arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow CD MEMORIES VÀ DÒNG NHẠC CỦA LÊ VĂN KHOA - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
CD MEMORIES VÀ DÒNG NHẠC CỦA LÊ VĂN KHOA - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

 

Mấy hôm trước, nhận được thư của Việt Hải (VHLA), người bạn Petrus Ký nhiều tài, cho biết Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa sẽ ra mắt CD Memories vào ngày 2 tháng 12 ở Orange County. Sau đó, Việt Hải lại viết thư giới thiệu để nối tình văn nghệ giữa hai người Đông và Tây Hoa Kỳ.

Trong trí của tôi vẫn nhớ rất rõ hình ảnh một Lê Văn Khoa đầy năng lực, vui tính trên các đài phát thanh hay truyền hình trước 1975. Anh cũng là một người tận tụy cho ngành giáo dục và văn học nghệ thuật, nhất là hai bộ môn nhiếp ảnh và âm nhạc. Nhớ mang máng vào đầu thập niên 80 tôi có dịp gặp khi anh qua viếng miền Đông Hoa Kỳ và nghe cô bạn Thái Ninh thường nhắc với một kính mến khi cô ở trong Ban Hợp Xướng Trùng Dương và Trầm Tư do anh và Trần Chúc điều khiển trước 1975.

Trong tủ nhạc của tôi có một cassette tôi rất yêu thích, đó là cassette Tiếng Chiều Rơi, ra mắt năm 1983 do anh hòa âm, viết và điều khiển một dàn nhạc hòa tấu Hoa Kỳ. Trong đó, ngoài các nhạc phẩm nổi tiếng còn có hai nhạc phẩm của anh, đó là Nhớ Tiếng XưaGọi Nhớ, giai điệu rât trang trọng và cổ điển.

Từ năm 1983 đến bây giờ thỉnh thoảng tôi có đọc các bài báo, bài viết trên mạng về những hoạt động âm nhạc của anh, trong đó có Symphony Viet Nam 1975 (Bản Giao Hưởng Việt Nam 1975), ra mắt năm 2005 để kỷ niệm 30 năm xa xứ và ghi lại giai đoạn lịch sử với những người vượt biển tìm tự do cùng tưởng nhớ những thuyền nhân đã bỏ mình trên biển cả. Tôi xem lại những bài của các nhạc sĩ, ca sĩ, thân hữu viết về nhạc sĩ Lê Văn Khoa và đem về trang Nhạc của Cỏ Thơm. Thính giả Việt Nam khắp nơi rất hãnh diện dòng nhạc cổ điển - nhạc không lời - của anh đã hội nhập cộng đồng âm nhạc thế giới.

Trang này sẽ tiếp tục được bổ túc với hình ảnh, bản nhạc, hòa âm và bài viết về anh.

Phan Anh Dũng ( Richmond, Virginia - 1 tháng 12, 2007)

                 

                                                           (nguồn: website của NS Lê Văn Khoa)

Lê Văn Khoa sinh năm 1933 tại Cần Thơ, đồng bằng sông Cửu Long miền Nam Việt Nam. Là một người tị nạn chiến tranh, Ông đặt chân đến Hoa Kỳ vào năm 1975. Ông viết nhạc với nhiều thể loại và đã có khoảng 600 nhạc phấm và hòa âm. Ông cũng đã soạn hòa âm về nhạc dân ca và nhạc phổ thông Việt Nam cho Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi và Dàn Giao Hưởng Việt Mỹ (VAPO). Lê Văn Khoa cũng viết bài về âm nhạc và là chủ biên chương trình "Nhạc Trong Đời Sống của Chúng Ta", Đài Phát Thanh Little Sài Gòn.

Lê Văn Khoa tự học Nhiếp Ảnh từ thuở hai mươi và đã được nhiều giải thưởng. Năm 1968, Ông cùng sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật và giúp Hội xuất bản 3 quyển sách. Hội là một trong 10 hội đứng hàng đầu trên thế giới trong cuộc thi Nhiếp Ảnh Quốc Tế Al Thani và được huy chương vàng trong thể loại "Hội Ảnh Tốt Nhất" ở cuộc thi Trierenberg Super Circuit tại Áo Quốc. Lê Văn Khoa là người Việt đầu tiên có ảnh triển lãm ở Quốc Hội Hoa Kỳ. Ông đã là giáo sư môn nhiếp ảnh tại Đại Học Salisbury State College, Tiểu Bang Maryland, năm 1976-1977.

                         Lê Văn Khoa là ai ? Who's Le Van Khoa ?

                                             Mời quý vị xem một đoạn phim ngắn                  

                             

              Cõi nhạc Lê Văn Khoa trong Tình Tự Dân Tộc -
                                    Ngô Thanh Tùng và Đặng Đình Quảng

Gần 3 triệu người Việt lưu vong và hàng triệu đồng bào trong nước đã và đang say mê các DVD Thúy Nga Paris, Vân Sơn và Asia. Riêng tại Hoa Kỳ một ông bạn chúng tôi vừa có một nhận xét chí lý: Trong tất cả sắc dân nhập cư ở Mỹ, người Việt quả thật nổi trội hơn hết về mặt entertaining industry tức kỹ nghệ giải trí. Di dân gốc Việt ở Mỹ chỉ có 1.5 triệu, riêng trong địa hạt trình diễn, di dân Mỹ gốc Việt hơn hẳn ba nhóm di dân đông hơn: Mỹ gốc Trung Hoa, trên 3.4 triệu (2005), Mỹ gốc Phi, trên 2 triệu, Mỹ gốc Đại Hàn, tương đương với Việt Nam, trên 1.2 triệu (2000). Ngay cả người Mễ, 14.4% (2005) trên dân số Mỹ 300 triệu người. Không một sắc dân nào kể trên có được những chương trình tương đương với Asia, Paris by Night, Vân Sơn v.v. . . Một sắc dân đông hơn ta gần gấp 3 là Trung Hoa cũng không có được một Paris by Night. Tại sao? Hãy để những nhà tâm lý và xã hội tìm câu trả lời.
Trong bài này chúng tôi chỉ giả thiết rằng người Việt chúng ta yêu nghệ thuật trinh diễn (perfroming arts), đặc biệt là yêu âm nhạc. Ngoài ra khi nói đến những công trình nhạc giao hưởng, nhạc quý phái của giai cấp trung lưu và cao ở xã hội Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật, ngay cả Trung Hoa, người ta đã cố ý hay vô tình quên đến một cây cổ thụ: Lê Văn Khoa.

Nói đến âm nhạc, tương tự như nói đến một tòa lâu đài nguy nga đầy phòng ốc, đại sảnh. Mỗi phòng ốc, loại nhạc, đều có nét đặc thù, những cái hay riêng. Dĩ nhiên trong giới thưởng ngoạn, không ai đồng ý với ai khi bàn về loại nhạc nào hay, loại nhạc nào dở.
Giới xồn xồn thì sợ nhạc metalic vì không chiu thấu decibel cao. Các con cháu chúng tôi mà nghe chúng tôi mở Beethoven, Mozart hay Chopin là chạy dài. Vài bạn cao niên chỉ thích nhạc tiền chiến hay trước. Các ban trẻ cỡ tuổi 30 thì chỉ mê Như Quỳnh, Dalina v.v. . .
Trở lại đề tài các loại nhạc, chúng tôi nghĩ Lê Văn Khoa sở trường về sáng tác trong hai lãnh vực: 1- Ảnh hưởng nhạc Cổ điển, và 2 - Nhạc dân tộc, trình diễn bằng nhạc khí Tây Phương và cả nhạc khí dân tộc.
Chúng tôi đi tham dự hầu hết những chương trình nhạc do Lê Văn Khoa viết hòa âm hoặc đứng ra tự tổ chức. Chúng tôi đi dự những chương trình đặc biệt, công phu, khi thì ông đứng ở bục nhạc trưởng, khi thì ông ngồi hàng đầu thưởng thức những hòa âm của chính ông. . . phần lớn là những chương trình có giá trị.
Lê Văn Khoa vừa viết hòa âm cho những nhạc phẩm của các nhạc sĩ đương thời: Văn Phụng, Phạm Duy, Cung Tiến, Vũ Thành, Phạm Đình Chương, Lê Thương  v. . . v. . . giúp các nhạc phẩm này được thăng hoa bằng thềm đại hòa tấu đến 50 nhạc sĩ. Dù có khó tánh cách mấy cũng phải nhìn nhận rằng khi cần viết hòa âm cỡ 50-100 nhạc sĩ, mọi người đều phải mời Lê Văn Khoa, bởi vì chỉ có ông thường đảm nhận việc này mà không bị thất thố như nhiều vị khác. Cung Tiến, Phạm Văn Kỳ Thanh, Vũ Thành đều nhiều lần khen ngợi Lê Văn Khoa sau khi nghe những hòa âm của ông. Lê Văn Khoa sở trường về melody, harmony và viết cho dàn dây, woodwind thần tình. Có thể nói bản nào ông viết hòa âm nghe cũng êm tai mà không bao giờ thềm giao hưởng lấn át giai điệu chánh. Nếu tinh ý so sánh những ca khúc Lê Văn Khoa đã hòa âm như Dạ Lai Hương, Qua Suối Mây Hồng, Việt Nam Việt Nam, Những Dòng Sông Chia Rẽ, Mẹ Trùng Dương v. v. . . (Phạm Duy), Thu Vàng, Hương Xưa, Hoài Cảm, Nguyệt Cầm v. v. . . (Cung Tiến), Thụy Khúc, Nhớ Bạn, Nhặt Cánh Sao Rơi v. v. . . (Vũ Thành), Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Ly Rượu Mừng, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Sáng Rừng v. v. . . (Phạm Đình Chương), Hòn Vọng Phu 1, 2, 3 của Lê Thương và nhiều nhạc sĩ khác, so sánh với các hòa âm khác cho cùng những ca khúc này, người ta thấy ngay sự khác biệt. Hòa âm của ông càng nghe càng hay.
Đến những tác phẩm do chính Lê Văn Khoa viết hòa âm cho mình như Gọi Nhớ, Nhạc Chiều Năm Đó, Bình Minh Quê Hương, The Last Time v.v. . . thì nhạc tài ông thể hiện muôn vẻ về cách ông viết cho piccolo, trống nghe như biển động, sét gầm (Bình Minh Quê Hương, Symphony VietNam 1975, Mơ Về Quê Tôi, Trên Đất Giồng v. v. . . . ). Đối với những tác phẩm êm ái, du dương: Gọï Nhớ, Nhạc Chiều Năm Đó, Romance, The Last Time, Remembrance, Memory v. v. . . thì ông lột hết sở trường viết cho dàn dây, sáo, hắc tiêu và harp.
Ông tự nhận là theo khuynh hướng tân lãng-mạn, nhưng nghe kỹ những biến khúc của ông thì ông thường phá cách liên tục, từ việc sắp xếp chỗ ngồi cho violin, cello và bass cho đến woodwind và timpani. Chỉ cần thay đổi vị trí 1st violin từ trái sang phải cũng thay đổi tiết tấu của nhạc phẩm với mục đích tạo những cảm giác khác đi, hoặc nâng một nhạc khí khác lên để thay đổi cảm xúc. Ông luôn luôn sáng tạo từ nhạc cụ đến cách hòa âm, phối khí như những sáng tác lạ của ông trong nhiếp ảnh.
Nhạc cổ điển Tây Phương như các phê bình gia thường viết, là một loại melody không có rhythm (tiết nhịp) mạnh. Nhạc Nam Mỹ, nhạc Rock, cả Jazz thì kích động nhờ rhythm. Đó là điều dị biệt chính của hai loại nhạc. Lê Văn Khoa nghiêng nhiều về cổ điển. Đó là một lý do khiến nhạc Lê Văn Khoa kén người nghe. Ông nói ông muốn trình làng những sản phẩm mới để tiếp phần phong phú hóa nhạc Việt và Lê Văn Khoa đã sáng tác theo chiều hướng đó trong hàng trăm tác phẩm của ông. Chúng tôi chọn riêng một CD mới nhất của ông là MEMORIES để phân tách ở phần cuối.

