arrow
Trang Nhà arrow  Biên Khảo arrow Biên Khảo arrow 38 - ĂN CƠM TRƯỚC KẺNG - Nguyễn Phú Long
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
38 - ĂN CƠM TRƯỚC KẺNG - Nguyễn Phú Long PDF Print E-mail


ĂN CƠM TRƯỚC KẺNG

Thời gian cách nay trên dưới khoảng năm trăm năm…
     Ngày ấy,Trần Nguyên Hãn thì đang làm quan tư đồ đời nhà Mạc. Một hôm ngài nghe nói có anh chàng nghèo khó nhưng bảnh trai, tên Nguyễn-Phi-Khanh, mới di cư từ Hà-Đông đến, mà văn hay chữ tốt mới gọi vào dinh cho làm gia sư cùng với Nguyễn-Hán-Anh dậy tiểu thư Trần-Thị-Thái học thêm ít chữ thánh hiền.
     Rồi thì, tưởng như vậy là đã lo xong một chuyện, Trần-Nguyên-Hãn tiếp tục bù đầu vì việc nước, chẳng còn để ý tới mấy thầy trò dậy bảo nhau làm sao, đến nỗi về sau tiểu-thư dính bầu, thầy đồ Nguyễn-Phi-Khanh phải dùng đến một trong ba mươi sáu kế, đó là tẩu vi thượng sách, chạy chốn.
     Lúc đó bố vợ bất đắc dĩ nghe tin, lật đật vào củ soát thư phòng, thì chỉ nhìn thấy cái tráp sơn đen mở toang, lỏng chỏng nào nghiên nào mực cùng sách vở bỏ lại, mới té ngửa trước sự thật phũ phàng.  Nhưng may sao ngài còn bình tĩnh sáng suốt, chẳng cằn-nhằn đổ thừa nội tướng câu “con hư tại mẹ!” mà lập tức ra lệnh cho đám lính phóng ngựa đuổi kịp bắt Phi Khanh về, và thay vì chém đầu kẻ vong ân bội nghĩa cho hả giận, ngài đã làm một cử chỉ thật đẹp, gây ngạc nhiên cho mọi người bằng cách tác hợp để cho hai "trẻ" thành vợ thành chồng, về sau sinh ra Nguyễn-Trãi...
       Tình trạng của thầy trò Nguyễn Phi Khanh như thế, kho tàng ca dao Việt Nam có diễn tả sẵn bằng hai câu sau: “Đôi ta như vợ với chồng, chỉ hiềm một nỗi tơ hồng chưa xe.” và bây giờ dùng lời nói thường, lời nói bình dân, chẳng ca dao ca diếc gì cả, người ta lại diễn tả tình trạng ấy là “Ăn cơm trước kẻng”  một  cụm từ mới mẻ đề cập tới sự việc, phát hiện công khai, tràn ngập như làn sóng bức phá xiềng xích nổi lên của tuổi trẻ cả quý phái lẫn bình dân, khắp nơi, không dính dáng gì đến chế độ chính trị tự do hay cộng-sản.
     Chữ nghĩa cũng có một đời sống. Tức là có sinh: Sinh ngữ và có tử: Tử ngữ. Ngày nay không ai nói Blợ mà thay vào đó, nói vợ như vợ chồng. Blợ là tử ngữ diễn tả sự bợ đỡ ở phía dưới để cho một vật thể chồng chất lên trên, hiện chẳng còn thông dụng. Aên cơm trước kẻng là sinh ngữ còn xịn, mới mẻ. Thuở trước người ta chưa phát sinh cách nói vậy, mà gọi là chửa hoang, chửa buộm chả được lịch sự hoa mỹ, cho nên bà Hồ Xuân Hương khi đề cập đến vấn đề này đã sáng tác câu thơ: ” Những kẻ không mà có mới ngoan.” Lửng lơ, úp mở, tuyệt vời!
     Ăn cơm trước kẻng đúng ra không hẳn là hậu duệ chữ chửa buộm, mà thực ra chửa buộm chỉ là kết quả của ăn cơm trước kẻng. Ăn cơm trước kẻng mô tả hiện tượng quan hệ nam nữ như vợ chồng trước khi thực sự trở thành vợ chồng. Tức là đáng lẽ phải đợi có sự đồng thuận của cha mẹ đôi bên, tổ chức lễ cưới để thân thuộc bạn hữu xa gần ai nấy đều thoải mái hân hoan, chứng kiến, tán đồng nghe cô dâu chú rể mặc quần áo mới, long trọng  nói lên tiếng nói từ con tim “ai đu.” đàng hoàng, tức là phải thi hành xong các đoạn đường chiến binh đổ mồ hôi nhọc nhằn mới đến mục động phòng hoa chúc, thì vì đói bụng, lại sẵn cơ hội, anh chị đã đi tắt, sực trước gây ra tình trạng trái với thuần phong mỹ tục, bại hoại gia phong, bất kể hậu quả thế nào.
     Thuần phong, mỹ tục từ xa xưa về vụ này, kể thì hơi rườm rà. Theo sách “Nếp Cũ Con Người Việt-Nam” của Toan-Aùnh do nhà Khai-Trí xuất bản, có trích đoạn viết của ông Thân-Trọng-Huề như sau: “Truy nguyên thủy, thuở trước, đời thái cổ, khi loài người còn ăn lông, mặc lá, ở hang, ở lỗ, chưa có phép tắc thì đàn ông, đàn bà lấy nhau như loài cầm thú, lần lần mới lập phép tắc để phân biệt với loài cầm thú.”
     Nhằm giải thích phần phép tắc trong việc hôn nhân từ xa lắc xa lơ, sau đó Toan Aùnh đã kể ra, việc vợ chồng, phải trải qua, gồm sáu giai đoạn, từ lễ Nạp Thái (Hai bên nhà trai nhà gái trao đổi đính ước.) đến lễ Thân Nghinh (Lễ rước dâu.) mất nhiều thời gian, phiền phức mà ngày nay tùy hoàn cảnh đã lược giản hơn nhiều.
