arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow VĂN ĐÀN CỎ THƠM - SỐ THÁNG 8, 2017
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
VĂN ĐÀN CỎ THƠM - SỐ THÁNG 8, 2017 PDF Print E-mail

BẠT:

MỖI NGÀY TÔI NHẬN ĐƯỢC NHIỀU EMAIL TỪ THÂN HỮU KHẮP NƠI, ĐÍNH KÈM TÀI LIỆU BỔ ÍCH VỀ NHIỀU ĐỀ TÀI: VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, SỨC KHỎE, XÃ HỘI, v v . TÔI NGHĨ NÊN LƯU TRỮ MỘT SỐ VÀO "VĂN ĐÀN CỎ THƠM" MỖI THÁNG MỘT LẦN ĐỂ CHIA SẺ VỚI ĐỘC GIẢ CỎ THƠM VÀ CŨNG ĐỂ CHO WEBSITE CỎ THƠM ĐƯỢC THÊM PHONG PHÚ.

MỜI QUÝ VỊ XEM "VĂN ĐÀN CỎ THƠM" SỐ ĐẦU TIÊN CHO THÁNG 8, 2017.

PHAN ANH DŨNG ( Richmond, Virginia USA - 8/11/2017)


 

Xin mời Quý Thân Hữu đọc bài viết về Nhà Văn Nữ danh tiếng Francoise Sagan. Cuộc sống của Nhà Văn này đúng là “hiện sinh”? Viết ra được một Tác Phẩm danh tiếng trên Văn Đàn Thế Giới, không phải là một công việc dễ dàng. Xin mời Quý Vị đọc tiếp (Tài liệu trên Internet).  PvTuan. 31/7/2017

 

 

Francoise Sagan

THẦN TƯỢNG CỦA GIỚI TRẺ PHÁP THẾ KỶ XX - HUYỀN VIÊM

 

Buồn ơi ! Vĩnh biệt !
Buồn ơi ! Xin chào !
Tên mi viết ở trần cao,
Viết trong đôi mắt dạt dào ta yêu.
Mi đâu hẳn nỗi khốn nghèo,
Khi môi cằn ấy cố trêu nụ cười….

 

Adieu tristesse !
Bonjour tristesse !
Tu es inscrite dans les lignes du plafond,
Tu es inscrite dans les yeux que j’aime.
Tu n’es pas tout à fait la misère
Car les lèvres les plus pauvres te dénoncent
Par un sourire…

Paul Eluard
(La vie immédiate).

 

Một buổi sáng tháng giêng năm 1954, một cô gái e lệ bước vào căn nhà mang số 30 đường Đại học – trụ sở của Nhà xuất bản Julliard – leo lên lầu một, men sát bờ tường, tới trao tập bản thảo vào tay cô Musy, người thư ký có nhiệm vụ nhận các bản thảo.

Cô thiếu nữ rất ít nói, gần như bỏ đi ngay sau khi hỏi xem trong bao lâu nữa thì nhận được hồi âm.
– Chừng một tháng. Cô Musy trả lời.

Tập bản thảo đánh máy, có nhan đề “Bonjour Tristesse” (Buồn ơi, chào nhé!).

Ngay chiều hôm đó, cùng với mấy tập bản thảo khác, bản thảo của cô gái được đặt trên bàn của viên giám đốc văn học. Ông này nhìn phớt qua các tập bản thảo, tới tập bản thảo của Françoise Sagan, với ghi chú số tuổi 19 khiến ông tò mò. Ông đọc qua mấy dòng, cảm thấy bàng hoàng vì giọng văn mới lạ nên giao tập bản thảo cho nhân viên cao niên nhất và được tôn trọng nhất trong ban Tuyển đọc là ông François Le Grix năm ấy đã 80 tuổi.

 

Bảy ngày sau – ngày 12-1-1954 – cụ Le Grix chuyển tới ban Tuyển đọc một bản tường trình rất nhiệt thành. Chiều hôm đó, ông chủ Nhà xuất bản, Renée Julliard, đang dự tiệc tại nhà ông Chủ tịch Hội đồng Kinh tế, được tin, vội cáo lỗi với chủ nhân là phải về sớm và giải thích :
– Dường như người ta đã khám phá ra loài chim hiếm. Tôi phải về đọc bản thảo ngay đêm nay.

Bảy giờ sáng hôm sau, ông đã đọc xong, chú dẫn, chấp thuận và cho gửi một bức điện khẩn mời Sagan tới. Ba ngày sau, hợp đồng xuất bản được ký kết, không phải với tác giả vì cô còn là gái vị thành niên, mà ký với người cha, đại diện cho cô.

 

Nhà xuất bản Plon – nơi mà F. Sagan cũng có gửi một bản thảo cuốn sách ấy – tiếc hùi hụi vì chậm hơn Nhà xuất bản Julliard một bước, dù ban Tuyển chọn đã làm một bản tường trình nhiệt liệt tán thành việc in tác phẩm ấy.

 

Françoise Sagan sinh ngày 21 tháng 6 năm 1935 ở Cajarc (Pháp) với tên Françoise Quoirez, nhưng lấy bút hiệu Sagan, một nhân vật của Marcel Proust trong tác phẩm “À la recherche du temps perdu” (Đi tìm thời gian đã mất), một tác phẩm nổi tiếng và được xếp vào lọai những tác phẩm hay nhất thế giới. Sagan rất ái mộ tác giả này.
Françoise Sagan bất ngờ bước vào lĩnh vực văn học làm sững sờ thế giới. Đã từ lâu, ở Pháp không có cuốn tiểu thuyết nào được mọi tầng lớp – nhất là giới trẻ – hâm mộ và yêu chuộng đến thế.

 

Sagan viết xong cuốn “Bonjour tristesse” trong vòng bảy tuần lễ, đánh máy bản thảo bằng hai ngón trong quán cà phê. Tháng 3 năm 1954, cuốn “Bonjour Tristesse” chào đời, buộc dải băng mang dòng chữ “Quỷ trong tim” (Diable au Cœur) (2), tức khắc trở thành một trong những best-seller sau chiến tranh: tháng 5-1954 bán được 8000 cuốn, 45.000 cuốn tháng 9, 100.000 cuốn tháng 10, 200.000 cuốn tháng 12 (1954). Năm năm sau, “Bonjour tristesse” đã bán được 4 triệu cuốn trên khắp thế giới (tại Mỹ 1 triệu cuốn).

Sagan chưa kịp ước mơ, vinh quang đã ào đến. Tháng 5 được giải Critique, và quyển tiểu thuyết chưa tới 200 trang này được dịch ra 22 thứ tiếng. Ở Việt Nam, Nguyễn Vỹ là người đầu tiên dịch cuốn này năm 1959.

 


Sagan kể trong Bonjour Tristesse:
 Năm đó tôi, Cécile, mười bảy tuổi, hoàn toàn sung sướng vì sống trong một gia đình khá giả. Bố tôi, Raymond, 40 tuổi, góa vợ từ 15 năm trước, có người tình là Elsa, bên cạnh là Anne – bạn người mẹ quá cố của tôi – rất đoan trang, đứng đắn. Tôi tình cờ gặp Cyril, một thanh niên đẹp trai khỏe mạnh trong một lần đi tắm biển, tôi rất yêu chàng và chàng cũng yêu tôi. Tôi sống rất phóng khoáng, tự do, không chịu được Anne muốn hướng dẫn mình vào con đường nghiêm chỉnh. Tôi biết bố muốn tính chuyện trăm năm với Anne nên tìm cách phá đám. Tôi xếp đặt để cho Anne thấy bố đang âu yếm Elsa. Anne thất vọng, phóng xe như điên và rơi xuống vực sâu 50 mét. Từ đó, tôi bắt đầu biết buồn….” và Sagan bắt đầu nổi lọan (3).

 

Năm 12 tuổi (1947), Sagan vào học trường dòng Couvent des Oiseaux, nhưng sau đó bị đuổi học vì nàng sống rất phóng túng, không chịu ép mình theo kỷ luật nhà trường, còn nhà trường thì cho rằng nàng thiếu tâm linh, không thể theo học lâu dài được.

Năm 1950, nàng bỏ ra cả năm trời để thưởng thức nhạc Jazz ờ Saint Germain des Prés, có lẽ vì thế mà năm 1951 nàng thi hỏng tú tài. Sau đó nàng ghi tên học văn chương ở Sorbonne nhưng rồi cũng bỏ dở dang.

 

Sagan yêu văn chương từ nhỏ, khi còn ở lứa tuổi vị thành niên nàng đã say mê đọc André Gide, Marcel Proust, Rimbaud rồi Camus, Sartre, Stendhal, Faulkner… và biết rằng con đường mình phải theo là con đường văn nghiệp.


Năm 1954, cuốn Bonjour Tristesse ra đời là một quả bom nổ giữa bầu trời văn học Pháp, gây chấn động cả làng văn nước Pháp, mà tác giả của nó lại là một cô gái nổi loạn ở tuổi 19 nên rất được độc giả hâm mộ và yêu chuộng. Năm 1954 cũng là năm nước Pháp mỏi mệt vì hai cuộc chiến tranh ở Đông Dương và Algérie, nhất là sau cuộc thảm bại ở Điện Biên Phủ nên thanh niên Pháp có tâm trạng chán chường, sống buông thả, luôn cảm thấy cô đơn và thất bại cay đắng trong tình trường. Trong khi đó, các nhân vật của Sagan lại bất chấp luân lý, lao vào những cuộc tình ngẫu nhiên để tìm một chỗ dựa – dù là tạm thời – cho tâm hồn đã quá ê chề mỏi mệt. Cuốn sách ra đời đúng lúc nên nhanh chóng trở thành best-seller cũng không phải là chuyện lạ.

 

Văn Sagan giản dị, dễ hiểu, thẳng thắn, bóng bẩy, không trau chuốt, chuyển tải mạnh mẽ rung cảm của tác giả sang độc giả. Cốt truyện chặt chẽ, các lớp lang nối tiếp nhau rất tự nhiên như sự thật vốn có. Tác giả không cố công tìm tòi cái mới mẻ, chỉ viết theo dòng cảm xúc tuôn trào nên hấp dẫn được người đọc.


Ông Serge Gavronsky, giáo sư dạy môn văn học Pháp tại đại học Barnard cho rằng “Buồn ơi, xin chào!” đã chuyển tải được sự nổi loạn và tính hoài nghi, yếm thế của rất nhiều người trong tầng lớp tư sản Pháp thời ấy.


Nhà văn François Mauriac (1885-1970), Viện Sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1933), giải Nobel văn chương 1952 gọi Sagan là “tiểu quỉ duyên dáng” và Emile Henriot (1889-1961), Viện Sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1945) gọi quyển “Buồn ơi, xin chào!” là “kiệt tác nhỏ vô sỉ, tàn ác”.

Ngoài giải Critique năm 1954, năm 1985 Sagan được giải Prince-Pierre-de-Monaco cho toàn bộ tác phẩm của mình.


