arrow
Trang Nhà arrow  Biên Khảo arrow Biên Khảo arrow 38 - THỬ ĐỌC LẠI TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG - Nguyên Nguyên
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
38 - THỬ ĐỌC LẠI TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG - Nguyên Nguyên PDF Print E-mail

Thử Đọc Lại Truyền Thuyết HÙNG VƯƠNG:
NƯỚC VĂN LANG

Trong bài thứ 3 của loạt bài Hùng Vương, chúng ta đã quan sát ý nghĩa của tên Xích Quỷ thường viết trong các sách giáo khoa, quốc hiệu đầu tiên của nước Việt. Cũng đồng thời xác định lại thời điểm xảy ra câu chuyện con rồng cháu tiên chỉ trong vòng thiên niên kỷ đầu trước Công Nguyên. Địa điểm lúc bắt đầu câu chuyện xoay quanh địa bàn nước Sở của thời Xuân Thu Chiến quốc, đặc biệt tại địa bàn của chủng Thái-cổ với sự hội nhập của chủng Việt-cổ.
   Từ đó, sau khi kiểm chứng với lịch sử, đặc biệt với sự kiện thật rõ: miền Hoa Nam cho đến khi nhà Hán tiến quân thôn tính, chưa hề có một nước nào lớn rộng và nhất thống như cái nước Xích Quỷ trong truyện cổ tích đời xưa của người Mường, chúng ta có thể thấy Xích Quỷ chỉ là một sản phẩm của tưởng tượng, của truyện tích. Sự thật miền Hoa Nam của nước Tàu ở thời xa xưa, bao gồm rất nhiều chủng tộc khác nhau. Với ngôn ngữ, huyết thống và phong tục tập quán khác nhau. Nội ở khu vực Quảng Đông Quảng Tây, mặc dù chủng lớn ở đó vẫn là chủng Âu khi xưa, nay đã được (hay bị) đồng hoá thành 'Hán' tộc, người ta vẫn thấy có rất nhiều chủng khác lớn nhỏ đủ thứ vẫn góp mặt như một nhóm người dân tộc hay một khu vực tự trị. Điển hình là người Choang, rất có khả năng chính là hậu duệ của người Tây Âu năm xưa, ngày nay vẫn còn trên dưới 10 bộ tộc khác nhau tuy đồng chủng, với dân số lên đến gần 20 triệu, bằng nước Úc. 
   Trong bài này chúng ta sẽ quan sát tiếp ý nghĩa của tên nước Văn Lang cũng như thử xem lại những chứng tích hoặc dấu ấn, nếu có, và đặc biệt biên giới của Văn Lang.
   Trước hết xin tóm tắt một vài điểm quan trọng đã được trình bày trong những bài trước:
   (i) Trước tiên, chúng ta đã xem lại con số 18 được dùng để chỉ 18 đời vua Hùng, và 'phát hiện' được rằng trong nền văn minh Hoa Hạ, số 18 được dùng như một ý niệm liên tục để chỉ một tập hợp có thể trống không, hay chi tiết hãy còn ẩn số, không biết rõ. Số 18 cũng rất phổ thông ngày xa xưa, rất có thể do ở hệ thống đếm của văn minh Hoa Hạ trong thời huyền sử đã xử dụng con số 9 làm cơ bản, hệ đếm số 9. Trong hệ đếm số 9, số 18 coi như 2 lần số hệ 9 (= 2 chín), tương đương với 20 trong hệ đếm số 10 (Xem: [1]). Chúng ta cũng đã ghi nhận con số 9, số lớn nhất của hệ đếm theo 9, thường dùng để chỉ vua chúa, tột đỉnh của quyền lực xã hội.
