiện rất không nên viết. Viết như là một sơ thảo, một bản nháp, một gợi ý, nhắc nhở, một cách nêu vấn đề, để sau này những người có đầy đủ tư cách và điều kiện sẽ viết lại một cuốn xứng đáng.

Sách gồm nhiều tập, tập này trình bày một cái nhìn tổng quát; các tập kế tiếp sẽ được dành cho từng bộ môn sáng tác: thi ca, tiểu thuyết, tùy bút, kịch, phóng sự, ký sự.
Trong sách chúng ta sẽ gặp một số tác giả tiền chiến, tức những vị đã nổi danh từ trước 1954, không những thế lại có những vị mà phần quan trọng nhất của sự nghiệp thuộc về thời kỳ trước 1945. Thiết tưởng dù vậy, nếu sau Genève họ còn hoạt động thì các hoạt động ấy vẫn phải được nói đến.

Còn lớp nhà văn 54-75, sau khi Miền Nam sụp đổ vẫn có kẻ không ngừng viết văn làm báo: nên thêm một phần phụ lục dành cho các hoạt động ấy chăng? Tôi nghĩ là việc ấy không thích hợp. Sau 1975, trong chúng ta có kẻ tiếp tục viết ở hải ngoại, có kẻ tiếp tục viết âm thầm trong nước, có người lén lút viết trong tù; ngoài ra lại cũng có một số cộng tác với chế độ mới. Đây là một thời kỳ văn học khác hẳn, với tất cả sự phức tạp của nó, xứng đáng một công trình nghiên cứu riêng; nó không thể coi là một phần “phụ” vào thời kỳ 1954-75, cũng như thời kỳ sau 54 không hề “phụ” vào thời văn học tiền chiến: không có một thời kỳ nào nên “phụ” vào thời kỳ khác.

Vả lại nếu chỉ nói riêng về văn học lưu vong sau 1975, cái văn học tự do ngoài chế độ cộng sản, tôi thấy về tinh thần nó cũng không mấy gần gũi với thời kỳ 1954-75. Trước 1975 trong nước và sau 1975 ngoài nước chỉ có chung một số tên tác giả, ngoài ra hoàn cảnh trước tác khác nhau, bối cảnh xã hội khác nhau, tâm tư con người khác nhau, động cơ viết lách khác nhau...

Vậy ở đây xin chỉ có thời kỳ văn học 1954-75 với những người đã đóng góp vào thời kỳ văn học này. Những người ấy về sau làm gì, thay đổi ra sao, cái đó thuộc về vấn đề khác mà chúng ta không đề cập đến.

Tôi đã phân trần về những lý do không nên viết, rồi lại phân trần về những lý do phải viết. Rõ thật nhiều lời. Nhưng khi xong việc, không khỏi ngẩn ngơ tự hỏi: Cái đã viết ra đó là cái gì vậy? Là lịch sử hai mươi năm văn học Miền Nam chăng? Là kiểm điểm phê bình nền văn học Miền Nam chăng? ¾ Rõ ràng nó không xứng đáng là lịch sử, là phê bình gì cả. Nó không có cái tầm tổng hợp rộng rãi, nó thiếu công phu suy tìm và phân tích đến nơi đến chốn về bất cứ môn loại nào khuynh hướng nào. Chẳng qua chỉ có những nhận xét rất khái lược, liên quan đến nền văn học và các văn gia một thời mà thôi. Thôi thì của ít lòng nhiều vậy.