Cuộc sống của Sagan rất phóng túng. Để trốn tránh nỗi buồn, bà lao vào các cuộc ăn chơi trác táng, yêu cuồng sống vội, thức đêm cờ bạc, rượu và ma túy. Vì thế mà số nhuận bút khổng lồ chẳng bao lâu không còn một xu dính túi.
Sagan rất liều lĩnh, yêu xe thể thao, thường cùng một số bạn bè phóng xe như điên nên suýt chết nhiều lần, nhất là năm 1957. Mặc dù vậy, bà vẫn không chừa.

 

Vì lối sống phóng đãng, tiêu tiền như rác nên nhiều lúc Sagan đảo điên vì túng bấn. Bà có một ngôi nhà ở gần Biển Bắc, mua bằng tiền được bạc 80.000 quan nhưng rồi cuối cùng cũng phải bán vì túng thiếu. Bà thiếu thuế của nhà nước, bị phạt một năm tù treo. Bạn bè và kẻ ái mộ phản đối, cho rằng Sagan thiếu tiền nhà nước, nhưng nhà nước thiếu Sagan nhiều hơn thế nữa. Ngay cả diễn viên nổi tiếng Isabelle Adjani cũng đã kêu gọi chính phủ Pháp phải xem bà như một báu vật quốc gia và phải để tên tuổi ấy nằm ngoài sự dính líu với thuế vụ.

 

Về đời tư, Sagan có hai đời chồng. Lần thứ nhất, năm 23 tuổi (1958) bà kết duyên với Guy Schoeller lớn hơn bà 20 tuổi, hai năm sau ly dị. Lần thứ hai, năm 27 tuổi (1962) bà lấy Robert Westhoff, điêu khắc gia người Mỹ và có với ông này một đứa con trai tên Denis. Một năm sau ly dị, từ đó bà sống độc thân cho đến chết, tuy hãy còn rất trẻ và có hàng tá nhân tình.

Bạn bè của Sagan phần lớn là những người tên tuổi như nhà văn Jean Paul Sartre (tác giả của những tác phẩm nổi tiếng: La nausée, Les chemins de la Liberté, minh tinh màn bạc Brigitte Bardot và nhất là người mê sách François Mitterrand sau này trở thành Tổng Thống Pháp. Theo Sagan thì F. Mitterrand là người bạn thông minh, lý tưởng và duyên dáng. Tình cảm giữa hai người rất thắm thiết vì có sự đồng cảm sâu sắc về cách cảm nhận cuộc sống.


Ngày 24 tháng 9 năm 2004, Françoise Sagan qua đời vì suy tim và nghẹt đường hô hấp, thọ 69 tuổi. Bà được an táng tại một nghĩa trang nhỏ gần nơi sinh trưởng. Rất đông bạn bè, người hâm mộ và nhiều nhân vật cao cấp của chính quyền đưa tiễn, tỏ lời ca ngợi và tiếc thương. Nữ tài tử điện ảnh Brigitte Bardot mỉa mai: “Vậy mà khi Sagan sống trong khó khăn thì chẳng ai cục cựa ngón tay giúp đỡ”.

Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói về bà: “Nước Pháp vừa mất đi một trong những văn sĩ tài năng có sức ảnh hưởng nhất, một nhân vật xuất chúng của đời sống văn học”.

 

Françoise Sagan mất đi nhưng hình ảnh bà vẫn còn in sâu trong lòng những người ái mộ. Tác phẩm của bà đã đi sâu vào lòng người vì bao giờ cũng thể hiện sự khao khát tình yêu mãnh liệt cùng nhữn g hoài nghi về cuộc sống quanh mình.

Sách củaSagan vào Việt Nam được giới trẻ thời ấy đón chào nồng nhiệt vì họ yêu bầu không khí cực kỳ mới mẻ trong sách và tinh thần tự do của Cécile (nhân vật trong Bonjour Tristesse). Họ ước ao được sống tự do thoải mái như Cécile vì lúc ấy chiến tranh còn đang tiếp diễn.

Với gần 50 tác phẩm để lại cho đời, trong đó nhiều tác phẩm rất có giá trị, Françoise Sagan đáng có một chỗ đứng xứng đáng trong nền văn học Pháp cũng như thế giới./.

 

HUYỀN VIÊM

 

     NẮNG ĐÔNG HÀ (Youtube) - Thơ: Phan Khâm; Nhạc: Thảo Nguyễn - Tiếng hát: Ngọc Lan (2017)

            


 

 


 

                                                         TOÀN BÀI VIẾT (PDF)


 

Cửa Trời,

       Sương Khói,

                                        Khói Sương...

                                                                Thơ: Tuệ Nga

 

 Chiều nghiêng

          Lá ngủ ven đồi

 Em nghiêng tà mộng

          Cửa trời

                    Khói sương...

 

 Chuông khuya

       thức đóa Hải Đường

 Tiếng chim hót...

      bốn mùa sương

               Nhớ Nhà!

 Gió lay cành Trúc

              la đà,

 Áo em tà mộng...

         thướt tha mây chiều.

 Chiều đi,

          Mây trắng cô liêu

 Gọi Thơ,

          Thơ vắng!

 Gọi chiều,

          mông mênh...

 Ánh trăng huyền thoại,

         lênh đênh!

 Tiếng lòng ai gửi...

        cuối ghềnh gió bay...

 Còn chi cuối vận hội này

          Còn Trăng đầu núi

                    Còn Mây cuối trời.

 Âm thầm tiếng vọng trùng khơi,

        Mang mang...

           Ơi tiếng, Ru hời,

                 Mẹ Ru...

 

Con đi từ đó Mùa Thu

          Gọi Xuân Hồng,

                    Gọi Nắng Mùa Đoàn Viên.

 Trời Việt Nam

          Ngát Kinh Hiền.

 Lời Kinh tha thiết

          Bình Yên quê nhà.

 Bốn phương về hội Thái Hòa

         Tháng Tư! lại nhớ xót xa quê mình.

 Bao giờ Quê Mẹ hồi sinh

          Tháng Tư Khấn Nguyện

An Bình Quê Hương. 


 Rưng rưng... Lá Nhớ,

           chiều sương

 Kinh Chiều âm vọng bốn phương,

           Nắng Hồng.

 Chiều nghiêng

        Chiều nghiêng thu không...

Tiếng thơ rơi rụng! bụi hồng gió bay.

          Tình Quê, Ý Bút vơi đầy...

Có người ra Biển nhìn Mây...

Nhớ Nhà!

Tháng Tư! thầm lặng...Xót xa!

      Tháng Tư! Ai nhớ quê nhà

chênh vênh.

Chiều nghiêng,

chiều nghiêng ...

          Buồn tênh!

Cánh Thơ Thả Gió... tâm tình tha phương!

Cửa Trời

         Sương Khói,

                   Khói Sương...    

Tuệ Nga  ( / Portland, Oregon, Tháng Tư 2014)

 

HƯƠNG TÌNH HOÀI ĐIỆP

 

Anh viết đây bài thơ trong tiềm thức

Gọi tên em từ muôn vạn cuộc đời

Anh gặp em trong tiếng nhạc chơi vơi

Những cung bậc ẩn sầu trong ngõ nhớ.

 

Thế gian này còn lắm điều không rõ

Chẳng còn ai phân tỏ được cho mình

Tình yêu nào bờ cõi lệ vây quanh

Anh vẫn thấy mơ hồ qua từng bước.

 

Em cửa khép tâm hồn tình mực thước

Bước chân hoa nghe gọi bóng xuân về

Dăm ba lời bóng bảy lúc đam mê

Nên đã nặng lòng đi mùa thương ái.

 

Dòng đời chảy vẫn lung linh thoải mái

Từng cơn đau từng giấc mộng bùi ngùi

Con đường về sỏi đá có gì vui

Và thầm nói sao êm đềm quá độ.

 

Bỗng có tiếng tâm tình ai trong gió

Chút ân nào ngờ ngợ những ngày vui

Nhưng thực ra đời chỉ thấy ngậm ngùi

Nên chân bước ngập ngừng bao dấu hỏi?

 

Đời ý nghĩa chỉ nghĩa là mây khói

Nên bận chi những cái mất cái còn

Và buồn gì nói đến chuyện thua hơn

Là những thứ của tình đời nói khó!

 

Anh thử quên những gì không nên nhớ

Kể cả khi lòng lạnh lúc mưa bay

Khi tình đời từng cụm đã rụng đầy

Chỉ giữ lại ân tình trong hiu hắt.

 

Và coi như hương đời còn bát ngát

Chút tình nồng loi lẻ với thời gian

Cứ mơ hoa trong tiếng nhạc cung đàn

Cùng những tiếng thơ vàng trong định thức.

 

Người có lúc nên sông tình có khúc

Ghét thay thương không đủ bận cho ngày

Mốt mai đời tình nghĩa cũng trắng tay

Hoa cũng rụng đôi bờ đời ngập lối!

 

Đã gặp nhau nhưng tình khó đi tới

Chỉ như là một giấc mộng đêm say

Trong cõi mơ có hình bóng em đầy

Khi tỉnh dậy bốn phương trời mây trắng.

 

Đường đông người nhưng lòng anh trống vắng

Chỉ có em em không hiểu lòng anh

Thì nói chi đến chuyện nghiệp với tình

Nên còn lại những tình cờ thành bại.

 

Vẫn với em giữa dòng đời còn lại

Trăm vần thơ mê mải tiếng yêu người

Và tâm hồn ấm áp những ngày vui

Anh ước vọng cuộc tình thơ viết tiếp.

 

Anh yêu em người yêu Hương Hoài Điệp

Chưa một lần gặp gỡ mấy lần mong

Nhưng em ơi anh cũng thật ấm lòng

Vì đang sống với ân tình trong mộng.

 

Em đã cho anh những điều hi vọng

Nhạc âm vui thơ viết tiếng yêu đời

Hai tâm hồn nghệ sĩ một niềm vui

Mong được gặp trong đêm hồng tuổi nhớ./.