Lê Văn Khoa sáng tác rất nhiều ca khúc cho trẻ em. Kho tàng nhạc trẻ em của ông có giá trị cao và hình như trong miền Nam từ 1954-1975, sang Mỹ từ 1975 đến 2007 chưa có công trình nào đồ sộ về nhạc nhi đồng như ông đã làm. Thật là một nỗ lực đáng khen.
Ông xuất bản tập nhạc Hát Cho Ngày Mai gồm 24 ca khúc ngắn. Trong những tập nhạc khác ông viết cả phần piano, như: Nhạc Việt Mến Yêu, Dân Ca Việt Nam, Gọi Nhớ, The Beautiful Bamboo và nhiều sáng tác lớn về Thánh Ca Cơ Đốc và tập Thánh Ca Nhi Đồng.
Ông Lê Văn Khoa viết nhiều nhất 2 loại nhạc, theo chúng tôi, thể hiện vẹn toàn nhạc tài của ông. Loại nhạc thứ nhất phóng tác từ dân ca và sáng tác theo âm hưởng dân nhạc. Chính những sáng tác về loại này đã đưa những tác phẩm của ông vào trào lưu nhạc quốc tế, được dùng để giảng dạy tại Ukraine, và một phân khoa âm nhạc tại Goldenwest College, Orange County, California. Trường này đã ấn hành lần đầu tập nhạc The Beautiful Bamboo và dùng để dạy trong lớp thanh nhạc.  Tập nhạc này gồm một số bài dân ca và nhạc nghệ thuật của nhạc sĩ Vũ Thành và ông sáng tác. Nhạc có lời ca và phần đệm piano.
Loại thứ hai, theo lối nhạc cổ điển Tây phương. Những tác phẩm này đã đưa nhạc của ông vào những nhạc viện quốc tế và ông đã được những ban nhạc quốc tế như Kyiv Symphony Orchestra ở Ukraine, The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra ở Úc và nhiều dàn nhạc giao hưởng ở Hoa Kỳ trình diễn. Những danh tài vĩ cầm, trung hồ cầm và dương cầm quốc tế trình tấu những tác phẩm của ông viết cho những nhạc cụ này.
Trong một cuộc mạn đàm cách đây vài chục năm, ông đã nói: "Mình viết ra những âm thanh Việt Nam mà họ thích chơi là một hãnh diện chung cho người Việt."

                               


Một trong những sáng tác mới nhất của Lê Văn Khoa là CD có tên Memories, thực hiện bởi nhiều danh cầm quốc tế ở Ukraine. CD này có 10 tác phẩm, trong đó có 4 tác phẩm lấy từ dân nhạc hoặc mang âm hưởng nhạc dân gian. Sáu tác phẩm cho độc tấu hoặc song tấu theo khuynh hướng cổ điển. Chúng tôi xin tóm gọn sau đây:
1 - Remembrance (Hồi Nhớ), piano và dàn nhạc. Danh cầm Lyudmila Chychuk độc tấu piano. Cô nguyên là một thần đồng piano, từng chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc. Cô hiện dạy nhạc thính phòng cho trường dành riêng cho thần đồng âm nhạc là Lysenko Special Music Boarding School tại Kyiv, Ukraine. Remembrance dài 5:06, cung La thứ, tình tứ, nhẹ nhàng buồn man mác tương tự như nhạc phẩm June trong bộ Seasons của Tchaikowsky.
2 - Nocturne cho violon và piano, cung Rê thứ, dài 5:01. Svyatoslava Semchuck, violin và Irina Starodub, piano. Cả hai đều là giáo sư của The National Tchaikowsky Conservatory of Music, Kyiv, Ukraine. Cô Svyatoslava chiếm giải quán quân toàn Liên bang Sô Viết năm 16 tuổi, chiếm giải cuộc thi quốc tế tại Đức năm 18 tuổi, đã từng được mời dạy violin ở Đại Hàn, Nhật Bản và Nga. Cô Irina Starodub chiếm giải Golden Autumn và giải thưởng trình diễn Quốc gia, Ukraine. Cô chiếm giải đặc biệt và bằng Danh Dự cuộc thi Horowitz năm 1995. Qua năm sau (1996) cố chiếm Grand Prix trong cuộc thi nhạc thính phòng quốc tế Pier Lantier tại Paris (Pháp). Chúng tôi thắc mắc sao Lê Văn Khoa không để bản này vào mục thứ nhất. Đúng ra đây là một bản song tấu loại cao cấp về cả kỹ thuật lẫn tình tứ. Nghe xong bài này chúng tôi có cảm giác vừa nghe một Thais Meditation của Jules Massenet, một nhạc sĩ Pháp cuối thế kỷ 19.
3 - The Beautiful Bamboo (Cây Trúc Xinh), piano solo do cô Irina Starodub trình tấu. Xin xem phần giới thiệu cô ở mục 2.  Đây là một phóng tác từ bài dân ca Cây Trúc Xinh, dùng thang âm ngũ cung, phảng phất nét nhạc Debussy. Sở dĩ chúng tôi nêu Debussy vì nhạc sĩ Pháp này đã dùng ngũ cung để viết tác phẩm Pagoda. Lê Văn Khoa chỉ viết một bài ngắn nhưng nét nhạc rất ấn tượng impressionist, nghe như gió thoảng mây trôi trên sông Cửu Long, như điệu võng ru em miền lục tỉnh và dĩ nhiên là đậm nét Đông Phương hơn Debussy.
4 - Longing (Ước Vọng) song tấu cello-piano, dài 6:01. Lê Văn Khoa sáng tác cho hai nhạc cụ đuổi bắt nhau cực kỳ đặc biệt. Có lẽ ông muốn diễn tả những ao ước, luôn luôn đuổi bắt nhưng không thể thành sự thật. Cả hai nhạc cụ bay lượn tuyệt vời. Hai danh tài trình tấu tác phẩm này là Ganna Nuzha, cello và Inna Dovbnja. Ganna Nuzha là giáo sư đàn dây của Nhạc viện Quốc gia Tchaikowsky đã từng chiếm giải cuộc thi quốc tế song tấu đàn dây tại Fivizzano, Ý năm 2002. Giải Nhất và huy chương Vàng cuộc thi quốc tế Vladimir và Regina Gorovitz, Ukraine (1994), Giải Nhất cuộc thi cello quốc tế Lysenko, tại Kharkov, Ukraine (1992). Giải nhất cuộc thi tứ tấu toàn Liên Sô, Moscow (1989). Nhạc sĩ dương cầm là Inna Dovbnja, người đệm đàn cho phân khoa đàn dây của nhạc viện quốc gia Tchaikowsky. Cô chiếm giải Danh dự cuộc thi quốc tế Lysenko năm 1992. Cô thủ vai độc tấu cho The House of Organ và Chamber Music từ năm 2000. Cô trình diễn khắp Ukraine và lưu diễn ở Nga, Kazankhstan, Croatia, Đan Mạch và Thụy Điển. Cô thường trình diễn với giàn nhạc National Philharmonic Orchestra của Ukraine. Cô đã thu thanh nhiều tấu khúc cho đài phát thanh quốc gia Ukraine.
5 - On the Way Home (Trên Đường Về). Một bài nhạc hành khúc, thể loại tương tự như Rondo alla Turca của Mozart, cung Mi thứ. Hai nghệ sĩ Lyudmila và Irina song tấu piano nghe như cả chục đàn dây hòa tấu. Xin xem thành tích của hai nhạc sĩ này ở bên trên. Ôâng Lê Văn Khoa dùng kỹ thuật cổ điển của Mozart, Beethoven để viết nhạc phẩm này, diễn tả một sự nôn nao, háo hức. Thật là một tác phẩm tuyệt vời.
6 - Romance cho piano và dàn nhạc giao hưởng. Bài này tương phản với bài cùng tên (mục số 8) ông viết cho violin và orchestra. Bài cho piano có những đột biến trào dâng lẫn nghẹn ngào, cay đắng, trong khi bài cho violin thì tha thiết, ấm áp, vỗ về, đầy âu yếm.
7 - Song of the Black Horse (Lý Ngựa Ô), cung Rê thứ nói theo nhạc ngữ Tây phương. Nhưng bài dân ca này biến hóa theo công thức chuyển hệ (metabol) chứ không chuyển cung (transposition) như Tây Phương. Bài nhạc không kết thúc trong bực âm chủ là Rê mà xuống Đô, một cách kết thúc lạ, có thể tìm thấy trong một ít bài dân ca trên thế giới. Bài theo thể ngũ cung rất ư là miền Tây Nam bộ. Song of the Black Horse do hai cầm thủ chơi On the Way Home đảm trách. Thoạt đầu người nghe tưởng như hai người chơi lạc hòa âm, nhưng sau vài trường canh mới thấy lạ, rồi mới thấy hay. Hay vì lạ và rất ư là dân gian Việt Nam. Nhạc vui lâng lâng, rộn ràng, tình tứ.

8 - Romance (Tình Khúc Không Lời), cung Fa, violon và orchestra, dài 5:16 do danh cầm Svyatoslava Semchuk độc tấu. Cô cũng là người độc tấu bài Nocturne, mục số 2. Nhạc phẩm này nghe như một tác phẩm nhạc lãng mạn của thế kỹ 19.
9 - In the Moonlight (Dưới Ánh Trăng) Clair de Lune - liên tưởng tới nhạc phẩm quen thuộc của Debussy. Điệu ru con lullaby. Nhạc ầu ơ ngũ cung nhưng Lê Văn Khoa soạn thần tình, nghe rất êm ả như sông nước Tây Đô (quê của ông). Đây là một đặc sắc ngoại lệ. Ông viết cho flute với sự phụ họa của giàn nhạc nhiều đàn dây và cả piano. Nhạc phẩm dài nhất: 6:54.

10 - Memory (Ký Ức) cung La trưởng, dài 5:33, viết cho độc tấu cello và dàn nhạc. Bài này do danh cầm Yury Pogoretsky, một cầm thủ chiếm nhiều giải thưởng ở Moscow (1995, 1996) và Kyiv (2002). Một diễn tả thần kỳ.  Chúng tôi nhận thấy để diễn tả nhạc dân tộc, Lê Văn Khoa đã lấy một ít nốt nhạc dân gian miền Nam và khai triển thành một nhạc phẩm theo lối cổ điển Tây phương thật đầy đủ. Ví dụ kỷ niệm 30 ly hương, ông lấy bài ca bình dân mà học sinh tiểu học miền Nam nào cũng biết U tần u sáng u, Sáng lên đầu ba bữa còn u. Con nít miền Nam 1950-1960 hay chơi con khắng. Trò chơi này hơi nguy hiểm vì con khắng là khúc cây một dài một ngắn. Thế vít và thế táng có thể khiến con táng ngắn bay trúng đầu đối thủ và u một cục. Đó là một tai nạn của tuổi trẻ. Hoặc là mê chơi về nhà bị cha, mẹ hoặc anh cú lên đầu cũng vậy. Trong bài Đêm Việt Nam, Lê Văn Khoa đã đem đầy đủ âm thanh miền Nam vào nhạc cổ điển Tây Phương.

Với tài phổ nhạc dân gian miền Nam bằng nhạc ngữ classic, Lê Văn Khoa đã chứng tỏ tài năng đặc biệt khi ông viết cho nhiều loại nhạc khí, thứ nhứt là piano, sở trường của ông. Viết cho violon réo rắt tuyệt vời. Viết cho cello thật tình tứ  não nuột. Và viết cả cho flute, clarinette, nhạc khí nào ông cũng viết một cách xuất thần. Thiết tưởng chữ thiên tài, tuy hơi sớm để dùng cho ông, bởi lẽ đa số thiên tài phải chờ lịch sử phê phán sau khi người nghệ sĩ đã nằm xuống. Nhưng biệt tài thì quả là một danh từ còn quá chật hẹp và chưa được chỉnh để gán cho Lê Văn Khoa.