   (ii) Truyền thuyết 'con rồng cháu tiên' được giải mã dưới một góc độ khá mới của thế kỷ 21. Trong đó chúng ta đã xử dụng đến những ý niệm 'đương đại', như 'nhảy vọt theo trọn đơn vị' (kiểu thuyết quantum của Max Planck) hoặc 'quay băng video nhanh', và xem xét kỹ tất cả các nhân danh và địa danh của truyền thuyết. Từ đó chúng ta đã xác định được, thời gian xảy ra câu chuyện của truyền thuyết được giới hạn trong vòng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên (0-1000 TCN), và ở tại địa bàn nước Sở.
   (iii) Để giải mã truyền thuyết, lần đầu tiên chúng ta bắt buộc phải phân biệt từng chủng một trong khối Bách Việt cũng như địa bàn sinh sống của họ. Có hai chi lớn thuộc chủng Việt nổi bật: Âu (Thái) và Lạc (Việt). Chúng ta cũng phải xem những nhân vật của câu chuyện như biểu tượng cho một nhóm người, một bộ tộc, v.v.
   (iv) Từ đó tình duyên giữa Âu Cơ với Lạc Long Quân được xem như một cuộc hợp chủng để gây sức mạnh chống cản đàn áp và sức tiến của chủng Hoa. Những vụ 'tuần thú' của mấy ông 'vua' tưởng tượng thuộc địa bàn nước Sở được xem như những cuộc di tản hằng khối của các nhóm Bách Việt xuôi về hướng Nam. Đặc biệt để ý đến hai chủng chủ lực là Thái và Việt cổ.
   (v) Tình vợ chồng giữa bà Âu và ông Lạc cuối cùng phải kết thúc, bởi lý do chính, như đã ghi rõ: dị chủng. Theo bản Mường, vào lúc chia tay, cả hai nhóm vẫn còn theo mẫu hệ, và dưới chế độ bộ lạc. Cả hai nhóm đều có các con nắm giữ vai trò lãnh đạo của các bộ lạc riêng biệt thuộc chủng của mình. Chưa hề tiến đến hình thái của chế độ nhà nước hay quốc gia. Cuộc chia tay đó ăn khớp với việc chia cắt nước Nam Việt thành hai phần: phần Quảng Châu phía trên thuộc chủng Thái (cổ) và phần Giao Châu phía dưới có chủng Việt đa số. Nó cũng đại diện cho việc một số người địa phương - đa số thuộc chủng Thái cổ (Âu) với địa bàn gốc là khu rừng núi - đã không thể sống chung với thế lực đô hộ Bắc phương, bỏ miền đồng bằng kéo lên rừng lên núi mà sống. Ở đó họ hội nhập với các sắc dân bản địa như Negrito (thấp, tóc xoăn), và Melanesian (đen ở hải đảo), rồi lâu ngày trở thành người Mường, người Tày, người Kha,…. Những người ở lại thành người Kinh.
   Về sự chia ly giữa bà Âu và ông Lạc, Việt Nam Sử Lược [2] có chép:
   'Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.’ Truyền thuyết đã nói quá rõ: Âu Cơ và Lạc Long Quân, mỗi người thuộc một chủng khác nhau.
   Sau đó vẫn theo truyền thuyết, Lạc Long quân phong cho người con trai trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Truyền được 18 đời thì bị mất nước về tay Thục Phán. Thục Phán mang 'quốc tịch' cũ của nước Thục, đã bị nước Tần dứt điểm vào năm 316 TCN. Theo rất nhiều sử sách dân Thục thuộc chủng Thái-cổ.
   Theo phần ghi chú của dịch giả bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ  Liên [3], 'những truyện Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương được chép lần đầu tiên ở sách 'Lĩnh Nam trích quái', Ngô Sĩ Liên bắt đầu đem vào quốc sử.' Tức, những nhân danh như Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và ngay cả Hùng Vương đều được chép vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [3] từ một số chuyện u linh hoang đường được đầu tiên giới thiệu với người nước Nam, qua bộ truyện 'Lĩnh Nam Trích Quái', xuất bản vào khoảng thế kỷ 14.