 

Hoa Văn ( / Richmond, VA - 28/7/2017)


 

 

                      THÁI HIỀN – TIẾNG HÁT ẤP Ủ NHỮNG MỘNG LÀNH
* http://huyvespa.blogspot.com/2017/08/thai-hien-tieng-hat-ap-u-nhung-mong-lanh.html

Người ta lắng nghe Thái Hiền vì cô không hẳn đang trình diễn mà là đang kể chuyện, kể giản đơn nhưng tinh tế, không kiểu cách mà là những thấm đẫm chân thành. Giọng Thái Hiền là một giọng lạnh, (dường như) là một xa cách với những gì xung quanh - khi cô hát - nhưng lại ấm nồng như thỏi than dễ dàng hồng lên ánh lửa của yêu thương, của miên viễn ngọt ngào kí ức trong lòng những tâm hồn hoang vắng.
Một buổi trưa ngày tháng hạ …mênh mông buồn hay một buổi sáng vừa thức giấc …là tàn đông; nghe giọng hát nhẹ bâng; thấy đời sao thêm tuơi sáng dù hầu hết những tâm tình trong từng bản nhạc từ giọng ca Thái Hiền đều là những tự sự buồn. Lạ thay!
"Giọng hát này có thể trầm như tiếng núi, hay trong như tiếng suối, nhưng tựu trung kết thúc một bài hát, nó mang đến bằng sự chan hòa cho vẻ đẹp tâm hồn của người nghe".(Đỗ)
 
Thái Hiền hát ít và cũng ít xuất hiện trước công chúng, cô chỉ hát khi thích (có lẽ thế), nhờ vậy, (theo suy nghĩ của tôi), bài hát nào đến từ cô, đều ở lại trong lòng công chúng lâu…rất lâu…
Tiếng hát như ru, như vỗ về những vết thương lòng, như chia sẻ, như bày tỏ, như khâu vá vết cắt của tình yêu, xoa dịu những dư vị chua chát của một kiếp người, hay một cuộc tình...
Sẽ có lần bạn thấy là một ân sủng đời, nếu trong một thoáng phút giây nào đó, tiếng hát như cơn mưa rơi nhẹ nhàng và rồi phủ khắp thân thể, làm chúng ta bàng hoàng và khuất lấp như đi trong một cơn mơ...Cái bâng khuâng, thổn thức ấy khó tả lắm. Nó vừa nhẹ nhàng và mát lạnh như một cơn gió, nhưng cũng đủ ấm nồng và tràn trề xúc cảm của một cái ôm chầm.
Dường như thời gian dừng lại...nơi tiếng ca Thái Hiền bắt đầu...
Hãy cứ nhẹ nhàng, cứ tự nhiên, cứ khoan thai...mới là lúc...đến với tiếng hát như pha lê của Thái Hiền, thứ pha lê của muôn vàn nhưng tinh thể yêu thương, lân tinh hạnh phúc – hạnh phúc như trong cực cùng của “đôi ta mất hết chỉ còn nhau”…và cả những mảnh vỡ bẽ bàng, những vết xước câm nín của một "nỗi buồn dâng hiến"...
Với tiếng hát Thái Hiền, chúng ta biết hạnh phúc là có thật. Cái hạnh phúc không chỉ của những êm đềm thưở đầu, những lưu luyến ngày xưa, những ngọt ngào xa vắng…mà còn hạnh phúc vì được nếm trải những mất mát, những vụt tan, những bất toại...trong đời sống.
Có gì đó nghèn nghẹn và thổn thức trong giọng ca của cô...Khi tiếng hát ấy cất lên...Thì xung quanh..dường như..đang "chìm vào muôn thưở"...nhìn hình bóng của kỉ niệm, của nụ cười, của nước mắt...bủa vây và làm xao xác không gian, chìm lấp chúng ta ở đó – “ở chỗ nhân gian không thể hiểu”, ở chỗ "không gian đụng thời gian"...Và tôi tin chắc, chỉ có Thái Hiền mới có thể dẫn dìu thính giả vào mê cung huyền bí đó...
 
Như một kẻ du hành đơn độc băng ngang qua vùng sa mạc, tiếng hát Thái Hiền cũng lẻ loi như thế... Cô hát cho mọi người, cô hát cho cuộc tình… Cô hát cho kỉ niệm, cô hát cho những nguyên sơ ban đầu... Để rồi, cô chọn cho mình một góc khuất trong cuộc đời xôn xao này.
Cô đã đến với chúng ta bằng giọng ca ấp ủ những mộng lành...và cũng đã lui vào bóng tối...cũng từ chính những cơn mơ kỉ niệm ấy…Hay, cô chính là hiện thân của một giấc mộng – một cơn mộng đẹp!
Giọng hát đẹp hiền, đẹp & hiền.... như tên gọi.
“Xin đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau”
Và, nếu giọng hát ấy là là 1 tín ngưỡng, tôi nguyện làm một tín đồ trung thành.
                                       
         THÁI HIỀN hát "HUYỀN THOẠI TRÊN MỘT VÙNG BIỂN" - Nhạc: Phạm Duy; Thơ: Thái Phương Thư
 

GIAO MÙA

 

Ấy thế rồi mùa Hè cũng qua

Gió trưa hừng hực

Nắng chiều cháy da!

Và những trận mưa dông

Trải nặng hạt trên dòng sông Potomac

Chìm sâu, tan biến

Và … mùa Hè mất hút.

 

Ấy thế rồi mùa Hè quên dần

Mái tóc dài lộng gió

Bộ ngực thiên thần

Đôi chân trần óng muốt

Những manh áo tắm tươi mát

Và lũ trẻ đùa chơi trên cát

Sóng biển dềnh lên xoá dấu tích mùa Hè

Trả lại Virginia Beach cho bầy hải điểu.

 

Dường như điều gì đổi khác?

Trên đỉnh cao Blue Ridge

Triền National Park

Có cây phong dậy thì thay áo mới

Mùa Thu len lén tới … chẳng ai hay!

 

Trần Quốc Bảo ( Richmond, VA.)

 

 

Ngày Xưa Đi Học

 

     Bẩy bước thành thơ, chuyện dễ thôi!

     Giữa đình ứng khẩu đọc khơi khơi,

     Bình, bình, trắc, trắc, bình, bình, trắc.

     Tình tứ, văn chương...đẹp tuyệt vời!

                                      

     Làng xóm xầm xì...Ai? Lạ nhỉ!

     Một ông đồ xách túi rong chơi,

     Được neo ngồi lại "xoa"đầu trẻ,

     Lũ nhỏ ê a hãi quá trời!

 

          Có chị yếm đào nghe vậy vậy,

          Đêm nằm to nhỏ "Ý nhà ơi..."

          Mình cho cu Tý qua đi học,

          Lên sáu lên năm cũng nhớn rồi.

 

    Anh chồng lật đật lo trà rượu,

    Cứ tưởng còn lâu đã tới nơi

    Dắt đứa con yêu vào cửa Khổng,

    Áo khăn trân trọng nói đôi nhời.

   

    Khi về thằng bé như lưu luyến

    Những chiếc lá vàng lác đác rơi,

    Nó có ngờ đâu sau bữa ấy,

    "Chi hồ giả dã..."toát mồ hôi./.

 

        Nguyễn Phú Long ( / Richmond, VA )

         (Trong tập Biết Bao Nhiêu Tình, 2001)

 

 
Con người có linh hồn hay không? Bản chất của linh hồn là gì? Những câu trả lời vẫn chỉ là vấ đề “tin hay không tin”.
Trong cuộc sống, vẫn có nhiều hiện tượng cho thấy có sự tồn tại của linh hồn.
Các nhà thần học giải thích linh hồn như là ánh sáng của Thượng Ðế.  
Một số các nhà tư tưởng nhìn nhận sựỳ tồn tại Thượng Ðế (Trời), và sự linh ứng của vạn vật nhưng tránh bàn luận hay giải thích về những vấn đề siêu hình.  
Các nhà khoa học trong những thập niên gần đây đã đặc biệt chú tâm khám phá về môi trường tâm linh.
Trong khi linh hồn chưa được giải thích theo khoa học thì người ta thường chấp nhận sự tồn tại của linh hồn qua những hiện tượng siêu cảm (transcendentialism) và siêu hình (metaphysics).
*

Ý Niệm về Linh Hồn

-Hải Bằng.HDB
*
Tính linh hoạt của sự sống và sự lặng lẽ của sự chết cho người ta cảm nhận có linh hồn trong một cơ thể sống.
 
Dân thuộc các bộ lạc xa xưa tin tưởng rằng khi một người chết đi thì linh hồn của họ rời thể xác trụ ở cây cỏ hay gốc đá nào đó. Người Việt thường nói tới con người có tới ba hồn bẩy vía hoặc chín vía.
Thiên nhiên với sự to lớn vô cùng tận và những hiện tượng kích cảm huyền diệu đã khiến cho con người cảm nhận sự hiện hữu của một Ðấng Tạo Hóa Quyền Năng Tuyệt Ðối. Ở Trung Hoa, Lão Tử, nhà sáng lập ra Ðạo Lão (Taoism), nổi tiếng với thuyết Vô Vi: “Không làm mà là làm một cách hợp với lý của Ðạo, vô tư, không vụ lợi, không ràng buộc; để không tạo một nhân quả nào.”
Ông chủ trương lối sống trở về với thiên nhiên nếu con người muốn đạt Ðạo, vì Ðạo được coi như là nguyên lý của vũ trụ. Ông nói: “Trở thành một với Ðạo là hằng cửu, và dù cho thể xác có chết, Ðạo vẫn không bao giờ mất đi cả”.  Những người theo đạo Lão tin rằng: bằng cách sống hòa với Ðạo, hay với thiên nhiên, người ta có thể kết hội với những bí mật của thiên nhiên và trở thành miễn nhiễm đối với độc hại của thể chất, các bịnh tật, và ngay cả cái chết.
Trong một thời gian dài, nền hội họa Trung Hoa đã sản xuất ra nhiều những bức danh họa về núi non, sông hồ, và cây cỏ phản ánh lý tưởng sống hòa với thiên nhiên để trở về với nguyên lý của vũ trụ là Ðạo. Môn phái luyện Yoga cũng phát xuất từ Ðạo Lão.
 
Ở Việt Nam, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 ố 1585) được coi như là người chịu ảnh hưởng sâu đậm của Lão Tử: Ông yêu thiên nhiên và muốn xa lánh trần tục. Ông nói: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao.”
 
Ở Tây Phương, thiên nhiên cũng tác động mạnh trên tâm thức của các nhà thơ, nhà văn như Lamartine, Coleridge, và Wordsworth; các nhà họa sĩ như Turner, Palmer, và Friedrich; và các nhà soạn nhạc như Weber, Berlioz, Liszt, và Wagner. Ở Hoa Kỳ, Henry David Thoreau (1817 ố 1862), học trò của Ralph Waldo Emerson (1803- 1882) về Siêu Nghiệm (Trascendentalism, một môn phái phát xuất từ những lý tưởng gia người Ðức nổi tiếng là Kant và từ những triết học huyền bí Ðông Phương tin tưởng vào tính thần linh và sự hợp nhất của con người và thiên nhiên và sự ưu đẳng của trực giác là nguồn gốc của tri thức đối với lý trí và nhận thức của các cảm quan khác) đã ghi lại cuộc sống một mình với thiên nhiên trong hai năm hai tháng bắt đầu đúng vào ngày kỷ niệm Hoa Kỳ Ðộc Lập: ngày Bốn tháng Bẩy, 1845 tại Ao Walden ( gần Concord, Massachuseetts.) trong một căn nhà chòi tự làm, tự tay kiếm ăn và sống rất đơn sơ vì ông cho rằng cuộc sống bon chen của xã hội văn minh chỉ làm hại thiên nhiên và con người.  Ông ca ngợi những buổi sáng và tôn thờ Bình Minh như những nguời Hy Lạp. Ông nhắc tới câu ghi trong Kinh Vedas, “Mọi tri thức đều thức dậy với buổi sáng.” Ông viết “Tất cả thi sĩ và các anh hùng là những người con của Bình Minh, và khởi tấu nhạc vào lúc mặt trời mọc.” Trong sự vắng lặng, ông thực sự cảm nhận sự khoái cảm trong từng lỗ chân lông. Ông hòa nhập với thiên nhiên với một tự do kỳ lạ, như mình là thành phần của thiên nhiên. Thật là vô cùng lãng mạn khi ông mô tả: “Hồ nước là một nét đẹp và gợi cảm nhất.  Hồ là con mắt của đất, nhìn vào trong đó người ngắm cảnh có thể đo được chiều sâu của chính thiên nhiên.”   Với cuộc sống, ông nói: “Sao chúng ta nên hối hả vô vọng như vậy để mong thành công.   Nếu có ai không bắt kịp với những bạn đồng hành thì chính là vì người đó đã nghe một điệu trống khác.”  Tóm lại, thiên nhiên chứa đầy sự học hỏi và huyền diệu đã được coi như là con đường trở về với cội nguồn của sự sống là Thượng Ðế.