Tác giả Đêm Việt Nam quả là một hòn ngọc quý giá của âm nhạc Việt Nam. Chúng tôi mừng ông đã bước vào hàng ngũ quốc tế và cám ơn ông đã cống hiến cho chúng tôi nhiều phút giây tuyệt vời.

           Memories của Lê Văn Khoa - Quỳnh Giao (Ca sĩ, Nhạc sĩ dương cầm)

Khi Việt Nam gặp Ukraine thì chúng ta có gì?
Một món quà Giáng Sinh ý nghĩa nhất từ nhiều thập niên. Món quà ấy là đĩa nhạc Memories nhạc sĩ Lê Văn Khoa sẽ cho ra mắt.

Với những ai thật sự yêu âm nhạc, Lê Văn Khoa không là người xa lạ. Với người khó tính và còn ước mơ một tương lai tươi sáng hơn cho nền nhạc Việt, những nỗ lực của Lê Văn Khoa từ nhiều năm qua là một niềm hy vọng. Ông cố bơi ngược dòng để đưa nhạc Việt ra khỏi lối mòn và có thể hoà chung vào dòng nhạc thế giới.

Từ một phương trời rất xa và lạ, một số nhạc sĩ Ukraine được nghe nhạc Lê Văn Khoa. Họ bèn tìm đến nhau, kết quả là một đĩa nhạc độc đáo được thực hiện tại thủ đô Kyiv (Kiev) của xứ Ukraine với dàn nhạc đại hoà tấu Kyiv Symphony Orchestra, dưới dự điều khiển của nữ nhạc trưởng Alla Kulbaba. Một dàn nhạc Ukraine cùng những tay độc tấu vĩ cầm, dương cầm, trung hồ cầm và sáo, có thực tài để trình bày các nhạc khúc của một nghệ sĩ Việt Nam.

Sự kiện ấy cũng đã là hiếm hoi độc đáo.

Chúng ta từng nghe vài nhạc sĩ Nga trình tấu giai điệu của các ca khúc phổ thông của Việt Nam và nếu yêu nhạc thì đâm ra nghi ngờ giá trị nghệ thuật của lối hội ngộ độc đáo ấy. Trường hợp của đĩa nhạc Memories và Lê Văn Khoa thì khác. Ông có mặt tại Kyiv và hợp tác trong từng bước thực hiện với những nhạc sĩ có chân tài của Ukraine nên sự cảm thông tất nhiên đã có giữa người soạn nhạc và các nghệ sĩ trình tấu.

Chẳng những có sự cảm thông giữa các nghệ sĩ mà còn có sự thông cảm của những người cùng chia sẻ hoàn cảnh là có lòng yêu nhạc vô biên nhưng bị trói buộc bởi hoàn cảnh. Họ muốn thực hiện một tác phẩm chung vì nghệ thuật hơn là vì nhu cầu thương mại.

Kết quả là một bài ngợi ca âm nhạc thật đẹp, trải trên 10 nhạc khúc mà bài nào cũng làm người nghe bồi hồi xúc động.

Với loại nhạc "không lời", giá trị tác phẩm nằm trong khả năng gợi ý hơn là phải được nâng đỡ hay diễn giải bằng lời ca, lời từ. Những ai chưa mấy quen thuộc với loại nhạc cổ điển không lời thì sẽ thích thú nhận ra giai điệu quen thuộc ở bài ngắn nhất, bài số 7, có tên là Song of the Black Horse.

Kỳ thú là tiếng dương cầm khúc khích và khốc khách như tiếng nhạc ngựa tung tăng. Lý Ngựa Ô của Lê Văn Khoa còn tối tân hơn vậy. Đây là nhạc khúc ông soạn lại cho hai dương cầm thủ. Bốn tay đan lượn trên phím đàn đã mở ra không gian mới cho một giai điệu dân ca quen thuộc của miền Nam.

Hai diệu thủ dương cầm Irina Starodub và Lyudmila Chichuck là những người tuyệt vời. Nghe kỹ thì hiểu vì sao họ đã đoạt những giải thưởng cao quý nhất về nhạc của Ukraine. Hai cô là bậc thầy về nghệ thuật trình tấu. Trong tiếng cóc cách của vó ngựa, họ không lạm dụng pedale, không đạp để gây... "ấn tượng" "hoành tráng" - những từ đang bị lạm dung đến thành vô nghĩa.

Họ chỉ nhấp rất nhẹ và diễn tả đúng ý soạn giả khó tính là Lê Văn Khoa.

Sau khi "làm quen" với loại nhạc không cần lời mà vẫn có hình ảnh đầy âm sắc, mình nên nghe một giai điệu dân ca miền Bắc qua bài Beautiful Bamboo, bài số ba theo thứ tự. Cây Trúc Xinh trong nét ngũ cung được độc tấu dương cầm. Hoàn toàn Việt Nam mà mới lạ chừng nào. Đây là phút "ừ nhỉ" của chúng ta. Ừ nhỉ, nhạc Việt Nam mình hay vậy mà xưa nay chỉ chú ý tới lời mà không cần nhớ đến cung bậc.

Qua tác phẩm số chín, bài In the Moonlight, mình mới phát giác thêm những nét đẹp ẩn giấu như ngọc của nhạc Việt. Ngũ cung của dân ca Việt Nam, theo điệu "oán" của miền Nam, trong tiếng sáo vi vu của đồng quê nước ta lại cất lên như vậy. Đêm trăng của quê nhà có những nét đẹp kỳ lạ và khác hẳn những gì mình đã từng nghe hay còn nhớ...

Mười hai năm trước, kỷ niệm hai chục năm sau biến cố bi thương của Việt Nam, Lê Văn Khoa đã làm điều kỳ lạ là dùng nhạc diễn tả mấy chục năm chinh chiến của quê hương. Đó là Tổ khúc "1975", được trình bày lần đầu năm 1995 tại miền Nam California. Từ đó, Lê Văn Khoa vẫn lặng lẽ đi tiếp.

Đĩa nhạc Memories là công trình của chuyến độc hành ấy.

Sau khi đã nghe lại giai điệu dân ca của Việt Nam để làm quen với một lối trình bày khác, mình hãy cùng bước vào thế giới âm nhạc của Lê Văn Khoa, qua những sáng tác của ông trong tác phẩm Memories này.

Bài đầu tiên là Remembrance với cả dàn nhạc và dương cầm Lyudmila Chichuck.

Mở đầu là nét Á Đông trên cung thứ buồn bã, tha thiết theo nhịp 3/4, rồi chuyển lên cung trưởng, trong sáng linh động, trước khi trở lại nỗi day dứt ban đầu. Âm nhạc là ngôn ngữ trừu tượng, nhạc khúc Remembrance dùng âm thanh vẽ ra cây cầu vồng từ chân mây u uẩn vươn tới trời cao với muôn màu hội ngộ và chìm dần như tiếng tơ trong nhớ thương luyến tiếc.

Bài thứ hai, Nocturne, có giai điệu Tây phương hơn và đòi hỏi kỹ thuật trình bày còn ráo riết hơn. Lê Văn Khoa diễn tả đêm đen đặc quánh bằng phím nhạc dương cầm và chuyển lên cung trưởng đầy kỹ thuật trong tiếng đuổi bắt âm thanh. Trong đêm đen, mọi thứ tưởng như lắng đọng, chỉ có tâm tư của người nghệ sĩ còn day dứt và sôi nổi với trăm ngàn hình ảnh. Bài Dạ Khúc của Lê Văn Khoa là tiếng nhạc của một đêm không ngủ. Đêm không đen, chúng ta không cô đơn vì tâm trí vẫn dồn dập trăm ý.

Bài thứ tư, Longing, là nhạc khúc lãng mạn diễn tả bằng trung hồ cầm và dương cầm với tiếng đàn dây gởi lên nỗi bâng khuâng lưu luyến nối tiếp trên cung trưởng của tiếng dương cầm reo vui. Rồi tan loãng dần trong giai điệu ban đầu, như một niềm hy vọng.

Bài On the Way Home, nhạc khúc thứ năm, chắc sẽ chinh phục thính giả Tây phương.

Đây là tác phẩm nhiều hình ảnh và màu sắc được viết như một bản "song ca" của hai tay dương cầm. Một đối thoại bằng nhạc của hai người. Họ đối thoại về cuộc đời, việc đồng áng, về những gian nan của nhân thế. Tiếng nhạc mở đầu chập chờn rồi dồn dập như đời sống, nhưng trong sự lầm than u uẩn đã có nguồn hy vọng. Nên nghe lại bài này nhiều lần, rồi mình sẽ cảm tạ sự sáng tạo của Lê Văn Khoa.

Khuôn khổ "Tạp ghi" này không cho phép người viết giới thiệu lại từng bài của đĩa nhạc. Vả lại, khi âm nhạc là thông điệp trừu tượng thì mỗi người nghe lại cảm thấy một khác tùy tâm cảnh của mình. Nhưng người yêu nhạc thì có thể yên tâm rằng đĩa Memories của Lê Văn Khoa là tác phẩm có giá trị, do những người có thực tài thực hiện cho chúng ta.

Người viết thì yêu thích nhất các bài Remembrance, On the Way Home, Romance và In the Moonlight, và muốn bày tỏ sự khâm phục trân quý dành cho tác giả.

Trong một thế giới ồn ào, với nhiều người đang cố hét rất nhiều và gào rất lớn để hát lên lắm ca khúc vô nghĩa nếu không có ánh sáng sân khấu thì loại nhạc của Lê Văn Khoa có sự cô đơn đáng kính của người nghệ sĩ không tìm đám đông. Ông đi tìm nghệ thuật và đã thấy. Rồi gặp nhiều nhạc sĩ có tài của một xứ Ukraine mờ mịt bên kia đại dương để thực hiện cho chúng ta một đĩa nhạc hay.

Chúng ta nên trân quý những người như vậy, và nên giới thiệu cho bằng hữu thẩm âm một tác phẩm khiến mình bớt tuyệt vọng về trình độ nghệ thuật nước nhà.

Qua Lê Văn Khoa, cũng xin được gửi đến các nhạc sĩ cùng dàn nhạc đại hoà tấu của Ukraine một lời tri ân.
 

                                               

       Hoàng Trọng Thụy đài VNCR (VietNam California Radio) phỏng vấn Nhà Soạn Nhạc Lê Văn Khoa về CD Memories

                                      Xem phỏng vấn (video)           Nghe phỏng vấn (mp3)

        

              Xin mời quý vị thưởng thức một chút qua 10 bài trong CD MEMORIES của Lê Văn Khoa 

                            Mời quý vị để hồn lắng đọng qua nhạc bản tuyệt vời: NOCTURNE

        

                                            

"... Hồi còn trẻ tôi đã tâm niệm sẽ tiếp tay với những người đi trước để phong phú hóa Nhạc Việt. Phong phú hóa bằng cách nào? Không phải bằng những ca khúc phổ thông nữa nhưng mà đưa nó đi xa hơn để có thể hòa vào với dòng nhạc của thế giới ..."

   Lê Văn Khoa tâm sự với thính giả  trong ngày ra mắt CD Memories, Little Saigon Radio, 2 tháng 12, 2007

          Tại sao tôi cho ra đời CD Memories ? - Lê Văn Khoa

Mục đích: Phong phú hóa nhạc Việt

Từ ngày còn trẻ tôi tâm niệm sẽ tiếp tay người đi trước để phong phú hóa nhạc Việt bằng thể nhạc khác hơn ca khúc phổ thông. Đó là nhạc đại hợp ca và hòa tấu. Vì loại nhạc này không phải là nhạc phổ thông nên ít được đại chúng chú ý và ủng hộ, do đó việc viết nhạc rất cam khổ và làm việc trong cô đơn.

Nói đến thể nhạc lớn ta thử nhìn qua các quốc gia láng giềng như Trung Hoa chẳng hạn, đã có dàn nhạc giao hưởng cách nay 100 năm - trước Đệ Nhất Thế Chiến. Nhạc sử thế giới có ghi tên nhà viết nhạc Trung Hoa, ghi sự đóng góp bằng nét nhạc độc đáo của họ. Nhiều phim điện ảnh ngày nay do nhạc sĩ Trung Hoa viết nhạc.

