arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow HOÀI CẢM VÀ DÒNG NHẠC CỦA CUNG TIẾN - PHẦN 1 - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
HOÀI CẢM VÀ DÒNG NHẠC CỦA CUNG TIẾN - PHẦN 1 - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

                          *** TRANG ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN, XIN VUI LÒNG THỨ LỖI ***

           Hoài Cảm & Dòng nhạc Cung Tiến - Phần 1

 

         

                      Tâm Hảo hát HOÀI CẢM  - Nhạc & lời: Cung Tiến: Youtube

                                                                   

                                                           NHẠC KHÔNG LỜI:

                                Guitar (Kim Chung)      Saxophone         Piano

 

                               

Hoài Cảm - Cung Tiến

Chiều buồn len lén tâm-tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa

Quạnh hiu về thấm không gian
âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều chợt nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn

Lòng cuồng điên vì nhớ
ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa?

Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối
Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

Chờ nhau hoài cố nhân ơi!
Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!

Thời gian tựa cánh chim bay,
qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?

     

                                   

           

                                                                  BẢN NHẠC (PDF)

                                              Tiểu Sử của Cung Tiến

                                               

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày: 27-11-1938 tại Hà Nội, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng là Thẩm Oánh và Chung Quân tại hai trường Trung học Chu Văn An và Nguyễn Trải.

1953: Sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu Vàng và Hoài Cảm từ lúc còn rất trẻ.

1957-1963: Du học ở Úc Châu ngành Kinh tế, đồng thời học thêm về dương cầm, hòa âm, đối điểm, phối cụ tại Nhạc viện Sydney.

1964-1970: Viết nhận định, phê bình văn học, dịch thuật cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn với bút hiệu Thạch Chương.

Dịch giả hai tác phẩm nổi tiếng của văn hào Nga: "Hồi Ký Viết Dưới Hầm" của F. M. Dostoevsky và "Một ngày trong đời Ivan Denisovitch" truyện của A. Solzhenitsyn.

1970-1973: Nhận học bổng cao học của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Cambridge, Anh Quốc và tốt nghiệp kinh tế học tại đó; đồng thời dự các lớp nhạc sử, nhạc học và nhạc lý.

1975: Định cư tại Hoa Kỳ, làm việc trong Bộ An Ninh Kinh Tế Tiểu Bang Minnesota.

Đầu thập niên 80: phổ nhạc "Vang Vang Trời Vào Xuân" từ thơ viết trong tù của Thanh Tâm Tuyền, trình bày lần đầu tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn năm 1985.

1987: Sáng tác tấu khúc Chinh Phụ Ngâm, soạn cho 21 nhạc khí, trình diễn lần đầu tại San Jose, California, ngày 27-3-1988; trình diễn lần sau tại Minnesota ngày 11-11-1989.

1992: Phổ nhạc bài thơ "Ta Về" của Tô Thùy Yên, gồm hát, dẫn đọc, ngâm với đội nhạc cụ thính phòng.

1993: Nhận tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc Quan họ Bắc Ninh, các thể loại dân ca Việt Nam và soạn Tổ Khúc Bắc Ninh cho dàn nhạc giao hưởng.

1997: Soạn bản hợp ca cho ca đoàn Dale Warland Singers (Minnesota), nổi tiếng quốc tế, nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn.

1999: Đêm nhạc Cung Tiến tại rạp Ebel Theater, Santa Ana, California, do dàn nhạc thính phòng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ tổ chức (ngày 4 tháng 12).

2003: Sáng tác nhạc đương đại Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành dựa trên điệu dân ca Quan họ.

2010: Đêm nhạc "Vết Chim Bay" do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức (ngày 10 tháng 7) tại rạp La Mirada Theater, Nam California - với một số nhạc phẩm tiêu biểu của Cung Tiến cùng dàn nhạc giao hưởng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ. Hai tuyển tập "Vang Vang Trời Vào Xuân" và "Hoàng Hạc Lâu" cũng được ra mắt 2 hôm trước đó.

Ngoài sáng tác, Cung Tiến còn viết nhiều khảo luận về nhạc dân gian Việt Nam và nhạc Hiện Đại Tây Phương đăng trên tạp chí Mỹ (Colors), và Việt Nam (Văn, Văn Học, Nghệ Thuật, Thế Kỷ 21, Quê Mẹ với bút hiệu Đăng Hoàng).

                

                                 Nhạc sĩ Cung Tiến đến thăm Nhạc sĩ Thẩm Oánh - 1995


Nhạc sĩ Cung Tiến và những sáng tác và hoạt động âm nhạc trong những thập niên qua - 2007-04-01 / Mặc Lâm - phóng viên RFA

                               Mặc Lâm RFA Phỏng vấn Nhạc sĩ Cung Tiến (MP3)

 

 

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney.

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Năm 1987, Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm, soạn cho 21 nhạc khí tây phương, được trình diễn lần đầu vào năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988.

Vào đầu thập kỷ 1980 Cung Tiến phổ nhạc từ 12 bài thơ trong tù cải tạo của Thanh Tâm Tuyền mang tên "Vang Vang Trời Vào Xuân", tập nhạc này được viết cho giọng hát và Piano và được trình bày lần đầu tiên tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1985.