 

Những Niềm Tin và Thuyết về Linh Hồn

 
Ở Tây Phương, từ ngữ linh vật tính (animism) được E.B. Tylor (1832 – 1917, Giáo Sư đầu tiên về ngành khảo cổ của Ðại Học Oxford, Anh)  sử dụng lần đầu tiên để chỉ một niềm tin đại chúng vào những linh vật mà ông cho rằng niềm tin đó là nguyên thủy của mọi tôn giáo. Ông đề xuất rằng những kinh nghiệm như là những giấc mơ, những thị ảnh (visions), những ảo giác (hallucinations), và sự vô hồn của những xác chết đã khiến cho người cổ xưa kết luận rằng thân thể con người có một linh hồn (anima) trú ngụ.
Một nhà khảo cổ khác, R.R.Marett (1866 - 1943) sửa lại linh vật tính bằng thuyết duy linh (animatism).   Sau khi nghiên cứu những niềm tin của người Melanesians của các hòn đảo Thái Bình Dương và các thổ dân của Phi Châu và Mỹ Châu, ông kết luận rằng đáng lẽ có một khái niệm về linh hồn của cá nhân, người cổ xưa tin rằng có một sức siêu nhiên làm cho mọi vật có hồn, và niềm tin này tạo ra những cảm xúc kinh hoàng và sợ hãi trong con người.
 
Người Ai Cập tin là linh hồn là bất diệt.  Khi thể xác bị hủy hoại thì linh hồn sẽ nhập vào một xác thân khác.
Pythagore cho rằng tất cả đều có linh hồn thênh thang quanh quẩn trong thế giới hữu cơ.
Platon cho rằng linh hồn sống lâu hơn thể xác.  Linh hồn liên tục sanh rồi tái sanh trở lại thế gian.
Wordsworth nói: “Cái sanh của chúng ta chỉ là một giấc điệp và một sự lãng quên. Cái linh hồn, -vì tinh tú của đời sống xuất hiện với ta hôm nay, đã có cơ sở ở một nơi nào từ phương xa tới.” 
Huxey viết: “Cũng như thuyết Tiến Hóa, thuyết chuyển sinh linh hồn bắt nguồn từ thực tế.”
Francis Bowen (Harvard) ghi: “Cái ta gọi là chết chỉ là biến dạng đưa đến một đời sống khác trên quả địa cầu và nếu đời sống ấy không được cao quý tốt đẹp hơn kiếp sống vừa chấm dứt thì chính là tại ta.”
 
Người Trung Hoa cổ đại tin có sự sống lại sau khi chết.
 
Người Hindu (Ấn Ðộ) tin rằng mỗi người có một linh hồn riêng biệt và trải qua nhiều đầu thai và hồn phải cố gắng để hội nhập với “Thực Tại Tối Cao”, gọi là Brahman hay Brahm.
 
Ngược lại với Ấn Ðộ giáo, Phật giáo không nhìn nhận một linh hồn bất tử nhưng giải thích cá nhân như là “Một sự kết hợp của những lực vật thể và tâm thể hay là năng lượng,” và con người trải qua hết kiếp này sang kiếp khác theo định luật nhân quả. Sự chết chỉ là sự tan rã của vật chất, còn những năng lượng - “tiềm lực làm sống  chúng sanh” - có chứa những thèm muốn thì vẫn còn tồn tại và sẽ tiếp tục tác động trên một thân xác khác và đó là sự tái sinh.  Ngoài danh (tâm) và sắc (vật chất) là hai thành phần cấu tạo nên chúng sanh, Phật Giáo “không nhìn nhận có một linh hồn vĩnh cửu.”  
 
Ðức Phật không đề cập đến lịch trình tiến hóa của vũ trụ vì cho rằng người nào muốn hiểu vấn đề đó sẽ có thể chết trước khi được nghe giải thích. Ngài nói: “Như Lai không hề nêu lên vấn đề thế gian có vĩnh cửu hay không, không gian có giới hạn hay vô tận. Tai sao? - Bởi vì những điều ấy không tạo ích lợi, không làm nền tảng cho đời sống chấm dứt phiền não, khổ đau, không dẫn tới sự dập tắt, vắng lặng, trí tuệ, và giác ngộ hay Niết Bàn.
Người Nhật theo Thần Ðạo (Shinto) tin rằng linh hồn của người chết hãy còn nhân cách và còn ở lại với phần uế tạp sau khi chết, nên thân nhân cần phải tẩy uế thì linh hồn mới siêu thăng.
 
Do Thái Giáo (Judaism) là đạo lâu đời nhất trên thế giới (có ảnh hưởng lớn tới Cơ Ðốc Giáo Và Hồi Giáo) coi thế giới là sự tạo lập của một vị thần linh và dân Do Thái là dân tộc được vị thần đó lựa chọn. Người Do Thái tin là con người có một linh hồn bất tử tồn tại sau khi thân thể chết.
 
Cơ Ðốc Giáo cho rằng có nguyên nhân đầu tiên tạo ra sự sống và nguyên nhân ấy là Thượng Ðế Toàn Năng: mọi việc trong đời sống đều do nơi ý muốn của Ngài. Con người sẽ được cứu vớt qua niềm tin đặt nơi Ðấng Christ; tội lỗi được tha thứ và con người sẽ nhận được một đời sống mới, vĩnh cửu.  Cơ Ðốc Giáo không tin có luân hồi hay tái sinh.  Khi Lazarus chết, Jesus nói với các môn đồ là Lazerus đã yên nghỉ, so sánh trạng thái chết với giấc ngủ.  Sau này Jesus cùng đi với em gái của Lazarus tới mồ và gọi Lazarus thức dậy.
 

Những Kinh Nghiệm về Hiện Tượng Siêu Hình

 
Những hiện tượng về siêu hình được đủ các giới gồm các nhà khoa học và người bình dân tự kinh nghiệm hay kể lại thì rất nhiều. Trong cuốn Hành Trình về Phương Ðông (nguyên tác của Baird Spalding: Journey to the East, do Nguyên Phong dịch, NXB Người Việt, 1993) trang 111 có ghi chuyện Bác Sĩ Bandyo, cựu giám đốc bệnh viện Calcutta kể lại: Trong lúc ông tuyệt vọng vì không sao cứu chữa cho một cô bé chừng mười bốn tuổi thì đột nhiên trong phòng ông bỗng rực sáng và ông thấy một người đàn bà hiện ra ngay cạnh giường cô bé. Thân thể bà sáng chói hào quang như dòng nước lấp lánh dưới ánh mặt trời. Trong giây phút ông ý thức đó là Ðức Mẹ Thế Gian: Ðức Quán Thế Âm (Phật Giáo), Ðức Mẹ Maria (Thiên Chúa Giáo), Ðức Avalokiteshvara (Ấn Ðộ Giáo).  Ông vội quỳ sụp xuống cầu xin cho Ngài cứu cô bé và nguyện theo Ngài vĩnh viễn. Ngày hôm sau cô bé khỏi bệnh. Nhưng ông đã không thể giải thích trường hợp này đối với các đồng nghiệp và Hội Ðồng Y Khoa Ấn Ðộ. Kết quả ông bị xa lánh và người ta gọi ông là “phù thủy”.
 
Ông kể thêm: kể từ ngày nhìn thấy Ðức Mẹ, thần nhãn của ông khai mở, ông bắt đầu quan sát và học hỏi các cõi giới của Thiên Thần. Nhờ khai mở thần nhãn, ông biết trong cõi người có một thế giới vô hình rộng lớn và có những sinh vật khác sinh sống mà thường gọi là ma, quỷ, và thần linh.  Các sinh vật này cũng có thứ tốt, thứ xấu như người ta vậy.  Có những Thiên Thần (tốt) phụ trách một công việc riêng.  Các thiên thần lo về sức khỏe thường liên lạc chặt chẽ với các bác sĩ, y tá.  Nhờ có thần nhãn, ông thấy các bác sĩ chuyên phá thai luôn luôn bị các oan hồn bu quanh. Trong các phòng hộ sinh, nơi đây có những thiên thần tạo ra không khí bình an, mát mẻ để đón chào linh hồn nhập thế.  Tuy trong cõi vô hình, những giờ phút chào đời cũng có tính chất trang nghiêm như một buổi lễ.  Các ánh hào quang không ngớt di chuyển để đem sinh khí cho người mẹ và làm cho người mẹ bớt đau đớn.  Khi linh hồn tái sinh nó có vẻ bỡ ngỡ như người mê mới tỉnh, linh hồn thấy ngộp thở, tối tăm, và nặng nề.  Vị thiên thần trong coi buổi lễ đã truyền sự nồng ấm của Ðức Mẹ vào trái tim người mẹ để lòng người mẹ tràn dâng một niềm vui mừng khôn tả.
 
Tuy nhiên các vị thiên thần thường ít khi can thiệp vào đời sống con người. Thế giới của họ cấu tạo bằng các nguyên tử thanh nhẹ có sức rung động cao hơn nhiều so với các rung động trong thế giới trần tục.  Ông cũng cho biết chết không phải là hết mà chỉ là giai đoạn chuyển từ kiếp này qua kiếp sống khác.  Người chết có thể nhìn thấy chúng ta qua thể vía (hồn) và hiểu được cảm nghĩ và cảm xúc của chúng ta. Khi mới chết họ còn quyến luyến người thân, sau đó thì họ hòa nhập vào cõi giới mới.
 
Cũng trong cuốn Hành Trình về Phương Ðông (trang 145), Ðạo Sĩ Akila Bakhtir cho biết: ông đã có dịp gặp gỡ các bậc thánh nhân.  Ðó là những người đã được khai mở những năng khiếu để có những khả năng kỳ diệu. Những người này với khả năng hiểu biết vượt xa người thường để hướng dẫn hoặc giúp nhân loại trên chặng đường tiến hóa liên tục.   Có bốn nguyên nhân giúp con người tìm ra con đường của Ðạo: (1) tiếp xúc thân cận với những người Thiện Trí Thức; (2) nghiên cứu các sách vở và nghe giảng giải về đạo lý; (3) tự cố gắng mở mang trí tuệ và suy ngẫm.  Ðó chính là phương pháp tu Thiền; (4) Trau dồi phẩm hạnh, làm việc thiện và mở rộng lòng bác ái.  Ðó là pháp thanh lọc linh hồn đón nhận ánh sáng tâm linh.
 