   Riêng sử thần Ngô Sĩ Liên đã bàn ở cuối chương về Hùng Vương [3]: 'Cái thuyết nói 50 con theo mẹ về núi, biết đâu không phải là thế? Vì là mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chủ một phương. Cứ xem như tù trưởng Man ngày nay, xưng là nam phụ đạo, nữ phụ đạo (hiện nay đổi chữ phụ đạo làm phụ đạo có lẽ như thế [8]). Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi.'
   Có thể nói một trong những cảm hứng dẫn đến việc truy tầm sách vở để viết nên loạt bài này bắt nguồn từ dặn dò của Ngô Sĩ Liên: 'tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi.'

Văn Lang, con ngựa và chữ viết


   Khởi điểm của loạt bài này nằm ở chỗ xem xét trở lại toàn bộ các thứ từ dùng chữ Hán ròng, để mô tả tình hình sử địa và nhân sự trong truyền thuyết Hùng Vương. Cách xử dụng những từ Hán ròng này, như Kinh Dương Vương, Hùng Vương, Xích Quỷ, Văn Lang, v.v. cho thấy ngay tính cách vô lý, và mâu thuẫn với rất nhiều sự kiện lịch sử cực kỳ quan trọng:
   (a) Hoa chủng cho tới khoảng nhà Châu lên tiếp nối với nhà Thương (tức khoảng 1120 TCN) thật sự chỉ làm chủ được một vùng đất rộng bằng hai ba tỉnh, ở miệt Hoa Bắc bên sông Hoàng Hà.
   (b) Hầu hết những cuộc chiến tranh, hoặc tranh chấp lãnh thổ trong thời Đông Châu liệt quốc, biết được qua sử sách, đều giới hạn trong vùng đất ở miền Hoa Bắc, phía Bắc sông Dương Tử. Chỉ có một hai ngoại lệ, như nước Việt của Câu Tiễn, nằm ở khu Chiết Giang - Thượng Hải ngày nay, hoặc miền Nam của nước Sở (Hồ Nam), là thuộc miền Hoa Nam. Đặc biệt cả hai nước Sở và Việt đều có cư dân đa số thuộc chủng Yueh (Việt), bao gồm phần chính: Thái và Việt.  
   (c) Ở đầu thời Xuân Thu, khoảng thế kỷ thứ 8 TCN, miền Hoa Bắc có đến hơn 1000 nước lớn nhỏ khác nhau [17]. Tương tự, miền Hoa Nam cũng y như vậy. Bởi mỗi chủng lớn cũng có đến hằng chục thứ chi chủng khác nhau. Thí dụ: người Hmong (Miêu) cũng có đến khoảng 5 chi lớn. Người Thái (chủng Âu) cũng vậy, đủ thứ Thái: Thái nước Thục, Sở, Điền Việt, Tây Âu, Dạ Lang (Quí Châu), v.v. Mỗi chi như vậy có thể có đến cả chục tiểu chi khác nhau. Đối với người dân tộc ở Trung Hoa và ở Việt Nam, thí dụ  người Choang, và  Mường theo tuần tự, tình trạng này hãy còn tồn tại đến ngày nay. Lý do chính: trai gái thường thường chỉ lập gia đình với nhau lẩn quẩn ở trong làng (Xem [4]).
   (d) Tình trạng ý niệm và tổ chức nhà nước, hay nước nhà đối với người dân tộc ngày nay ra sao thì ngày xưa cũng y hệt như vậy, và có thể tệ hơn rất nhiều. Bởi thiếu thốn các định chế hoặc cơ viện của ngày nay, như: tiền tệ, tổ chức tiện nghi vật chất, hành chánh, và quan trọng nhất, chữ viết và các phương tiện truyền thông. Tức, từ xưa đến nay, tổ chức nhà nước hoàn toàn không phải là một thực thể đơn giản chủng nào cũng có thể đạt đến được. Nói một cách khác, quốc gia hay 'nước', không phải là chuyện đương nhiên chủng nào cũng có được. Tình hình miền Hoa Nam trước khi Hoa chủng tràn xuống gây chiến tranh 'xâm lược', rất có khả năng, chỉ gồm một số rất nhiều các bộ lạc, hay cùng lắm liên minh một vài bộ lạc cùng chi chủng với nhau. Sẽ bàn tiếp phía dưới.