     Trường hợp Nguyễn-Phi-Khanh nói trên, dù thủ tục hồi đó đã tiến bộ dễ dàng phần nào, nhưng vì không tuân theo nên rất nguy hiểm, suýt mất chỗ  đội nón nếu không gặp được quan tư đồ, một vị đại thần đầy quyền uy song   cũng đầy dạ nhân từ, thông cảm.
     Quan tư đồ tương đương chức thủ tướng, lúc đó có quyền “Tiền trảm hậu tấu” quan hành sử như vậy cũng vì thương con gái thôi, nhưng mặt khác thầy Nguyễn Phi Khanh kể cũng táo gan, hạng người còn vô danh tiểu tốt chưa đến lúc vẻ vang công thành danh toại như sau này, cũng chưa đến khi khốn đốn bị quân Tầu còng tay giải qua cửa khẩu về Trung-Quốc để đứng ở ải Nam Quan trông vời cố quận, nói với Nguyễn-Trãi câu lịch sử: “Ta đứng đây trông suốt được nghìn thu”, mà đã dám vuốt râu hùm.
       Nói Nguyễn Phi Khanh dám vuốt râu hùm thực ra là oan ôi ông địa! Gia sư với đầy bụng chữ nghĩa hẳn dư biết hậu quả việc mình làm chứ! Nhưng ai đem mỡ để miệng mèo, khôn ba năm dại một giờ, Lúc đang quíu, đang bấn “xúc xích” làm sao còn có thời gian cân nhắc thiệt hơn, sự việc nó ập tới như  giông bão, không gian và thời gian vần vũ cuồn cuộn, mịt mờ. Nhân vô thập toàn, người ta đâu phải lúc nào cũng có thể dùng lý trí lèo lái hành động của mình, chậc lưỡi một cái là xong, là chấp nhận que sera, sera! 
       Nguyễn-Trãi vào đời do một thiên tình ái lãng mạn không chờ đợi xếp đặt như vậy. Tới khi ông lìa đời lại là một nỗi oan khiên thảm khốc, nhưng đó là sự việc về sau.
      Câu chuyện Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra như thế nào cũng hơi đặc biệt. Theo cuốn Việt-Sử Siêu-Linh của Lưu-văn-Vịnh xuất bản năm 2000 (nhân tiện xin cám ơn tác giả đã tặng tôi cuốn sách này.) thì mẹ ông là con gái thượng thư bộ Hộ Tiến Sĩ Nhữ-văn-Lạn, bà rất hay chữ, giỏi tướng số, kén chồng mãi tới năm 30 tuổi gặp ông Văn Định, bấm quẻ, thấy ông này có tướng sinh đại quý tử nên mới chịu kết duyên chồng vợ.
     Bà lấy chồng với hy vọng sau đẻ con đạt ngôi cửu-trùng, nên ngay từ ngày đầu tiên về nhà chồng bà đã e thẹn thì thầm âu yếm dặn trước chồng là, này nhà ơi, đêm nay, khi nào trăng lên đến đầu ngọn tre mới được động phòng đấy nhe! Không có cái vụ nằn nỉ uống rượu hợp cẩn sớm đâu nhe! Nào ngờ ông Văn-Định ỷ đã làm xong thủ tục, ông “có quyền” sử dụng tư hữu lúc nào là tùy ông, mới có lẽ ông cũng không tin vào tài năng độn số của người vợ mới cưới, bèn ầm ừ qua loa rồi quên lời, mở khóa động đào, tòm tem hơi sớm nên bà thụ thai không đúng boong giờ tốt, vì thế tuy sinh quý tử nhưng không đạt được tột đỉnh thiên tử
      Có thể nói hai  vụ việc kể trên đều là ăn cơm trước kẻng nhưng hoàn   toàn khác nhau. Cảnh ngộ thứ nhất rất là phiêu lưu nguy hiểm. Trường hợp hai nhẹ nhàng hơn, có vẻ lãng mạn hơn, không tai tiếng và quan trọng là dù thời xa xưa, xét cho cùng thì cũng không thể coi là có tội. 
       Bầy ra luật lệ, sử phạt tội lỗi là phần lớn đứng ở vị trí tổ chức  guồng máy luật pháp nhằm mang lại công bằng yên ổn cho mọi người. “Ăn cơm trước kẻng” là tình người tự nhiên của hai đương sự. Nó có phát sinh ra thiệt thòi, phiền phức cho đệ tam nhơn nào đâu! Cũng không thể kết luận họ công súc tu sĩ! Lại nữa, có khác chi giữa trước và sau những lễ nghi rườm rà. Vậy mà  cũng kể như có tội! Nếu cũng bị coi là tội lỗi thì chỉ vì nước ta xưa trọng đạo lý, tinh thần, lành mạnh, tôn ty trật tự. Mục đích giữ cho xã hội đẹp đe, nề nếp, thanh cao.
     Hình như tiền nhân có thể cũng dư biết những khó khăn của sự cám dỗ, nên trong những trường hợp tương tự như thế này, luật vẫn là luật, nhưng để đề phòng ngăn ngừa trước, được phần nào hay phần nấy nên ta mới thấy phổ biến câu răn đe
“Nam nữ  thụ thụ bất tương thân.”  Chả biết quan tư đồ có nghĩ suy về điểm ấy trong khi quyêt định việc học hành của tiểu thư chăng? 
     Trên đây ta thấy Nguyễn-Phi-Khanh sợ hãi phải bỏ trốn. Quan tư đồ thì  cho lính đi rượt bắt Nguyễn-Phi-Khanh về, làm như nội vụ chỉ có phía người nam là có tội. Thực ra trong giai đoạn này phía nữ, cũng như cá nằm trên thớt, chắc chắn đang nơm nớp lo sợ, rất u buồn lại vô cùng hoang mang.
