arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow ANH CHO EM MÙA XUÂN - Thơ: Kim Tuấn; phổ nhạc: Nguyễn Hiền
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
ANH CHO EM MÙA XUÂN - Thơ: Kim Tuấn; phổ nhạc: Nguyễn Hiền PDF Print E-mail

       ANH CHO EM MÙA XUÂN - Thơ: Kim Tuấn; phổ nhạc: Nguyễn Hiền - Biên soạn: Phan Anh Dũng

    

              Tâm Hảo hát ANH CHO EM MÙA XUÂN - Thơ: Kim Tuấn; Phổ nhạc: Nguyễn Hiền

                                                Youtube      MP3

                            Nhạc không lời:   Hòa tấu   Piano (Linh Phương)

 

Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở,
chiều đông nào nhung nhớ
Đường lao xao lá đầy, chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây

Anh cho em mùa xuân, mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá
Lời thơ thương cõi đời, bầy chim lùa vạt nắng
trong khói chiều chơi vơi

Đất mẹ gầy có lúa, đồng ta xanh mấy mùa
Ngoài đê diều căng gió, thoảng câu hò đôi lứa

Trong xóm vang chuông chùa, trăng sáng soi liếp dừa
Con sông dài mấy nhánh, cát trắng bờ quê xưa

Anh cho em mùa xuân, trẻ nô đùa khắp trời
Niềm yêu đời phơi phới
Bàn tay thơm sữa ngọt, giải đất hiền chim hót
mái nhà xinh kề nhau

Anh cho em mùa xuân, đường hoa vào phố nhỏ
nhạc chan hòa đây đó
Tình yêu non nước này, bài thơ còn xao xuyến
rung nắng vàng ban mai

CODA: Anh cho em mùa xuân Nhạc thả tràn muôn lối

      

                      


 

                                             BẢN NHẠC (PDF) - Đông Thương gởi tặng

                               ANH CHO EM MÙA XUÂN qua tiếng hát của:

   Quang Dũng     Lệ Thanh      Lệ Thu      Xuân Phú    Hồ Hoàng Yến    Duy Quang

                                 

NHẠC SĨ NGUYỄN HIỀN:

Sinh năm 1927, ông là một trong những nhạc sĩ sinh trưởng và thành danh ở Hà Nội cùng một thời với Hoàng Trọng, Hoàng Dương, Văn Phụng, Nguyễn Văn Khánh…

Bắt đầu học nhạc từ năm 1935, ông đã học và sử dụng dương cầm, vĩ cầm, phong cầm. Năm 1950, ông là nhạc trưởng của ban nhạc "Hotel de Paris" tại Hà Nội.

Ông lập gia đình năm 1953 rồi vào miền Nam Việt Nam một năm sau đó, làm việc tại các bộ Thông tin, Chiêu hồi và Xây dựng Nông thôn. Ông từng làm Chủ sự phòng Chương trình Đài Phát thanh Sài Gòn; Phụ tá giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.

Năm 1978 ông bị quy là dính líu đến tổ chức phục quốc và bị giam đến năm 1980.

Năm 1988 nhạc sĩ Nguyễn Hiền và gia đình định cư tại Hoa Kỳ. Ông cùng cố nhạc sĩ Ngọc Bích và một số người bạn lập ra ban Saigon Band ở Little Saigon, Westminster, California.

Năm 2004 ông được Trung tâm Thúy Nga mời đến Toronto, Canada để thực hiện Đại nhạc hội Paris By Night 74 với chủ đề Hoa bướm ngày xưa nhằm vinh danh ông cùng với hai nhạc sĩ khác là Huỳnh Anh và Song Ngọc.

Nguyễn Hiền qua đời ngày 23 tháng 12 năm 2005, California, Hoa Kỳ vì bệnh ung thư phổi.

Ca khúc đầu tay của ông là Người Em Nhỏ (phổ thơ Nguyễn Thiệu Giang), sáng tác lúc 18 tuổi, để dành tặng cho người yêu - người vợ cho đến hết đời của ông là Nguyễn Thị An (cháu gọi nhà thơ Tú Mỡ là chú).

Một số nhạc phẩm của Nguyễn Hiền: Hai mươi câu của tuổi trẻ (thơ Song Hồ), Anh Cho Em Mùa Xuân (thơ: Kim Tuấn), Tìm Vui Sông Hồ (thơ: Vương Đức Lệ), Huyền Trân công chúa, Từ giã thơ ngây (với Minh Kỳ), Thanh Bình Ca (lời: Thanh Nam), Tìm đâu, Về bến xưa (lời Thiện Huấn), Buồn ga nhỏ (với Minh Kỳ), Hoa bướm ngày xưa (lời Thanh Nam), Lá thư gởi mẹ (thơ: Thái Thủy), Mái tóc dạ hương (thơ: Đinh Hùng), Gởi một cánh chim, Tiếng hát học trò (với Minh Kỳ), Lá rơi bên thềm (với Lê Trọng Nguyễn), Hồ Than Thở, Hương thề (thơ: Hoàng Ngọc Liên), Ngàn năm mây bay, Về Đây Anh (với Nhật Bằng), Hoa Đào Năm Trước (với Lê Dinh), Em Là Vì Sao Sáng, Bước Chân Dĩ Vãng (với Lan Đài), Ý Nhạc Chiều, Đêm Sơn Cước (với Thiện Huấn) …

(Nguồn: theo wikipedia)

NHÀ THƠ KIM TUẤN:

Kim Tuấn tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Khuê, ông sinh năm 1938 tại Huế nhưng quê gốc ở Hà Tĩnh. Ông là hậu duệ 5 đời Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Là con trai duy nhất của gia đình. Thuở nhỏ sống cùng gia đình ở Phan Thiết. Lớn lên vào Sài Gòn học. Ông có tính cách hiền lành; ngoại hình mập mạp, da hơi ngăm đen. Năm 20 tuổi cưới người vợ đầu là Hồ Thị Mộng Sương (em Hồ Đình Phương). Sau 1975 hai người ly dị, Mộng Sương sang Pháp, Kim Tuấn cưới người vợ thứ nhì là Minh Phương và có hai người con trai.

Kim Tuấn làm thơ từ năm 13 tuổi. Bắt đầu có thơ đăng trên các tạp chí đầu thập niên 1960. Tập thơ đầu tiên xuất bản là tập Hoa Mười Phương. Ông từng có một thời gian nhập ngũ và làm thông dịch viên tiếng Anh cho Quân đoàn II tại Pleiku. Thời gian này ông còn là phóng viên chiến trường với ký danh Vĩnh Khuê. Sau thời gian làm việc ông thường về nhà phụ vợ bán thuốc tây tại nhà riêng - hiệu thuốc cùng tên Kim Tuấn trên đường Phan Bội Châu. Năm 1977, ông về Sài Gòn làm hiệu trưởng Trường Anh văn và dạy nghề Thăng Long ở quận 4 - một ngôi trường do người Anh tài trợ dành cho trẻ em lang thang và dạy học ở đó cho đến cuối đời. Ngày 11/9/2003, sau khi tham dự một buổi văn nghệ phát quà Trung thu cho trẻ em nghèo tại trường, ông về nhà ăn bánh, uống trà, ngắm trăng với vợ con rồi đột ngột bị nhồi máu cơ tim và mất trên đường đưa đến bệnh viện.

Thơ của ông được in trên nhiều báo, tạp chí trước và sau 1975. Ngoài ra ông còn được nhà thơ Du Tử Lê gọi là "chiếc cầu nối huy hoắc giữa thơ ca và âm nhạc trước 1975" với nhiều bài thơ phổ nhạc đặc sắc mà tiêu biểu là Anh cho em mùa xuân (Nguyễn Hiền) và Những bước chân âm thầm (Y Vân). Đã xuất bản: Hoa mười phương (1959) ~ Trường Giang / Ngàn thương (chung với Định Giang, Vương Đức Lệ, 1961) / Dấu bụi hồng (1971) ~ Minh Đức / Thơ Kim Tuấn 1962-1972 (1974) ~ Gìn Vàng Giữ Ngọc / Thời của trái tim hồng (1990) ~ Nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé / Tuổi phượng hồng (1991) ~ Nhà xuất bản Trẻ / Tạ tình phương Nam (1994) / Thơ Lí và thơ ngắn (2002) ~ Nhà xuất bản Văn Nghệ

Một số ca khúc phổ thơ Kim Tuấn:  Anh cho em mùa xuân (Nguyễn Hiền) - phổ từ bài Nụ hoa vàng ngày xuân / Những bước chân âm thầm (Y Vân) - phổ từ bài Kỷ niệm - Ban Thăng Long hát / Khi tôi về (Phạm Duy) - gia đình Phạm Duy hát / Ta ở trời tây nhớ trời đông (Phạm Đình Chương) - Elvis Phương hát / Khi xa Sài Gòn (Lê Uyên Phương) - Lê Uyên hát / Nói với mùa thu (Thanh Trang) - Hoàng Cung Fa hát / Xuân tận miền xa (Thanh Trang) - Tâm Hảo hát / Ga nhỏ chiều mưa (Tấn An) - Thanh Tuyền hát / Tháng đợi năm chờ (Tấn An) - Minh Hiếu hát ...

 (Nguồn: theo wikipedia)

                             
                                      Thủ bút của nhà thơ Kim Tuấn, viết 7 ngày trước khi mất

Bài thơ NỤ HOA VÀNG NGÀY XUÂN

Anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây

Anh cho em mùa xuân
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá
thơ còn thương cõi đời
con chim mừng ríu rít
vui khói chiều chơi vơi

Đất mẹ gầy có lúa
đồng ta xanh mấy mùa
con trâu từ đồng cỏ
giục mõ về rộn khua
ngoài đê diều thẳng cánh
trong xóm vang chuông chùa
chiều in vào bóng núi
câu hát hò vẳng đưa

Tóc mẹ già mây bạc
trăng chờ trong liếp dừa
con sông dài mấy nhánh
cát trắng bờ quê xưa

Anh cho em mùa xuân
bàn tay thơm sữa ngọt
dải đất liền chim hót
người yêu nhau trọn đời
mái nhà ai mới lợp
trẻ đùa vui nơi nơi...
hết buồn mưa phố nhỏ
hẹn cho nhau cuộc đời

Khi hoa vàng sắp nở
trời sắp sang mùa xuân
anh cho em tất cả
tình yêu non nước này
bài thơ còn xao xuyến
nắng vàng trên ngọn cây...