Năm 1992, Cung Tiến soạn tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, nói, ngâm và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 2003, Ông đã thực hiện một tác phẩm nhạc đương đại Lơ thơ tơ liễu buông mành dựa trên một điệu dân ca chèo cổ. Ông cũng là hội viên của diễn đàn nhạc sĩ sáng tác Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực văn học, giữa thập niên 50 và 60, với bút hiệu Thạch Chương, Cung Tiến cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn.

Nhóm Sáng Tạo là nhóm nổi tiếng nhất xuất phát từ phong trào di cư. Hoạt động của họ là mở một con đường mới về ngôn ngữ hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do. Tôi hợp tác với họ bằng những bài viết về triết học cũng như những nhận định âm nhạc lúc đó tôi đã đi du học. Thế hệ trẻ về sau lớp học trò của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chắc chắn là chịu nhiều ảnh hưởng của Sáng Tạo.

Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn hồi ký viết dưới hầm của Dostoievsky và cuốn Một ngày trong đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Mặc Lâm: Là một người yêu thích âm nhạc và có những nhạc phẩm nổi tiếng rất sớm như: Hoài Cảm, Thu Vàng, Hương Xưa...lý do nào khiến ông trở thành một chuyên gia kinh tế học và ông có cho rằng kinh tế và âm nhạc là hai lĩnh vực khó hòa hợp lẫn nhau hay không?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Câu hỏi này nó có hai phần một phần là tại sao tôi trở thành chuyên gia kinh tế học và một phần là giữa âm nhạc và kinh tế có hòa hợp với nhau hay không. Tôi được học bỗng kinh tế học vì âm nhạc không phải là ngành mà ngoại quốc cho chính phủ VNCH hồi đó.

Sự thực thì âm nhạc và kinh tế không phải là khó hòa hợp vì cả hai đều là nghệ thuật cả. Kinh tế học không phải là một khoa học mà là một nghệ thuật giữa kẻ mua người bán, giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cho nên nếu không hòa hợp được thì cũng không thể xung khắc lẫn nhau.


Mặc Lâm: Ông đã từng công tác với nhóm Sáng Tạo rất sớm qua bút hiệu Thạch Chương bằng những bài viết và dịch thuật, ông có nhận xét gì về hoạt động cũng như ảnh hưởng của nhóm này?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Nhóm Sáng Tạo là nhóm nổi tiếng nhất xuất phát từ phong trào di cư. Hoạt động của họ là mở một con đường mới về ngôn ngữ hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do.

Tôi hợp tác với họ bằng những bài viết về triết học cũng như những nhận định âm nhạc lúc đó tôi đã đi du học. Thế hệ trẻ về sau lớp học trò của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chắc chắn là chịu nhiều ảnh hưởng của Sáng Tạo.

Mặc Lâm: Được biết Thanh Tâm Tuyền là bạn thân của ông, xin ông cho biết một vài kỷ niệm đối với tài thơ này nhân kỷ niệm một năm ngày mất của thi sĩ.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi quen Thanh Tâm Tuyền năm 1956 khi tôi theo học năm cuối cùng của trung học tại Chu Văn An, lúc ấy Thanh Tâm Tuyền mới vào nam theo làn sóng di cư của sinh viên.

Đây là ca khúc đầu tiên của chúng tôi viết từ năm 1953 lúc đó tôi mới 14 tuổi lúc tôi mới học đệ lục nó là công an khúc hoàn toàn trữ tình của một học sinh ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ....Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình.

Hành trang du học của tôi chỉ có mấy quyển sách, trong đó có hai quyển Tôi Không Còn Cô Độc của Thanh Tâm Tuyền và Tháng Giêng Cỏ Non của Mai Thảo. Cho tới khi tôi về nước vào năm 1963 tôi mới gặp lại Thanh Tâm Tuyền và chúng tôi có những quan hệ thân thiết hơn.


Mặc Lâm: Thưa ông có phải văn chương cực kỳ lạ lẫm của Thanh Tâm Tuyền đã khiến ông phổ nhạc hai bài Đêm và Lệ Đá Xanh hay vì lý do dễ hiểu hơn vì nhà thơ là bạn thân của ông?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi thấy bài thơ rất buồn và rất độc đáo. Bài thơ này tôi phổ ở Sydney năm 1957 với mục đích gửi tặng Phạm Đình Chương. Mãi sau này tôi mới phổ bản Đêm của Thanh Tâm Tuyền trong tập thơ Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy.


Mặc Lâm: Bên cạnh Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ khác trong nhóm Sáng Tạo cũng được ông quan tâm đó là nhà thơ Tô Thùy Yên, Với thi phẩm Ta Về ông đã sáng tác nhiều loại hình âm nhạc cho tác phẩm này, xin ông cho biết vài chi tiết về việc này.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tập thơ Ta Về của Tô Thùy Yên lọt ra khỏi trại cải tạo và Mai Thảo đưa cho tôi xem vài bài trước khi Tô Thùy Yên định cư tại Mỹ. Tôi đã soạn cho bài thơ này trở thành những giọng ngâm, hát, nói với những nhạc cụ tây phương phụ đệm.