Nhật Bản có nhiều người viết nhạc giao hưởng được các dàn nhạc danh tiếng thế giới trình diễn và thu thanh.

Việt Nam thì sao?

Đến nay mới có vài tên tuổi xuất hiện và có lẽ phải còn rất lâu mới được thế giới công nhận. Những người nàỵ lấy gì để sống, để tiếp tục sáng tác? Không được nhà nước đãi ngộ như Phần Lan, Na Uy và không được đại chúng hỗ trợ, một số phải quay qua viết ca khúc phổ thông để nổi tiếng và có tiền sau đó. Những người không muốn viết ca khúc phổ thông đành im lặng và chìm vào quên lãng.

Cá nhân tôi cố gắng trong âm thầm đeo đuổi ý tưởng của mình từ hơn 50 năm qua.

Tại sao tôi viết nhạc như tôi viết?

1. Nói lên tiếng lòng bằng âm thanh.

Chopin đã từng nói với cha mình: “Thưa cha, nếu cha cho phép con nói với cha bằng âm nhạc, con sẽ nõi rõ tình yêu của con với cha hơn là ngôn từ.”

Nhiều khi âm nhạc nói lên được những tha thiết, những rung động sâu xa mà lời nói khó diễn tả được. Từ thế kỷ thứ 19, người viết nhạc đi sâu vào tâm thức và diễn tả sự vô hình, kỳ bí bằng âm nhạc.

Cũng từ thời điểm đó người viết nhạc muốn người nghe nhận ra nguồn gốc của tiếng nhạc mà họ đón nhận, nên họ cho âm thanh hoặc truyện tích của dân tộc họ vào bài nhạcỉ, do đó tinh thần quốc gia trong âm nhạc bùng nổ khắp nơi. Trường phái Nationalist thành hình. Chopin, Liszt, Brahm, Moussorky, Tchaikhowsky, Sibelius, Grieg, Batók v.v… đưa nét nhạc dân tộc trải rộng khắp nơi. Điều quan trọng là mình nói mà người khác hiểu được, thông cảm được. Họ nói bằng tiếng nhạc không lời. Tôi viết nhạc không lời chẳng qua là theo gót người đi trước từ nhiều thế kỷ. Trong môi trường Việt Nam thì điều này hãy còn xa lạ nên việc phổ biến rất khó khăn.

Nhiều người hỏi tôi: “Biết viết nhạc loại đó không sống được, tại sao ông cứ tiếp tục làm?”

Dường như Thượng Đế cho mỗi người sống trên đời để thực hiện một sứ mạng. Nhưng mình có hiểu sứ mạng đó hay không, và có làm đúng hay không. Tôi không biết. Tôi chỉ biết tôi viết loại nhạc này để:

2. Đưa tinh thần dân tộc qua nhạc Việt vào dòng nhạc thế giới bằng nhạc ngữ Tây phương.

Người trên thế giới cần hiểu nhau và phương tiện giúp người thông cảm nhau là ngôn ngữ. Âm nhạc là một thế giới ngữ. Để hiểu nhau người ta phải dùng ngôn ngữ chung. Do đó tôi dùng ngôn ngữ của loại nhạc không lời để giao lưu với giới nhạc không lời mà không bị ngôn ngữ loài người làm biên cương khóa kín. Để minh chứng điều này tôi xin trích một phần cuộc đối thoại của Tiến sĩ Dmytro Stepovyk và nhạc trưởng Alla Kulbaba. Dmytro là tiến sĩ Triết, tiến sĩ Thần học và tiến sĩ Nghệ thuật. Nhạc trưởng Alla Kulbaba là một nhạc trưởng chiếm giải thi nhạc trưởng quốc tế, hiện giũ chức vụ nhạc trưởng chính thức của National Opera of Ukraine, nhạc trưởng của Kyiv Symphony Orchestra, đã từng lưu diễn khắp thế giới, đã lưu diễn ở Hoa Kỳ 7 lần. Cuộc đối thoại có đoạn như sau:

Dmytro: Bà có nghĩ những quốc gia xa xôi, cụ thể là các quốc gia Á Rạp với nét nhạc riêng biệt của họ, Trung Hoa với những tuồng hát, và các nguồn văn hóa khác như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Nhật Bản vân vân, có viễn ảnh nào cho thấy thế giới sẽ kết hợp trong khi các nền văn minh đang tiếp xúc nhau như hiện nay? Có thời điểm nào đó trong âm nhạc, người ta có thể tạo ra sự cộng sinh để thính giả Âu và Á có thể hiểu được cùng lúc chăng? Hay (nhạc) đó chỉ là sự chắp nối vá víu mà không đưa ra một sự xây dựng tích cực nào...?

Alla: Thưa ông, tôi nghĩ đây là thời điểm rõ rệt nhất khi các nền văn hóa truyền đạt với nhau và nó sẽ ghi đậm nhận thức của ta về các quốc gia mà ông vừa đề cập đến - những quốc gia Á Châu. Chúng ta có thể học được văn hóa của họ qua phương pháp tạo âm nhạc của Âu Châu. Tuy nhiên nếu chỉ có giai điệu quốc gia thôi sẽ không dễ hiểu cho người thuộc các quốc gia Âu Châu, nhưng nếu đó là một sự kết hợp thể loại, nhạc đề, hòa âm, dân nhạc và dân ca, sẽ làm cho chúng ta gần nhau hơn. Tôi tin rằng sự nhận thức và văn hóa sẽ kết hợp nhau sau đó.”

Nhạc trưởng Andrew Wailes của The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra ở Úc cũng có nhận xét tương tự, sẽ được đề cập đến ở phần sau.

3. Với người đồng hương, tôi muốn chừng minh dân nhạc Việt có thể hòa vào giới nhạc bác học Tây phương và người Tây phương tiếp nhận dễ dàng nếu ta làm đúng.

Tôi xin trích thêm lời của nhạc trưởng Alla Kulbaba vì bà - cho đến nay - là người chơi nhạc của tôi nhiều hơn bất cứ nhạc trưởng nào. Bà phát biểu trước mặt mọi người trong bữa tiệc chia tay sau loạt thu thanh với Kyiv Symphony Orchestra and Chorus: “Nhạc của ông Lê Văn Khoa là mật ngọt rót vào tâm hồn nhạc sĩ Ukraine.” Rõ ràng giới nhạc giao hưởng từ nôi âm nhạc cổ điển Tây Phương hiểu được nhạc Việt dễ dàng. Chẳng những hiểu mà họ rất thích thú với nét nhạc xa lạ từ một phương trời khác biệt.

O.C. Register số ra ngày 5 tháng Sáu năm 1995, trọg mục News and Reviews chạy hàng chữ tựa lớn và dài “East, West Techniques Blend Skilfully in “75”. Ca ngợi Symphony “Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa, trong đó có đê cập đến việỉc dùng dân nhạỉc Việt Nam như sau:”Dù tác phẩm của Lê Văn Khoa không được trình diễn toàn vẹn, ba trích đoạn đã cho thấy tầm mức rộng lớn và xúc cảm sâu đậm của ông. Ông hòa hợp dân ca Việt Nam với kỹ thuật giao hưởng Tây phương thật điệu nghệ để vẽ lên sự thanh tịnh bị phá vỡ. Chất liệu căn bản là nhạc ngũ cung, giai điệu rộng, những câu nhạc viết cho violin uốn lượn sắc xảo, tiết nhịp sôi động. . . .Giàn nhạc dưới quyền điều khiển của nhạc trưởng Edward Cumming đã trình diễn thật nồng ấm và dầy xúc cảm”

Nhạc trưởng Andrew Wailes của The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra ở Úc có lời nhận xét trong chương trình phát thanh bằng tiếng Anh của đài phát thanh quốc gia Hoàng gia Úc sau buổi trình diễn tác phẩm Symphony “Việt Nam 1975” của tôi, một tác phẩm trích dùng nhiều dân ca và viết theo âm hưởng dân nhạc Việt, như sau: “Đây là một tác phẩm rất hay. Như những tác phẩm giao hưởng lớn, nó kể một câu chuyện thật đẹp. Đây là nhạc về con người thật, về một quốc gia thật và thời điểm thật. Bắt đầu từ những bài dân nhạc diễn tả một quốc gia thanh bình, hào hùng, rồi bị cộng sản xâm chiếm. Nhạc chuyển lần sang âm thanh rất mới diễn tả sự bất an, đầy bối rối. Người ta chia tay nhau ra đi đến đất nước mới để tìm tự do. Trong hành âm cuối “Ca Ngợi Tự Do”, nhạc dàn ra một bài ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ. Thật vĩ đại…

Nhạc rất hay, rất sắc xảo, tinh vi, có những đoạn thật mong manh, chúng tôi phải hết sức cẩn thận để không đàn quá mức vì sợ phá vỡ không khí êm ả của nhạc.

Âm nhạc là một ngôn ngữ quốc tế. Là một nhạc sĩ tôi đã đi qua Đức, Âu châu, Á châu và tôi chỉ dùng ngôn ngữ của âm nhạc, cho nên tôi nghĩ rất cần thiết để đưa Đông qua Tây và Tây qua Đông bằng âm nhạc, để chia sẻ tâm tình giữa các giống người trên địa cầu.” Đó là những lời chứng minh người Tây phương hiểu được nhạc Việt dễ dàng. Tôi đi xa hơn, trong một CD sắp phát hành, quý vị sẽ nghe dân ca Việt Nam được trình diễn bằng đàn bandura, một nhạc cụ cổ truyền Ukraine, được hỗ trợ bằng thềm nhạc giao hưởng Tây Phương. Một sự kết hợp lạ lùng chưa từng có trong lịch sử âm nhạc thé giói. Nếu việc làm này được tiếp tuc đều đặn thì trong tương lai mọi người yêu nhạc trên thế giới đều có thể đàn nhạc Việt dù họ sử dụng nhạc cụ mới hay nhạc cụ cổ truyền của dân tộc họ.

MEMORIES là gì?

Ai cũng biết Memory là kỷ niệm và Memories là nhiều kỷ niệm. Con người thường sống trong kỷ niệm và cả sống cho kỷ niệm. Những kỷ niệm vui, buồn đều được ghi nhớ dưới nhiều hình thức. Tôi cũng như mọi người, có nhiều kỷ niệm trong đời. Tôi ghi lại dưới nhiều hình thức khác nhau mà âm nhạc là một. Tôi muốn chia sẻ kỷ niệm của mình. Tôi thỉnh mời quý vị cùng góp kỷ niệm với tôi qua âm nhạc. Trong nhạc, tôi gợi ý, quý vị tô vẽ thêm cho phù hợp với kỷ niệm của riêng mình. Vì vậy tôi viết nhạc không lời để quý vị trao gửi trọn vẹn nỗi nhớ của mình theo âm thanh mà không bị lời ca làm sai lạc ý nghĩ của mình. Vì không lời cho nên người Việt, Mỹ, Pháp, Trung Hoa, Đại Hàn hay bất cứ một người dân nước nào dùng cùng ngôn ngữ âm nhạc này đều có thể cảm thông được. Sự cảm thông với âm thanh dễ hơn với nốt nhạc bất động vì nhờ có người diễn dịch thay mình. Người đó là nhạc sĩ trình diễn.

Tôi xin trích lời của giáo sư vĩ cầm Svyatoslava Semchuck của Nhạc viện Quốc Gia Tchaikowsky ở thủ đô Kyiv, Ukraine, người đã trình tấu hai nhạc phẩm violin trong CD Memories, bài Nocturne và Romance cho violin và dàn nhạc. Cô nói: “Nhạc của Lê Văn Khoa có xúc cảm cao độ và đúng là nhạc lãng mạn... Một nhạc sĩ - một nhạc sĩ đích thực - có thể cảm được trong tâm hồn mình tình yêu mà nhà soạn nhạc trang trải trên trang giấy.” Cô Svyatoslava đã cảm được trong tâm hồn cô tình yêu mà Lê Văn Khoa trang trải trên trang giấy nên cô đã diễn tả xuất thần hai nhạc phẩm Nocturne và Romance trong CD Memories này.