Mặt khác, nhân đọc lại bản thảo chợt thấy sao mà lắm trích dẫn ghi chú, sao mà rườm ra đến thế? Nghĩ đi nghĩ lại, đâm bật cười: thì ra đó là một điểm yếu về tâm lý. Xưa nay kẻ xấu hay làm tốt, người thiếu chữ thường hay nói chữ. Vậy vì thiếu tài liệu mà ham khoe tài liệu cũng là thường tình. Số là trong hoàn cảnh ít sách báo Việt ngữ, mỗi khi bắt gặp được trang chữ nào in từ Sài Gòn trước 1975 tôi không cầm lòng được, cứ nhấp nhổm muốn xòe ra cho ai nấy cùng xem. Có lúc đã toan gạch toẹt bỏ tuốt các trích dẫn không cần thiết, nhưng rồi lại thôi: Chỗ yếu đó chẳng qua là một biểu lộ tâm lý của người xa xứ, mạnh tay trấn áp nó làm chi!

Tập sách được hoàn tất là do sự giúp đỡ về tài chánh của Ủy ban Nghiên cứu Khoa học Xã hội (Hoa Kỳ) và sự giúp đỡ chí tình về tài liệu của nhiều bạn hữu sống ở Âu châu và Mỹ châu, mà tôi xin chân thành cảm tạ. Lẽ ra tôi nên công khai tạ ơn từng vị, tuy nhiên nhiều người không muốn nêu tên, vậy nên đành để lòng biết lòng mà thôi.

Võ Phiến
Tháng 1-1986

_________________________

[1] Nước Việt Nam, trong thời Pháp thuộc, chia ra làm 3 phần, gọi là Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ. Cũng 3 phần đất ấy, về sau có khi được gọi là Nam phần, Trung phần, Bắc phần, lại có lúc còn được gọi là Nam Việt, Trung Việt, Bắc Việt, hay Nam bộ, Trung bộ, Bắc bộ, hay miền Nam, miền Trung, miền Bắc. Trong trường hợp sau cùng vừa kể, ở sách này chúng tôi không viết hoa chữ miền.
Trong khoảng thời gian 21 năm sau hiệp định Genève, nước Việt Nam bị phân chia làm 2 miền, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Trong trường hợp ấy, chúng tôi viết hoa chữ Miền (Miền Nam, Miền Bắc).
[2] Tạp chí Sáng Tạo, số 34, tháng 9-1958.
[3] Văn học giải phóng Miền Nam, nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1975.
[4] Nguyễn Văn Bỗng chẳng hạn, suốt một thời gian dài, cứ chân trong chân ngoài. Thoắt cái ông vào Nam làm nhà văn Miền Nam Trần Hiếu Minh, rồi vụt cái ông lại ra Bắc làm việc ở trụ sở hội Văn nghệ “trung ương” với Xuân Diệu, Huy Cận, trong tư cách Nguyễn Văn Bỗng (Xem Bên lề các cuốn sách).
[5] Hồ Chí Minh viết Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch ký Trần Dân Tiên, viết Vừa đi vừa kể chuyện ký T. Lan.
[6] Văn học giải phóng Miền Nam, nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1975.

 

               Mời đọc toàn bộ: "Văn Học Miền Nam - Tổng Quan của Võ Phiến" (pdf)

                  Võ Phiến trả lời tạp chí Văn Học về Bộ Văn Học Miền Nam (pdf) 

                         

                                                       Võ Phiến & phu nhân Viễn Phố

              

                                    

THAM KHẢO: Tài liệu, hình ảnh từ nhiều websites trên internet, đặc biệt từ: Học Xá, Tiền Vệ, Da Màu, Blog Nguyễn Hưng Quốc (voatiengviet), T-Vấn & Bạn Hữu (t-van.net), Người Việt, Sáng Tạo, Phạm Cao Hoàng ... Bài viết của: Võ Phiến, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hưng Quốc, Trần Việt Hải, Thụy Khuê, Nguyễn Ngọc Bích, Du Tử Lê, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Vy Khanh, Đặng Tiến, Đinh Cường, Hoàng Xuân Sơn, Song Thao, Luân Hoán, NgọcLan/Người Việt, Trần Vấn Lệ, Đặng Thơ Thơ, Phan Tấn Hải, Trần Mộng Tú, Đặng Phú Phong ...

                Vui lòng gởi ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:


Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com