   (e) Vấn đề ngôn ngữ cũng khó khăn tương tự. Ngay ở miền Hoa Bắc nơi xảy ra chiến tranh qua lại của hằng trăm hằng ngàn nước lớn nhỏ khác nhau, không phải dân nước nào cũng 'piết’ tiếng ...Tàu. Rất nhiều nước, nhiều bộ tộc vẫn xử dụng tiếng của chủng họ qua hàng trăm hàng ngàn năm, và thông thường vẫn còn giữ giọng nói cho mãi đến ngày nay. Tại nhiều nước lớn như Sở, Tề, Lỗ, Tấn, Ngô, Việt. và gần như toàn thể miền Hoa Nam trước khi nhà Tần và nhà Hán xua quân xâm chiếm, đa số dân chúng có tiếng nói khác với chủng Hoa. Thường thường tiếng Thái cổ và Việt cổ.  Tuy vậy tình hình ngôn ngữ ở Hoa Nam và phía Lĩnh Nam nói chung, vẫn thua xa Hoa Bắc, ở chỗ Hoa Bắc có chữ viết và ngôn ngữ là tiếng Hoa, thường xuyên xử dụng tại các nước lớn mạnh, và được các nước chư hầu bắt chước noi theo.
   (f) Đặc biệt có thể khẳng định vùng đất thuộc Bắc Bộ ngày nay, cho đến lúc nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, vào năm 111 TCN, dân chúng ở đó, đa số thuộc chủng Âu, Lạc, và Môn-Khmer, đều không biết gì về chữ Hán và tiếng Tàu.
   (g) Quan trọng nhất và cũng là một điểm hầu như những nhà khoa học đủ mọi ngành, kể cả những khoa học gia Âu Mỹ, thường lướt qua, không để ý đến: ‘Văn minh’ nhất là ở khía cạnh kỹ thuật chiến tranh và  truyền thông, được xử dụng trong việc quản lý hành chánh của một ‘tổ chức quốc gia’, nhất là ở vào thời xa xưa, rất thường sẽ xác định được nước đó bé nhỏ hay rộng lớn đến cỡ nào. Nói nôm na, cương giới hoặc diện tích của lãnh thổ của một nước, nhất là ở vào những thời đại xa xưa, hoàn toàn mang tỷ lệ thuận với trình độ kỹ thuật hay văn minh, nhất là về chiến tranh và truyền thông, của dân chúng ở xứ đó. Hai thành tố, theo thiển ý, đã đưa chủng Hoa nhanh chóng tiến lên xã hội theo hình thái quốc gia rồi đế quốc, chính là: con ngựa và chữ viết. Hai thành tố này góp phần song song và hỗ tương lẫn nhau. Thành tố 'tổ chức hành chánh' qua dạng triều đình, chỉ là một hệ luận đương nhiên của hai thành tố chính yếu kể trên.
   (h) Thành tố thứ nhất: Con Ngựa. Con ngựa theo nhiều sách vở, có thể truy cập ở mạng internet, xuất hiện theo thuyết tiến hoá vào khoảng năm 3000 TCN, tại miền Trung-Á, khu vực người Turkestan (Tokharians hay Nhục Chi), cũng như người Hung Nô, Mông Cổ. Con ngựa thật sự chỉ được con người luyện cho thuần thục và xử dụng khoảng 1000 năm sau đó, tức năm 2000 TCN. Chuyện Đế Minh đi tuần thú bằng xe ‘lô ca chân’, vào khoảng năm 2879 TCN,  xuống miền Hoa Nam do đó hoàn toàn là một chuyện, đúng như tựa sách, u linh và ‘chích quái’. Bởi ông ta chỉ có thể đi bằng voi, hoặc bằng trâu (như Tôn Tẫn), hay đi bộ. Rất chậm chạp, lâu lắc. Vào thời Đế Minh, ngựa hãy chưa trở thành phương tiện di chuyển. Như vậy, nếu dùng ngựa, thật ra Đế Minh phải chờ khoảng 1000 năm nữa, ngựa mới thuần thục và xử dụng được. Chuyện Đế Minh đi tuần thú cũng giống y như ta nói Elvis Presley sau khi đã thành danh mua cho bạn bè mỗi người một chiếc xe Lexus và một dàn máy Tivi và DVD kiểu màn hình plasma. Hoặc Tư Mã Thiên đã cho in bộ Sử Ký của ông được 4000 ấn bản tại Nam Hoa Thư Xã, sau đó có bản in dịch ra tiếng La-tinh gửi bằng FedEx. tặng cho Hoàng Đế La Mã. Hay Charles Darwin lần đầu tiên cho xuất bản thuyết tiến hoá của ông qua mạng internet với sự giúp đỡ của Bill Gates.