Về hai tác phẩm vừa đề cập đến, ông William Benner, cựu nhạc sĩ độc tấu violin của NBC Symphony Orchestra ở San Francisco, đã phát biểu: “Cả hai nhạc phẩm đều đạt mức tột đỉnh của sự xúc cảm trong lòng người.”

Những lời nhận xét trên cho thấy rõ người không phải Việt Nam thông cảm được dễ dàng nỗi lòng của một người Việt qua bài nhạc không lời.

Hai tác phẩm này đều có trong CD Memories. Nhưng CD Memories không phải chỉ có bai bài nhạc. Chỉ riêng bài cuối, bài số 10 có tên là Memory, mỗi người nghe đều có một nhận xét riêng.

Một ông chỉ nghe bài Memory đã thốt lên: “Bài nay đã đem cả khung trời Sài Gòn về với tôi.” Bài nhạc này kéo trí nhớ của ông về dĩ vãng.

Như nhà văn Phạm Xuân Đài phát biểu lúc nảy: “Ôn lại kỷ niệm cũng có nghĩa là phóng vào tương lai.” Một nữ thính giả, tôi xin tạm giấu tên, viết: “Tôi nghe đi nghe lại bài Memory và nghiệm ra được rằng: một mai khi tôi lìa xa cõi tạm này, tôi xin được chọn bài Memory để tiễn đưa thân xác trở về với tro bụi. . . Bài Memory là hành trang tôi sẽ đem theo khi về cõi vĩnh hằng!” Cô chuẩn bị tương lai khi nghe bài số 10 trong CD, bài Memory

CD Memories khơi lại kỷ niệm không phải cho người lớn thôi mà cho cả trẻ em nữa. Hai bé Nghi và Thụy mỗi lần lên xe hơi là yêu cầu bố hay mẹ mở bài Lý Ngựa Ô trong CD Memories và chỉ nghe một bài đó thôi, nghe qua nghe lại mãi, không cho ai đổi qua bài khác. Hai em nói hai em thích vì bài đó hay. Nhưng mẹ hai em cho biết lý do hai em thích Lý Ngựa Ô rất đơn giản: “Hồi nhỏ ba em dùng bài dân ca đó làm bài ca ru cho hai em ngủ.” Như vậy kỷ niệm đã trở lại đầy ấp tâm hồn trẻ thơ và tình yêu cha mẹ cũng theo đó mà gắn bó với hai em hơn. (Thật đáng phục người cha đã gieo dân nhạc vào giấc mộng trẻ thơ rất sớm. Nó sẽ ở lại với các em mãi mãi.)

Người lớn chắc chắn có nhiều kỷ niệm hấp dẫn và cả cay đắng hơn. Dù là kỷ niệm vui hay buồn, mỗi lần nhắc lại không khỏi gây cho ta bồi hồi xúc động. Nó cho ta một chút ngậm ngùi, một vị đắng dâng lên trên vành môi, và đôi giọt lệ âm thầm lăn vòng khóe mắt.

Kỷ niệm là vô giá. Chúng sẽ theo ta cho đến cuối đời.

Giờ đây tôi xin mời quý vị gọi kỷ niệm về với ta qua tiếng nhạc của CD MEMORIES này và hãy để âm nhạc ve vuốt tâm hồn ta.

   Bấm vào đây để xem: đoạn phim thu ở Kiev, Ukraine - tháng 5, 2007 - dàn Taras & Kyiv Chamber Orchestra

Trống Cơm (The Rice Drum for bandura and orchestra) & Cây Trúc Xinh (Beautiful Bamboo for piano & voice) - Ngọc Hà hát

                       

                                             

Trả lời phỏng vấn báo Người Việt, Giáo Sư Lê Văn Khoa nói: “Khi sáng tác nhạc và muốn nêu tinh thần dân tộc của mình, người sáng tác phải đặt cái tinh thần ấy vào âm nhạc của mình. Nếu không, âm nhạc của chúng ta sẽ giống như âm nhạc Tây Phương.”  Mời xem tiếp: bài báo (pdf) 

        Lê Văn Khoa  & "Nocturne cho vĩ cầm và dương cầm"
                   Đàm Xuân Linh (Nhạc sĩ vĩ cầm, Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn - 1962)

Tác phẩm "Dạ Khúc cho vĩ cầm và dương cầm" của nhạc sĩ Lê Văn Khoa đem lại cho tôi một ngạc nhiên lớn. Thể nhạc đặc biệt này bắt đầu với những bài Dạ Khúc của nhạc sĩ Ái Nhĩ Lan John Field và đạt đến tuyệt đỉnh với những bài Nocturne bất hủ của nhạc sĩ Ba Lan Frederick Chopin, viết cho dương cầm.  John Field cho xuất bản loạt bài Nocturnes của ông vào năm 1814, sau đó nhiều nhạc sĩ khác cũng viết những sáng tác theo thể điệu “Dạ Khúc” – Gabriel Faure và Francis Poulenc viết cho dương cầm, Debussy viết cho dàn nhạc – nhưng theo ý kiến chung trong thế giới âm nhạc cổ điển, những bài Nocturnes viết cho dương cầm của nhạc sĩ thiên tài Chopin được dành cho một chỗ đứng cao nhất.

Khi đêm về, lòng ta lắng lại, khi mọi tiếng động của sinh hoạt hàng ngày tắt tiếng thì cũng là lúc chúng ta để đời sống của tâm hồn trỗi dậy với những vui buồn, những kỷ niệm và mọi thứ tình cảm ấp ủ trong lòng.  Trong sự im lặng của màn đêm, Dạ Khúc của Lê Văn Khoa mở đầu với tiếng dương cầm êm ái, và khi tiếng vĩ cầm bắt đầu từ trầm lên cao vút cũng là lúc kỷ niệm từ quá khứ ập về, ngọt ngào và tha thiết!  Nhưng kỷ niệm không phải chỉ toàn có đau buồn nuối tiếc, kỷ niệm cũng có những ngày vui , đó là lúc tiếng đàn chuyển qua âm giai trưởng, nghe như reo vui của những ngày xưa cũ.  Niềm vui nào rồi cũng qua mau, tiếng đàn vĩ cầm lại quay về với dòng nhạc đầu tiên và kết thúc trong sự nuối tiếc khôn cùng, kỷ niệm rồi cũng chỉ là những nỗi vui buồn trôi đi cùng năm tháng.

Chúng ta ai cũng quen thuộc với nguyên tắc "trở về" của nhiều nhạc phẩm mới cũng như cũ: bản nhạc bắt đầu bằng một giai điệu, chuyển qua một hoặc nhiều giai điệu khác với những biến hóa tùy theo tác giả, nhưng cuối cùng lại trở về với nét nhạc đầu tiên.  Lê Văn Khoa, trong bài "Dạ Khúc cho vĩ cầm và dương cầm", đã dùng cái nguyên tắc “trở về” ấy một cách tài tình; nhưng biến khúc của ông không bao giờ đi quá xa cái tình cảm diễn đạt trong giai điệu chính, khiến toàn thể bài Dạ Khúc là một cấu trúc thật đẹp, là một tiếng lòng vô cùng tha thiết.

Dạ Khúc là một thể điệu âm nhạc mà tác giả được quyền viết một cách tự do, nhưng bài Nocturnes có giống nhau chăng chỉ ở chỗ chúng thường mang một sự trầm lắng, suy tư nào đó; nếu vui thì cái vui cũng ít khi ồn ào thái quá, và nhất là tính cách lãng mạn của những bài Nocturnes thì bao giờ cũng không thể thiếu.

Một trong những bài Dạ Khúc nổi tiếng của Chopin (Nocturne No. 20 in C sharp minor) viết cho dương cầm, đã được danh cầm Nathan Milstein viết lại cho vĩ cầm và dương cầm.  Chính Milstein đã trình tấu và thu âm bài Dạ Khúc này nhiều lần.  Những bạn yêu tiếng vĩ cầm có thể nghe lại bài Dạ Khúc đó qua tiếng vĩ cầm có một không hai của Milstein, trong những CD mang tựa đề “The Art of Nathan Milstein” của hãng dĩa Anh-quốc EMI.  Milstein đã dùng “sourdine” khi đàn Dạ Khúc cung C sharp minor, tôi tự hỏi bài Nocturne của Lê Văn Khoa  có thể được trình bày hay hơn bằng vĩ cầm với “sourdine” không, nhưng tôi biết chắc nhiều người yêu nhac sẽ thích nghe Nocturne của Lê Văn Khoa  với  tất cả những tình cảm ngọt ngào cay đắng qua âm thanh tự nhiên của cây vĩ cầm hơn.

Nếu thích, bạn có thể nghe nữ nhạc sĩ vĩ cầm Midori trình tấu bài Nocturne cung C sharp minor của Chopin (Milstein soạn lại). Midori đã chọn bài Dạ Khúc này trong buổi trình tấu ra mắt của cô ở Carnegie Hall, lúc cô mới 19 tuổi nhưng đã nổi tiếng là một kỳ tài về vĩ cầm với kỹ thuật hiếm có.  Midori không dùng “sourdine” nhưng vẫn cố gắng giữ cho bài Nocturne được nhẹ nhàng bằng cách dùng “vibrato” vừa phải.  Rõ ràng cung cách trình bày của cô khác hẳn Milstein, tiếng đàn của cô có những lúc như khóc như than làm người nghe khó cầm được xúc động!  Thành thực mà nói, tôi thích cả hai lối trình tấu nhưng đứng về phương diện “style” có lẽ Milstein đến gần ý của tác giả hơn.

Nocturne của Lê Văn Khoa, qua tiếng vĩ cầm của nữ nhạc sĩ người Ukraine Svyatoslava Semchuck, thật là một diễn tả tuyệt vời!  Tôi cảm thấy rõ ràng là Semchuck hoàn toàn cảm thông với tác phẩm của nhạc sĩ Việt Nam Lê Văn Khoa, điều này không có gì lạ vì ông đã viết một tác phẩm hoàn toàn theo nét nhạc Tây phương, và ông đã thành công trọn vẹn.

Tôi không biết có bao nhiêu nhạc sĩ Việt Nam đã đặt bút viết những bài Nocturne. Gần đây nhạc sĩ Thanh Trang viết “Dạ Khúc” đã mang cho tôi nhiều xúc động với lời ca và nét nhạc thật trau chuốt đẹp đẽ!  Khi nghe Nocturne của Lê Văn Khoa, viết cho hai nhạc khí vĩ cầm và dương cầm, tôi tự hỏi một bản nhạc hay như vậy đã được trình bày bao nhiêu lần?, ở đâu?, và đã được nằm trong chương trình trình tấu của bao nhiêu nghệ sĩ vĩ cầm? Bởi vì, theo ý tôi, đó phải là chỗ đứng xứng đáng của tác phẩm này, một thành công vượt bực của người nghệ sĩ Lê Văn Khoa.

     LE VAN KHOA and his Nocturne for Violin and Piano -
                         by Dam Xuan Linh (violinist, Music Conservatory of Viet Nam - 1962)

It is a big surprise for me to listen to a nocturne written for Violin and Piano by Le Van Khoa. First, it is a purely classical music composition written by a Vietnamese composer that I have never heard before, but more importantly, it is an absolutely ravishing piece of music.

Le Van Khoa is not a new name in the small world of Vietnamese composers writing Western classical music. Many years ago, I had a chance to see him leading choirs in a concert in Saigon, and I was impressed with his beautiful arrangements of choral pieces. I had no idea that Le Van Khoa is also a gifted composer of Classical Music in instrumental forms.

His "Nocturne for Violin and Piano" is surely one of his best works presented in a CD just released, featuring the Kiev Symphony Orchestra of the Ukraine. The violinist in this performance of Le Van Khoa’s Nocturne is Svyatoslava Semchuck, a superb musician who is a winner of many prestigious competitions; she is accompanied by Irina Starodub, an Ukrainian pianist much honored in her country.