Mặc Lâm: Thưa ông, từ nhạc phẩm đầu tay là bản Hoài Cảm được sáng tác năm 1953 cho đến nay đã có bao thăng trầm trong đời sống riêng cũng như của toàn dân tộc, ông có nhận xét gì về nhạc phẩm này và điều gì vẫn còn in đậm trong lòng ông cho tới bây giờ sau khi nhạc phẩm này ra đời?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Đây là ca khúc đầu tiên của chúng tôi viết từ năm 1953 lúc đó tôi mới 14 tuổi lúc tôi mới học đệ lục nó là ca khúc hoàn toàn trữ tình của một học sinh ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ....Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình.

Mặc Lâm: Cảm ơn Nhạc sĩ Cung Tiến. 

                            

                      Tâm Hảo hát HƯƠNG XƯA  - Nhạc & lời: Cung Tiến: Youtube

                                                                  

                                                         NHẠC KHÔNG LỜI:

                           Guitar (Kim Chung)      Violin (Nguyễn Hà Thiện)        Piano            

               Trần Như Vĩnh Lạc: "TÀI NĂNG CỦA CUNG TIẾN QUA NHẠC PHẨM HƯƠNG XƯA" (MP3)

        Nguyễn Thành Vân hát với dàn giao hưởng - điều khiển & hòa âm: Lê Văn Khoa (Youtube)

 

        

                                            TOÀN BẢN NHẠC - 5 TRANG (PDF)



   Những điển tích trong "Hương Xưa" của NS Cung Tiến

Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa.
Người ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò.
Còn đó tiếng tre êm ru.
Còn đó bóng đa hẹn hò.
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu.

Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao.
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.
Còn đó tiếng khung quay tơ.
Còn đó con diều vật vờ.
Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa.

Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi.
Buồn sớm đưa chân cuộc đời.
Lời Ðường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa.
Dù có bao giờ lắng men đợi chờ.
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa.
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô.
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ.
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó.

Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ.
Dù đã quên lời hẹn hò.
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha.
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người.

Ðời lập từ những đêm hoang sơ.
Thanh bình như bóng trưa đơn sơ.
Nay đời tan biến trong hư vô,
chết đầy từng mồ oán thù.
máu xương tơi bời nhiều mùa thu…

Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi.
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơỉ.
Tình có ghi lên đôi môi.
Sầu có phai nhòa cuộc đời.
Người có thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi…

Trong bản nhạc “Hương Xưa” ở trên của nhạc sĩ Cung Tiến, có những câu như sau:

“Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó
.”

Nếu giải thích được những điển tích về Nhị Hồ, Nguyệt Cầm, Cô Tô, Quỳnh Như thì sẽ hiểu ngay được ý nghĩa mà NS Cung Tiến đã gói ghém trong bản nhạc.

Đọc lại hết bản nhạc thì mình thấy bản nhạc muốn nói đến một mối tình trắc trở có thể vì chiến tranh, khắc khoải đợi chờ ngày hội tụ lại được với người yêu dấu.

Vì trắc trở nên khi nghĩ đến người yêu chỉ như là trong mơ.

Đầu bản nhạc, NS Cung Tiến đã vẽ lên một bức tranh quá đẹp, thật thơ mộng trong khung cảnh thanh bình của hai người yêu nhau.

Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa.
Ngươi ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò..
Còn đó tiếng tre êm ru.
Còn đó bóng đa hẹn hò.
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu.

Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao.
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao.
Còn đó tiếng khung quay tơ.
Còn đó con diều vật vờ.
Còn đó nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa.

Thế rồi đến lúc phải xa nhau và sống khắc khoải trong đợi chờ thì NS Cung Tiến đã ví sự mong muốn được sống với người yêu này như nàng Quỳnh Như trước đây đã mong được sống với người yêu là Phạm Thái.

Phạm Thái chống Tây Sơn mà Khái Hưng đã viết thành truyện tiểu thuyết “Tiêu Sơn tráng sĩ.”

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như là một đôi trai tài gái sắc đã yêu nhau tha thiết nhưng không được sống cạnh nhau vì phụ thân của Quỳnh Như đã bắt nàng phải kết hôn với người khác.

Quỳnh Như đã tự vẫn và trước khi nàng có quyết định này thì nàng đã gặp Phạm Thái và hứa với chàng là kiếp sau sẽ lấy chàng.

Thế rồi khi chết đi nàng đã đầu thai vào người con gái khác và đã lấy Phạm Thái sau này.

Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ.
Dù đã quên lời hẹn hò.
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha.
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người.

Trở lại với 2 câu:

Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô


Nhị là cây đàn nhị, loại đàn có 2 dây, âm thanh hơi giống vĩ cầm, Hồ còn gọi là Hồ Cầm , đàn 5 giây tượng của Ngủ Hành – Kim Mộc Thuỷ Thổ Hỏa , trổi lên Ngũ Âm – Thanh Thương Giốc Chủy Vũ , đàn làm bằng gổ ngô đồng nên tiếng trong và thanh – lệ luật đàn Cầm của người xưa rất là khắc khe.