     Hoang mang về số phận mình, hoang mang chẳng biết kẻ mình yêu dấu  đã mấy lần cùng nhau lên đỉnh Vu-Sơn như thế rồi sẽ ra sao! Làm sao quên được câu thơ chàng viết “Tâm vô mộ dạ quý thê nhi.” (Đêm hôm khuya khoắt trong lòng không thẹn với vợ con.) Đã hiến dâng cho nhau tất cả nghĩa là chấp nhận cùng sống, cùng chết, trọn kiếp. “Mình với ta tuy hai mà một.”  Không có gì ân hận, đời là tiếp nối khổ đau, nơi cuộc sống dài ngắn “Dẫu vô tri cũng đèo bòng.” Và tự nghìn xưa, dễ mấy ai mua được những phút giây đặc biệt tuyệt vời! Thôi thì đành phó mặc. “Thử xem con tạo xoay vần ra sao.”
     Vậy trong âm thầm lặng lẽ xin đừng căn cứ vào sự thụ động ấy để đánh giá mối tình của nàng. Hiện tại, nàng và thân thuộc hiểu chuyện, nhất là mẹ nàng, đang âm thầm hồi hộp đợi chờ.Tương lai ra sao? Số phận thế nào? Với gia đình, với làng nước. Và nàng có biết chăng, thực tế thì luật pháp thường vẫn theo xu hướng kết tội nặng nề về phía người nữ. Quan tư đồ đối với nàng chắc chắn có giảm khinh, nhưng chưa hỏi đến nàng chẳng có nghĩa là sẽ không hỏi đến nàng.
     Đây là trường hợp đặc biệt, quan tư-đồ dư sức để giải quyết trọn vấn đề.  Ngoài ra đối với gia đình người dân thấp cổ bé miệng khác gặp hoạn nạn như thế này thường sẽ bị làng xã thụ lý theo tinh thần ăn vạ cũng rất phiền phức.    
     Nói chung, thuở trước mấy gã mày râu khi khám phá ra mình là tác giả  cái bầu tâm sự thì phần nhiều đều áp dụng phương pháp bỏ của chạy lấy người, các vị hương chức lại khó có phương tiện bắt giữ như quan tư đồ, hoặc đôi khi gặp kẻ lỳ lợm, nó cũng không cần chạy, cứ trơ chẽn chối phăng đi chả có chứng cớ gì để buộc tội. Lúc bấy giờ lại chưa có kỹ thuật thử nghiệm DNA nên các cụ bô lão và hội đồng làng xã thường bất lực, nào biết “ai trồng khoai đất này” Còn người nữ thì chứng cớ dành dành ra đấy với cái ba-lô chình ình ra đấy, không chối cãi vào đâu được, thì cứ lôi ra giữa đình mà sử, vừa uống rượu, nhai trầu, hút thuốc vừa sử chẳng cần học luật, chẳng cần hồ sơ hồ xiếc gì. Dễ ợt!
    “Ăn cơm trước kẻng” bây giờ không là một hành vi ghê gớm như thuở xưa. 
Thuở xưa mọi người xua đuổi chê bai, làng bắt vạ phải đánh đòn, nộp tiền, ở bên vài xứ Ngàn lẻ một đêm nghe nói còn bị sử ném đá v.v. dễ chỉ có bà Hồ-Xuân-Hương là bênh vực “Những kẻ không mà có mới ngoan!”  
     Đến đây có lẽ ta cũng nên tìm nguyên nhân, “sự tích” khởi thủy của “ăn cơm trước kẻng” xem đầu đuôi sự việc nó ra làm sao.
     Cụm từ này đem áp dụng nguyên do rất dản dị, chẳng là vì từ lâu người ta đã dùng cái dùi, cái dùi thường là chiếc đũa cả đảo cơm, hoặc một thanh sắt, hoặc bất cứ vật gì tương tự gần gụi cho tiện, gõ vào cái chảo, cái chung, cái vạc hay cái đỉnh bằng gang để nấu nướng cho phát ra âm thanh gọi là tiếng kẻng ngõ hầu báo hiệu giờ ăn cơm. Aên cơm trước khi nghe báo bằng tiếng kẻng là sớm, có thể nhà bếp chưa sửa soạn xong, không đúng. Nghe kẻng mà chẳng tập họp để ăn cơm là trễ, có thể lúc đó  không còn cơm mà ăn. 
     Đó chỉ là quy ước với nhau thôi! Quy ước này khá phổ biến. Ngày xưa một số nhà giầu đông con cháu mà vẫn hãnh diện chung sống với nhau dưới một mái nhà đến ba bốn đời (tam tứ đại đồng đường) tổng số có thể tới bốn hoặc năm chục nhân khẩu, hàng ngày đàn ông thì đánh cờ, đọc sách, ngâm thơ; Đàn bà thì nấu nướng may vá thêu thùa,tầm tang dệt cửi; Trẻ con thì đánh bi đánh đáo bắt dế bắn chim. Mọi người tản mác cho nên tới giờ ăn phải dùng kẻng làm hiệu lệnh để tập hợp đông đủ, tiện phục dịch, ai không tụ tập ráng chịu đói khỏi khiếu nại.  
     Trong xã hội Trung Hoa thuở trước, ta còn thấy có nhiều gia đình chẳng những ông bà con cháu sống quây quần với nhau mà còn nhiều người giầu có giao du bè bạn, chiêu hiền đãi sĩ nên trong nhà thường có tới mấy ngàn khắch đến chơi, ăn dầm ở dề nhiều ngày tháng, đó cũng là một sự khó khăn cho ban hỏa đầu vụ không thể đi mời từng người, từng nhóm và cũng phải dùng kẻng để báo hiệu giờ cơm sáng cơm chiều.
     Một gia chủ mà chiêu đãi mấy ngàn người ăn ở dầm dề là điều mới nghe thấy khó tin. Ngoài vấn đề tài lực còn phải có nhân viên, nhà cửa, đất đai rộng rãi. Nhưng đó là sự thực, người ta làm thế chẳng phải chỉ giao du bằng hữu khơi khơi mà  còn nhằm mục đích chiêu hiền đãi sĩ mưu đồ liên kết vây cánh thực hiện những việc ích lợi to tát về sau.