   (i) Thành tố thứ hai chính là Chữ Viết. Có chữ viết mới có hệ thống nhà nước, có trên có dưới, có chức này chức nọ, có thưởng có phạt. Mới có được một hệ thống đầu não, quản lý cho những sinh hoạt chung của nước nhà. Quản lý đi đôi với luật pháp, dù ở bất cứ dạng đơn sơ nào. Quan trọng nhất là thông tin, liên lạc. Không có chữ viết chỉ có thể có được một hai chức vụ trong một xã hội nhỏ mà thôi. Thí dụ: tù trưởng và gia đình tù trưởng. Hay Thổ Lang và Quan Lang trong xã hội Mường. Hoặc Lạc Hầu và Lạc Tướng theo với các truyền thuyết về 'xã hội Văn Lang'. Xã hội nhỏ đó rất khó vượt ra khỏi hình thức bộ lạc hay liên minh vài ba bộ lạc gần gũi với nhau. Hai thành tố: con ngựa và chữ viết, là hai thành tố cơ bản cho kỹ thuật chiến tranh, truyền thông và hành chánh. Theo thiển ý, hai thành tố cơ bản này, vào ngày xưa, là 'điều kiện đủ' khiến quốc gia mới hình thành được, trên một lãnh thổ rộng hơn hai-ba tỉnh ngày nay của Việt Nam. Và chính hai thành tố này đã giúp cho chủng Hoa tiến nhanh tiến mạnh lên hình thái nhà nước, rồi nhất thống được nước nhà. Y hệt như mô hình đế quốc do đại đế Alexander tạo dựng tại bán đảo Hy Lạp cổ vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Trước hết, nhờ ở ngựa và chữ viết, Hoa chủng đã nhất thống được tất cả các nước ở miền Hoa Bắc. Xong rồi nhanh chóng tiến lên cấp đế quốc, thôn tính được tất cả các nhóm rợ phía Nam. Chúng ta cũng có thể dùng nhận xét sau đây để hỗ trợ cho luận cứ này. Chỉ riêng việc nhất thống miền Hoa Bắc, nhà Châu rồi nhà Tần phải tốn gần 800 năm. Bởi các 'nước' ở Hoa Bắc đều biết xử dụng ngựa và chữ viết. Chiến tranh ở Hoa Nam chỉ tốn tổng cộng trước sau, trên dưới 8 năm là xong. Bởi Hoa Nam ít có ngựa và không có một hệ thống chữ viết hoàn hảo như Hoa Bắc. Các bộ tộc ở Hoa Nam cũng
chưa có hệ thống nhà nước chặt chẽ và chu đáo như Hoa Bắc.