(1961)

Kim Tuấn cho biết: "Tôi làm bài thơ này để nhớ về quê mẹ: Hà Tĩnh – vùng đất sỏi đá nhiều hơn cơm gạo với mơ ước “Đất mẹ gầy có lúa” – có lúa chứ không phải cỏ lúa như nhiều người vẫn hát nhầm (cỏ lúa thì phải nhổ đi chứ ai lại mơ ước có thêm!). Bài thơ này tôi sáng tác vào đầu thập niên 1960, sau đó in trong tập Ngàn Thương (chung với Định Giang) và được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thành ca khúc. Đã có nhiều ca sĩ thể hiện bài hát này nhưng tôi thích giọng ca của Hà Thanh hơn cả và điều làm tôi ray rứt là cho tới nay vẫn chưa nói được với nữ ca sĩ này một lời cám ơn…"

Nguồn: Thơ Kim Tuấn, Gìn vàng giữ ngọc - Saigon xuất bản, 1974

              Nguồn gốc nhạc phẩm “Anh cho em mùa Xuân”
                                 Thy Nga, phóng viên RFA / 2010-02-22

                                                        

                Chương trình phát thanh "Âm Nhạc Cuối Tuần"- Thy Nga thực hiện (MP3)

                              (có phỏng vấn nhạc sĩ Nguyễn Hiền trong chương trình)

Mỗi độ Xuân về, nhạc bản “Anh cho em mùa Xuân” lại vang lên các nơi, và hầu như người Việt nào cũng có thể hát theo. Thy Nga xin gởi đến quý thính giả câu chuyện về xuất xứ lời ca trong nhạc phẩm ấy.

Xuất xứ bản nhạc

Với giai điệu rộn ràng của một ca khúc Xuân, bài hát này đặc biệt được mến chuộng là do lời ca thiết tha yêu thương, mang hình ảnh quê hương với những mong ước đơn sơ hiền hòa.

Đã gần năm mươi năm nay, “Anh cho em mùa Xuân” trở nên nhạc khúc không thể thiếu khi nhà nhà đón Xuân sang.

Theo tài liệu thì vào Tết Đinh Hợi năm 2007, Tuổi Trẻ Online (là một trang báo mạng trong nước) tổ chức cuộc thi bình chọn ca khúc Xuân hay nhất. Kết quả là bài “Anh cho em mùa Xuân” đứng đầu. Điều đáng nói là cuộc thi do một tờ báo trong nước tổ chức, mà bài “Anh cho em mùa Xuân” là một nhạc phẩm được viết ở miền Nam trước 1975.

Tác giả Nguyễn Hiền là một nhạc sĩ miền Nam. Cơ duyên đưa đến tay ông bài thơ “Nụ hoa vàng ngày Xuân” của nhà thơ Kim Tuấn vào đầu Xuân 1962. Trong không khí Xuân tràn trề, những câu thơ dễ thương gây cảm hứng để nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ ngay thành bài “Anh cho em mùa Xuân” như chúng ta biết sau này.

Nhà thơ Kim Tuấn thì từng ở trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, và làm phóng viên chiến trường.

Từ năm 1988, nhạc sĩ Nguyễn Hiền ra hải ngoại định cư ở Quận Cam (thủ phủ người Việt tỵ nạn) nơi ông tham gia hăng hái sinh hoạt cộng đồng.

Nhạc bản “Anh cho em mùa Xuân” xuất xứ như vậy nhưng đã vượt mọi giới hạn và được dân chúng trong nước mến chuộng tới mức chọn là Ca khúc Xuân hay nhất, trên tất cả những bài ca khác.

Nhà thơ Kim Tuấn lìa trần vào đêm Trung Thu 2003 tại Saigon. Do ông có nhiều bài thơ được phổ nhạc, Thy Nga đã dành một chương trình âm nhạc tưởng nhớ ông. Trong chương trình đó, Thy Nga đã phỏng vấn nhạc sĩ Nguyễn Hiền về tình cảnh ông viết nên bài “Anh cho em mùa Xuân”. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền thuật lại:

" Nói về bản nhạc ấy, xuất xứ của nó là vào năm 1962, mùng 5 Tết hãy còn hương vị Tết, tôi đi làm, thấy có một tập thơ để trước bàn tôi ở văn phòng, nhan đề là 40 bài thơ của Vương Đức Lệ, Định Giang, Kim Tuấn và một nhà thơ khác. Lật xem thì tôi thấy có bài thơ 5 chữ tên là “Nụ hoa vàng ngày Xuân” thấy hay hay thì tôi mới nảy ý phổ nhạc. Tôi hoàn tất trong buổi sáng hôm đó.

Đến sáng hôm sau thì có một nhà thơ trẻ, xưng danh là Kim Tuấn “Đến gặp anh để hỏi thăm là hôm qua có để cái tập 40 bài thơ thì anh đã nhận được chưa?” Tôi bảo“Nhận được rồi, mà có một bài chắc là của anh, tên nó là “Nụ hoa vàng ngày Xuân” thì tôi đã phổ rồi nhưng mà tôi đặt tựa đề, lấy câu thơ đầu là “Anh cho em mùa Xuân”.

Nghe thế, anh ấy rất vui mừng.

Cái bài ấy, thơ 5 chữ, nét nhạc đầu tiên thì tôi dùng ba câu:
“Anh cho em mùa Xuân
Nụ hoa vàng mới nở
Chiều Đông nào nhung nhớ”

thì buồn cười là ghép 3 câu thơ thành một câu nhạc. Từ cái ý nhạc ấy, chúng tôi phát triển.  

Nó cũng là cái duyên văn nghệ cho tôi hoàn thành bài đó. Giám đốc hãng dĩa Asia bảo đưa để cho
Lệ Thanh hát thâu vào dĩa. Thế rồi đài phát thanh cũng trình bày, thành ra tên tuổi của Kim Tuấn tự nhiên được mọi người biết đến. Từ đó, quan hệ giữa tôi với anh ấy rất là vui vẻ và trong cái duyên văn nghệ.”

Kỷ niệm với nhà thơ Kim Tuấn

Thời gian đó, Kim Tuấn ở Pleiku, là giáo sư Anh văn đồng thời là thông dịch viên tại Quân Đoàn 2 tuy nhiên ông vẫn làm thơ đăng đều đặn trên các tờ báo văn học.

Sau biến cố 1975 thì ông xuống ở hẳn tại Saigon, đi dạy tiếng Anh, và dạy nghề cho những trẻ bụi đời tại Khánh Hội. Mãi đến năm 1990, ông mới xuất bản tập thơ “Thời của trái tim hồng” trong đó, thay lời bạt, Kim Tuấn nói “đôi điều với bạn yêu thơ” về đời mình, về lý do vì sao không làm thơ trong một thời gian dài:

“Gần 15 năm nay, tôi rất ít làm thơ. Thơ để làm gì giữa những mưu toan của cuộc sống. Bởi vậy nếu có dăm bài thơ trong 15 năm ấy chính là lúc tôi yêu thơ vô cùng, chính là lúc trái tim-thơ-tôi thúc bách tôi phải biến những lời phán truyền của nó thành con chữ. Xin bạn hiểu cho, tại sao lại chỉ có những bài thơ tình yêu ...”

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền kể tiếp về kỷ niệm với nhà thơ Kim Tuấn:
“Tôi cũng bị ở lại mất 13 năm. Trong thời gian đó, anh Kim Tuấn hay gặp tôi. Đạp xe đạp ở ngoài đường gặp nhau thì kéo vào quán cà-phê tâm sự.
Ba ngày trước khi tôi có giấy máy bay để đi sang Hoa Kỳ năm 1988, chúng tôi có một cái kỷ niệm riêng là anh ấy rủ tôi đi uống cà-phê sữa và cacao của Hoà Lan mà đối với ở Việt Nam lúc đó thì nó là món sang trọng. Anh ấy mua mấy điếu thuốc có cán (cười) đãi mình thì cũng là vui vẻ. Lúc bấy giờ là chia tay nhau, và đó là buổi cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Đến bây giờ thì nhận được tin anh ấy mất.”   

Đêm Trung Thu 2003, Kim Tuấn đi dự lễ phát quà cho trẻ em nghèo tại trường ông dạy học, trở về thì bị stroke và qua đời.

“... Đất mẹ gầy cỏ lúa
     đồng ta xanh mấy mùa
     Con trâu từ đồng cỏ
     giục mõ về rộn khua
     Ngoài đê diều thẳng cánh
     trong xóm vang chuông chùa
     chiều in vào bóng núi
     câu hát hò vẳng đưa
     Tóc mẹ già mây bạc
     trăng chờ trong liếp dừa ...”

(trích bài thơ “Nụ hoa vàng ngày Xuân”)

Bài thơ cũng như nhạc khúc ấy dường như đem cả khung trời mùa Xuân quê nhà đến với những người Việt xa quê hương.

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền từ trần ngày 23 tháng 12, 2005 tại Quận Cam, Nam California.

Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền (accordeon), Nhạc Sĩ Trần Trịnh (keyboard) và ban nhạc The Stars Band: Eric, Trần Minh, Châu Hiệp, Lý Văn Quý, Phạm Gia Cổn, Thanh Hùng


                             

Trích từ bài "Nguyễn Hiền, nhạc, thơ tràn muôn lối" trong quyển sách "Âm Nhạc của Một Thời" của Nhà văn Lê Hữu (Seattle, Washington), xuất bản năm 2011

Ít nhất đã có hai thế hệ hát “Anh cho em mùa xuân”.  Các ca sĩ và ban nhạc của thế hệ thứ hai (ở trong và ngoài nước) có khuynh hướng thay đổi tiết tấu của bài nhạc ấy bằng nhịp điệu nhanh, mạnh, sôi nổi, như muốn làm rộn ràng hơn không khí mùa xuân. Việc “cải biên” này cũng… tốt thôi, và cũng phù hợp với “phong cách trình diễn” trẻ trung, sống động hiện đại, tuy rằng bài nhạc, với âm giai La, Tango Habanera, dìu dặt ở “thuở ban đầu”, tự nó đã đủ để mang về mùa xuân (mà không cần phải “đánh nhanh, đánh mạnh” bằng điệu nhạc kích động để… mừng đón xuân về). Việc thay đổi tiết tấu và cách trình diễn ấy có phần nào đánh mất khí hậu của bài hát là vẻ lắng đọng của đất trời vừa mới sang xuân, pha lẫn chút thi vị ngọt ngào của “bài thơ còn xao xuyến”, thể hiện qua lời thơ và từng nốt láy mềm mại ở cuối những câu nhạc.

Mùa xuân của “Anh cho em mùa xuân” là xuân của trời đất giao mùa, là xuân của “lộc non vừa trẩy lá”, là vẻ e ấp của “nụ hoa vàng mới nở”. Trong cái nắng sớm của ngày đầu xuân có chút se se lạnh của chiều cuối đông còn rớt lại, có chút vấn vương của “chiều đông nào nhung nhớ”, có chút hơi hướng của đông tàn, xuân mới vừa sang…

Đôi lúc việc thay đổi hoặc hát sai lời nhạc cũng làm giảm phần nào cái đẹp và độ truyền cảm của bài nhạc gửi đến người nghe.

Đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây … (không phải là “mắt buồn… nhìn ngọn cây”)

Chữ “vin” ấy nghe rất thơ. Những chữ “lao xao” và “mòn” ấy nghe cũng rất thơ.

Hai câu hát trong bài được ca sĩ… hát sai nhiều nhất:

Đất mẹ gầy lúa
đồng ta xanh mấy mùa

Câu thứ nhất, “đất mẹ gầy có lúa”, là ước mơ đơn sơ của tác giả bài thơ gửi về quê mẹ Hà Tĩnh (vùng “đất cày lên sỏi đá”), được nhiều ca sĩ đổi thành “đất mẹ gầy… cỏ lúa”, hoặc “đất mẹ gầy… cỏ úa”, hoặc “đất mẹ… đầy cỏ lúa”!?!

Câu thứ hai, “đồng ta xanh mấy mùa”, ước mơ khác, được nhiều ca sĩ đổi thành “đồng xa xanh mấy mùa”, hoặc… “đồng xanh xa mấy mùa”!?!

"Trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’ có một câu tôi thích nhất,” tôi nhớ đã nói với nhạc sĩ Nguyễn Hiền như vậy. Có thể là ông cũng muốn nghe, muốn biết, nhưng tôi lại chưa có dịp nào (nay thì không còn dịp nào) để bộc lộ với ông.

Bầy chim lùa vạt nắng
trong khói chiều chơi vơi…

“Bầy chim lùa vạt nắng…”, câu hát tôi thích nhất. “Lùa vạt nắng”, tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ. Chữ “lùa” ấy rất mới, rất đẹp, rất thơ. Làm sao mà ông lại có thể nghĩ ra được cái chữ tài tình đến như vậy? Làm sao mà ông lại dùng chữ ấy chứ không phải là chữ nào khác? (“Bầy chim… đùa vạt nắng” chẳng hạn, như thế cũng là hay, nhưng không thể hay bằng “… lùa vạt nắng”). Ngày ấy chưa ai viết những lời như thế trong thơ, trong nhạc. Mãi về sau này ta mới nghe “lùa nắng cho buồn vào tóc em” (“Nắng thủy tinh”, Trịnh Công Sơn).

Điều thú vị, câu ấy không phải là câu thơ Kim Tuấn trong “Nụ hoa vàng ngày xuân”, mà là thơ… Nguyễn Hiền.

“Con chim mừng ríu rít” trong bài thơ được ông đổi ra thành “bầy chim lùa vạt nắng”, để tương ứng với những nốt nhạc thấp cao, trầm bổng, vừa giữ được ý thơ (vẫn “nghe” được tiếng chim “ríu rít” mừng vui), vừa “thơ” hơn và giàu hình ảnh hơn.

Tôi yêu câu thơ “mắt buồn vin ngọn cây” của Kim Tuấn và tôi yêu câu hát “bầy chim lùa vạt nắng” của Nguyễn Hiền. Câu thơ ấy rất “Kim Tuấn”, câu hát ấy rất “Nguyễn Hiền”. Tôi cũng yêu lối sử dụng những động từ “vin” và “lùa” ấy trong kho tàng tiếng Việt.

“Nhạc chan hòa đây đó”, câu hát ấy không thấy trong thơ Kim Tuấn. Hơn thế nữa, “nhạc, thơ tràn muôn lối”,* câu hát cuối của bài hát ấy cũng không thấy trong thơ Kim Tuấn. Trong “Nụ hoa vàng ngày xuân” không có câu nào nói đến “nhạc” cả. Vậy thì những câu ấy ở đâu ra, nếu không phải là… thơ của Nguyễn Hiền?. Trong nhạc có thơ, trong thơ có nhạc. Nhạc quyện vào thơ, thơ quấn lấy nhạc. Nhạc thơ, thơ nhạc đã hòa làm một.

“Anh cho em mùa xuân. Nhạc, thơ tràn muôn lối…” (xem chú thích của PAD)

Câu kết ở phần coda ấy là một “biệt lệ”, (hiếm khi được sử dụng trong nhạc thuật của ông) trong số những bài nhạc vẫn được ông soạn theo khuôn mẫu “cổ điển” với cấu trúc khá cân phương. Những chuỗi nốt nhạc rải đều và nốt ngân cuối rướn cao như bay lên cùng mùa xuân và tan loãng trong không, vẽ lên một nét nhạc đẹp. Cái hay của phần coda ấy là cái hay của một kết thúc đẹp, tròn đầy, gói trọn tình ý của bài nhạc.

Việc ông không thay đổi câu, chữ nào suốt khổ thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” làm nhớ tới những bài thơ ngũ ngôn khác từng được các nhạc sĩ khác phổ thành ca khúc cũng rất là “ngọt”. Hoặc, giữ nguyên vẹn bài thơ, như “Tiếng thu”, nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ cùng tên của Lưu Trọng Lư; hoặc, chỉ đổi có… một chữ trong toàn bài thơ, như “Chiều”, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ từ “Màu cây trong khói” của Hồ Dzếnh (chỉ đổi câu thơ cuối “khói xanh bay lên cây” thành “khói huyền bay lên cây”).

Sau câu thơ “lộc non vừa trẩy lá”, những câu nào không giữ nguyên được thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bèn thay đổi chút ít, trong lúc vẫn giữ ý chính của câu thơ. Lạ một điều, những câu ông đổi nghe rất thơ, và có phần… thơ hơn cả tác giả bài thơ. Chẳng hạn:

“Con chim mừng ríu rít” đổi thành “bầy chim lùa vạt nắng”
“Ngoài đê diều thẳng cánh” đổi thành “ngoài đê diều căng gió”
“Câu hát hò vẳng đưa” đổi thành “thoảng câu hò đôi lứa”
“Trẻ đùa vui nơi nơi” đổi thành “trẻ nô đùa khắp trời”
“Nắng vàng trên ngọn cây” đổi thành “rung nắng vàng ban mai”

Người nhạc sĩ đã “làm mới” thơ, đã làm thơ “thơ” thêm một lần nữa!

Tâm hồn nhạc sĩ Nguyễn Hiền vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ. Ông đã “nâng” thơ lên, đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”, đã tặng thêm cho bài thơ một đời sống khác. Ngôn ngữ nhạc quyện lấy ngôn ngữ thơ, khiến thơ bay lên, nhạc cũng bay lên. “Nụ hoa vàng ngày xuân” đã bước ra khỏi những trang thơ để hóa thành một trong những bài nhạc xuân hay nhất.

Nếu được phép “bình chọn ca khúc Xuân hay nhất” cho riêng mình, “Anh cho em mùa xuân” chắc chắn là một trong vài bài nhạc xuân tôi yêu nhất và luôn muốn được nghe đi nghe lại. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu vật đổi sao dời, bài nhạc xuân ấy nghe vẫn cứ “mới”, như mùa xuân vẫn “mới”, như những “nụ hoa vàng” vẫn nở trong nắng mới của một ngày đầu xuân.

 

LÊ HỮU

=================================================================

Chú thích của PAD: Theo bản nhạc gốc thì Coda viết là "Nhạc thả tràn muôn lối "... không phải là "Nhạc, thơ tràn muôn lối". Tôi không nghĩ chữ "thả" bị in sai mà có thể ý của NS Nguyễn Hiền là nhạc được tự do bay bổng đi khắp nơi ... Tuy nhiên, câu "Nhạc, thơ tràn muôn lối" như nhà văn Lê Hữu viết cũng rất hay và có lý, nhất là trong trường hợp duyên nhạc thơ hy hữu giữa nhạc sĩ Nguyễn Hiền và nhà thơ Kim Tuấn!

 


Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền: ‘Tấm Gương Sáng Của Nghệ Sĩ VN’
                                                 Nam Lộc

Nếu có người hỏi tôi, ai là khuôn mặt nghệ sĩ mẫu mực để tôi được nhìn làm tấm gương soi. Tôi sẽ không ngần ngại trả lời người đó chính là Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền. Tôi ngưỡng mộ ông không chỉ qua tấm lòng son sắt với quê hương đất nước hay tài năng sáng tác với các nhạc phẩm trữ tình, sang cả và mang nhiều ý nghĩa, mà còn nhìn ông như một người chồng, người cha mẫu mực. Nghe cô con gái út kể chuyện thời gian sau biến cố 1975, mỗi ngày chở các con đi học trên chiếc xe đạp "cọc cạch", dưới trời nắng cháy da hay cơn mưa tầm tã, nhưng ông vẫn âm thầm tính chuyện phục quốc, để rồi bị Cộng Sản cầm tù suốt mấy năm trường.

                   

Với tính tình điềm đạm, giọng nói từ tốn và kiến thức rộng rãi. Tuy theo Tây học, nhưng luôn mang nặng hồn dân tộc. Ông cởi mở với mọi người, rộng lượng với đàn em, tử tế với bạn bè và trân quý gia đình. Nhưng tất cả những ưu điểm trên đều không lớn hơn trái tim nhân hậu mà ông dành cho tha nhân và xã hội. Thời gian 10 năm gần đầy, mặc dù đã lớn tuổi, nhưng các hoạt động cộng đồng của ông vẫn không hề suy giảm. Qua những những bài biên khảo, nhận định, những buổi thuyết trình, hội thảo ở khắp mọi nơi.

Đặc biệt là với các vai trò đảm nhiệm như Chủ Tịch Hội Cao Niên Á Mỹ, thành viên xây dựng đền Hùng, hoặc Ủy Viên Văn Hóa và Nghệ Thuật của thành phố Westminster v..v.., nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã làm cho người bản xứ có những cái nhìn kính phục và thiện cảm đối với tập thể người Mỹ gốc Việt. Đó cũng chính là lý do mà hầu hết các cơ quan truyền thông báo chí, truyền hình hay trung tâm ca nhạc đều nhất lực vinh danh ông về các thành tích phục vụ cộng đồng.

Nếu ai có cơ hội hoạt động gần gũi với nhạc sĩ Nguyễn Hiền thì đó phải là người may mắn. Và chỉ cần học hỏi được một phần nhỏ trong thân thế và sự nghiệp bao quát của ông, thì đó chính là niềm hạnh phúc lớn
lao.