Nguyệt cầm là cây đàn nguyệt, là thứ đàn có thùng tròn (như mặt trăng).

Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa

Câu trên nói lên tâm trạng của Kim Trọng vẫn yêu Thuý Kiều tha thiết, dù rằng đã bị…Thuý Kiều gá nghĩa phu thê cho Thuý Vân!
Trong truyện Kiều thì Thuý Kiều là một giai nhân luân lạc vì số kiếp, ngoài tài văn chương thi phú nàng còn chơi đàn rất giỏi.

… nhưng thường không là người tri kỷ quyết không đàn!

Thuý Kiều có 2 người được Nguyễn Du miêu tả là tri kỷ : Kim Trọng và Từ Hải.
Đối với 2 người này Thuý Kiều có tâm tình khác biệt:
Với chàng Kim thì đây là mối tình đầu lưu luyến ngây thơ.

Với Từ Hải thì Kiều cảm ân nghĩa và khí thế độ lượng anh hùng.

Chàng Từ có thể là tri kỷ nhưng không thể nào là bạn tri âm cùng Kiều được, nếu so với Kim Trọng khi gặp lại Kiều sau 15 năm xa cách , chàng Kim vẫn xem Thuý Kiều như những …ngày xưa !

…tình xưa lai láng khôn hàn
thong dong lại hỏi tiếng đàn ngày xưa.

Câu “ Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa …”
là ám chỉ một chân tình tha thiết ấy!

Còn câu Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô là muốn nói đến chuyện tình Tây Thi với Phù Sai và Phạm Lãi.

Mặc dù sống trong Cô Tô thành với Phù Sai nhưng lúc nào Tây Thi cũng vẫn nhớ thương Phạm Lãi.

Vì Phù Sai mê sắc đẹp của Tây Thi và bỏ bê việc triều chính để rồi Câu Tiễn đã đem quân đánh chiếm được thành Cô Tô.

Sau khi Cô Tô Thành bị thất thủ thì Tây Thi gặp lại Phạm Lãi và cả hai cùng biệt tích để sống với nhau.

Hai câu vừa đối chữ mà lại vừa đối ý thật hay:

Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô Tô

Hai chữ “yêu” và ‘thương” ngụ ý tình cảm giữa các nhân vật. tiếng đàn Nhị và Hồ Cầm đi với cung Nguyệt Cầm. Hơn nữa còn có một điểm tương đồng, đó là hai cuộc tình tay ba: Thúy Kiều với Từ Hải và Kim Trọng, Tây Thi với Phù Sai và Phạm Lãi.

Thật đáng phục Cung Tiến ở tuổi 16 mà đã sáng tác một bản nhạc bán cổ điển thật hay, không những thế mà Cung Tiến còn dùng lời với các điển tích chứng tỏ sự uyên bác của Nhạc Sĩ.

Thế rồi NS đã cho một kết cục thật vui khi được gặp lại cố nhân:

Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi.
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơỉ.
Tình có ghi lên đôi môi.
Sầu có phai nhòa cuộc đời.
Người có thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi.
Ðời êm như tiếng hát của lứa đôi…


Đoạn kết giống như Trương Quỳnh Như gặp lại Phạm Thái, Thúy Kiều gặp lại Kim Trọng, Tây Thi gặp lại Phạm Lãi.

Sau khi đã đọc qua để biết thêm về lời của bản nhạc, hãy nghe lại bản “Hương Xưa” một lần nữa để thưởng thức những cái hay về các điển tích của bản nhạc.

Nguyễn Thanh Thủy

                     

                Tiếng hát: Thái Thanh     Anh Ngọc         Mai Hương      Trần Thái Hòa

                                                                 

                                                         NHẠC KHÔNG LỜI:

                                                 Hòa Tấu - Duy Cường

 

                                   

 

NGUYỆT CẦM - Cung Tiến - Sài Gòn 1956

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần
Ðàn buồn đàn chậm ôi đàn lặng
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
(Xuân Diệu)


Ðêm mùa trăng úa làm vỡ hồn ta
Ngập ngừng xa, suối thu dồn lá úa trôi qua
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng, từng thoáng lệ ngân,
mà hồn phân vân cuồng điên nhớ
Long lanh tiếng Nguyệt Cầm, tiếng đàn trầm
Ai nhớ Nương tử một đêm nao trăng thanh
trong lời hát chết theo nước xanh, chết theo nước xanh
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh...

Long lanh long lanh trăng chiếu một mình,
khơi vơi khơi vơi nhạc lắng tơ ngời
Nguyệt cầm ơi từng lệ ngân, chết từng mùa Xuân...

Ðêm ngời men nhớ, nhạc tê ngời thuở xưa
Trăng sầu riêng chiếc, trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ ?
Hồn ghé bến bề sao ngợp hồn xanh biếc trời cao
Kià thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương,
nhớ nhạc vàng, đêm ấy thuyền neo bến ấy

Nguyệt Cầm nghe nấc từng câu
Có hàng mây trắng về đâu
Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu
Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu

Khơi mãi nguồn đêm, mùa trăng úa làm vỡ hồn ta
Ngập ngừng xa suối thu dồn lá úa trôi qua
Sầu thu sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa thu
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân,
mà hồn phân vân cuồng điên nhớ
Long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm
Ai nhớ Nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát,
chết theo nước xanh chết theo nước xanh
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh...