Nocturne, as a musical form, was started by the Irish composer John Field, who published his set of Nocturnes in 1814; many other composers followed his lead and wrote other nocturnes - Gabriel Faure and Francis Poulenc wrote for the piano, and Debussy for orchestras – but this musical form reached its highest peak of perfection with Frederick Chopin’s Nocturnes, written for the piano.

When night falls, and all the noisy sounds of everyday life die down, one is left with a special atmosphere that is ideal for self-reflection.  It is then that we tend to forget about earthly things that constantly follow us with worries and, in this modern day, other negative emotions.  The quiet and serene air of the night allows us to “be ourselves” in the best sense of the words.  Traditionally, composers have written Nocturnes as a kind of musical compositions that are usually free in form, reflective in nature, and romantic in character. Le Van Khoa’s Nocturne for Violin and Piano follows closely that tradition.

The piece begins with the soft and lovely sounds of the piano, and the violin comes in with soaring runs as if memories are rushing back. They are wonderful memories of the past, certainly, and sweet and sad. But then come the variations in a major scale as if memories also contain happy days not to be forgotten. The wandering, however, soon stops; and we are back to the beginning, and lovely days of the past are gone, leaving us with the quiet of the night once again. 

The principle of “return” is one that is familiar to all of us, in old and new compositions alike. The main theme is introduced, then come the variations – one or more – but we always come back to the original theme.  In his Nocturne, Le Van Khoa uses this principle of “return” with great skills.  His variations never stray too far from the main theme; and as a result, the whole piece is one beautiful structure.

Listeners, by comparison, might be interested in another nocturne, the famous Nocturne No 20 in C sharp minor, written by the Polish composer Frederick Chopin but transcribed by Nathan Milstein for Violin and Piano. The two nocturnes have a lot in common, and it is interesting to hear how the piece is performed.  Milstein himself recorded Chopin’s Nocturne No 20, and we can hear his incomparable interpretation in EMI’s “The Art of Nathan Milstein.” In the recording, he plays his violin with a mute to soften the violin’s tone; the sound of his violin seems to float in the air throughout the performance. And it is magnificient, capturing the essence of a “night music piece.” In another performance of the same piece, in her solo debut at Carnegie Hall, the violinist Midori performed without a mute, and with a lot of passion. Which performance comes more closely to the spirit of Chopin’s Nocturne is of course up to the listener to decide. I tend to be on the side of the many musicians who think Milstein wins out; but then he was one of the few giants among violin artists revered throughout the world.

I feel Semchuck’s approach is similar to Midori’s, and it is beautiful in its own way. It is not at all a  surprise to me that an Ukrainian somehow fully understands and successfully interprets a composition written by a Vietnamese composer: Le Van Khoa’s Nocturne is written in a completely Western classical music style.

Some final thoughts: I wonder how many Vietnamese composers have tried their hands at this form of music?   I know of one song named “Da-Khuc” ( Vietnamese for Nocturne) written by the composer Thanh-Trang, a truly memorable piece with a beautiful melody and words that are real gems.  And now, with Le Van Khoa's Nocturne for Violin and Piano, I want to ask myself these questions: how often has this piece been performed?  Has it been included in concert programs by international violin artists?  If not, it should be.  Le Van Khoa's Nocturne deserves to be heard in the concert halls around the world.

Notes:
- Chopin's Nocturne in C sharp minor performed by Milstein can be listened at this link:
http://cothommagazine.com/nhac/Nocturne-Csharpminor-Chopin-Milstein.mp3
- Midori's live performance at Carnegie Hall can be seen at: http://www.youtube.com/watch?v=oHex-NcqX6c. Midori was then nineteen years old, but her reputation as a violin virtuoso had already been established with appearances with great orchestras under the conductor Zubin Mehta.
- Le Van Khoa's Nocturne by Semchuck can be listened at this link:
http://cothommagazine.com/nhac/Nocturne-LVK.mp3

     Chân dung mới của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa - Phạm Mạnh Tiến

... Người nghệ sĩ  vẫn thường mang theo mình những minh họa, những hình ảnh,  những mẩu chuyện của mình , của đời ,... để rồi có một lúc nào đó, với bàn tay phù thủy, họ phóng bút , phóng mầu, phóng cọ, xuất thần ghi nhận lại thành những nét vẽ, những nốt nhạc đầy mầu sắc.  Những âm thanh trầm bổng, những nét vẽ mạnh nhẹ, ray rứt, vui buồn, ngập ngừng, nghẹn ngào , liên tuc, xuôi chảy ... họ sáng tạo nên thành một bức tranh , thành những  câu chuyện kể làm rung động, xao xuyến tâm hồn người thưởng ngoạn. Những vấn vương, những bâng khuâng, những mộng mơ, trong từng nốt nhạc, trong từng nét vẽ  ấy đã để lại những cảm nhận riêng tư... những tác phẩm bất tử với thời gian .

Sáng tạo điều mới lạ trong tác phẩm của mình vẫn mãi mãi là ước muốn của người nghệ sĩ.  Picasso với khả năng sáng tạo phong phú ông đã không ngừng thay đổi, đem nhiều điều mới lạ vào trong tác phẩm của mình: ông khởi đầu bằng những bút vẽ căn bản truyền thống theo đúng sách vở như muôn ngàn nghệ sĩ khác nhưng rồi với khả năng sáng tạo của ông,  ông đã đưa dẫn người thưởng ngoạn qua nhiều giai đoạn mới trong cuộc đời nghệ sĩ của ông : thời kỳ “xanh (Blue period)”, thời kỳ “hồng”(Pink period) và sau cùng là thời kỳ ông tạo lập ra trường phái tranh lập thể (cubism)...

Trong các văn nhân của người Việt, trên phương diện khả năng sáng tạo nghệ thuật, dưới con mắt của tôi, ông LVK vẫn thường cho tôi một ấn tượng: ông là hình ảnh của một Picasso Việt Nam.... Trên nhiều lãnh vực nghệ thuật ông không ngừng đi tìm kiếm những điều mới lạ cho những tác phẩm của mình trong nghệ thuật nhiếp ảnh cũng  như trong âm nhạc.  Những tình khúc lãng mạn không lời gần đây nhất của nhạc sĩ LVK đã đem lại cho người nghe những âm hưởng, những hình ảnh mới... Những nốt nhạc, những âm thanh này đã tạo cho ông  một chân dung mới trong nghệ thuật  âm nhạc của ông.

 Nhạc sĩ LVK đang dùng những mầu sắc, những nét vẽ mới , một chữ ký mới,  một giai đoạn mới trong tiến trình sáng tạo, ghi nhận những cảm xúc của ông bằng âm nhạc. Tôi cảm nhận  ở đây hình như có một sự chuyển tiếp thay đổi từ những hình ảnh quê hương thường thấy trong những sáng tác ngày xưa của ông qua đến những hình ảnh  cá nhân,  những tâm sự riêng tư .

Những âm thanh sáo diều êm đềm, thanh bình, đậm mầu sắc quê hương đang được thay đổi bằng những tiếng vĩ cầm ray rứt, tiếng hồ cầm buồn thảm, của những tâm sự riêng tư,  hay những tiếng  dương cầm đầy mầu sắc, thánh thót, buông thả, mạnh bạo như trong những nhạc bản của thời kỳ nhạc cổ điển lãng mạn Tây phương.  Sự chuyển hướng 180 độ này sẽ tạo cho người nghe âm nhạc cổ điển yêu thích ngay .  Những âm thanh lãng mạn quen thuộc này sẽ được mọi trình độ thưởng thức đón nhận ...

Ở đây người thưởng ngoạn tưởng như đang  được nghe những “Nocturne”, những “Moon light sonata” bâ’t tử.

Ở đây người thưởng ngoạn sẽ không còn thấy những âm thanh xưa cũ của LVK mà là những nốt nhạc vượt thời gian của các danh tài quốc tế.

Nghe để rồi chìm đắm không còn biết  những âm thanh ấy là của nhạc sĩ LVK hay của các danh sư âm nhạc Tây Phương ...

Nghe để rồi buông thả tự do cho những bước chân lãng mạn của tâm hồn mình lang thang không định hướng. 

Nghe để rồi cho những cảm xúc riêng tư tràn dâng về cõi mơ, về những ngày tháng yêu thương xa cũ ...

Bên cạnh  những dòng nhạc đây cảm xúc ấy người yêu âm nhạc sẽ còn được nghe các hành khúc mạnh bạo hơn nhất là những nốt nhạc ấy lại được các nghệ sĩ đầy khả năng của dàn nhạc giao hưởng “Kiev Symphony Orchestra and Chorus”  trình tấu ...

Tấu khu’c đầu tiên bày tỏ tâm trạng u buồn cho một sự chia ca’ch ra đi bất ngờ...  tấu khu’c cuối cùng diễn tả nỗi lòng của người ở ại ... Với hững nốt nhạc trầm buồn, lãng mạn trữ tình mà người thưởng ngọan có thể được nghe cùng một lúc những lời tâm  tình ấy do chính ông và phu nhân của ông viết soạn trước đây . Người viết xin ghi lại đây những lời nhạc cho tấu khúc cuôi cùng ấy : “Ngày Mai Chia Tay” để  những cảm xúc của người nghe sẽ được vơi đầy theo ý nhạc và lời ca ...

“... Ngày mai ta chia tay nhau
thì đôi ngã đường
dòng đời ngăn cách rồi
lòng nuối tiếc
những giây phút sống gần nhau

Ngày mai khi ta xa nhau
mặc trời nắng tươi
hoặc nhẹ êm gió thu
dù có ánh trăng qua song thưa
đâu còn nghĩa gì.

Ngày mai ngâm câu chia phôi
còn đâu tiếng cười
còn tìm đâu dáng người
nhìn phượng vỹ sắc thắm
sầu nhớ kiếp nào nguôi

Ngàn sao lung linh trên cao
làm tôi vấn vương
tràn ngập trong tiếc thương
hình bóng nhớ nhung trong tâm tư
môi hồng còn đâu .

    “ Ôi ngày vui sao chóng tàn
    thời gian sao đang tâm
    đem xóa mờ tuổi xanh
   Ngàn gió khiến hoa xuân lìa cành
   và mắt biếc ... ngày xưa
   Dệt bao nhiêu mộng ước
   Giờ héo hắt từng bước
   làm tim tôi nức nở nghẹn ngào “

Ngày mai ta chia tay nhau
đời như bóng chiều
lòng còn chua xót nhiều
dù ráo nước mắt
vì quyến luyến tình xưa

Người đi vui xây tương lai
một chiều nắng phai
nhạc lòng thôi đắm say
đành cố điểm trang cho dư âm:
ta luôn còn nhau ... “

Vơ’i  những lời tâm sự  dù “ Ngày mai ngâm câu chia phôi”, dù “nhạc lòng thôi đắm say”, dù “dòng đời ngăn cách” đôi đường “Ta luôn còn nhau”  ... sẽ mãi mãi đeo đuổi để những “dư âm điểm trang” cho cả một đời người nghệ sĩ ... và để rồi những nốt nhạc ấy diễn tả những tâm tình ấy bộc phát bất tử với thời gian ... Đây là một chân dung mới, một chân dung thật lãng mạn của nhạc sĩ LVK qua những tấu khúc với những âm hưởng bất tử của dòng nhạc cổ điển .

Sáng tác hay, trình diễn giỏi và trình độ thưởng thức cao, mầu sắc của ba giai đọan lại được thêm một lần  tô vẽ,  một sự cộng hưởng, một sự sáng tạo trọn vẹn cần thiết cho một tác phẩm để đời .