Nam Lộc
(Cuối năm 2005 - Viết nhân ngày tang lễ của nhạc sĩ Nguyễn Hiền)

          Kỷ Niệm với Nguyễn Hiền - Bài viết của nhà thơ Hoàng Song Liêm
     
    Đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, khi Quân Đội Quốc Gia Việt Nam mới thành lập, nhiều thanh niên lứa tuổi trên 20 được gọi nhập ngũ... Miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, Phòng 5 Bộ Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu thành lập và tuyển mộ một số văn nghệ sĩ với tư cách quân nhân đồng hoá, nghĩa là mang cấp bậc phục vụ về chuyên môn trong Quân Đội nhưng không phải qua lớp huấn luyện quân sự. Về viết lách thời đó gia nhập Phòng 5 có Ngọc Giao mang cấp Chuẩn úy còn Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam, Nguyễn Thiệu Giang đều là Thượng sĩ, Trung sĩ Nhất... Về bộ môn ca nhạc có Anh Ngọc, Hoàng Giác, Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Xuân Tiên, Đan Thọ, ...

    Thời gian 1953-1954 ở Hà Nội tôi gặp và quen biết nhạc sĩ Nguyễn Hiền khi anh phổ nhạc bài thơ "Người em nhỏ" của bạn đồng môn chí cốt Nguyễn Thiệu Giang. Di cư vào Nam, tôi cũng nhập ngũ theo quy chế sĩ quan đồng hoá phục vụ cùng ngành chiến tranh tâm lý nên thường gặp lại Nguyễn Hiền. Anh hơn tôi 7 tuổi nhưng tình bằng hữu thân thiết này bất phân niên tuế, dù năm sau đó tôi chuyển qua Không Quân đi Mỹ du học ngành cơ khí phi cơ. Khi tôi trở về nước cuối năm 1956 thì anh đã giải ngũ và là công chức lần lượt từ Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Thông Tin, Bộ Xây dựng Nông thôn... Ngoài tài sáng tác nhạc và đàn phong cầm, anh có trí nhớ thật tốt về con số và những đoạn văn Pháp ngữ của các tác giả thời lãng mạn thế kỷ thứ 19 như Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Musset... tất nhiên tôi rất tâm đắc với anh về điều này và chia sẻ với anh mấy bài thơ Pháp chuyển ngữ sang thơ Việt. Nguyễn Hiền "khoái" tôi nên làm ở đâu cũng muốn tôi xin biệt phái qua dân sự làm chung sở với anh nhưng bên Không Quân không cho tôi đi - thật ra ở Không Quân cũng rất vui nên đối với tôi, làm việc ở đâu cũng được.

    Nguyễn Hiền còn có may mắn là bà hiền thê nấu ăn ngon đúng sách vở gia chánh miền Bắc và tôi được thưởng thức nhiều món, nhất là sau này hai ông bà mở quán ăn tại nhà khu chợ Vườn Chuối. Sau biến cố tháng tư năm 1975, anh kẹt lại mấy năm rồi qua định cư ở nam Cali gần khu Cộng đồng đông người Việt. Hai chúng tôi, kẻ Đông người Tây Hoa Kỳ cách trở, chỉ gặp nhau một vài lần, gặp riêng cũng như gặp chung các bạn già như Mai Thảo, Tôn thất Niệm, Vũ quang Ninh... Nhớ anh, tôi vẫn hát nghêu ngao những bài ca thật hay của bạn hiền như
Hoa Bướm Ngày Xưa -Trần Thái Hòa & Như Quỳnh song ca, Tìm Đâu - Mai Hương hát.... và nhớ lại những câu nói đùa dí dỏm của bạn già tôi có cơ may được kết bạn.

Hoàng Song Liêm (Virginia - 22/2/2017)

                         

                                          Hoàng Song Liêm & Nguyễn Hiền

Ghi chú của PAD: Nhà thơ, cựu Trung Tá QLVNCH Hoàng Song Liêm sinh năm 1934 tại Phủ Lý (Hà-Nam). Ông dạy học và sau đó nhập ngũ năm 1954 với tư cách sĩ quan đồng hóa, phụ trách phần biên tập Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng. Năm 1955 du học Hoa Kỳ về ngành bảo trì phi cơ và sau đó phục vụ trong binh chủng Không Quân. Năm 1966, ông giữ chức Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến/Bộ Tư Lệnh Không Quân. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975. Hiện cư ngụ tại Fairfax, Virginia và vẫn thường xuyên sinh hoạt văn học nghệ thuật trong vùng.

XUÂN, TẾT QUÊ NGƯỜI

Gió lạnh Đông về trên xứ xa
Bâng khuâng lòng chợt nhớ quê nhà
Ly hương đã mấy năm rồi nhỉ
Ta khóc chưa mà lệ đã sa?

Ta rót mừng ta ly rượu đỏ
Chào Xuân đất khách, Tết tha hương
Hỡi ơi quê mẹ xa ngàn dặm
Se sắt lòng ta nỗi nhớ thương!

Rót ly rượu đỏ đưa năm cũ
Cạn một ly sầu mộng cố nhân
Em vẫn tận cùng trong ký ức
Bừng lên ý thắm dạt dào Xuân.

Quán nhỏ vang câu vọng cổ buồn
Chìm khu thương xá một màu sương
Gió băng khắp nẻo chiều cô tịch
Dõi bóng chim trời vọng viễn phương./.

Hoàng Song Liêm
(Virginia, 2007)


           Những kỷ niệm thân thiết với nhạc sĩ Nguyễn Hiền
                                                 Bài viết của Nhạc sĩ Lê Dinh

      

Từ trái: NS Nguyễn Hiền, NS Y Vân, Thanh Thoại, Tuyết Mai, Tuyết Nhung, x, Ngọc Nga, Thanh Nguyên, Ngọc Quang, Hồng Phúc  (ảnh sau một bản nhạc rời in trước 1975)


Tôi được quen biết với nhạc sĩ Nguyễn Hiền năm 1956, khi tôi vào làm việc tại Đài Phát thanh Saigon, nhờ ca nhạc sĩ Thanh Thoại, trưởng ban hợp ca Gió Bắc, gồm có Thanh Thoại, Tuyết Nhung, Thanh Nguyên, Ngọc Quang - mà tôi đã quen từ trước - giới thiệu. Tôi đã nghe tiếng nhạc sĩ Nguyễn Hiền qua một số ca khúc của anh, được trình bày nhiều lần trên làn sóng điện đài Saigon, như "Thanh bình ca"(lời Thanh Nam), "Về đây anh" (với Nhật Bằng), "Người em nhỏ" (Thơ Thiệu Giang) vào những năm đầu di cư và sau đó là "Tìm đâu", "Hoa bướm ngày xưa" (lời Thanh Nam), "Anh cho em mùa Xuân" (Thơ Kim Tuấn), "Mái tóc dạ hương" (Thơ Đinh Hùng), "Lá thư gởi mẹ" (Thơ Thái Thủy), "Ngàn năm mây bay", "Tiếng sáo diều", "Thầm ước", "Về bến xưa" (lời Thiện Huấn), "Buồn ga nhỏ" (với Minh Kỳ), "Đừng quên" (với Y Vân), "Tiếng hát học trò" (với Minh Kỳ), "Bước chân dĩ vãng" (với Lan Đài)...

Tình thân giữa Nguyễn Hiền và tôi trở nên thấm thiết hơn khi phòng Sản Xuất của tôi được dời về cạnh Phòng Điều Hợp (sắp xếp chương trình để đưa lên làn sóng) do Nguyễn Hiền làm chủ sự. Những khi rỗi rảnh, chúng tôi thường hay gặp nhau nói chuyện, từ chuyện văn nghệ riêng tư cho đến chuyện công, chuyện đài, góp ý kiến trong việc sản xuất, thực hiện chương trình cũng như đưa chương trình đến tai thính giả. Giờ ăn trưa, chúng tôi thường rủ nhau xuống quán Tàu «Lai Sanh Chành» ở ngả tư Phan Đình Phùng và Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoặc tiệm Phở 44 xéo xéo với đài, ở bên kia đường, để bàn chuyện văn nghệ và nhờ vậy mà chúng tôi có những sáng tác hợp soạn như
"Hoa đào năm trước"- Mai Thiên Vân hát, "Kỷ niệm chúng mình" - Minh Hiếu hát, "Phố vắng đêm mưa" v.v...

Nguyễn Hiền và tôi cũng có chung một ban nhạc, phát thanh hàng tuần trên đài Saigon, lấy tên là ban Nguyễn Hiền-Lê Dinh và trong ban Sóng Mới (một ban nhạc giới thiệu những giọng ca mới của đài Saigon) do nhóm Lê Minh Bằng - gồm có Lê Dinh - Minh Kỳ và Anh Bằng - phụ trách cũng có sự có mặt của Nguyễn Hiền trong thành phần ban nhạc. Cũng cần nói thêm là nhạc sĩ Nguyễn Hiền, khi còn là một học sinh, đã tỏ ra có năng khiếu về nhạc và được ông thầy nhạc là giáo sư Robert rất quí mến và vì vậy, Nguyễn Hiền rất thành thạo trong việc sử dụng nhiều loại nhạc khí.

 

                       

           

Nhắc đến việc có thể sử dụng nhiều loại đàn như piano, accordéon, flute, contrebasse... của Nguyễn Hiền, ngày Chủ nhật 30-05 năm 2004, hai nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Huỳnh Anh có mặt ở Toronto (Canada) để thu hình cho chương trình Thúy Nga Paris By Night 74 (giới thiệu 3 nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Huỳnh Anh và Song Ngọc), chúng tôi có mời hai nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Huỳnh Anh sẵn dịp này, từ Toronto đến Montréal chơi. Nhân cơ hội này, một thân hữu của chúng tôi là bác sĩ Mạc văn Trọng nhận đứng ra tổ chức đêm gặp gỡ hai nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Huỳnh Anh tại tư gia của anh. Có hơn 70 quan khách thân hữu tham dự đêm văn nghệ này - vì sức chứa ở sous-sol của gia chủ chỉ có thế - để nghe nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói về «bốn ngàn năm văn hiến» của dân tộc Việt, sự tổ chức học hành để tiến tới sự khôn khéo của người Việt Nam. Quan khách say sưa theo dõi bài nói chuyện bất ngờ rất lý thú của anh và cũng bất ngờ khi anh, với số tuổi 77, mang cây accordéon lên sân khấu để đệm đàn cho một thính giả ái mộ anh trình bày một bản nhạc của anh, vì vị khán giả ca sĩ này yêu cầu được chính tác giả đệm đàn. Và càng thích thú hơn nữa, khi anh trình bày luôn vài bản nhạc ngoại quốc để cống hiến quan khách như La Paloma, La Cumparsita, Chiều... bằng accordéon với sự phụ họa trống của tay trống cự phách, nhạc sĩ Huỳnh Anh.