                          

      

                                           TOÀN BẢN NHẠC - 5 TRANG (PDF)

    

 


                      Dấu Ấn "Cung Tiến" - KÝ GIẢ LÔ RĂNG

                                   

                                      [Nhạc sĩ Cung Tiến bên bờ sông Loire (Pháp), 1999]

Dạo này "được mùa" văn nghệ. Vừa đón tiếp ông bà Anh Ngọc hồi cuối tháng trước, tôi lại vừa nhận được thư và tape của ông bạn xa ... nhạc sĩ Cung Tiến ở tận Minnesota, miền cực bắc Hoa Kỳ. Sau "đêm Anh Ngọc" được vài ngày và bên nhà có lụt lớn ở miền Trung. "Trời hành cơn lụt mỗi năm" cái tai trời ách nước năm nay quá nặng, quá lớn, nỗi bi thương không biết nói thế nào cho hết. Một người bạn nói rằng: giả thử ông bà Anh Ngọc ở lại Sydney thêm 1 tuần nữa, đêm Anh Ngọc trở thành đêm "cứu lụt miền Trung" thì được việc quá ... Nhưng ông bà Anh Ngọc về Mỹ rồi thì tin lụt quê nhà mới tới ...

Đọc bức thư dài viết tay của Cung Tiến ... tôi vô cùng cảm khái. Ở Mỹ bây giờ, rất ít người viết "bằng tay", mà viết bằng computer, vì viết bằng computer nó nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều. Phải có một sự trân trọng nào đó, một sự thân tình nào đó mới viết thư "bằng tay". Xin cảm ơn Cung Tiến. Nhìn những giòng chữ này tôi nhớ thời kỳ còn nín thở qua sông ở Việt Nam, thỉnh thoảng từ Hóc Môn lên nhà bạn Thanh Tâm Tuyền ở Bình Hoà nghe tin tức. Trong căn phòng tối mờ mờ, Thanh Tâm Tuyền đưa tôi xem thư của Cung Tiến gửi về từ Minnesota. Vẫn những giòng chữ ngả, phóng khoáng và đẹp đẽ.

Ngoài tư cách một nhà soạn nhạc, Cung Tiến còn là một nhà kinh tế. Cung Tiến học kinh tế ở Úc - Chương trình Colombo rồi tốt nghiệp trường danh tiếng Cambridge ở Anh. Từ khi sang Mỹ 1975, anh làm nhà nghiên cứu và phân tích trong Bộ An Ninh Kinh Tế tiểu bang Minnesota (Minnesota Department of Economic Security). Cung Tiến cũng còn là một thành viên tích cực trong Hội Nhân quyền Quốc tế (International Federation of Hurnan Rights). Vì vậy, anh là một trong những người tranh đấu không mệt mỏi cho nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo còn kẹt lại sau bức màn tre, màn sắt. Trong thư viết khoảng giữa thập niên 80 anh báo cho chúng tôi biết là tên tuổi chúng tôi đã được gửi cho những đoàn thể, những tổ chức quốc tế có nhiệm vụ thúc đẩy nhà cầm quyền Hà Nội thực hiện những cam kết trong Hiến Chương Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc trả tự do cho những người làm văn học nghệ thuật của chế độ cũ. Có thư anh báo tin vui "thế nào chúng ta cũng gặp lại nhau". Có thư anh báo tin buồn "Thanh Nam đã mất ở Seatle". "Tuyết Ngưu - Vũ Khắc Khoan đã nằm xuống ở Minnesota" ...

*



Cung Tiến là một nhà hoạt động văn hóa và xã hội nổi danh ở miền Nam và ở Mỹ. Từ cuối thập niên 50 khi Cung Tiến còn học những năm chót ở Chu văn An, những bài hát "đầu tay" của anh đã được mọi người yêu quí và trân trọng. Thu Vàng - Hương Xưa - Hoài Cảm mang một nổi buồn dịu dàng, sâu kín như một hơi thở lãng mạn từ thế kỷ 19 ở Pháp thổi về. Hãy nghe Hương Xưa "còn đó bóng tre êm ru - còn đó bóng đa hẹn hò - còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu - còn đó tiếng khung quay tơ - còn đó con diều vật vờ - lời Đường thi vẫn rền trong sương mưa dù có bao giờ lắng men đợi chờ ..."  Đó là một cái bình rất đẹp, rất cổ có ghi những ảnh hình của Đông Phương - của Việt Nam ... nhưng chất men chứa trong chiếc bình ấy được chiết ra từ những chiếc lá vàng từng cánh rơi từng cánh của Anatole France, từ những dư hương của một mối tình đã chết trong Premier Regret hay từ cái chuếnh choáng của con tàu say trong le Bâteau ivre.

Cung Tiến là một người rất yêu quê hương Việt Nam nhưng cách suy nghĩ của anh rất "Tây". Phong cách Cung Tiến trong nhạc "cải cách" cũng phần nào giống như Xuân Diệu trong "thơ mới" vậy.         