Trong cuốn Những Bí Ẩn của Cuộc Ðời do Nguyễn Hữu Kiệt biên soạn (NXB Xuân Thu, 1988) có ghi về ông Edgar Cayce là một người có khả năng thần nhãn.   Ông Cayce sinh năm 1877 tại Hopskinville, Kentucky. Sau khi được chữa trị khỏi bịnh tắt tiếng bằng khoa thôi miên, ông bắt đầu chữa bịnh bằng phép soi hồn. Trang 129 có ghi chuyện người đàn bà có hai điều hoảng sợ là dao bén và sợ những loài thú có lông, nhất là loại thú nhà. Cuộc soi kiếp cho biết trong một kiếp trước ở Ba Tư, người đàn này bị giết vì một lưỡi gươm trong lúc chạy loạn.  Cuộc soi hồn cũng cho biết từ một kiếp trước ở Atlantide, cô đã trải qua một kinh nghiệm về những loài vật có hình thù ghê rợn.
 
 Hải Bằng.HDB
 
 
                       
                 Từ trang văn học nghệ thuật của PHẠM CAO HOÀNG (Virginia)
Họa sĩ Trương Thị Thịnh là thủ khoa khóa đầu tiên của trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật (QGCĐMT) Sài Gòn, thành lập tại Miền Nam năm 1954. Trên phương diện lịch sử, trường QGCĐMT Sài Gòn là một tiếp nối truyền thống của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương do họa sĩ Victor Tardieu thành lập tại Hà Nội năm 1925. Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đã đào tạo nhiều tài danh cho hội họa Việt Nam, nhiều người rất nổi tiếng ở Pháp và ngày nay tranh của họ vẫn được tiếp tục đấu giá cao trên thị trường quốc tế, như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, v.v…

Những họa sĩ tốt nghiệp các trường Mỹ Thuật Hà Nội, Sài Gòn, Huế là những nguồn cống hiến chính cho hội họa Việt Nam. Dù được đào tạo theo cùng truyền thống, nhưng sau khi ra trường, mỗi người theo đuổi con đường nghệ thuật khác nhau, tùy theo quan niệm, cách tiếp thu các trào lưu khác, và khả năng sáng tạo của riêng mình. Có thể truyền thống, có thể hiện đại.

Trương Thị Thịnh, Tĩnh Vật, sơn dầu trên bố, 18” x 22”, 1950

Họa sĩ Trương Thị Thịnh vẽ tranh theo nhiều phong cách khác nhau, kể cả tranh trừu tượng. Tuy nhiên, hậu ấn tượng vẫn là phong cách ảnh hưởng sâu đậm nhất trong hầu hết những tác phẩm quan trọng của chị. Như chúng ta đều biết, trường phái ấn tượng, impressionisme, ra đời ở Pháp vào cuối thế kỷ 19. Tính cách trong tranh của các họa sĩ thuộc trường phái này là nét cọ ngắn, mỏng nhưng rõ, bố cục mở, màu sắc tươi, ít pha trộn, chú trọng nhiều vào hiệu ứng của ánh sáng, tránh dùng màu đen và không coi trọng chi tiết. Những họa sĩ tiền phong của trường phái này là Claude Monet, Pierre-Auguste Renoir, Alfred Sysley, và Frederic Brazille. Bức Impression, soleil levant, của Claude Monet được xem là bức tranh khai mào sự thách thức với những quan niệm hàn lâm về nghệ thuật thời bấy giờ. Ảnh hưởng của trường phái ấn tượng lan rộng toàn thế giới và sang cả các lãnh vực khác như âm nhạc và văn học. Chẳng hạn, Debussy trong âm nhạc và Beaudelaire trong thi ca. Sau này, một số họa sĩ của ấn tượng phát triển thêm về kỹ thuật hay đi xa hơn về quan điểm. Camille Pissarro lúc về già hay Georges Seurat tạo nên tác phẩm không bằng những vết cọ mà bằng những vết chấm nhỏ sát liền nhau, gọi là pointillisme. Hay, Paul Cezanne, khởi đầu cho cách nhìn cảnh vật dưới khía cạnh hình khối. Họ được gọi là những họa sĩ hậu ấn tượng.

Claude Monet, Impression, soleil levant, sơn dầu trên bố, 1872

Tranh hậu ấn tượng của Trương Thị Thịnh có nhiều đặc điểm tôi muốn nêu lên ở đây, vì chính những đặc điểm, những nét riêng đó đã tạo nên những đóng góp quan trọng cho nghệ thuật. Tranh Trương Thị Thịnh bao gồm rất nhiều đề tài khác nhau: phong cảnh, trẻ thơ, bông hoa, thiếu nữ, chân dung, v.v…

Trương Thị Thịnh, Được Mùa, sơn dầu trên bố, 36” x 24”, đầu thập niên 70

Tranh phong cảnh của chị chịu ảnh hưởng nhiều cảnh cây cỏ, sông, nước, thuyền bè của vùng quê Mỹ Tho, Sa Đéc, Tân Châu, v.v… mà lúc còn trẻ, khi đi tản cư, sống trôi nổi với gia đình chị lớn và bà con ở đó. Đẹp, êm đềm, thuyền bè trên sông nước có bao la nhưng không vô tận, không có thảm kịch. Những trẻ thơ trong tranh của chị tươi mát, hồn nhiên. Những bông hoa màu sắc rực rỡ, đầy sức sống. Những loại tranh này của chị không biểu lộ hết tài năng của chị về sử dụng màu sắc hay bút pháp nhưng đáp ứng được ước vọng của chị là tạo cảm giác thanh bình, hạnh phúc nơi người xem.

Trương Thị Thịnh, Lối Xưa, sơn dầu trên bố, 36” x 24”, 2001

Trương Thị Thịnh vẽ nhiều tranh thiếu nữ. Mỗi người đẹp trong tranh là một thế giới riêng biệt. Không ai giống ai. Chị chú trọng nhiều đến sự thể hiện tâm hồn của người trong tranh nên không phải lúc nào cũng dùng những màu tươi sáng như trong đa số tranh ấn tượng của Pháp hay Việt Nam. Chị thường dùng bút pháp mạnh cho tranh thiếu nữ. Và, đây là những thiếu nữ có da có thịt, có sức sống, có đam mê, có ước vọng, có khắc khoải, và người xem có cảm giác gần gũi với họ chứ không phải chỉ là những người trong mộng ở một cõi xa xăm nào.

Trương Thị Thịnh, Thoảng Hương, sơn dầu trên bố, 24” x 30", 2007

Khi vẽ thiếu nữ, Trương Thị Thịnh phối hợp độc đáo giữa tính cách của ấn tượng với tính cách của trừu tượng. Như, trong bức Duyên Dáng hay trong chân dung Nguyễn Trí Minh Quang, phối hợp tài tình của nét cọ nhỏ, chi tiết, của ấn tượng và cổ điển với nét cọ lớn, bố cục rộng của tranh trừu tượng.

Trương Thị Thịnh, Chân dung Nguyễn Trí Minh Quang, sơn dầu trên bố, 50” x 50”, 2005

Lãnh vực chính của Trương Thị Thịnh là chân dung. Khi vẽ chân dung, chị thường phối hợp hài hòa với kỹ thuật cổ điển khi cần thiết. Vẽ chân dung cho giống khá dễ. Vẽ cho giống để tạo nên một bức tranh đẹp, để biểu lộ được nhân cách của người mẫu, để tạo cho người trong tranh một thế giới huyền ảo, một thế giới riêng biệt của họ, thì không dễ. Về phương diện này, tôi tin rắng Trương Thị Thịnh là họa sĩ hàng đầu của Việt Nam. Có nhiều tranh chân dung chúng ta thường thấy nơi một số họa sĩ, người trong tranh rất đẹp, nhưng lại là một người khác, và người trong bức chân dung này hao hao giống người trong chân dung kia. Tôi không cho rằng vẽ như vậy là vẽ chân dung.

Tranh chân dung thật sự có một giá trị độc đáo, một vị trí độc đáo trong hội họa. Bên cạnh giá trị của một tác phẩm mỹ thuật như bất cứ tác phẩm mỹ thuật nào, nó gắn liền với đời sống của người trong tranh và đời sống của những người liên hệ, có thể từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Trương Thị Thịnh, Chân dung bà Trương Hồng Sơn, sơn dầu trên bố, 18” x 24”, 1974

Tôi còn nhớ, cách đây vài năm, khi đến chơi nhà một người bạn lớn tuổi hơn, anh TQS, tôi nhìn thấy một bức tranh in lại từ bức chân dung sơn dầu của bà cụ anh, do chị Thịnh vẽ. Anh TQS cho tôi biết bức tranh này chị Thịnh vẽ bà cụ khi bà còn ở trong tuổi tứ tuần. Trong biến cố 1975, gia đình mang theo bức chân dung đó, rồi in lại 9 bản chia cho 9 người con. Dù là bức tranh in, tôi vẫn hình dung được đôi mắt đẹp cùng nét mệnh phụ trong dáng ngồi đài các của bà cụ. Tôi biết, qua bao nhiêu biển dâu, gia đình bạn tôi có thể mất mát rất nhiều, nhưng, tôi mừng, họ vẫn giữ được một tài sản tinh thần mà không tiền bạc nào có thể mua được.

Trương Thị Thịnh đã vẽ chân dung rất nhiều người. Từ những nhận vật nổi tiếng, như Tổng Thống, đệ nhất phu nhân, mệnh phụ, chính khách, trí thức, nghệ sĩ, v.v.. cho đến những người dân bình thường. Đặc biệt, chị vẽ chân dung rất nhiều bè bạn. Dù vẽ ai, mỗi chân dung biểu hiện một sắc thái riêng, một nhân cách riêng, một thế giới riêng, một nét đẹp riêng.

Thời gian 70 năm có dài thật nhưng rồi cũng sẽ 80 năm, sẽ 90 năm, và bao nhiêu năm đi nữa rồi cũng sẽ qua đi. Nhưng, những gì chị đã phụng hiến cho cuộc đời qua suốt 70 năm đó, bằng vẽ tranh, bằng đào tạo, sẽ mãi mãi còn đó để tiếp tục làm đẹp cuộc đời.

Trương Vũ
San Jose, 7 tháng 2.2017
 
  Vũ An Thanh hát CHIỀU NHỚ - Nhạc & lời: Nguyễn Đức Nam - Tiếng đàn: Phạm Xuân Thái & Hoàng Cung Fa
 
                                Vũ An Thanh & Nguyễn Đức Nam
 

            

    Nghỉ hè, nghỉ phép, ta thường đi chơi xa, trú ngụ tạm tại khách sạn. Dăm ba bữa nửa tháng, lại trở về nhà. Thường khi về nhà, lọt vào khung cảnh cũ, ngả mình trên chiếc giường quen thuộc, ta luôn luôn cảm thấy thoải mái, thú vị. Khách sạn là cõi tạm, nhà là cõi thực. Cuộc đời này là một cõi tạm. Hầu như mọi người đều nghĩ như vậy. Nhưng cái cõi tạm này, chúng ta tạm trú hơi lâu, quen hơi quen tiếng, nên khó rời. Biết là tạm mà vẫn cứ thích ở... khách sạn!