                   

                Nhạc sĩ Nguyễn Hiền - Toronto 2004 - Ảnh của nhạc sĩ Lê Dinh


Những ai gần gũi Nguyễn Hiền đều công nhận rằng anh có một trí nhớ vô địch. Đã hơn 29 năm rồi, chúng tôi không gặp nhau, nhưng khi gặp lại ở Montréal ngày 1-06-04, câu đầu tiên mà Nguyễn Hiền hỏi tôi là «Sao, NBD -955 có khỏe không?» Sở dĩ mà Nguyễn Hiền gọi tôi là NBD-955 là vì ngày xưa, chiếc xe 4 bánh đầu tiên mà tôi có là chiếc Simca 8 cũ màu trắng, mua lại của một người bạn với giá 800 đồng thời đó, mà số trước bạ là NBD-855. Cũng như, sau khi đêm văn nghệ kết thúc, nhạc sĩ Nguyễn Hiền phải lên đường về nhà cô con gái ở Ottawa ngay để sáng hôm sau trở về Cali, anh còn gửi lại tôi lời hỏi thăm bà xã tôi: «Cho tôi gửi lời thăm bà Trần thị Kim Quyên nhé» làm tôi giật mình, sao mà anh lại biết và còn nhớ rõ ràng tên họ vợ tôi dù đã gần 30 năm xa cách. Đối với bạn bè kém tuổi hơn anh, trong việc giao dịch trực tiếp, anh thường gọi thân mật là «toi» và xưng «moi», còn đối với những người lớn tuổi hơn anh, anh gọi bằng «anh» và xưng «tôi», đó là một cách xưng hô thân mật, rất dễ mến.

Tôi viết những dòng ngắn ngủi này trong khi Nguyễn Hiền vừa vĩnh viễn nhắm mắt (thứ Sáu 23-12-2005) và một ngày trước đó (tức thứ Năm 22-12-05), tay sáo mà người ta gọi là «tiếng sáo thần» Nguyễn Đình Nghĩa cũng đã ra đi sau nhiều năm nằm hôn mê, bất động. Kẻ trước, người sau lần lượt ra đi, từ những anh lớn tuổi như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Thu Hồ, Hoàng Thi Thơ, Lê Trọng Nguyễn, Nhật Bằng, Hoàng Lang đến những anh em nhỏ hơn như Lê Uyên Phương, Trần Thiện Thanh, Duy Khánh, Trầm Tử Thiêng... rồi đây, chẳng bao lâu nữa, chắc sẽ không còn ai. Khi vừa hay tin Nguyễn Đình Nghĩa qua đời, Lam Phương gọi điện thoại cho tôi biết tin buồn và khi bàn về kiếp con người, nhất là trong giới nghệ sĩ, Lam Phương có đưa ý kiến để tôi viết một ca khúc có tên là «Kẻ trước người sau». Tôi mới bảo «Thôi Lam Phương viết đi», Lam Phương trả lời: «Tay em cầm đàn chưa được, sáng tác mà không có đàn, mất nhiều cảm hứng cho nên em không viết, anh viết đi». Nghe sao mà buồn thảm!
Trở lại với Nguyễn Hiền, sau khi gặp lại bạn bè cũ như chúng tôi, Huỳnh Anh, Phạm Mạnh Cương, nữ ca sĩ Lệ Thanh trong đêm 1-06 ở Montréal rồi trở về Cali, 3 ngày sau, ngày 5-06-2004, Nguyễn Hiền có viết cho tôi một lá thư cám ơn rất cảm động như sau:

Westminster, June 5, 2005

Lê Dinh thân mến,

Tôi đã trở về California chiều ngày thứ tư 2 tháng 6, nhớ mãi hình ảnh Canada và sự tiếp đón của quí bằng hữu Montreal đã dành cho mình. Rất cảm động và nhờ bạn chuyển đến anh chị em lời cảm tạ nồng nhiệt. Có ghé tiệm Paris By Night Thúy Nga, thấy bao thơ khán giả gửi Lê Dinh, bèn cầm lấy và chuyển ngay đến bạn qua bưu điện. Hẹn dịp nào thuận tiện sẽ làm một chuyến nữa thăm lại Montreal gặp lại tất cả các bạn, nếu còn sức khỏe. Mình có gọi phone cho Huỳnh Anh ở S. Francisco nói chuyện rồi. Good bye và hỏi thăm bà Quyên cùng toàn thể gia đình bạn.

Nguyễn Hiền


Không ngờ lời tạm biệt của anh là lời vĩnh biệt, có ai có biết đâu lần gặp nhau ngày 1 tháng 6 năm 2004 là lần cuối cùng. Nhớ lại đêm đó, gần khoảng nửa khuya, khi chúng tôi tiễn Nguyễn Hiền ra xe để về Ottawa, có nhiều bạn bè còn muốn mời anh đến Montréal một lần nữa, vui vẻ và sẵn sàng bảo trợ để anh sang Montreal nói chuyện tiếp về văn nghệ, vì theo ý kiến của các anh em này, nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngoài sự hiểu biết rộng còn là một cuốn tự điển sống về ca nhạc. Nguyễn Hiền cũng nói với tôi trong lúc bắt tay từ giã, «Khi nào "toa" hú một tiếng là có mặt "moi" ngay», nhưng sống chết nào ai biết được số trời. Sinh tử bất kỳ, sống hay chết không có kỳ hạn, đời chỉ là cõi tạm, chỗ ở vĩnh viễn của Nguyễn Hiền là cõi bình yên, chốn Niết bàn, chỗ ở của một nghệ sĩ tài hoa nhưng - như mọi người đều biết - có một đời sống rất mẫu mực trong gia đình. Về việc này, anh thường nói «ranh giới giữa cái tốt và cái xấu chỉ có một bước», anh cảm ơn cha mẹ, bằng hữu và những người bạn lớn tuổi mà anh thường giao du đã cho anh một tấm gương sáng, ảnh hưởng không ít tới đời sống trong gia đình của anh.

 

Lê Dinh
Montréal, 23-12-2005 (Nguồn: Nguyệt san Nghệ Thuật số 143. 2/06)

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, một dung hợp điển hình giữa tài năng và nhân cách - Bài viết của nhà thơ Du Tử Lê

                          

                                           Du Tử Lê, Nguyễn Hiền, Kiều Chinh

 Trong chừng mực nào đó, dường như đám đông, dân tộc nào, cũng dành cho giới văn nghệ sĩ một cái “lề”, một đường biên rộng, đủ cho họ sống một đời sống tương đối phóng khoáng hơn người bình thường.
Tại sao?

Có thể từ lòng yêu mến tác phẩm hay, tài năng một văn nghệ sĩ mà đám đông đã mặc nhiên có cái nhìn bao dung, rộng lượng với các văn nghệ sĩ.

Cũng vẫn thuộc về đám đông, có người lý trí hơn, cho rằng, để giới văn nghệ sĩ có thể cung ứng những sản phẩm tinh thần giá trị, hay để họ phát huy được, rực rỡ hơn tài năng trời cho họ, xã hội nên dành cho họ một vài biệt lệ, miễn không quá đáng…

Có người còn nhiệt tình hơn, khi lý luận rằng: Nếu bắt nhà thơ A, nhà văn B, nhạc sĩ C. phải là có đời sống của một công chức chính ngạch, thuộc loại “thượng hạng ngoại hạng”, hay một nhà đạo đức, một nhà mô phạm gương mẫu… thì làm sao họ có thể cho chúng ta những tác phẩm thơ mộng, lãng mạn như chúng ta đã từng được thụ hưởng?

Chẳng biết có phải từ những cái nhìn ưu ái đặc biệt vừa kể mà, người Việt Nam dường đã có chung một kết luận mang đầy tính thông cảm, rằng: “có tài, có tật”.

Tóm gọn lại, trong sinh hoạt xã hội, đôi khi bạn có một vài hành vi vượt ngoài khuôn khổ đời thường, thí dụ cờ bạc, hút sách, trai gái, sống bừa bãi, cẩu thả…nhưng, nếu được đám đông “phê” cho mấy chữ, đại loại”văn nghệ sĩ mà”… thì kể như bạn đã được tha thứ hoặc, chí ít cũng được giảm khinh.

Lời phê ấy, giống như một thứ giấy phép “đi trong giờ giới nghiêm” vậy.

Nhìn vào sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ thời tiền chiến, người ta thấy có nhiều nhà văn, nhà thơ nghiện thuốc phiện, mê đi hát cô đầu…

Thế hệ kế tiếp, tính từ điểm mốc 1954, ở miền nam Việt Nam, số văn nghệ sĩ nghiện thuốc phiện không nhiều. Nhưng số người thích đỏ đen và, những cuộc phiêu lưu tình ái…lại có phần gia tăng…

Tuy nhiên không phải tất cả những văn nghệ sĩ được đám đông công nhận tài năng, tên tuổi đều là những người “sử dụng” cái giấy phép “đi trong giờ giới nghiêm” mà xã hội đã ưu ái ban, cấp cho họ.

Chẳng những thế, trong số này, còn có nhiều văn nghệ sĩ vẫn sáng tác được những tác phẩm giá trị mà, đời riêng của họ, lại rất nghiêm chỉnh, mẫu mực. Phẩm chất đời sống xã hội của họ, có phần cao hơn người bình thường nữa.

Một trong những văn nghệ sĩ có được cùng lúc hai mặt tưởng chừng đối chọi nhau kia, là cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền.

Lần đầu tiên tôi được gặp nhạc sĩ Nguyễn Hiền vào khoảng đầu năm 1965 ở tiệm phở 44, trước đài phát thanh Saigòn, cuối đường Phan Đình Phùng, cùng với thi sĩ Đinh Hùng. (Tiệm này lấy số nhà 44, làm tên.)

Thời gian đó, tôi đang viết cuốn “Năm sắc diện, năm định mệnh” mà, cố thi sĩ Đinh Hùng là 1 trong 5 người tôi chọn, nên chúng tôi thường gặp nhau.

Tôi muốn mở một cái ngoặc ở đây, để nói rõ hơn rằng: Trong số những văn nghệ sĩ miền Nam không bao giờ lái xe, dù xe hai bánh hay xe hơi, không phải là cố nhà văn Mai Thảo.

Thời gian tham gia kháng chiến nhà văn Mai Thảo đã từng phải đạp xe từ khu này qua khu khác. Thời gian chủ trương tạp chí sáng Tạo ở Saigòn, ông có xe hơi riêng và tự lái. Chỉ sau khi bán đi chiếc Austin, lúc đó, tác giả “Đêm giã từ Hà Nội” mới dùng tới phương tiện xích lô…

Riêng thi sĩ Đinh Hùng thì tuyệt đối không.

Thời gian ở trong vùng kháng chiến, tác giả “Mê hồn ca” cũng chưa một lần đạp xe đạp. Di cư vào miền Nam, ông cũng chưa một lần tự lái xe. Dù cho công việc buộc ông phải thường xuyên xê dịch.