Từ những nhận xét khái quát phía trên, chúng ta sẽ thấy bất cứ quyển sử nào nếu đề cập một 'nước' nào đó ở miền Hoa NAM trong vòng 1000 năm trước Công Nguyên, có được một lãnh thổ lớn hơn một tỉnh ngày nay của nước Tàu, thì đó hoàn toàn chỉ là một chuyện cổ tích mang tính u linh hoang đường, hay ‘chích quái’. Nói cách khác, một khi kiểm chứng được thời điểm câu chuyện, một nước như Xích Quỷ [1] hay Văn Lang, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [3], với một địa bàn rộng lớn chiếm hết miền Hoa Nam và kéo đến tận 'nước' Hồ Tôn [5], chắc chắn chỉ là một chuyện hết sức 'u linh'. Với trực giác đơn sơ nhất, ai cũng có thể thấy, một cái nước nhất thống được hàng ngàn các bộ lạc khác nhau, với các chủng dị biệt trên một địa bàn bao la như vậy, chắc chắn phải có tổ chức nhà nước rất cao siêu. Ít lắm cũng bằng miền Hoa Bắc, với di sản một đống sách vở thánh hiền rất đồ sộ, và hàng chục các thứ lí thuyết về chính trị hoặc đạo lý, hay kỹ thuật chiến tranh. Nhất là một chủ thuyết chính trị tạo thành xương sống cho riềng mối nước nhà. Tệ lắm cũng phải có một hệ thống chữ nghĩa thật đàng hoàng, và một phương tiện chiến tranh, truyền thông, truyền lệnh (con ngựa, xe ngựa hay chiến xa) mới có thể quản trị hành chánh được một lãnh thổ bao la như vậy.
   Như vậy, chuyện kể trong [3]: 'Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (nước ấy phía Đông giáp Nam Hải, phía Tây đến Ba Thục, phía Bắc đến hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam,...' đề cập đến một 'đế quốc' Văn Lang rộng lớn như vậy chắc chắn chỉ là một chuyện mơ tiên, 'u linh chích quái'.
   Theo Đại Việt Sử Lược [7], tức quyển sách khuyết danh thất lạc về sau tìm ra được tại một thư khố nhà Thanh bên Tàu, vào thời vua Châu Trang Vương ở bên Tàu  (696-682 trước Công Nguyên) 'ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút'.
   Như vậy, chuyện cái nước Văn Lang có ‘phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút’ đã cho thấy dân nước Văn Lang chưa có chữ viết, rất khó có thể có một cương giới rộng lớn hơn hai ba tỉnh nước Nam, theo lối sắp xếp ngày nay. Cho dù có chữ viết, câu hỏi kế tiếp sau đây sẽ lập tức đưa 'nước' Văn Lang đến chỗ trống không: Chữ viết đó thuộc chủng nào? Nếu nhớ địa bàn Bắc Việt vào thuở sơ khai chắc chắn bao gồm rất nhiều chủng tộc và bộ tộc khác nhau: Thái cổ, Tày cổ (cũng một chi của Thái), Môn, Khmer, Việt cổ, Negrito, Melanesian, ... Và mỗi một chủng có rất nhiều chi chủng nhỏ khác nhau, với tiếng nói hơi khác với nhau. Chỉ riêng trong chủng đó mà thôi. Sự kiện này ngày nay vẫn còn tiếp diễn dài dài tại các làng bản của dân tộc ít người ở miền Hoa Nam và tại Việt Nam. Đặc biệt có thể để ý, muốn một chủng nổi bật lên và dùng ngôn ngữ của mình lấn áp hết ngôn ngữ các chủng khác, để tiến đến nhất thống tạo thành một ‘nước’ lớn hơn 2-3 tỉnh, chủng đó phải có một nền văn minh hay văn hoá và  kỹ  thuật ‘hoàn toàn trên cơ’ các chủng kia. Như trường hợp tiếng Hoa tại Hoa Bắc ở thời Đông Châu Liệt quốc, và tiếng Anh tiếng Mỹ vào vài thế kỷ gần đây. Sử sách hoàn toàn không hề ghi nhận tình hình vượt trội như vậy đối với bất kỳ chủng nào trong khối Bách Việt tại vùng Lĩnh Nam.