Nghệ thuật sáng tạo không hẳn chỉ là sự diễn tả, bày tỏ của trí tưởng tượng , mà đôi khi chỉ có những kinh nghiệm sống thực của người nghệ sĩ  mới có thể đem lại  cho người thưởng ngoạn một sự rung đông không bến bờ. Với bao năm tháng tuổi đời chồng chất trên đôi vai, những dòng nhạc đã từ lâu lưu giữ được tự do tuôn chảy ra như dòng nước, thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng... Khả năng sáng tạo có lẽ chẳng có bao giờ bị giới hạn bởi tuổi tác của tâm hồn ông mà chỉ bi giới hạn bởi năm tháng của một đời người .

Người viết xin ghi nhận lại đôi cảm nghĩ về dòng nhạc mới của nhạc sĩ LVK và xin được chúc mừng nhạc sĩ tiếp tục thành công trên con đường sáng tạo ...

Đây hẳn nhiên là một chữ ký mơ’i, một chân dung mới của nhạc sĩ LVKhoa . Trước khi dừng bút người viết xin được cảm ơn nhạc sĩ Lê văn Khoa thêm một lần nữa đã đóng góp những bông hoa mới cho nghệ thuật âm nhạc Việt Nam .

                   Nói chuyện với nhạc sĩ Lê Văn Khoa -
                                 Nguyễn Mạnh Trinh (Nguồn: Thế Kỷ, 10/97)

Lê Văn Khoa là một mẫu người nghệ sĩ rất hoạt động, đã đóng góp nhiều cho âm nhạc và nhiếp ảnh Việt Nam. Ròng rã mấy chục năm, từ lúc ở quê nhà đến lưu lạc xứ người, ông đã mang nhiều tâm huyết và năng lực của mình cống hiến cho nghệ thuật.

Một buổi tối cuối tuần tháng Năm 1997, tại tư gia chị Bích Liên, có một buổi mạn đàm về âm nhạc giữa nhạc sĩ Lê Văn Khoa với chúng tôi, gồm Quỳnh Giao, Bích Liên và Nguyễn Mạnh Trinh. Nhiều vấn đề được nêu ra, trong đó có hai tập nhạc mới ra đời của ông, Dân Ca Việt Nam và Nhạc Việt Mến Yêu, tất cả được mang ra nhìn ngắm và nhận xét, để mong hiểu biết một phần nào sinh hoạt âm nhạc Việt Nam hiện nay, cũng như những cố gắng đã làm thành bước tiến cho âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại.

Rất "nhiều Lê Văn Khoa"

Được hỏi với rất nhiều Lê Văn Khoa qua những khuôn mặt nghệ sĩ đa dạng của nhiều bộ môn nghệ thuật như nhiếp ảnh, âm nhạc, và giáo dục, có khuôn mặt nào ông nghĩ là điển hình nhất, thì câu trả lời rất giản di.. Ông thích cái đẹp và bộ môn nghệ thuật nào cũng đều có mục đích tìm cái đẹp và hướng về cái đẹp. Do đó, tùy lúc và tùy trường hợp không gian, thời gian khác nhau, từ những cương vị nghệ thuật khác nhau, những công việc nghệ thuật bổ sung cho nhau và phối hợp cùng nhau trong mục đích cuối cùng của nghệ thuật là tìm kiếm cái đẹp. Đôi khi công việc này còn làm tiêu khiển cho công việc kia để công việc lúc nào cũng có sự mới lạ và không nhàm chán. Thành ra, trong cái khác biệt nhau lại có sự giúp nhau để bổ túc cho nhau. Bởi vậy có người đã từng hỏi ông sao cứ hoài miệt mài làm việc mà chẳng thấy có lúc nào giải trí cả, thì ông trả lời, làm việc nghệ thuật này khác với việc nghệ thuật kia để thay đổi đã là một sự tiêu khiển.

Về phương thức sáng tác, ông tạo nét tương phản trong tác phẩm của mình. Ông nói, bộ môn nào dù hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh, thi ca đều có sự tương phản nhau và chính sự tương phản này đã làm nổi bật được cái đẹp theo một cái nhìn thơm mỹ riêng biệt. Tất cả đều có tương quan với nhau, và tương quan ấy làm nổi bật những nét cá tính tiêu biểụ Có cái xấu để làm nổi bật được cái đẹp, có cái ác mỗi thể hiện được toàn vẹn cái thiện, cái tốt.

Trả lời câu hỏi về ý kiến của nhạc sĩ Cao Thanh Tùng cho rằng trong nhạc của Lê Văn Khoa có rất nhiều hình ảnh, và những hình ảnh này đã được tinh lọc lại từ hội họa và nhiếp ảnh, ông đồng ý và nhấn mạnh thêm về chủ ý ấy của mình. Khi sử dụng nốt nhạc, ông nghĩ cũng tương tự như việc cầm cọ vẽ hay bấm máy ảnh, dùng một loại ngôn ngữ nghệ thuật riêng chuyên chở thẳng đến trung tâm cảm giác và gây rung động cho người thưởng ngoạn.

Trong ảnh cũng có nhạc, nhạc tiết điệu của đường nét nhịp nhàng, nhạc của sự rung động trong trí tưởng tượng, và cũng có một loại ngôn ngữ để chuyên chở. Trong nhạc, dùng nốt nhạc để tả tình, tả cảnh riêng, và ngôn ngữ này được tượng hình từ cảm giác. Cả trong ảnh, cũng có một ngôn ngữ như thế để diễn tả. Những loại ngôn ngữ này, được tiếp nhận từ những điều chỉ có thể cảm thấy thôi, mà sự mường tượng sướng khói đã làm cảm giác được chuốt lọc thêm và gây ra sự tưởng tượng phong phú.
Trong cảm giác của nghệ thuật, có những điều "bất khả luận." Làm thế nào để có thể làm được hết những điều ông say mê.

Nguyễn Mạnh Trinh thắc mắc, một ngày chỉ có hai mươi bốn tiếng đồng hồ thôi, mà cái thích thú, cái say mê thì vô cùng, vậy làm thế nào ông có thể làm được hết những điều ông say mê Lê Văn Khoa trả lời ông thấy điều gì cần thì làm trước, và cứ thế mà làm việc theo thứ tự ưu tiên ấỵ Ông tâm sự thêm, có khi làm việc cả hai ngày liên tiếp, quên ăn uống, đến nơi ông tưởng rằng chỉ mỗi qua một đêm thôi.

Lê Văn Khoa hay nhấn mạnh, là làm việc gì, ông cũng dồn hết khả năng của mình vào, và càng cố gắng hơn khi gặp những khó khăn, trở ngại Làm việc sáng tác nghệ thuật đòi hỏi nhiều điều kiện làm việc, mà đôi lúc, ông cảm thấy hầu như không thể thực hiện được, nhất là ở xứ người, với cương vị của một cá nhân. Thí dụ như soạn nhạc, viết hòa âm cho một dàn nhạc giao hưởng với nhiều loại nhạc cụ đã là một điều khó khăn. Soạn xong, rồi trình diễn, biết bao nhiêu công việc phải hoàn tất. Tiền đâu? Thời giờ đâu? Phướng tiện đâu?

Ông kể rằng lúc làm việc chung với anh em ở đài truyền hình Việt Nam trước 1975, mặc dầu anh em rất thích tánh tình phóng khoáng trẻ trung của ông, nhưng họ rất ngại làm việc với ông bởi ông chuyên lựa chọn con đường khó nhọc để đi. Những màn trình diễn đại hợp xương, huy động nhiều người, hát nhiều bè và dàn nhạc với nhiều nhạc cụ, đã làm bận rộn rất nhiều người. Anh em thường hay nói với  ông "Thiếu chi việc làm cứ đặt bày chuyện khó làm chi để phải lo lắng khó nhọc. Anh làm việc cực mà bắt chúng tôi phải cực theo" Ông chỉ còn biết cười và đánh trống lảng mà thôi, bởi, có những đam mê rất kỳ cục, biết khó khăn nhưng vẫn lao vào. Sang xứ người ông cũng đã nhiều lần làm việc với dàn nhạc giao hưởng Mỹ để hoàn thành những buổi trình tấu có chất nghệ thuật cao.

Giáo dục hay thương mại

Trở lại với hai tập nhạc Nhạc Việt Mến Yêu và Dân Ca Việt Nam, tôi có thắc mắc là hai cuốn này có phải là sách giáo khoa về âm nhạc không, và như vậy ý hướng giáo dục có phải là ưu tiên số một trong khi biên soạn? Ông nói chủ đích của mình không phải thương mại bởi ông hiểu về cung và cầu. Với hai tập nhạc này mà nhắm vào thương mại là điều cực kỳ sai lầm và không nên làm. Ông có khuynh hướng giáo dục.
Từ xưa đến nay ông đã để ý vào việc hướng dẫn trẻ em trên nhiều lãnh vực.

Ông cho rằng trên lãnh vực học âm nhạc, những đứa bé Việt Nam tại hải ngoại là những đứa trẻ bất  hạnh nhất.  Bởi chúng không sống được trong môi trường của văn hóa Việt Nam, nên không thể thừa hưởng được tinh hoa từ ông cha truyền lại, không được nghe âm thanh của quê hướng. Phải chăng với công việc vừa làm ông đang muốn bù đắp phần nào cho sự thiệt thòi đó của các em.

Dân ca và dàn nhạc giao hưởng Hoa Kỳ

Việc mang những bản dân ca để soạn thành ca khúc có nốt nhạc và hòa âm Tây phương, Lê Văn Khoa cho rằng ông đã chấp nhận việc mất một ít để được nhiều hơn.

Trước năm 1975, khi còn ở Sài Gòn, có lần ông đã tranh luận với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba tại Tỳ bà viện về vấn đề nàỵ Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cho rằng nhạc dân tộc chỉ được soạn để cho nhạc cụ dân tộc chơi mà thôi, còn nếu soạn hòa âm cho tây-ban-cầm hoặc dương cầm thì sẽ không trung thực và làm mất đi bản sắc dân tộc. Có người còn cực đoan hơn, cho rằng việc soạn hòa âm những bản dân ca là mất gốc, lai căng, xa rời nguồn gốc dân tộc.

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa lý luận: hồi trước, lúc người nông dân hò, hát dân ca, hay hát quan họ Bắc Ninh, đâu có đệm đàn, nên dù đệm bằng đàn tranh, tỳ bà hay tây-ban-cầm thì cũng là mất tính chất nguyên thủy, là ngoại lai rồi. Do đó, vấn đề ấy không còn đặt ra nữa. Nhưng những người bạn trẻ, hoặ.c những người bạn khác chủng tộc muốn chơi và tìm hiểu về nhạc Việt Nam mà mình chỉ có mấy cái "melodies" thì làm sao họ chơi được. Do đó, ông soạn theo nốt nhạc tây phương, cho nhạc khí tây phương để ai cũng có thể hát được, đàn được, và phổ biến sâu rộng hơn.

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đoan quyết rằng nhạc dân tộc chỉ có thể chơi bằng nhạc cụ dân tộc thì mỗi hay được. Ông Lê Văn Khoa hỏi ngược lại rằng, đàn tỳ bà, đàn tranh, đâu phải là nhạc khí dân tộc mà sao vẫn chơi nhạc dân tộc thích hợp được? Có phải vì những cung bực ẻo lả của những nhạc khí này thích hợp với những nốt luyến láy hơn là nhạc khí tây phương. Đàn piano chẳng hạn, nốt nào chắc nịch nốt ấy, khó lòng diễn tả những cung bực luyến láy cho trung thực.

Âm nhạc, dù nhạc Đông phương hay Tây phương, cũng đều dùng một loại ngôn ngữ để diễn tả. Qua âm nhạc, người ta có thể cảm và thấy được nhiều điều qua tưởng tượng. Ngũ cung hay bảy nốt, có nhiều nét khác nhau nhưng đều cùng chung một nguồn gốc: âm thanh. Hơn nữa nếu cứ khư khư chơi nhạc Việt Nam bằng nhạc cụ Việt Nam, thì biết bao giờ nhạc Việt Nam mỗi vượt được biên giới nhỏ bé của lãnh thổ mình.
Chi bằng mang nhạc Việt Nam chuyển sang những nhạc cụ thông dụng trên thế giới thì có phải là chúng ta đã vượt biên giới của quốc gia để truyền bá sang lãnh vực quốc tế không ?