Dạo còn ở Việt Nam trước 1975, Cung Tiến có cho tôi các bản nhạc của anh, in rất đẹp, trình bày trang nhã. Đây là thời kỳ anh đã từ bên Anh về nước. Khi học kinh tế ở Úc, anh cùng một lúc học nhạc ở Conservatoire Sydney - và khi ở Cambridge anh cũng theo học các lớp lý thuyết âm nhạc tại đại học này. Anh phổ thơ Thanh Tâm Tuyền (Lệ Đá Xanh), Quang Dũng (Đôi Mắt người Sơn Tây). Tôi có cảm tưởng nét nhạc của Cung Tiến càng ngày càng bác học. Một anh xuất thân "nhà quê" như tôi đi vào nhạc Cung Tiến lúc bấy giờ giống như lạc vào một khu rừng. Anh có hỏi tôi cảm tưởng. Tôi cũng thành thực mà nói rằng "moi vẫn thích Thu Vàng - Hương Xưa - Hoài Cảm". Cung Tiến cười cười mà nói "Exercice - Exercice". Hình như Cung Tiến muốn nói rằng đó chỉ là những bài tập của một thời nào đó mà thôi.

Tôi được quen biết Cung Tiến qua Thanh Tâm Tuyền. Ngày đó TTT và tôi làm việc trong cùng một toà soạn. Để khuyến khích chúng tôi làm quen với nhạc thuần túy, Cung Tiến đưa cho chúng tôi những tape nhạc cổ điển. Nhạc cổ điển là "nhạc của nhạc" nhưng mà thực tình, các tai "nhà quê" của tôi không chịu nổi, vẫn như "nước đổ lá khoai". Tôi chót quen với hát chèo, trống quân, cò lả mất rồi.

                  

                       Cung Tiến- Thanh Tâm Tuyền- Tô Thùy Yên- Cung Trầm Tưởng - 1993

*

Bây giờ, đã hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Trong bưu kiện Cung Tiến vừa gửi cho tôi có tape và những tài liệu liên quan đến đêm trình diễn Việt Nam and Beyond vừa được tổ chức ở Saint Paul (Minnesota) nhằm gây quỹ thiết lập một Trung Tâm Việt Nam mới. Có nghệ sĩ Trung Hoa - Mỹ và Việt Nam (tất nhiên) tham dự. Nghệ sĩ Trung Hoa Gao Hong hiện đang dạy ở đại học Tiểu bang trình tấu đàn tì bà. Ban nhạc gõ trường đại học Macalester chơi ngẫu hứng những bản nhạc cồng chiêng của dân tộc Ê Đê miền Ban Mê Thuột VN. Có khá nhiều tác phẩm của Cung Tiến được trình bày trong đêm văn nghệ đặc biệt này. Người giới thiệu và chú giải chương trình là Cung Tiến và Tiến Sĩ P.Blackburn, giám đốc chương trình của diễn đàn những người soạn nhạc ở St. Paul. Bài Hương Xưa được diễn giải "Viết năm 1955-1956 ca khúc thời niên thiếu này mang từ vựng, ngữ pháp và nhạc nghệ thuật Âu Châu thế kỷ 18. Có thể coi đây là một bài tập về phong cách nhạc Tây Phương".

Như đã nói ở trên, hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua mà từ exercice (bài tập) vẫn còn nguyên trong ngôn ngữ Cung Tiến. Tôi không phải là một người hiểu biết về âm nhạc nên không phân biệt được một bài tập và một tác phẩm nó giống nhau, khác nhau như thế nào. Nhưng một bài tập của Cung Tiến - Hương Xưa đối với tôi lại mang dấu ấn Cung Tiến nhiều hơn hết ...

Những bài hát đầu tay mang dấu ấn Cung Tiến giữa thập niên 50 như Thu Vàng - Hương Xưa - Nguyệt Cầm - Hoài Cảm ... từ khi xuất hiện đến nay trên 40 năm không lúc nào ngừng tỏa hương thơm. Một hương thơm dịu dàng, sâu kín có để ý tìm mới thấy. Nó không gây ồn ào như một số nhạc thời thượng (tiền tuyến, hậu phương, du ca, về nguồn, thân phận) nhưng nó có một sức sông riêng bền bỉ. Đó là một khu vườn Cung Tiến, một thế giới riêng Cung Tiến.

Trên 40 năm nay, nhạc Cung Tiến không lẫn với ai - nhạc "xưa" nhưng không "cũ' bao giờ, nghe càng lâu càng thấm. Nó chịu được sự thử thách của thời gian. Nghe nhạc Cung Tiến tôi thường nghĩ đến người con gái đẹp của một thế gia vọng tộc vừa suy tàn, sống ẩn dấu trong một khu vườn hẻo lánh nhưng luôn luôn mang một nỗi tự kiêu thầm kín về gia phong và nếp sống của mình.