   Phần ghi chú phía dưới trang 66 của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [3] cho biết về 'kinh đô' của Văn Lang:
   'Cương giới của nước Văn Lang chép ở đây là tương đương với miền mà sách Trung quốc xưa gọi là đất Bách Việt. Sách 'Thái bình hoàn vũ' chép thành Văn Lang ở huyện Tân Xương đời Đường, huyện Tân Xương thuộc Châu Phong. Sách 'Đại Nam nhất thống chí' đặt thành ấy ở khoảng đền Hùng Vương, xã Hy Cương huyện Lâm Thao tỉnh Vĩnh Phú.'
   Do đó, đối với kinh đô của nước Văn Lang, trong chiều hướng 'cóp' lại các mô hình của các nước phía Bắc sông Dương Tử thời Xuân Thu Chiến Quốc, chúng ta cũng đã thấy có nhiều điểm khá lổng chổng. Một kinh đô - hai ba địa điểm khác nhau. Tên kinh đô, tên nước và địa điểm địa lý toàn bằng tiếng Tàu, đối với một khối dân gồm hằng trăm chi chủng khác nhau, không piết tiếng Tàu và sống rất xa Tàu, chứ không phải như dân nước Sở. Vô lý hơn nữa, không có một tư liệu nào cho biết các chủng đó đã có một dạng chữ viết nào hay chưa, để quản trị hành chánh số người khổng lồ (ở thời đó) trên một lãnh thổ hết sức bao la. Ngoài ra, ta có thể đặt luôn câu hỏi: Đối với hàng chục chi chủng khác nhau như vậy, chủng nào là chủng chủ lực nắm hết các cơ viện nhà nước ở trong tay?  Và hình thù các cơ viện nhà nước đó ra sao?
   Tóm tắt, vấn đề nước Văn Lang của Hùng Vương đã gặp lấn cấn ngay khi người ta đọc  đoạn mô tả nước đó trong quyển sử của Ngô Sĩ Liên [3]. Như đoạn ghi chú phía trên đã cho biết, có hai thứ cương giới của nước Văn Lang: (i) Một thứ thật rộng bao gồm Hoa Nam và Bắc bộ cộng với bắc Trung bộ của nước Việt ngày nay; và (ii) Một thứ nhỏ hơn, chỉ gồm khu Bắc bộ mà thôi. Lãnh thổ nhỏ của Văn Lang thông thường có thể suy đoán qua một trang sử kế tiếp, viết về việc Triệu Đà sát nhập xứ Âu Lạc vào Nam Việt. Âu Lạc chính là ‘tên nước’ theo ngay sau Văn Lang.
   Theo với luận cứ ‘con ngựa và chữ viết’, chúng ta có thể loại bỏ thứ lãnh thổ bao la của Văn Lang. Thứ lãnh thổ Văn Lang nhỏ hơn, và giới hạn trong vòng Bắc bộ sẽ được quan sát tỉ mỉ hơn ở đoạn sau. Bây giờ xin thử quan sát tên nước Văn Lang của người nước Nam, đã được viết bằng tiếng Tàu ròng.

Văn Lang và tiếng Tàu


   Tên nước đầu tiên của người Việt chắc chắn không phải là tên bằng tiếng Tàu ròng. Một lần nữa ta thấy truyền thuyết đã ẩn chứa một đoạn Fast Forward (quay băng video nhanh) rất quan trọng. Nều thời kỳ dựng nước xảy ra vào khoảng năm 2800 TCN, xứ Văn Lang chưa có ngựa và không biết được tới một chữ Tàu nữa chứ đừng nói tới việc đặt tên vua, tên nước thế này thế nọ, viết bằng tiếng Tàu.
   Theo [10], thư tịch cổ của Tàu hoàn toàn không có ghi nước nào mang tên Văn Lang hết. Tên Văn Lang lần đầu tiên xuất hiện [11] trong sử sách Việt qua quyển Đại Việt Sử Lược [7] vào khoảng thế kỷ 14, có lẽ lại 'cóp' theo thư tịch của Tàu vào thời nhà Đường [11], năm 618-907 sau Công Nguyên. Tức tên Văn Lang chỉ được ghi chính thức vào sách vở ít lắm 800 năm sau khi nước đó bị 'biến mất', ít nhất trên danh hiệu. Và lại một thứ tên hiệu bằng tiếng Hán ròng trên một khối dân tộc, vào lúc 'nước' Văn Lang còn tồn tại, không biết một chút gì về chữ Hán. 