    Ông bạn da đen của tôi, rất tha thiết được chầu Chúa, đạo Cơ Đốc thuần thành, Chủ Nhật nào cũng đi nhà thờ, trong túi không bao giờ quên tờ giấy hai chục đô cúng dường, cuốn Thánh Kinh luôn luôn đeo theo người, nói câu nào cũng mời Chúa về góp tiếng cho chắc ăn. Một bữa, thấy ông vất vả với công việc, tôi giỡn.
    “Này, Gabriel, cuộc sống coi bộ nhiều mồ hôi quá nhỉ?”
    Bạn tôi cười nhe hàm răng trắng lạnh.
    “Đời mà! Chúa đã phán “Con phải đổ mồ hôi trán lấy bát cơm ăn”. Mình cứ phải theo ý Chúa vậy chứ sao.”
    Tôi làm bộ tỉnh phán theo.
    “Tôi thấy cậu là con cưng của Chúa, sao không xin Chúa cất về ngồi bên chân Chúa cho nhàn hạ cái thân!”
    Gabriel lắc đầu quầy quậy.
    “Còn sớm quá! Tôi còn mấy đứa con nhỏ phải nuôi, chắc Chúa cũng hoãn cho một thời gian nữa chứ!”
    Bạn tôi không nói rõ một thời gian là bao lâu, nhưng bằng vào cái lắc đầu hung hãn như vậy, tôi dè chừng chắc là phải lâu lắm!

    Một ông bạn khác, ung thư thời kỳ cuối, con cái đã chồng vợ đâu vào đấy, đời chẳng còn gì phải lo lắng, cuộc sống rất thoải mái về vật chất, nhưng cái đau đớn của tật bệnh thật khôn lường, chép miệng than thở khi tôi tới chơi.
    “Mình cũng tới tuổi rồi. Nhưng nếu Trời cho ít năm nữa thì quý hóa quá!”

    Sống có vất vả, đau đớn đến thế nào chăng nữa, vẫn cứ thích bám vào cõi tạm. Sao vậy? Bởi vì cái cõi mà người ta gọi là vĩnh hằng, miên viễn, vô ưu... ta chưa hề biết tới chăng? Hay là bởi vì từ cõi tạm bước qua cõi thật đó, người ta phải xuôi tay nằm dưới ba tấc đất hoặc uốn người trong ngọn lửa thiêu? Toàn những trò khó chơi cả.
    Nhà sinh học Susanne Wiigh-Maesak, người Thụy Điển, vừa phát minh ra một trò mới. Trò này coi bộ dễ chịu hơn. Thi hài người chết sẽ được làm lạnh cực nhanh đến -18 độ C và sau đó nhúng vào nitơ lỏng có nhiệt độ -196 độ. Thi hài, sau khi được lấy ra khỏi dung dịch siêu lạnh, trở nên giòn tan như kính và vỡ vụn thành một hợp chất dạng bột. Tất cả số nước còn lại được hút vào một khoang chân không, trước khi cho chạy qua một màn kim loại để lọc bỏ tất cả những vật thể còn sót lại (những thứ cấy ghép trong thân thể) chưa phân hủy. Bột thi hài, sau đó, có thể được thiêu đốt, hoặc được chôn trong một quách làm bằng tinh bột bắp, đặt trong hố nông khoảng 30 phân. Sau khoảng một năm, oxy và vi khuẩn sẽ phá hủy chúng hoàn toàn, biến thi hài trở thành cát bụi. Bà Wiigh-Maesak cho biết bà đã đăng ký bản quyền phương pháp này ở 35 quốc gia. Phương pháp này giúp tránh làm vẩn đục môi trường như hai phương pháp thông dụng hiện nay là hỏa thiêu và chôn dưới đất quá sâu làm trì trệ quá trình phân hủy.

    Không phải là các nhà sinh học, mấy ông bạn tôi cũng bầy ra nhiều cách... vượt biên từ cõi sống qua cõi chết vui lắm. Như ông Du Tử Lê chẳng hạn.
    khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển
    đời lưu vong không cả một ngôi mồ
    vùi đất lạ thịt xương e khó rã
    hồn không đi sao trở lại quê nhà

   
    Ông Luân Hoán còn cãi cọ với... thinh không.
    không từ đất sao phải về với đất
    thịt xương này không thể mất khơi khơi
    khi tôi chết xin đem giùm thi thể
    chia cho thù lẫn bạn nhậu chơi

   
    Ông Lưu Nguyễn cứ thiên thai lơ lửng.
    mai này ta sẽ ra đi
    người ơi có nhớ có gì nhắn không
    trăm năm mây trắng bềnh bồng
    về nơi đã đến mà lòng thảnh thơi

    Dặn dò rối rít xong các ông ấy đi... uống cà phê. Bởi vì cái chết vẫn chưa trong tầm mắt. Cõi tạm này mới đích thực trong tầm tay. Tạm lâu ngày dễ có ảo tưởng đây mới là cõi thật.

    Đời người được bao lâu? Trăm năm trong cõi người ta. Trăm năm? Mấy người được trăm năm? Bà cụ 114 tuổi của kỷ lục Guinness vừa qui tiên, nhà cầm quyền Việt Nam đang vận động cho một cụ bà Việt nam, cũng 114 tuổi, được ghi vào thay thế. Lóng rày, coi bộ Việt Nam ham giữ kỷ lục thế giới dữ. Hết bánh dầy, bánh chưng, bánh tét lớn nhất thế giới (có ở đâu khác làm thứ bánh này không nhỉ?), nay muốn đầu tư vào kỷ lục tới sự sống của con người (bệnh kỷ lục có phải là một biến tấu thời mở cửa của bệnh thành tích ngày cũ chăng?). Kỷ lục là thứ xịn. Thường thường bực trung khó với tới. Ông anh tôi bảo cứ sáu chục cái xuân già là gỡ đủ sở hụi rồi. Thêm được năm nào là bonus của trời đất, cứ hân hoan mà cám ơn!
    Trong cái thời gian sống chỉ là tích tắc so với đời sống của vũ trụ, con người quậy như điên. Đủ món ăn chơi. Kèn cựa, khích bác, tranh dành, lừa đảo, xô đẩy, chém giết... nhau. Mỗi người cố thu vén cho riêng mình. Nhà sang, xe xịn, lợi danh, tiền bạc... Mặc sức mà vung tay vung chân. Mặc sức mà lèn cho đầy túi tham. Nhiều người sống trong cái sân si tối tăm trong suốt cuộc sống. Trẻ, tiết vịt còn chảy rần rần trong người, hung hăng con bọ xít đã đành. Già, máu tưởng đã phải nhiễm lạnh mà vẫn cứ sân sân si si phát khiếp. Như Bà Margaret Ann Thomas-Irving, 58 tuổi, cư dân ở Hartford, Connecticut chẳng hạn. Từ tháng 10/2002 đến tháng 7/2003, trong vòng chưa đầy một năm, đã một mình cướp nhà băng tới 12 lần. Tổng cộng số tiền cướp được là 19 ngàn đô. Vũ khí của bà chỉ là khẩu súng đồ chơi con nít, hoặc ngon hơn, chẳng súng siếc gì cả chỉ dọa nhân viên ngân hàng là trong ví có súng là họ nộp tiền ngon ơ!
    Cướp có nghệ thuật hơn là hai vợ chồng James Roland Clark, 71 tuổi, và Deloris Jane Clark, 66 tuổi, dân Florida. Ông chồng xách một bao cát vào ngân hàng dọa là chất nổ, bà vợ rồ sẵn máy xe chờ ở ngoài cửa. Cướp xong ông chạy ra phóng lên xe vù mất. Nhờ một gói thuốc nhuộm cho phát nổ sau đó cảnh sát mới tóm được hai ông bà già chịu chơi này.
    Bà già Connie Parker, 74 tuổi, cư ngụ ở Nassau, tiểu bang Nữu Ước vừa trúng số độc đắc 25 triệu. Khi đi lãnh thì, sau khi trừ thuế má, bà cầm tay được 7,3 triệu. Bà ôm chặt lấy tiền, nhất định không chia cho ông chồng Kenneth Parker, 77 tuổi, đang bị ung thư phổi thời kỳ cuối. Ông chồng cho biết là ông đã đưa cho bà 20 đô để bà đi mua số nhưng bà cãi lại bà đã mua số bằng tiền riêng của bà. Ông chồng tức giận đâm hai đơn một lúc. Một đơn đòi chia tiền, một đơn xin ly dị sau 16 năm rưỡi chung sống. Rút cục, cụ đi đường cụ tôi đường tôi, và bà Connie phải thỏa thuận chia cho ông chồng một số tiền không rõ là bao nhiêu nhưng, theo tiết lộ không chính thức, là một phần ba số tiền bà lãnh.

    Thất thập cổ lai hy. Hiếm có thiệt! Sống đã từng ấy tuổi tưởng tay chân đã làm biếng nhấc lên nhấc xuống, ai ngờ vẫn cứ chụp giật như máy. Để làm chi? Ôm về cõi viên mãn chăng? Cõi bình an đó có cần những thứ phù phiếm của cõi tạm này không?
    Một cặp vợ chồng già đã trên 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Họ ăn uống kiêng khem và tập thể dục hàng ngày. Không may hai cụ qua đời do một tai nạn xe buýt, họ lên thiên đàng và được thánh Phêrô đón tiếp nồng hậu. Thánh Phêrô đưa hai người đi coi nhà bếp khổng lồ, hồ bơi, phòng tắm hơi, sân chơi golf... Lóa mắt vì sự sang trọng của ngôi nhà, cụ ông hỏi thánh Phêrô.
    “Chúng tôi có phải trả tiền cho những thứ này không?”
    “Tất cả đều miễn phí, đây là thiên đàng mà!”
    Đến giờ ăn, thánh Phêrô đưa hai cụ đến môt phòng ăn sang trọng, thức ăn ê hề. Cụ ông hỏi.
    “Thưa Ngài, tất cả các món ăn này cũng miễn phí cả sao?”
    “Tất nhiên!”
    Cụ ông lại rụt rè hỏi tiếp.
    “Chúng tôi có thể ăn tùy thích, không phải lo ngại dư mỡ, đường, cholesterol chứ ạ?”
    “Không, tôi đã bảo là cụ đang ở trên thiên đường cơ mà! Cụ có thể ăn uống no say tùy thích mà không sợ bị mập phì, đái đường hay nhồi máu cơ tim gì cả.”
    Bỗng nhiên mặt cụ ông trở nên đỏ gay, quay sang cụ bà quát to.
    “Tất cả do lỗi của bà! Nếu bà không ép tôi phải ăn uống kiêng cữ và tập thể dục hàng ngày thì tôi đã lên đây sớm hơn mười năm rồi!”