     Xét như thế, ta có thể suy ra, những kẻ tài năng, sức lực nhưng khi chưa gặp hội rồng mây, chưa tạo được dịp để thi thố ngoài xã hội thì có thể mầy mò kiếm đường giây tìm đến núp bóng dưới trướng những đại gia như Bình Nguyên Quân, tá túc đợi thời, ngày ngày thơ thẩn, sớm chiều ngong ngóng chờ nghe kẻng ăn cơm trong khi cơ hội còn mù mịt.
     Nhưng hy vọng biết đâu chẳng có ngày cơ hội sẽ đến, thí dụ tới lúc phát sinh nhu cầu chủ nhân đã tin tưởng giao phó công việc hợp khả năng rồi từ đó phát triển thăng tiến lên. Và hiện tại thì những bữa cơm ấy, nghĩ mà coi, thực sự chẳng vinh dự chi nên người đời mới coi thường mà mỉa mai gọi là “Miếng đỉnh chung.”. Miếng đỉnh chung về sau mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhưng nó phát sinh từ âm thanh của cái đỉnh, cái chung là thế.
    Đoạn trên vừa đề cập tới nhân vật Bình Nguyên Quân. Vậy Bình Nguyên Quân là ai? Ta hãy nghe trong truyện Thúy Kiều có câu:
Từ rằng lời nói hữu tình,
Khiến người lại nhớ câu Bình-Nguyên-Quân.