Phương tiện di chuyển quen thuộc nhất của tác giả “Mộng dưới hoa” là: Anh em văn nghệ hoặc, sử dụng taxi, xích lô…

Trở lại với tiệm phở 44, giữa khi chúng tôi đang ăn thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bước vào. Đó là một người đàn ông nho nhã, trắng trẻo. Ông có dáng dấp một nhà giáo nhiều hơn một nghệ sĩ đã có nhiều năm chơi nhạc cho một số dancing nổi tiếng ở Hà Nội cũng như Saigòn.

Là bạn thân của nhau, nên khi thấy bạn, thi sĩ Đinh Hùng gọi, như reo:

“Lại đây. Lại đây. Nguyễn Hiền.”

Rất từ tốn, người nhạc sĩ nổi tiếng từ khi còn rất trẻ ở Hà Nội, với nhạc phẩm “Người em nhỏ”, phổ thơ Thiệu Giang, bước lại bàn. Ông bắt tay chúng tôi. Ngồi xuống.

(Qua một bài viết của tác giả VDA, gần đây, tôi mới biết họ Nguyễn sáng tác ca khúc “Người em nhỏ” nhằm tặng người bạn đời của ông.)

Sau khi nghe thi sĩ Đinh Hùng giới thiệu về tôi, họ Nguyễn bảo, ông tin cuộc đời có cái gọi là “hữu duyên”!

Ông nhìn tôi, giải thích:

“Mấy ngày qua tôi có ý tìm anh. Tôi vừa xin được địa chỉ và số điện thoại nơi làm việc của anh qua Mai Trường…”

Số là ông mới phổ nhạc xong bài thơ “Khi người về” của tôi. Ông muốn đổi tên nó thành “Tiếng hát ru tôi”.

Ông nhấn mạnh, ông giữ được gần như nguyên vẹn lời thơ và, kết luận, nếu tôi cũng đồng ý thì, bản nhạc sẽ được trình bày nay mai trên đài phát thanh với nhan đề ấy.

Tôi nói, nhan đề ông chọn cho ca khúc, có phần thơ hơn nhan đề chính. Tôi thích lắm, và:

“Chắc anh không biết, anh là người thứ hai sau anh Mai Trường phổ nhạc thơ của tôi…”

Từ đấy, họ Nguyễn nói về thơ, nồng nhiệt như một thi sĩ.

Ông kể:

“Có anh Đinh Hùng ở đây, anh ấy biết, tôi rất thích thơ. Thơ trên báo hay thơ in thành sách…Hễ đến tay tôi là tôi đều đọc hết. Tôi đọc rất kỹ những bài tôi thích…Tôi có thói quen chú ý nhiều tới những động từ và tĩnh từ trong thơ…”

Thi sĩ Đinh Hùng chăm chú nghe với những cái gật gù, như đắc ý về những nhận định của bạn ông.

Trước khi chia tay, để hai người ngồi lại với nhau, tôi nói:

“Thưa anh, nếu được, xin anh làm ơn cho tôi biết trước giờ phát bản nhạc để tôi đón nghe!”

Tác giả “Hoa bướm ngày xưa” gật đầu. Ông rút trong túi, miếng giấy nhỏ, đọc lại số số điện thoại nơi tôi làm việc…

Tôi không biết có phải tính nghiêm túc, cẩn trọng (nhưng vẫn cởi mở của ông,) hay do chiếc cầu nối là thi sĩ Đinh Hùng mà, chúng tôi đã có được một tình thân trong tương kính khá mau chóng.

Đúng như những gì tôi cảm nhận được về ông, từ gặp gỡ thứ nhất, mỗi lần ca khúc “Tiếng hát ru tôi” được thu thanh, hoặc phát lại, ông đều tìm cách cho tôi biết.

Là một nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng họ Nguyễn cũng là con người của đời sống gia đình. Có thể vì thế , dù ở cùng một thành phố với nhau, tôi chớ gặp ông ở những quán café, nhà hàng chúng tôi hay la cà, thuở ấy. Mỗi khi muốn gặp ông, để nói một chuyện gì đó, tôi phải điện thoại trước và, điểm hẹn thường là phở 44, trước giờ ông thu thanh.

Tuy nhiên, tác gỉa “Lá thư gửi mẹ”, phổ từ thơ của Thái Thủy, cuối cùng, đã cho tôi một kỷ niệm vô cùng ý nghĩa.

Tôi nhớ kỷ niệm này tới mức mỗi khi bị hỏi về chuyện nhuận bút hay bản quyền tác phẩm, những ngày đầu cuộc đời làm văn nghệ của mình, tôi đều nhắc lại, cũng như đã từng viết xuống.

Đó là sự kiện, bẵng đi một thời gian không gặp tác giả “Mái tóc dạ hương” (thơ Đinh Hùng,) một buổi trưa, nhà văn Nguyễn Đình Toàn nhờ tôi chở ông từ café La Pagode về Đài Saigòn. Ngay khi vừa cặp chiếc xe sát lề đường, trước cửa Đài, tôi nhác thấy nhạc sĩ Nguyễn Hiền từ phía phở 44 băng qua.

Ông dơ tay nửa như chào, nửa như muốn bảo đợi…

Bước lên lề, trước mặt Nguyễn Đình Toàn, ông rút từ túi sau, một khoản tiền, bọc trong một miếng giấy trắng (giống như đã chuẩn bị sẵn,) đưa cho tôi.

Ông nói:

“Một trung tâm băng nhạc nó mới thu bài “Tiếng hát ru tôi”. Đây là phần tác quyền của anh”.

Ông không nói, tôi cũng không hỏi số tiền tác quyền ông chia cho tôi là bao nhiêu. Điều đó, với tôi, thực sự không quan trọng. Điều tôi cảm khích, tôi nhớ mãi, tựa hồ mới xẩy ra, chính là cái cung cách cư xử, ăn ở của ông.

Cung cách như một truyền thống văn hóa có tự bao đời của những người trí thức làm văn nghệ.

Không biết có phải vì sự việc xẩy ra bất ngờ, hay vì một nguyên nhân nào khác, khiến tôi không nói thêm được với ông lời nào, ngoài ba chữ “Cám ơn anh.”

Kể lại chuyện này, tôi chỉ muốn nói tới nhân cách của họ Nguyễn.

Nhiều năm trước đây, nhà hàng Tài Bửu (khi còn tọa lạc ở ngã tư đường Magnolia và Bolsa, thuộc thành phố Westminster,) là nơi sinh thời, tác giả ca khúc “Anh cho em mùa xuân” (thơ Kim Tuấn,) hay có những buổi sáng ngồi uống café với bằng hữu.

Trong những gặp gỡ này, mỗi khi có dịp, tôi lại kể kỷ niệm trên, (trước mặt ông,) như một cố tình, bày tỏ lòng quý trọng của cá nhân tôi, đối với ông. Người nhạc sĩ tài hoa, tới cuối đời, vẫn giữ được cho mình, một nhân cách cao. Quý.


Du Tử Lê,
6-2010
 

 Kim Tuấn, chiều đông nào nhung nhớ - Bài viết của họa sĩ Đinh Cường

    

                  Thiếu nữ mùa Xuân - Tranh Đinh Cường (sơn dầu trên canvas 24 x 30 inches)


Anh cho em mùa Xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều Đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây …

   

         Kim Tuấn 1959                                        Chữ Kim Tuấn ký tặng


Tôi lại được nghe lời ca ấy khi Tết đến, thơ Kim Tuấn, Nguyễn Hiền phổ nhạc.

…” Tôi được đọc thơ anh đã lâu, nhất là cứ vào tối ba mươi Tết mỗi năm là tôi đón đợi nghe bài thơ được phổ nhạc của anh . Có một cái gì dịu dàng trong đó. Có không khí của mùa xuân trong đó, mùa xuân trong lòng người xưng em. Anh cho em mùa xuân… tôi liên tưởng đến bài Sonnet của Arvers. Nhất định là nó sẽ sống như Sonnet d’ Arvers, như Valses của Johann Strauss… “ ( Võ Hồng, trích thư riêng ngày 8-7-1971, in ở bìa sau tập thơ Thời của trái tim hồng – 1990 ) . Nụ hoa vàng ngày xuân, bài thơ năm chữ, 38 câu, làm năm 1961, thời Kim Tuấn vừa hơn hai mươi tuổi, chúng tôi là bạn của nhau từ thời gian đó, còn giữ trong album  ảnh Kim Tuấn đề tặng từ Pleiku năm 1959 . Kim Tuấn hiền lành, mập mạp, da hơi ngăm đen với nụ cười híp mắt. Ba anh dáng phương phi cao to, mẹ anh còn giữ được hàm răng đen như các bà cụ xưa. Quê quán gốc Hà Tĩnh, vào Huế rồi vào Phan Thiết, Pleiku lập nghiệp. Thời gian sau cùng ở Sài Gòn . Anh là con trai một nên rất được nuông chiều. Những năm 1960 chúng tôi thường gặp nhau trong những không gian văn nghệ như Đàm trường viễn kiến của Nguyễn Đức Quỳnh, Câu lạc bộ văn hoá của Phạm Xuân Thái, thường đi với Định Giang, Ninh Chữ, Hoàng Trúc Ly… nay các bạn đã không còn .



Bìa tập thơ Ngàn Thương - 1961


Tập thơ Ngàn Thương  Kim Tuấn & Định Giang in chung năm 1961, tôi vẽ bìa, chữ kẻ bằng tay, bức tranh nhỏ là hình ảnh rừng cây như những con nguời chụm mặt vào nhau trên mặt đất nồng nàn. Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất, Phạm Công Thiện mới mất đó, cũng đã gần giáp năm. Và Kim Tuấn, người bạn thơ dễ thương hết sức ( nói như Nguyễn Xuân Thiệp ) ra đi đã tám năm, mất đêm 10 tháng 9 năm 2003- đêm rằm trung thu – tại Sài Gòn sau khi dự lễ phát quà trung thu cho học sinh nghèo tại trường dạy tiếng Anh và dạy nghề Thăng Long tại quận 4 do anh làm hiệu trưởng, do tổ chức từ thiện trẻ em Sài Gòn hỗ trợ ( Saigon Children’s Charity)

Năm hai mươi tuổi Kim Tuấn kết hôn cùng chị Hồ Thị Mộng Sương ( em gái nhà thơ Hồ Đình Phương ) Sau năm 1975 Kim Tuấn cưới người vợ mới, chị Minh Phương, làm việc ở Phú Nhuận :

Đưa em về Phú Nhuận
Dong xe trên phố chiều
Lúc xa người – ngõ rẽ
Lòng nhớ thầm bao nhiêu …

(Đưa em về Phú Nhuận, bài viết tặng Minh Phương )