    Cái cõi mông lung đó đâu phải chỉ có thiên đường. Những nơi khác có vui như vậy không?
    Hai bợm nhậu ngồi bên chai rượu đã cạn quá nửa. Một ông hỏi.
    “Ông bạn nghĩ là có thế giới bên kia hay không?”
    Ông bạn gục gặc đầu.
    “Có chứ! Mà chắc ở bển cũng vui vẻ lắm, nhậu nhẹt lu bù.”
    “Sao ông biết?”
    “Thì ông thấy đấy. Mấy chả đi có cha nào thèm quay về đâu!”

    Dương sao âm vậy. Dân gian vẫn cứ tin như thế. Cái cõi đầy bí ẩn đó được hiểu như là một nối dài của cõi tạm này, cũng có cuộc sống và những cung cách sống cụ thể như nhau. Vậy nên mới có dịch vụ gửi UPS không thiếu thứ gì qua cõi mờ ảo đó. Nhà cửa, xe cộ, quần áo, nồi niêu soong chảo, vàng bạc, tiền đô giấy lớn 100.000, và cả... điện thoại di động nữa! Mấy bà thương chồng cũng không quên gửi những nàng hầu trắng trẻo xinh đẹp xuống cho các ông chồng bớt cô đơn. Dĩ nhiên, trước khi hóa vàng, mấy bà không quên rạch mặt, chọc mù mắt hình nhân để thỏa cơn ghen kéo dài qua hai cõi!
    Tin như thế bị coi là tin nhảm. Mê tín! Nhưng mâm cơm cúng ngày giỗ ngày tết chắc có ý nghĩa khác. Không ai nghĩ là người từ cõi kia về ăn như chúng ta ăn (cơm canh còn nguyên đó chứ có hụt đi chút nào đâu!) nhưng làn khói nhang ấm áp mời người quá cố về thụ lộc được hiểu như là một cách tưởng nhớ tới người thân đã bước sang cõi khác trước chúng ta. Tấm lòng thương tưởng của chúng ta thể hiện qua cách cúng những món ăn mà người thân quá cố ưa thích khi còn sinh tiền.
    Trong nghĩa trang, một ông dọn cơm canh cúng trên mộ vợ. Một ông người bản xứ thành kính đặt bó hoa trên ngôi mộ bên cạnh. Lễ bái, cầu kinh xong, ông bản xứ hỏi ông Việt nam.
    “Bộ ông tin rằng vợ ông có thể về ăn được những thức ăn ông cúng như vậy chăng?”
    Ông Việt nam bình thản hỏi lại.
    “Bộ ông cũng tin rằng vợ ông có thể về ngửi được bó hoa ông đặt trên mộ kia chăng?”

    Chỉ một bước ngắn, chúng ta chuyển từ cõi này qua cõi khác. Ai cũng ngại ngần trước nhịp bước vô định này. Cõi tạm, cõi... khách sạn, chúng ta đã quen nếp sống. Cõi thực, cõi... nhà, chúng ta u u minh minh. Cái bước dùng dằng từ một chỗ đứng cân bằng trên mặt đất sang chỗ chênh vênh mây trời là cái bước mỗi con người phải trải qua. Cái điều chắc chắn sẽ xảy ra này chúng ta không muốn nghĩ tới. Càng thêm tuổi, chúng ta càng làm lơ không muốn nghĩ tới. Không nghĩ thì làm sao mà hiểu được.

    Thế giới có triệu điều không hiểu
    Càng hiểu không ra lúc cuối đời
    Chẳng sao khi đã nằm trong đất
    Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.

    (Mai Thảo)

    
SONG THAO - Phiếm - 02/2004
 Image result for Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật Thế cho nên tất bật đến bây giờ

Thơ Bùi Giáng (1926-1998): Ta là CÁT ta sẽ về với BỤI

Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật
Thế cho nên tất bật đến bây giờ!
Ta cứ ngỡ xuống trần chỉ một chốc
Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay!
 
Bạn thân ơi! Có bao giờ bạn nghĩ
Cuộc đời này chỉ tạm bợ mà thôi
Anh và tôi giàu sang hay nghèo khổ
Khi trở về cát bụi cũng trắng tay
 
Cuộc đời ta phù du như cát bụi
Sống hôm nay và đâu biết ngày mai ?
Dù đời ta có dài hay ngắn ngủi
Rồi cũng về với cát bụi mà thôi
 
Thì người ơi! Xin đừng ganh đừng ghét
Ðừng hận thù tranh chấp với một ai
Hãy vui sống với tháng ngày ta có
Giữ cho nhau những giây phút tươi vui
 
Khi ra đi cũng không còn nuối tiếc
Vì đời ta đã sống trọn kiếp người
Với tất cả tấm lòng thành thương mến
Ðến mọi người xa lạ cũng như quen
 
Ta là Cát ta sẽ về với Bụi
Trả trần gian những cay đắng muộn phiền
Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy
Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!
 trần gian3
 
                              
                   
 
                                     MỜI XEM:  HỘI HỌA SĨ TRẺ VIỆT NAM 1973 (PDF)
 
 
              LẨM CẨM CHUYỆN LY DỊ - LS. NGÔ TẰNG GIAO
                      

TÌNH NGHĨA ĐÔI TA CÓ THẾ THÔI

Có người triết lý: "Biết bao người đàn ông chỉ yêu một má lúm  đồng tiền mà dại dột cưới nguyên cả một người đàn bà!" Để rồi sau đó chẳng còn ca tụng "tình em như tuyết giăng đầu núi, vời vợi muôn thu nét tuyệt vời" nữa!. Thôi đành chia tay! "Tình nghĩa đôi ta có thế thôi!"

Giải tán một cuộc hôn nhân bằng thủ tục ly dị là biện pháp mà người ta thường hay theo nhất. Khi yêu nhau thì "trái ấu cũng tròn", "yêu cả đường đi lối về"... thậm trí nếu em yêu đêm nằm có ngáy to quá khiến chồng mất ngủ thì "chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà"... Khi "tình yêu vỗ cánh bay xa" thì quái lạ thật, nào đi đứng, nào nằm ngồi cái gì trông cũng thấy chướng tai gai mắt cả. Lý do thông thường nhất để xin ly dị là sự bất hòa. Vợ chồng không còn thấy thích hợp để tiếp tục chung sống cùng nhau nữa.

Cũng có thể gọi đây là trường hợp cô đơn. Một nỗi cô đơn "đồng sàng dị mộng", tuy chung sống dưới cùng một mái nhà nhưng hai tâm hồn lại "gửi gió cho mây ngàn bay" theo hai hướng khác nhau. Tây họ gọi là "solitude à deux" (cô đơn tay đôi). Nhưng mà lạ thật! Chính sự cô đơn thì tốt chứ vì đó là một điều kiện thiết yếu để sáng tác cơ mà.

Johann Wolfgang von Goethe từng phát biểu rằng: "Người ta có thể được giáo dục trong xã hội, nhưng người ta chỉ được gợi hứng ra trong sự đơn độc". Họa sĩ Picasso tiếp lời: "Sẽ không có một tác phẩm nghiêm túc nào được ra đời nếu không có sự đơn độc lớn."

Không rõ sau khi tan hàng có bên nào hối tiếc mà rên rỉ cất tiếng hát rằng: "Lệ xóa cho em được không những kỷ niệm đắng. Lời nói yêu thương ngày xưa có trở về tìm?…" Chỉ biết có đệ tử Lưu Linh ngồi trước món nhậu nổi hứng triết lý phát biểu rằng: "Hôn nhân như một quả tim, luộc ăn ngon, xào cũng ăn ngon, nhưng để lâu, thì chả còn ngon chút nào cả!" Benjamin Franklin từng lên tiếng phụ họa: "Trước khi lấy vợ hãy cố mở mắt ra. Sau khi lấy vợ nên cố mà khép mắt lại."

LÝ LẼ CỦA CHÀNG

Tại Price, Utah: Chồng xin ly dị vì bà vợ cứ nằng nặc đòi treo hình của bốn ông chồng cũ của vợ ở đầu giường (over the bed.)

Point Charlotte, Florida: Chàng xin ly dị ngay sau khi hai người vừa cưới nhau xong. Chàng trình với tòa là cả hai trong lễ cưới vừa nói xong "I do's" là nàng đã vội vàng lôi chàng đến tiệm rượu quen thuộc gọi rượu nhậu và nói với ông chủ quán rượu là "Đấy ông thấy không, tôi nói là tôi sẽ cưới anh chàng này mà (I told you I'd marry him). Bây giờ đưa tôi $50 ngay đi!"

Montevideo, Minnesota: Chồng kiện xin ly dị vợ vì cho rằng vợ không yêu chồng. Lý do là chồng bị hụt cẳng chân té xuống basement và gần như bất tỉnh, phải bò lết trên mặt đất. Thế mà bà vợ vội chạy đến và hô lên rằng; "Anh đang ở dưới đó (while you're down there) thì tiện tay bỏ thêm ít than vào lò sưởi nhé!"

Huntingburg, Indiana: Liên lạc với nhau qua mục quảng cáo tìm bạn đời của những tâm hồn cô đơn. Thế rồi họ cưới nhau trước khi gặp mặt nhau. Nàng khai là chỉ cao 5 feet và nặng có 118 pounds nhưng khi gặp mặt thì mới thấy là nàng cao những 6 feet và nặng những 300 pounds. Chàng kiện xin ly dị vì lý do "quảng cáo gian lận" (false advertising.)

Platteville, Wisconsin: Chồng kiện ly dị bà vợ vì lý do là vợ đáp một chuyến bay và mua bảo hiểm du lịch nhưng lại ghi tên kẻ thụ hưởng là… con chó của chàng và nàng (named their dog as beneficiary.)

Grants, New Mexico: Chồng xin ly dị vì vợ lăng nhăng ngoại tình. Tòa án trách cứ chồng, cho rằng chồng đã biết chuyện lăng nhăng của vợ và nên có những sự canh chừng cẩn mật riêng tư (exercised a peculiar vigilance over her).

Rock Springs, Wyoming: Ngay sau khi lấy nhau nàng thổ lộ là lấy chàng chỉ vì tiền của chàng mà thôi. Chàng tức giận nạp đơn xin ly dị. Tuy nhiên đơn này bị bác vì quan tòa cho rằng: "Luật về trò chơi của tiểu bang không quy định mùa mãn hạn cho cái loại cạm bẫy này" (the game laws of the state provided no closed season against this kind of trapping.)

LÝ LẼ CỦA NÀNG

Tại Marshfield, Wisconsin: Khi một cặp cưới nhau, chàng hứa hẹn sẽ trả cho nàng $1 cho mỗi nụ hôn trong suốt thời gian lấy nhau. Nàng kiện xin ly dị chàng và xin tòa bắt chàng phải trả khoản tiền "hôn" này còn thiếu là $3,000 (back payments.)

Tại Susanville, California: Nàng kiện xin ly dị vì chàng đem cái bếp lò đi bán để lấy tiền mua rượu nhậu. Chàng thú nhận là có đem bếp lò đi nhưng xin tòa khoan hồng vì chính nàng cả nửa tháng nay có sờ chi tới bếp núc đâu!