    Theo sách Điển-Cố Văn Học của Đinh-Gia-Khánh Bình Nguyên Quân  là tướng nước Triệu tên Triệu Thắng vốn người hào hiệp, lại biết trọng dụng kẻ sĩ người tài, trong nhà lúc nào cũng chiêu đãi có khi tới ba nghìn khách.
      Bây giờ lối sống “quần tụ” càng ngày càng hiếm hơn. Sợ dần dần sẽ đi tới  ”tuyệt chủng!”  Nhưng cũng bây giờ, ngay tại Sài-Gòn, trước chợ Bến-Thành phía cửa Nam, bên kia trạm xe buýt ta còn thấy một tòa building chiếm hẳn một bloc phố có rào sắt bao xung quanh, là nơi trú ngụ của con cháu Hui-Bon-Hoa,(chú Hỏa) một nhà đại tư bản về địa ốc giầu có nổi tiếng từ hồi Pháp thuộc.
    Nói đến tam tứ đại đồng đường thực tế có thể chỉ xuất hiện ở xã hội Á Châu nhất là Trung Hoa và Việt-Nam. Nhiều phần không sẩy ra tại Aâu-Mỹ, tại Aâu-Mỹ ngay đến hai đời cũng ít thấy chung sống dưới một mái nhà, cha mẹ nuôi con đến lúc trưởng thành là xong bổn phận, đời cua cua ngoáy, đời cáy cáy đào, y như mấy chú chim non đủ lông đủ cánh khi rời tổ là phải tự túc sống đời độc lập. Người ta còn nêu ra nhiều lý do để giải  thích thí dụ khác thế hệ suy nghĩ, chẳng có nhu cầu chung, ăn ở quần tụ như vậy không hợp, mất tự do cá nhân.
       Cũng xin nhấn mạnh một điểm là, vấn đề tam tứ đại đồng đường dù xưa kia cũng không phải chuyện sẩy ra thường đây đó, vì rất khó thực hiện. Hiếm  hoi mới có gia đình làm được. Lâu lâu mới thấy xuất hiện một lần. Đấy là niềm hãnh diện, sự cố gắng, quyết tâm của cả gia đình. Có thể nói đó là nỗ lực, hy sinh chung, do cái ý chí của tộc trưởng cùng các vị giường cột trong gia đình khéo léo dung hòa biết bảo nhau. Điều hành một tập hợp gia đình đông đảo không dản dị, bình thường. Phải biết cách tề gia.
     Tu thân, tề gia,bình thiên hạ thường là mục đích hàng đầu của nam nhi. Một yếu tố quan trọng của tề gia là đồng đều, công bằng.
      Xưa một ông vua thấy một vị quan sống cùng con cháu dâu rể mà lúc nào trong gia đình cũng hòa thuận vui vẻ thì lấy làm lạ mới ban cho vị đại thần một quả lê rồi cho người theo giõi xem sao. Vị quan mang quả lê vua ban về, trịnh trọng để trên ban thờ, tập hợp tất cả mọi người trong nhà nói rõ, bái vọng cảm ơn thiên tử rồi cho vào cái vạc thật lớn đun  cho nhừ rồi múc cho mỗi người húp một bát gọi là ơn vua lộc nước. Đấy! Gia đình công bằng như vậy! Công bằng là một trong nhiều yếu tố để hoà hợp. Hẳn cũng là cái gương sáng cho mọi người.