*

Cái tên Cung Tiến được biết đến đầu tiên là về nhạc. Nhưng như đã nói - anh còn là một nhà kinh tế, một nhà hoạt động văn hóa chuyên cần. Hồi trước 1975, trên những tập san văn học nghệ thuật như Sáng Tạo (bộ mới), Nghệ Thuật, Văn ... Cung Tiến đã viết nhiều bài khảo luận sắc bén về Levi Strauss, về Virginia Woft - về cơ cấu luận (Structuralism). Anh cũng là dịch giả cuốn "Một ngày trong đời Ivan Denisovich" truyện của A. Solzhinitsyn, tác giả Nga được giải thưởng Nobel văn chương năm 1970 và bị tống xuất sang Âu Châu.

Anh cũng là người giới thiệu Club de Rome gồm một số đông các nhà khoa học thuộc đủ mọi ngành trên thế giới tập họp ở Rome, nêu ra những vấn đề cấp thiết của con người trên hành tinh trái đất càng ngày càng chật hẹp trong cuốn The limits of growth. Cuốn sách này, được Cung Tiến dịch sang Việt Văn dưới tiêu đề Giới Hạn Phát Triển, gióng lên tiếng chuông cảnh báo loài người - và cũng là cuốn sách đầu tiên nêu lên những tiêu chí của một nền kinh tế toàn cầu ngay cuối thập niên 60.

Vào khoảng đầu thập niên 70, Club de Rome (lúc này đã gây ảnh hưởng sâu đậm trên thế giới, càng ngày càng có nhiều nhà khoa học tham gia) cho ra đời cuốn sách thứ 2 tiếp theo Giới hạn phát triển - Đó là cuốn Chỗ Rẽ Của Nhân Loại (The Turning point of mankind). Lúc này Cung Tiến bận rộn hơn - anh tham chính (thứ trưởng kiêm Tổng giám đốc kế hoạch cho ông Tổng Trưởng Kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng). Ngày ấy kẻ viết bài này vừa làm việc ở tòa báo Tiền Tuyến, vừa là một cộng tác viên của Tập San Quốc Phòng. Tôi được phân nhiệm lược dịch cuốn sách thứ 2 của Club de Rome. Nhờ tài liệu, nhờ những giải thích của Cung Tiến trên một số vấn đề kinh tế, nên tôi mới hoàn tất được bản dịch "Chỗ Rẽ Của Nhân Loại" đăng trên tập san Quốc Phòng. Một lần nữa xin cảm ơn Cung Tiến.

*

Ngày thường gặp Cung Tiến, anh trang nhã, thận trọng pha một chút lạnh lùng kiểu Ăng lê Cambridge. Nhưng trong những lúc phùng trường tác hí, nhất là khi đã nhậu dăm ba consommation rồi là Cung Tiến phăng phăng, bất cẩn đời. Chúng tôi có thói quen ăn nhậu rồi vào khoảng 10 giờ, 11 giờ đêm kéo đến Đêm Màu Hồng. Chủ quán Phạm Đình Chương đã dành sẵn một chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng cho bạn hữu; như đã thành lệ khi "Cái Bang" đến là Phạm Định Chương hay Thái Thanh chuyển hướng đề tài ... Bữa ấy "cổ kim hòa điệư" diễn ra hơi dài. Cung Tiến khật khưỡng bước ra sân khấu - gạt người đánh piano sang một bên rồi ngồi xuống dạo Serénade. Cổ kim hòa điệu với nhạc Shubert thì không thể nào "đi" với nhau được nó ngang phè phè. Một khán giả quần áo dù, mũ đỏ chợt bước lên - Anh tiến lại chỗ Cung Tiến đánh đàn và nắm lấy tay. Cung Tiến không nhìn lên, hất tay ra, vẫn tiếp tục dạo đàn mà nói "đi chỗ khác chơi".

Chủ quán Phạm Đình Chương biết là có chuyện vội đứng ra xin lỗi. Nhưng không kịp nữa rồi. Một vài tiếng nổ xé tai của chai la de vỡ nổi lên. Một vài người bạn dù cùng đi đã nắm cổ chai la de vỡ kéo lên sân khấu. Tất cả khán phòng im bặt - một sự im bặt bất thần và rùng rợn - chỉ còn một mình Cung Tiến vẫn mê mải đánh đàn. Vũ Khắc Khoan vội bước ra. Dù đã nhậu sương sương nhưng Vũ Khắc Khoan vẫn còn đủ tỉnh táo để nắm lấy vai người sĩ quan mũ đỏ mà nói khẽ "Anh học trò tôi có phải ... ?" Người sĩ quan dù đang hầm hầm sắc giận vội vàng nhìn lại, rồi đổi giọng "Thưa thầy ...". Người sĩ quan ấy là môn sinh của họ Vũ, không biết ở Chu Văn An hay ở Văn Khoa. Họ Vũ khoác vai người sĩ quan dù rồi nói "Thôi ... anh em cả" Người đánh đàn say không nhận thức được việc gì đã xảy ra sau lưng anh. Nếu không có Vũ Khắc Khoan đêm ấy ... sự việc sẽ không biết còn diễn biến thế nào.