Tại Pendleton, Oregon: Nàng kiện xin ly dị với lý do chàng không hề mua tặng nàng món quà chi nhân mùa Giáng Sinh cả. Chàng cãi rằng chàng tin là ông Santa sẽ mang cho nàng quà tặng đó (Santa would bring them.)

Tai Winnemucca, Nevada: Nàng chộp được từ tay ông đưa thư một bức thư do chính chữ viết tay của chồng. Khi mở ra coi thời đó là thư tình ái chồng gửi cho một người đàn bà khác. Nàng kiện xin ly dị và thắng kiện nhưng phải trả $20 về tội… trộm thư không phải của mình (tampering with the mail.)

Strawberry Plains, Tennessee: Vợ thỉnh cầu tòa cho ly dị vì nàng làm thịt bò bíp-tết với hành rất ngon nhưng anh chồng luôn ăn hết thịt chỉ để dành lại cho vợ có hành mà thôi (left her the onions.)

Canon City, Colorado: Vợ kiện xin ly dị vì anh chồng cứ bắt vợ phải ngồi tụt xuống và cúi đầu thấp trong xe (hide under the dashboard) mỗi khi chồng lái qua mặt người bạn gái cũ của chồng.

LÝ LẼ CỦA TÒA

1.Tại Wichita, Kans., một ông chồng được phép ly dị bà vợ sau khi trình bằng chứng với tòa rằng ông làm việc suốt đêm, nhưng về nhà lại không được ngủ yên vì bà vợ cứ nằng nặc đòi nuôi 36 con chim kim tước luôn kêu rối rít và hai chú chó ngay trong phòng ngủ.

Nàng Barbara kiện đòi ly dị Timothy với lý do là chàng này làm tất cả mọi việc bếp núc, nội trợ (quả xứng danh là Mr Clean) Nàng không được đi mua sắm bên ngoài, không được chùi rửa nhà cửa và không được làm việc bên lò bếp nóng trong suốt 13 năm từ ngày cưới nhau. Nàng kiện ly dị với lý do như thế là bị "hành hạ". Tòa xử nàng thua kiện! Quan tòa phán rằng Timothy đã "thiếu khôn khéo chứ không độc ác" (tactless, not cruel.)

Lee và Roberta lấy nhau đã 40 năm trời rồi chàng tự dưng lại lăng nhăng với một bà khác. Nàng nạp đơn xin ly dị. Chàng trình tòa rằng mọi tội lỗi đều do nàng mà ra cả vì nàng đã cứ cằn nhằn cãi cọ với chàng trong suốt cuộc đời chung sống này và cái sự "quấy rầy, ghép tội và cãi cọ" (harassment, accusation, and nagging) này đã là nguyên do đưa đẩy chàng vào vòng tay một người phụ nữ khác. Tòa xử rằng sau 40 năm bị như thế thì người chồng đã chịu đựng quá mức. Tuy nhiên Roberta lại không được lãnh một khoản tiền cấp dưỡng nào cả, đó là cái giá mà bà vợ phải gánh chịu vì cái miệng lưỡi của mình (the tongue lashing.)

Fred và Olga mới chỉ lấy nhau được có một tháng trời rồi Fred nạp đơn xin ly dị. Chàng thưa rằng cuộc hôn nhân thực ra chưa hề có bao giờ. Chàng đã quá say xỉn lúc làm đám cưới vì đã nhâm nhi hết 2 gallon rượu bia. Trong một cuộc cãi lộn bà vợ nặng 250 pounds của chàng đã quật chàng ngã nằm dài xuống đất và ngồi lên tấm thân chàng suốt 10 phút đồng hồ. Lý do xin ly dị là tàn ác và đối xử bất nhân (cruel and inhuman treatment.) Olga cãi rằng không hề đẩy Fred, Fred tự mình bị ngã, hơn nữa nàng chỉ ngồi trên chân chồng mà thôi, có gì quá đáng đâu. Tòa xử cho chàng Fred được quyền ly dị.

2. Chuyện bên Tàu: cậu Jian Feng yêu tha thiết người vợ xinh đẹp của mình. Nhưng con gái đầu lòng sinh ra quá xấu (extremely ugly baby girl). Nhan sắc của vợ bỗng nhiên trở thành tàn tạ. Dựng cớ con không giống cha, cho rằng con do ngoại tình, anh đòi ly dị. Thử DNA chứng tỏ đó là con anh. Vợ thú nhận đã chi 75.000 mỹ kim nhờ giải phẩu thẩm mỹ thay đổi dắc diện hoàn toàn, nay vì sanh đẻ, những khuyết tật xưa tái xuất hiện. Chồng nhứt định đưa ra Tòa ly dị và đòi tiền thiệt hại. Con gái xấu khiến anh bị hoảng kinh. Tòa xử vợ đã cố tình che dấu dung nhan xấu để gạt anh chồng, chấp nhận đơn xin ly dị và dạy người vợ phải bồi thường cho chồng hơn 120.000 mỹ kim thiệt hại.

Cái anh chồng này.quả thật không nghe lời phát biểu của nhà văn Antoine de St Exupery nổi danh của Pháp, nguyên văn như sau: "Yêu nhau không phải là chuyện người này ngắm nhìn người kia, mà là cùng ngắm nhìn chung về một hướng" (Aimer, ce n'est pas regarder l'un l'autre, mais c'est regarder ensemble dans une même direction.)

MẠN ĐÀM CHUYỆN VỢ CHỒNG

- Hai bí quyết giúp cho hôn nhân khắng khít: 1.Luôn nhận mình là sai trái. 2.Còn khi bạn đúng thì nên câm họng! (Two secrets to keep your marriage brimming: 1.Whenever you're wrong, admit it. 2.Whenever you're right, shut up) (Shaquille O'Neal)

- Bạn định nghĩa thế nào về một người vợ chung thủy? Xin thưa: "Một người vợ chung thủy là người đàn bà suốt đời chỉ thích hành hạ một người đàn ông thôi!"
- Người vợ tốt là người tha thứ cho chồng mình khi bà ta sai trái! (A good wife always forgives her husband when she's wrong) (Barack Obama)


- Tôi có sợ khủng bố đâu nào, vì tôi đã lấy vợ được 2 năm rồi còn gì! (I don't worry about terrorism. I was married for two years.) (Rudy Giuliani)

- Tôi và vợ tôi đã sống vui vẻ trong suốt hai mươi năm trời cho đến khi chúng tôi gặp nhau. (My wife and I were happy for twenty years. Then we met) (Alec Baldwin)

- Cách chuyển tiền nhanh còn hơn cả ngân hàng điện tử nữa... đó chính là hôn nhân! (There's a way of transferring funds that is even faster than electronic banking. It's called marriage) (Michael Jordan)


- Tôi gặp toàn chuyện xui trong hôn nhân. Bà vợ đầu bỏ tôi còn bà thứ hai thì không. Bà thứ ba thì đẻ khỏe ra gì! (I've had bad luck with all my wives. The first one left me and the second one didn't. The third gave me more children) (Donald Trump)


- Bạn biết trước khi lấy vợ tôi làm được chuyện gì không? Mọi thứ gì mà tôi muốn. (You know what I did before I married? Anything I wanted to) (David Hasselhoff)


- Cách nhớ ngày sinh của vợ hiệu quả nhất là cứ giả bộ quên một lần (The most effective way to remember your wife's birthday is to forget it once) (Kobe Bryant)


- Hôn nhân là cuộc chiến duy nhất mà trong đó hai kẻ thù ngủ chung với nhau. (Marriage is the only war where one sleeps with the enemy) (Tommy Lee Jones)


- Có ông kia đăng báo: "Kén vợ". Ngày hôm sau ông ta nhận cả trăm lá thơ hồi đáp, tất cả đều viết cùng một nội dung: "Ông có thể lấy vợ tôi được đấy" (A man inserted an 'ad' in the classifieds: "Wife wanted". Next day he received a hundred letters . They all said the same thing: "You can have mine" (Brad Pitt)

- Ông thứ nhất khoe: "Vợ tôi là một thiên thần". Ông thứ hai nói: "Vậy ông may mắn đấy, vợ tôi thì vẫn còn sống nhăn mới chết chứ" (First Guy ‘proudly': "My wife's an angel!" Second Guy: "You're lucky, mine's still alive") (Jimmy Kimmel)


- Đàn bà gợi hứng cho chúng ta làm những việc vĩ đại, đồng thời họ lại ngăn cản chúng ta đạt được những điều vĩ đại ấy! (Woman inspires us to great things, and prevents us from achieving them) (Mike Tyson)


- Đàn ông bằng mọi giá phải cưới vợ thôi. Nếu gặp vợ tốt nết thì hạnh phúc, còn lấy phải vợ xấu nết thì bạn sẽ trở thành một triết gia (By all means marry. If you get a good wife, you'll be happy. If you get a bad one, you'll become a philosopher) (Socrates) 



- Khi có kẻ nào cướp mất bà vợ của bạn, không có sự trả thù nào độc ác hơn là để nó giữ lấy bà ấy. (When a man steals your wife, there is no better revenge than to let him keep her) (Lee Majors)

- Bà vợ hỏi chồng "Sao hôm nay ông về sớm vậy? Chồng trả lời "Hôm nay lão boss nổi khùng hét vào mặt tôi "Hãy cút về địa ngục đi!" (Go to hell). Nên tôi về nhà!

- Bà vợ than thở "Ước gì tôi là một tờ nhật báo để như thế là được ông cứ khư khư ôm lấy trong tay vào mỗi buổi sáng!". Ông chồng trả lời "Tôi cũng thầm mong ước giống như bà để tôi có được một tờ… ‘báo mới' mỗi ngày!"

- Một cặp vợ chồng da trắng lại sinh ra một đứa con da đen. Ông chồng thắc mắc không tin đó là con mình. Bà vợ giải thích "Ông luôn luôn nóng (hot), tôi cũng nóng (hot) nên đứa con này bị bỏng (burnt) vậy mà!"

- Vợ hỏi "Ông đang tìm kiếm chi đó?" Chồng trả lời "Có kiếm chi đâu!" Vợ hỏi lại "Không kiếm gì sao? Tôi thấy ông ôm tờ giấy hôn thú của chúng mình và đọc cả tiếng đồng hồ rồi mà?" Chồng thở dài "À! Tôi đang kiếm xem trong này có ghi ngày mãn hạn (expired date) là ngày nào không!"
 
(Trích "CHUYỆN PHIẾM VỀ PHÁP LUẬT - Soạn giả: LS. NGÔ TẰNG GIAO)
 
             
                                                                 T H I Ế U  N Ữ
                     Acrylic on paper - đinh trường chinh - July 4, 2017

 
                         TRUYỆN NGẮN "SƯƠNG ĐỜI" - Tiên Sha Lê Luyến
 
 
                                                               TOÀN BÀI VIẾT (PDF)
                 
           amazing-places-santorini-1
                         AMAZING PLACES ON OUR PLANET (Youtube) - 13 phút, HD
 

 
 
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com