   Thấy rõ điểm mâu thuẫn rất lớn từ chỗ tiếng Hán ròng cho một nơi mà hằng trăm hằng ngàn năm trước người Hán chưa hề đặt chân đến, rất nhiều vị tiền bối đã ra sức biện giải cho những khía cạnh 'nôm na' của tên nước Văn Lang.
   Trước hết, theo rất nhiều giả thuyết quen thuộc 'Văn Lang' mang nghĩa 'đàn ông có xâm mình' - một đặc tính của hầu như toàn thể các giống dân thuộc khối Bách Việt ở thời cổ đại xa xưa. Khối Bách Việt lại chính là tiền thân của một số đông các dân tộc ngày nay ở miền Đông Nam Á. 'Xâm mình' tiếng Hán quốc ngữ gọi 'văn thân'. 'Đàn ông' gọi 'lang'. 'Văn Lang' do đó mang nghĩa: đàn ông xâm mình. Bởi 'văn lang' mang vẻ thuần Hán nên đã có rất nhiều nhà nghiên cứu cố gắng tìm tòi những giả thuyết khác, giải thích 'Văn Lang' cho có vẻ đượm nhiều sắc nôm-na dân tộc Việt hơn.
   Hoàng Thị Châu [12] đưa ra giả thuyết dựa trên tài liệu ngôn ngữ. Theo đó, tiếng gọi 'người' của các dân tộc khối Nam Á (Austro-asiatic) thường liên hệ đến tiếng Mã Lai 'ORANG'. Orang = người. Orang kampung = người dân làng. Âm /O/ có thể biến chuyển qua lại với âm /ou/ ở thời cổ đại, chưa có chữ viết theo a-b-c. /Ou/ có thể biến âm qua lại với /U/ hoặc /wu/. Và cũng có thể /wu/ sinh ra, hoặc do người Tàu phát âm thành /wen/, tức /văn/ theo kiểu quốc ngữ. /Rang/ có âm /r/ thông thường biến chuyển qua lại với âm /l/. /Rang/ => /Lang/. Từ 'lang' du nhập đến Trung Hoa và thường mang nghĩa 'đàn ông'. Do đó /O-Rang/ biến dạng thành /Văn Lang/ qua lối phát âm của người Hoa. Đơn thuần, 'văn lang', xuất phát từ 'orang' chỉ mang nghĩa 'nơi hoặc xứ sở của người'.
   Quyển 'Thời Đại Hùng Vương' [13] có ghi tóm tắt: 'Vậy có thể cho rằng: Những tộc danh Lang, Văn Lang, Dạ Lang... đã bắt nguồn từ một danh từ chung, có nghĩa là "đàn ông", "người", với những hình thái biến đổi khác nhau tùy theo ngôn ngữ, phương ngữ và tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Phụ âm đầu trong những tộc danh như Văn Lang, Việt Lang nếu đọc theo cách phát âm của tiếng Việt cổ và trong tiếng Hán cổ thì đó là âm w, một phụ âm môi-môi có bộ vị cấu âm rất gần với các nguyên âm tròn môi như ô, u đến nỗi người ta còn gọi phụ âm này là bán nguyên âm u. Do đó, những âm trên hoàn toàn có khả năng biến đổi từ trạng thái nọ sang trạng thái kia.
   Trong phương pháp so sánh của ngôn ngữ học lịch sử, những từ như Văn Lang, Việt Lang với urang, ôrang, cũng như Dạ-lang với Đrang trong từ đranglô đều có thể xem là những từ giống nhau, nhưng nếu chỉ căn cứ vào hình thức bên ngoài thì không sao nhận ra được.'
(Còn tiếp)

NGUYÊN NGUYÊN
(Australia)

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com