Như vậy, đã có hai con người trong một Cung Tiến. Một con người duy lý, muốn đi đến cùng lý luận; một con người khác duy cảm - muốn thỏa mãn ngay những đòi hỏi của mình. Con người nào ưu thắng trong Cung Tiến? Tôi vẫn nghĩ là con người duy lý. Cung Tiến chỉ "bốc đồng" khi uống rượu say. Bình thường, như đã nói ở trên Cung Tiến trang nhã và thận trọng. Ở trong địa hạt Cung Tiến yêu thích nhất: âm nhạc, Cung Tiến cũng rất là duy lý. Những bài hát đầu tay Thu Vàng - Hương Xưa - Nguyệt Cầm - Hoài Cảm ... dù được yêu thích đến thế nào chăng nữa, đối với Cung Tiến vẫn chỉ là bài tập - một giai đoạn cần phải vượt qua. Tôi nhận ra một điều là sau những bản nhạc đầu tay ấy, Cung Tiến không viết một bản nào có "lời" nữa. Cung Tiến phổ thơ bạn hữu: Thanh Tâm Tuyền - Quang Dũng - Trần Dạ Từ ... Phải chăng đó cũng chỉ là những excercice.

Hãy đọc lại Hương Xưa - Thu Vàng ... Cung Tiến đâu có phải là người nghèo khó ngôn từ "Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa. Người ơi đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò. Còn đó tiếng tre êm ru - còn đó bóng đa hẹn hò, còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu". Lời đẹp như một bài thơ xuôi. Nhưng sau đó Cung Tiến không viết nhạc có lời mà anh viết nhạc không lời. Như đúng là nhạc không cẩn lời. Nó có tiếng nói riêng của nó. Nhạc, cùng kỳ lý ... là một trật tự nào đó mênh mang và tự nhiên như gió như mây, như trời và đất.

Nhưng không phải người nào cũng thưởng thức được thứ nhạc không lời ấy. Nó đòi hỏi thời gian và tu dưỡng. Hỡi bạn ta, tôi không có thời gian và cũng không được tu dưỡng nên đụng vào nhạc không lời tôi có hiểu gì đâu. Năm 1992 khi tôi từ Úc sang thăm các bạn ở Minnesota ... trong một chiều Xuân muộn, dưới cái basement nhà bạn, trong lò sưởi củi cháy đỏ hồng nổ lách tách ... bạn cho tôi nghe tác phẩm mới đắc ý của bạn: Tổ khúc Chinh Phụ Ngâm. Với tổ khúc này năm sau các ban nhạc đại hòa tấu nổi tiếng ở Mỹ đã liên tiếp trình tấu. Vì tổ khúc này, trình diễn ở Houston ngày 2 tháng 10 năm 1993, ông thị trưởng Houston đã mệnh danh ngày này là "Ngày Cung Tiến". Cũng vì tổ khúc này nên một học bổng mang tên bạn cũng được dành cho trường luật ở South Texas College.

Đó là những vinh dự dành cho ngọn hải đăng duy lý. Ngọn hải đăng soi sáng biển cả, soi sáng mọi người. Ngọn hải đăng được vinh danh, được xưng tụng nhưng ngọn hải đăng nào cũng đứng một mình cách xa những ngọn hải đăng khác hàng trăm ngàn hải lý. Nó soi sáng cho người khác, không biết có soi sáng được cho mình. Còn người duy cảm, thuộc loại "người trần mắt thịt" lại rất đông ở cõi đời này. Họ là những người sống ở mọi nơi theo châm ngôn: Một người như mọi người (un homme comme les autres) của J.P. Sartre.

Một người duy lý và một người duy cảm trong cùng một Cung Tiến người nào đáng sống hơn? Điều này lại thuộc về loại "Bất khả tư nghị".

Ký giả Lô Răng
Trích báo Ngày Nay số 437, 1 tháng 7.2000

 

                Tiếng hát: Thanh Lan     Đức Tuấn        Hồng Nhung      Trọng Tấn

                                                                  

                                                         NHẠC KHÔNG LỜI:

                           Hòa Tấu   Guitar -Vô Thường   Piano - Hy Van  

 

 

 THU VÀNG - Cung Tiến

Chiều hôm qua lang thang trên đường
Hoàng hôn xuống, chiều thắm muôn hương
chiều hôm qua mình tôi bâng khuâng
Có mùa Thu về, tơ vàng vương vương

Một mình đi lang thang trên đường
Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng
Lòng xa xôi và sầu mênh mông.
Có nghe lá vàng não nề rơi không

Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi
Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi
Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi
Nghe chừng đâu đây màu tê tái

Chiều hôm qua lang thang trên đường
Nhớ nhớ, buồn buồn với chán chường
Chiều hôm nay trời nhiều mây vương
Có mùa Thu Vàng bao nhiêu là hương. 

                                      

           

                                              TOÀN BẢN NHẠC - 3 TRANG (PDF)

          

    NV Nhã Ca, HS Nguyên Khai, HS Hồ Thành Đức, ÔB Cung Tiến, NS Đăng Khánh, NT Trần Dạ Từ, Phương Hoa  

 

         VUI LÒNG GỞI THÊM TÀI LIỆU VÀ Ý KIẾN XÂY DỰNG VỀ PHAN ANH DŨNG:

 


 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com