Anh chị có hai cháu trai – Bảo Khôi và Bảo Khánh - nay đều đã học hành thành tài. Kim Tuấn là người lo cho gia đình, thời khó khăn anh đã viết sách giáo khoa, biên khảo, sách dạy văn phạm Anh văn để phụ nuôi sống . Năm 1977 trở lại làm ông giáo bên quận tư cùng các nhà thơ thân quen ở đó như Cao Quảng Văn, Vu Gia, Lý Minh…

”… Đầu năm 1977, tôi quay lại nghề cũ của tôi ở Quận Cảng nghèo nàn. Tôi tự nhốt mình lại trong bốn bức vách với những đứa học trò nghịch ngợm . Phía sau lưng tôi là bảng đen và phía trước tôi là những đôi mắt nhìn lên ông thầy xác xơ của chúng nó . Ngày tháng lại qua đi và tóc tôi mỗi ngày lại thêm những sợi bạc …” ( Kim Tuấn, đôi điều với bạn yêu thơ – Thời của trái tim hồng –trang 73, nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé 1990 )  Anh còn dạy ở Trung tâm Ngoại ngữ Đại học sư phạm, 280 An Dương Vương cùng với Châu Văn Thuận .

một nguời bạn, Kim Tuấn, Nguyễn văn Hiền, Đinh Cường, Hạ Quốc Huy – tuần lễ văn hoá Pleiku 1974

Năm xưa thỉnh thoảng tôi lên Pleiku thăm bạn, ở lại nhà là tiệm thuốc tây Kim Tuấn trên đường Phan Bội Châu, nhớ nhất là lần anh cùng Vũ Hoàng , nghị viên thành phố và các bạn tổ chức tuần lễ văn hóa Pleiku năm 1974, mời tôi lên bày tranh chung với Hạ Quốc Huy, Nguyễn văn Hiền . Bên văn có các anh Mai Thảo, Duyên Anh, bên nhạc có Phạm Duy… Một ngày cuối tuần anh Mai Thảo cùng chúng tôi đi xe jeep lên thăm Kinh Dương Vương ( họa sĩ Rừng) ở KonTum, lúc ấy Bích Vân, vợ của Rừng đang làm ở bệnh viện Kon Tum . Còn in dấu trong tôi ngôi nhà thờ KonTum xưa cổ, đoạn đường Pleiku – KonTum qua dòng sông Dakbla và dãy núi Chuprong khi chiều xuống mờ sương tím, buồn . Pleiku, thời tướng Vĩnh Lộc tư lệnh quân đoàn 2, thiếu tá Dương Diên Nghị ( nhà thơ Diên Nghị ) làm trưởng phòng 5, Uyên Thao ( Vũ Quốc Châu ) trực phòng phóng viên chiến trường, trung uý Trầm Trọng Tài ( nhà thơ Tô Mặc Giang ) rất thân Kim Tuấn, trung uý Nguyễn Vinh Hiển ( nhà văn Hoàng Khởi Phong ) bên quân cảnh, sau qua Đà Lạt với trung uý Nguyễn Xuân Thiệp ( nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp ) làm trưởng đài phát thanh quân đội . Thời Trịnh Công Sơn và tôi đang lang bạt ở đó, cả những Thái Ngọc San , Lê văn Ngăn, Chu Sơn… từ Huế vào ( nhớ có bạn bị quân cảnh bắt vì giấy tờ không hợp lệ  đã được trung uý Hiển thả vì tình văn nghệ ) . Một thời chiến tranh, đầy nhiễu nhương . Thuở đất trời bày đặt nhiễu nhương ( Trần Hoài Thư)… Pleiku, như Nguyễn Mạnh Trinh viết : “… Thành phố lạ lùng, của những lưu dân từ khắp nơi của đất nước . Và nhất là thành phố của lính, của những người từ tiền đồn, chiến trường trở về, đốt tiền để mua một đêm vui tạm bợ rồi trở lại đơn vị lao mình vào cuộc máu lửa ngày mai …”( Kim Tuấn, nhà thơ vừa ra đi -  Hoa Thịnh Đốn Việt Báo 26.9. 2003 )

Kim Tuấn, con trai một, nhập ngũ được ưu tiên, anh phụ trách dạy Anh văn trong quân đội, cũng trực gác, cắm trại kể cả đi theo hành quân :

Tết này ngưng chiến lo đồn trại
đêm gác chòi cao nhìn núi cao
lửng lơ dăm bóng đèn soi sáng

mưa dưới đồi xa khuất chiến hào
( Gửi mẹ mùa xuân – Thơ Kim Tuấn, Gìn vàng giữ ngọc xb 1-1975)

 

Một sĩ quan bạn, mẹ Kim Tuấn áo khoác đen, Kim Tuấn, Đinh Cường, một người bạn - (Biển Hồ Pleiku 1974)

Thời ở Sài Gòn tôi hay ghé nhà Kim Tuấn ở 35/7C đường Phát Diệm ( nay là Trần Đình Xu ), rủ Kim Tuấn đi cà phê, nhớ bộ divan gõ quý láng bóng ở phòng trước, nhớ hai bác hiền lành phúc hậu . Kim Tuấn cũng hiền như thơ anh, những  câu thơ vốn đã đầy nhạc tính :

từng bước từng bước thầm
hoa vông rừng tuyết trắng
rặng thông già lặng câm
hai đứa nhiều hối tiếc
sương mù giăng mấy đồi
tay đan đầy kỷ niệm
mưa giữa mùa tháng năm
dật dờ cơn gió thổi …

( Kỷ Niệm )

Bài Kỷ Niệm, Y Vân phổ nhạc lấy tên Những bước chân âm thầm , điệu boléro, cùng với Anh cho em mùa xuân, điệu tango habanera Nguyễn Hiền phổ là hai bản nhạc một thời các ca sĩ hay hát tại các phòng trà vũ trường Sài Gòn . Thơ Kim Tuấn còn được rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng khác phổ nhạc, như Phạm Duy với “ Khi tôi về “, Lê Uyên Phương với “ Khi xa Sài Gòn”, Phạm Đình Chương với “ Ta ở trời Tây nhớ trời Đông ”…và những người bạn như Vũ Hoàng, Đoàn Đình Thạch, Lê Văn Lộc, Song Giang nhưng chưa phổ biến .  Mùa xuân bàng bạc trong thơ anh cũng như phố núi, dĩ nhiên, anh đã gắn bó bao nhiêu năm cùng Pleiku :

ở trên núi ta làm thơ với núi
có khi buồn làm bạn với rừng khô

( Trên núi mình ta, Thơ Kim Tuấn – Gìn vàng giữ ngọc xb 1.1975)

Như Miền lệ xanh, tên một bức tranh của tôi Kim Tuấn rất thích, lấy làm tựa một bài thơ xuôi kỷ niệm . Có những chiều lang thang cùng nhau trên phố, đêm ghé hội quán Phượng Hoàng …

buổi chiều Pleiku không có mặt trời
chỉ có mây bay trên đầu ngọn núi

( Buổi chiều ở Pleiku )

làm sao không nhớ  Vũ Hữu Định :

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em uớt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

(Còn một chút gì để nhớ)


Đinh Cường, Bửu Chỉ, Kim Tuấn – Gallery Tự Do Sài Gòn, 7 - 2002

Lần gặp Kim Tuấn sau cùng, tháng 7 năm 2002 tại Gallery Tự Do, Sài Gòn nơi Bửu Chỉ và tôi bày tranh chung, không ngờ chỉ năm sau đó anh mất vì bị nhồi máu cơ tim, ở tuổi 65 .

Kim Tuấn, chiều đông nào nhung nhớ, câu thơ làm khi còn xuân xanh, cho đến hơn mười năm trước khi mất, như thấy trước, anh đã để lại  bài cuối cùng:

Anh buồn anh tóc trắng
Trời buồn mây trắng bay
Em ngày nào áo trắng
Vòng hoa trắng trên tay

Anh cuối đời tóc bạc
Nhớ đầu đời tóc xanh
Một đời anh lận đận
Ngày tháng đã qua nhanh

Ngày tháng còn lại gì?
Nụ cười và nước mắt
Khi anh về với đất
Em về hoa trắng bay …

( Thời của trái tim hồng , trang 69, nhà xb tổng hợp Sông Bé 1990 )

Ba tháng trước khi mất, anh còn gửi về dòng sông Hương yêu dấu như soi thấu lòng anh . Ở đâu và bao giờ, anh cũng là nhà giáo - nhà thơ, với trái tim ắp đầy thương yêu và khát khao được sẻ buồn chung vui cùng tất cả mọi người ( Cao Quảng Văn, Biết đến khi mô – Nhớ Huế tập 19 ). Có thể xem đây là một trong những bài thơ cuối cùng của Kim Tuấn:

ơi dòng sông xanh
trôi hoài nỗi nhớ
ngọn sóng cồn cào
con đò bến nước
trăng vàng lênh đênh

ơi dòng sông xanh
trôi qua phố Huế
lặng lờ như thế
ôm phố vào lòng
tay dài yêu dấu
một đời nhìn nhận
yêu mà không nói

ơi dòng sông xanh
ngày em qua cầu
nỗi sầu để lại
mắt nhìn ái ngại
ngậm ngùi xa nhau

ơi dòng sông xanh
soi thấu lòng anh
bồng bềnh gương nước
soi đời thuở trước
soi đời mai sau

(Kim Tuấn- Thơ gởi dòng sông xanh 6. 2003- Nhớ Huế tập 19)


Chiều mùa đông rét mướt, tháng chạp, nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh ( Vũ Anh Khanh ) nhìn lại mấy tấm ảnh cũ, nhớ bạn , nhớ năm xưa nào ngoài Biển Hồ, Pleiku bạn đã cùng tôi nhìn bồng bềnh gương nước , ước mơ một ngày hoà bình, cùng thích Erich Maria Remarque : Một thời để yêu và một thời để chết . Nay bạn đã về với đất, nhưng thơ và lời ca thơ bạn mãi còn ngân vang …

Đinh Cường

 

               

                                                           TRANH ĐINH CƯỜNG

Miền Lệ Xanh
Thơ: Kim Tuấn

Lúc chia tay lần đầu. Buổi chiều anh đứng trên đồi cao nhìn xuống và mùa mưa miền núi buồn hơn những lần em khóc xa anh.

Lúc chia tay lần đầu, lần đó anh thấy em sau khung cửa khép hờ buồn tủi, đôi mắt của tình yêu, đôi mắt che sau làn tóc. Em có khi nào em khóc xa anh?

Những con đường sao mờ tháng chín. Những con đường một tối anh đi qua âm thầm. Ngọn đèn nhà em soi mờ khu phố. Có một lần anh đứng lại nhìn và thấy mình cô đơn hơn mùa đông trước mặt. Lần đó trở về cùng với trăng sao, bước chân anh trên thềm cỏ mượt.