    Ông bạn của tác giả, Võ Thanh Bình, mới quen ở Bắc-Kinh, dịp hè 2006  nguyên là người tù cải tạo, hiện cư ngụ tại tiểu bang biểu trưng là quả chuông Tự-Do vô cùng độc đáo, khi cùng nhau đang ngồi trong một nhà hàng tại thủ đô Trung-Quốc, thưởng thức món vịt Bắc-Kinh nổi tiếng, đã kể cho nghe một chuyện cũ: “Tù cải tạo cũng ăn thịt vịt.”

     Thực khách cùng bàn ngạc nhiên. Một người pha trò hỏi “Vịt Bắc Kinh  hả?” Oâng Bình nghiêm trang trả lời: “ Thưa không, làm gì có vịt Bắc-Kinh! Nhưng có thể đó là vịt Bắc-Kạn! Chúng tôi đang ở gần Bắc-Kạn.”

     Nguyên do khi nhóm tù NH2 của ông khoảng 350 người bị đưa lên Yên Bái, năm 1976, đang trưa có chiếc xe tải cuả ban hỏa thực, phục vụ các đồng chí lãnh đạo, chạy qua đã vứt cho một con vịt chết bẹp vì bị nhốt quá chật trong lồng. Anh em rất mừng! Nhao nhao, hào hứng, vì như thế là sẽ có chất tươi bồi dưỡng bữa cơm chiều nay. Nhưng một con vịt chết bẹp cho 350 người thì biết giải quyết làm sao! Sau khi bàn luận họ đã đi tới giải pháp: vặt lông xong, bằm con vịt thật nhỏ vứt vào thùng canh rồi chia đều, mỗi người húp một bát cho tỉnh người, mát ruột, hả hê. Đó là phương pháp tốt nhất, nhưng chẳng rõ trong số người tìm ra giải pháp này có ai nhớ chuyện quả lê vua ban cho vị đại thần đông con cháu hay chăng!

    Ngày nay hai người nam nữ sống với nhau không hôn thú thậm chí công khai với mục đích sống thử xem có hợp mới tiến tới hôn nhân là điều thuở trước không chấp nhận được. Sự việc ấy đã chứng tỏ hành động ăn cơm trước kẻng không phải là một tội lỗi. Với điều kiện là đừng dính dáng tới vị thành niên, những kẻ chưa dủ tư cách sử lý bản thân mình.
     Dính tới vị thành niên là lãnh đủ. Nhưng vị thành niên “dính” với vị thành niên thì lại huề cả làng! Và đây hiện là vấn đề lớn lao, lan tràn của xã hội với các bệnh tật nguy hiểm chết người như ai nấy đều rõ.

     Bây giờ thời buổi văn minh ăn cơm trước kẻng chẳng sao. Mới lại với kỹ thuật tân tiến của thời khoa học hiện tại người ta có thể ”kế hoạch hóa” rất dễ nên không ai biết, mà biết cũng thế thôi vì các bậc trưởng thượng trong gia đình, lúc con cái khôn lớn, đã mất hết quyền lực, sự lãnh đạo chẳng cần bàn giao đã đội nón ra đi. Và bên ngoài xã hội thì người nào cũng tất bật chạy theo cuộc sống ai hơi đâu để tâm bàn luận thiên hạ sự, dù là chuyện thiên hạ ấy liên quan mật thiết đến phong hóa chung của dân tộc mình.

NGUYỄN-PHÚ-LONG
(Virginia – USA)

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com