Vì cuộc đời còn nhiều đau khổ, một sáng thức dậy anh đi tìm tiếng lũ chim ca và thấy vui như thuở nhỏ nằm ngoài đồng cỏ quê hương ngắm xem dòng sông trước mặt êm đềm. Mùa xuân tuổi thơ đã mất, tâm hồn anh như phiến đá mòn, tâm hồn anh như khung trời bỏ ngỏ, em có gì để nhớ thương anh?

Mùa mưa bay mờ rừng thông già khẳng khiu cành lá. Mùa mưa miền núi sao buồn vậy em?

Khi anh trở về đường xa đất đỏ. Con đường nhà em sương muối giăng đầy. Lần đó em cười sau làn tóc rủ. Em nói rằng em sẽ xa anh. Thôi cuộc đời như dòng nước lũ. Anh đã đi qua bao nhiêu nhịp cầu, anh đã đi qua bao nhiêu phố chợ. Thôi cuộc đời khốn khó riêng anh. Đôi mắt em vẫn buồn như trước. Sau cánh cửa khép hờ ngày tháng qua mau.


Nguồn: Thơ Kim Tuấn, Gìn vàng giữ ngọc - Saigon xuất bản, 1974

        Anh Hoa, Lục Bát Và Thơ Như Một Dòng Sông
                                   Bài viết của Nhà thơ Kim Tuấn 1965
 
Thơ như một dòng sông. Dòng sông khởi thủy từ nguồn. Dòng sông của mưa ngàn thác lũ và thơ của quê hương đau khổ muôn đời.
Thơ dấy lên tự lòng người. Thơ đã hòa đồng với mối u hoài ngày tháng. Thơ đã lớn khôn trong lửa đạn mịt mù từ 20 năm.
Trong hai mươi năm chinh chiến đó, nếu có người đã chết vì quê hương, hiến thân cho quê hương thì thi nhân cũng đã từng khóc cho quê hương đau khổ quá nhiều.
Có đêm trở về, người ngước nhìn hỏa châu rơi quanh thành phố. Có đêm nằm nghe đạn nổ ngang đầu và đã bao nhiêu lần đứng nhìn đoàn xe ra đi bụi đường bao phủ, súng và những khuôn mặt trẻ nhìn thấy trong thời chiến tranh. Thơ bắt nguồn từ đó, và thơ đã đau khổ cùng quê hương, đã trưởng thành cùng với quê hương như những đoản khúc ca dao biến thể thành Kiều, như ngôn từ lục bát còn sống trong tâm hồn người Việt kể từ khi con chim Di duỗi cánh về Nam đến lúc lập quốc khắp miền Chân Lạp. Quê hương ta từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan cùng một giống nòi.
 
Thơ đã nằm trong lòng người. Thơ đã thành giọng hát hò lơ khắp miền dừa xanh, ruộng lúa miền Nam. Thơ đã thành câu hát quan họ khắp miền núi rừng phương Bắc và thơ đã biến thành câu hát mái chèo, mái đẩy trên sông miền Trung. Thơ đã lớn lên trong lòng người. Thơ lục bát còn trong lòng người cho đến muôn năm sau như ta lớn lên bằng tiếng ru của mẹ hiền, như ta sống bằng tình của thi ca Việt bắt nguồn từ thơ của nhân gian, từ thơ sáu tám liên vần.
Vậy lục bát trong tâm hồn của Anh Hoa là một sự ngược trở về nguồn, nguồn của thi ca Việt, nguồn của một dòng sông đang chảy về xuôi, đang tìm gặp một đại dương xa và đang trở thành mây để đem mưa trở lại nguồn.
Lịch sử quê hương thăng trầm mấy lúc, dòng sông quê hương qua bao nhiêu khúc quanh và thơ đã cùng đau khổ với quê hương từ bao nhiêu năm. Thơ nay còn sống. Thơ nay còn rơi nước mắt khóc vì quê hương. Thơ khóc tình yêu nhân loại, tình yêu loài người bao lần phân cách, bao lần ly tan như dòng lục bát đã bao lần xa cách đồng xanh, bao lần nhập thể với tâm hồn thành thị để đi tìm nỗi khổ đau của con người hiện hữu bằng giọng thơ u hoài.
 
Anh Hoa đã đi tìm nỗi u hoài đó qua thơ Lục bát của những phố đìu hiu ánh điện trong thời chiến tranh. Lục bát của phân ly, của tình yêu sầu muộn như mùa thu gội sạch lá rừng.
 Cho em giấc ngủ lưu đày
Những lo âu những tháng ngày buồn thương
Cho em giấc ngủ sa trường
Những bom đạn những đoạn đường chông gai
Cho em giấc ngủ ngày mai
Những bâng khuâng những u hoài xót xa
Cho em giấc ngủ lìa nhà
Bốn phương khói lửa thịt da chán chường
Cho em giấc ngủ chiều sương
Những heo hút những phố phường lặng câm
Cho em giấc ngủ ca cầm
Những câu tiếc nhớ những trầm luân sâu
Cho em giấc ngủ thương đau
Những ngăn cách những âu sầu trắng canh.
(Giấc ngủ)
 
          Lục bát còn đến bây giờ như một thực thể thuần tuý của thi ca Việt. Lục bát còn đến bây giờ, mặc dù quê hương đã trải qua bao nhiêu năm tháng trầm luân vì khói lửa dấy lên từ bốn phương trời.
          Nét đẹp của thơ lục bát còn trong tim người Việt, còn trong dòng máu trữ tình của giống người sống quanh eo biển vùng Đông Nam Á Châu, chưa bao giờ dám quên nguồn gốc dân tộc của mình. Và như vậy, lục bát vẫn còn cho đến muôn năm. Lục bát đã hình thành nên âm điệu tiếng hát quê hương thương nhớ cội nguồn. Và Anh Hoa đã thương nhớ cội nguồn của mình trong tâm hồn lục bát. Lục bát của ân tình, của thương, của nhớ và của xa xăm...
          Sài Gòn thu tới chưa em?
          Có nghe thương nhớ vào đêm trở mùa
          Trên con đường nhỏ ngày xưa
          Dấu chân kỷ niệm bây giờ còn không?
          Súng gươm nói chuyện anh hùng
          Xót thân phận nhỏ một vòng tay ôm
          Rồi ra vần đại lộ buồn
          Vần nương náu ấy vần nguồn ưu tư
          Nèo xưa bóng cũ tình cờ
          Trong em đô thị bây giờ lớn khôn
          Anh còn luyến thác thương nguồn
          Với hành trang cũ mộng tròn núi sông
          Mùa ni thơ với mưa hồng
          Mùa sau chắc vẫn hồn rừng cưu mang.
          (Thân Phận)
 
           Thơ Anh Hoa như mênh mang sầu nhớ trọn đời. Giọng buồn của một người mang nặng ưu tư năm tháng. Lục bát của năm tháng phân ly và của cô đơn vô cùng.
          Nằm nghe mưa gió ngoài trời
          Đêm cao nguyên lại nhớ người Trung Châu
          Giận gì không gửi cho nhau
          Tờ thư thành phố với câu hẹn thề
          Đường xa lối khó đi về
          Muốn thăm sợ chẳng còn gì thăm đây
          Với tôi vần núi rừng này
          Vẫn ưu tư vẫn buồn ngày tháng đi
          .......................................................
          (Về Trung Châu)
 
           Như vậy, sự về nguồn ở nơi đây của thi nhân không như nhánh sông đã chia xa còn mong trở lại, mà chính là tâm hồn của con người tìm thấy nỗi cô đơn vô cùng trong thời chiến tranh. Xưa nay, bom đạn đâu làm nên tâm hồn con người, nhưng chính thơ đã làm nên tâm hồn con người còn biết ngoảnh lại trông về mảnh đất quê hương.
          Thơ đã như một chứng nhân của thời đại. Thơ như sự hiện hữu của con người. Thơ đã trầm luân cùng với con người và quê hương từ bao nhiêu năm. Cái vẻ chán chường và mệt mỏi này chỉ có thơ mới nói lên được, và chỉ có thơ mới trang trải được hết nỗi niềm.
          Quê hương ta của hơn hai mươi triệu dân nghèo đói bốn mùa, của lịch sử đã có hơn một thế kỷ rưỡi vạch đôi sơn hà phân tranh trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn, đã hơn một nghìn năm lệ thuộc nước Tàu và của bao nhiêu năm máu lửa máu chảy thành sông. Quê hương ta đó, có người đã chết và có người đang giữ từng tấc đất của ông cha. Thử hỏi làm sao thơ không mang vết u hoài, thơ làm sao không phô bày cái nỗi buồn chung thân của con người Việt. Thơ sẽ mang lấy hình ảnh của quê hương trọn đời.
 
          Và lục bát đã mang lấy hình ảnh quê hương trọn đời. Quê hương của chinh chiến lửa dậy phương trời. Quê hương của nỗi buồn thầm câm chưa bao giờ dám nói. Quê hương của thơ và của bao nhiêu nhọc nhằn đau khổ. Thơ nay đã ngậm ngùi cùng với quê hương.
          Quê hương của dòng sông đã mang nước ra khơi, của thơ sẽ mang tâm hồn thi nhân ra gặp cuộc đời như Anh Hoa đã mang lục bát ra gặp cuộc đời, bởi vì cả hai đều là dòng sông. Dòng sông của mưa ngàn thác lũ và thơ của quê hương đau khổ muôn đời.
 
Pleiku, 1965
          Kim Tuấn
 
Ghi chú của PAD: Nhà thơ Anh Hoa tên thật là Ngô Văn Hòa, sinh năm 1932 tại Phú Thọ, cựu Trung tá Nha Chiến Tranh Tâm Lý QLVNCH. Ông có quen biết với nhà thơ Kim Tuấn khi làm việc ở Pleiku. Sau biến cố 1975 và trải qua nhiều năm trong lao tù Cộng Sản, nhà thơ Anh Hoa và gia đình đã định cư năm 1993 tại Boston, Massachusetts. Sau đó, ông dọn về Atlanta, Georgia và hiện cư ngụ tại Richmond, Virginia. Sau 1975, ông viết với bút hiệu mới là Hoa Văn.
 
                                                     
                                                 Nhà thơ Anh Hoa (Hoa Văn)
 
                            
                                (Bài thơ lục bát của Anh Hoa viết từ thời 50-60 ở Pleiku-Kontum)
 
               
                                                 Dãy núi Chuprong
 

 

  Mời xem lại trang NGÀN NĂM MÂY BAY - Nhạc & lời: Nguyễn Hiền - Phan Anh Dũng thực hiện 26/1/2015

 

           VUI LÒNG GỞI TÀI LIỆU VÀ Ý KIẾN XÂY DỰNG VỀ PHAN ANH DŨNG

                                                        

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com