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa nói về bản dân ca Bắc Việt "Se Chỉ Luồn Kim" do ông soạn cho hợp ca nam nữ, đã được ban hợp xương Ngàn Khơi phối hợp với các ca đoàn Hoa Kỳ như Westminter Choral, Garden Grove Madrigal Singers hát tiếng Việt và hát rất hay, và cũng chuyên chở được nội dung mà bản dân ca chứa
đựng. Ông coi như đó là việc giới thiệu dân ca Việt với khán thính giả Hoa Kỳ. Mình phải có để nói chuyện với họ chứ không thể vì tự ái dân tộc mà đóng khung trong biên giới của mình.

Ông cũng nói đến sự chú trọng đặc biệt của ông trong việc sử dụng dân ca để phản ảnh những nơi khổ đau của dân tộc cũng như vẽ lại một gian đoạn kinh hoàng của lịch sử Việt Nam. Ông đã soạn những tấu khúc, viết cho dàn nhạc giao hưởng như "Vietnamese Overture," "Vietnamese Rhapsody," "Symphonic Suite 1.9.7.5" đã được những dàn nhạc lớn chơị Cử tọa người Hoa Kỳ đã tỏ ra rất thích thú với những cống hiến mới lạ kể trên. Những tờ nhật báo Anh ngữ như Los Angeles Times, Orange County Register đã có nhiều bài viết, hoặc giới  thiệu, hoặc tường thuật các buổi trình diễn. Họ cho rằng nhạc của Lê Văn Khoa có nét tổng hợp của nhạc Đông phương và Tây phương để tạo thành một nét đặc biệt. Nhạc sĩ  Lê Văn Khoa kể, ông đã dùng âm điệu của khúc nhạc cổ truyền Bình Bán Vắn mà chúng ta hay nghêu ngao hát đùa "u còn u cứ u, đếm trên đầu ba bốn cục u..." để mang vào giàn nhạc Tây phương, và dòng nhạc trên đã gây xúc cảm cho rất nhiều người nghe. Chính ông rất vui mừng vì có người đã hiểu được dụng ý của ông, là mang âm nhạc của mình ra đời sống quốc tế. Ngoài mục đích này, khi soạn Dân Ca Việt Nam ông còn nhắm vào giới trẻ Việt Nam hải ngoại, ggiúp họ một tài liệu khả tín để tìm về những âm thanh cổ truyền của dân tộc.

Giáo dục hay nghệ thuật?

Được hỏi những tập nhạc này có tính cách giáo dục nhiều hơn hay tính cách nghệ thuật nhiều hơn, nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho biết hai tính chất nói trên đều có và bổ túc cho nhau.
Ông cũng biết rằng nhạc của ông khó phổ biến vì không nhắm vào người nghe bình dân đại chúng. Đối với ông nghệ thuật là mục đích tối hậu. Ông muốn những sáng tác của mình có chất sáng tạo cao.

Khi viết Nhạc Việt Mến Yêu, nhạc sĩ Lê Văn Khoa nhắm mục đích giới thiệu những giai điệu đáng yêu, những bài hát quen thuộc cho trẻ em học dương cầm, giúp cho chúng có thể chơi dễ dàng những bản nhạc mà phụ huynh ưa thích. Chị Quỳnh Giao có kể lại một kinh nghiệm là dùng những bản nhạc mà ông Lê Văn Khoa đã soạn cho dương cầm để cho học trò chơi và kết quả là con thì chơi nhạc, và cha mẹ hát theo. Kết quả là các em thu thập rất mau và tập rất nhanh.

Chị Bích Liên thì thắc mắc, muốn mẹ hát con đàn thì tại sao ông Lê Văn Khoa không in cả lời trong tập nhạc mà chỉ có nốt nhạc. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trả lời là có những nốt đàn không có trong lời ca, có nghĩa là nốt nhạc nhiều hơn lời. Và nếu muốn nhạc có lời, thì ông sẽ có những tập nhạc khác để có thể vừa hát vừa chơi đàn được. Do đó, tập "Nhạc Việt Mến Yêu" để dùng chơi dương cầm "solo" trung cấp thôi.

"Nhạc Việt Mến Yêu" gồm có những bản nhạc của Phạm Duy như Cành Hoa Trắng, Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, của Phạm Đình Chương như Đón Xuân, Xuân Tha Hương, rồi Hè Về của Hùng Lân, Thu Vàng, Hoài Cảm của Cung Tiến, Thằng Cuội của Lê Thướng, Đêm Đông của Nguyễn Văn Thướng, Ngày Về của Hoàng Giác. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã cố tình lựa chọn những bài nhạc mang âm hưởng của quê hướng, có xuân hạ thu đông tứ thời bát tiết của đất nước. Ông cũng nói mình rất ái mộ và chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhạc sĩ đã sáng tác những giai điệu kể trên, và muốn tiếp tay để phổ biến những ca khúc này sâu rộng hơn.

Chị Quỳnh Giao nói rằng anh Lê Văn Khoa có nhiều bản nhạc hay lắm mà sao anh không chọn một hai bài vào tuyển tập "Nhạc Việt Mến Yêu" nàỵ Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho biết sẽ có những tập nhạc khác, lo gì, chỉ sợ chúng ta không có đủ tiền in để phổ biến. Như con tằm nhả tơ để dệt hoa gấm cho đời, nhạc sĩ Lê Văn Khoa với đôi mắt linh động sau cặp kính trắng, với cái cười hồn nhiên rất trẻ và giọng nói rặt Nam Kỳ, đã hăng say nói về những mơ ước của đời mình, về những cống hiến của ông cho âm nhạc Việt Nam. In hai tập nhạc này chỉ là một trong vô số công việc mà ông đã và sẽ làm cho nghệ thuật, những việc mà tất cả những người Việt Nam đều có bổn phận mỗi người góp một tay, nhất là trong hoàn cảnh xa xứ của tập thể người Việt tị nạn tại hải ngoại.

Ghi chú: Khi viết xong bài này, chúng tôi được biết nhạc sĩ Lê Văn Khoa vừa cho ấn hành hai tập nhạc khác: Gọi nhớ và những ca khúc Việt Nam và Giáng Sinh Ca, do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ xuất bản.


                                         

                                 Thy Nga đài RFA phỏng vấn Lê Văn Khoa- phần 1

                                 Thy Nga đài RFA phỏng vấn Lê Văn Khoa - phần 2

                                       Symphony Viet Nam 1975 - Full Moon

                                      Symphony Viet Nam 1975 - On High Sea

                 

                                         Bấm vào đây để xem bộ hình của Ann Hoàng 

                                           

                                           NS Lê Văn Khoa nói về CD Symphony Viet Nam 1975

                 SYMPHONY “VIETNAM 1975” CỦA
             NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA ĐÃ THÀNH TỰU

                        (Đã được phát biểu tại hai buổi ra mắt tại Quận Cam ngày 22 và 23 tháng Tư 2005)

                 PHẠM PHÚ MINH (tức nhà văn Phạm Xuân Đài, chủ bút nguyệt san Thế Kỷ 21)

Thưa quý vị,

Tôi đọc trên tờ flyer giới thiệu đĩa nhạc Symphony Việt Nam 1975 dòng chữ này: “Niềm hãnh diện của người Việt sau 30 năm ly hương: Symphony VietNam 1975 đã thành tựu.”
Tôi nghĩ đó là một câu nói rất đúng để chỉ về một biến cố trong tháng Tư năm 2005 này. Biến cố này không phải là một cuộc xuống đường rầm rộ, một buổi meeting đông người, hay một hình thức nào như cộng đồng của chúng ta vẫn thường làm liên quan đến việc tưởng niệm ngày mất miền Nam vào tay Cộng Sản 30 tháng Tư 1975. Đã nhiều năm qua chúng ta tưởng niệm trong sự ân hận, đau buồn, nhưng năm nay, như câu của tờ flyer mà tôi vừa trích dẫn, chúng ta cảm thấy một sự hãnh diện. Một niềm hãnh diện rất chính đáng, cho tất cả mọi người, vì những nỗi niềm sâu kín của tập thể tị nạn chúng ta đã được một người nói hộ một cách trọn vẹn, bằng một phương tiện nghệ thuật rất cao, là nhạc cổ điển Tây phương. Đó là Giao hưởng khúc 1975 của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Từ biến cố 1975 đến nay là 30 năm. Trước đó 30 năm là chiến tranh. Từ 1945 đến nay là 60 năm, trong đó Việt Nam trải qua 30 năm chiến tranh, 30 năm hòa bình. Chúng ta đang đứng trước những con số rất tròn trịa. Từ thời điểm này, chúng ta có thể đưa mắt nhìn về quá khứ để xem với những biến cố lớn lao như vậy, đất nước Việt Nam đã có sản sinh ra những tác phẩm nghệ thuật nào, về văn, về thơ, về nhạc, về họa tương xứng với tầm vóc của các biến chuyển lịch sử mà chúng ta đã sống hay không. Xứng đáng với tầm vóc của lịch sử, kiểu như cuốn trường thiên tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình của Leon Tolstoi vẽ nên một bức bích họa vĩ đại của đất nước và dân tộc Nga thời kỳ đầu thế kỷ 19 trước sự xâm lăng của Napoleon, hay là bản Giao hưởng Ouverture 1812 của Tchaikowsky mô tả cụ thể về biến cố này, hoặc cuốn tiểu thuyết Cuốn Theo Chiều Gió của Margarete Mitchell nói về cuộc chiến tranh Nam Bắc của nước Mỹ vào giữa thế kỷ 19 cùng tác phẩm điện ảnh quay theo tiểu thuyết này. Hoặc xa hơn về quá khứ của nước Trung Hoa, thời Tam Quốc sở dĩ còn lưu lại trong trí nhớ của biết bao thế hệ chính là nhờ bộ tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, hoặc chuyến du hành thỉnh kinh có một không hai sang Ấn Độ của nhà sư Trần Huyền Trang đời nhà Đường mãi mãi còn sống động đến bao đời sau chính là nhờ bộ trường thiên tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Nhìn lại nước ta, những tác phẩm lớn nói về các giai đoạn lịch sử quan trọng rất thiếu vắng, trong quá khứ đã thế, mà trong hiện tại cũng thế. Cuộc chiến kinh thiên động địa xảy ra trên nước Việt Nam của chúng ta ròng rã 30 năm, dưới đủ mọi hình thái, chỉ được ghi lại trong những tác phẩm hạng nhỏ và trung về bề rộng lẫn bề sâu, cả bên này lẫn bên kia. Sau khi chiến tranh chấm dứt, trong 30 năm cai trị của đảng cộng sản đã xảy ra biến cố vĩ đại độc nhất vô nhị trong lịch sử nước Việt Nam từ thời lập quốc cho đến nay, là cuộc đào thoát quy mô toàn cầu của dân tộc Việt Nam trốn chạy chủ nghĩa này, cũng chưa có một tác phẩm nào nói lên cho xứng đáng cái đau khổ như biển, cùng cái ý chí bằng trời của khát vọng tự do nơi người dân đi tị nạn. Chúng ta đã có rất nhiều hình thức tưởng niệm, gợi nhớ các biến cố này, bằng tượng đài, bằng sách báo, bằng lễ lạc, nhưng cái chúng ta thiếu nhất vẫn là tiếng nói của nghệ thuật ở một tầm mức cao, vì chỉ loại này mới có thể trường tồn như một chứng tích trong nhiều thế hệ sắp tới.
Nhưng chính trong thời điểm 30 năm này chúng ta bỗng có tin vui! Khúc “Giao hưởng Việt Nam 1975” đã thành tựu! Khúc giao hưởng ấy đến với chúng ta kịp lúc vào thời điểm chúng ta đang bồi hồi tưởng nhớ đến bao biến cố nước mất nhà tan đã xảy ra từ cái tháng Tư oan nghiệt ấy, biết bao thảm cảnh tù tội đọa đày, biết bao sóng gió trùng khơi, trong vòng 30 năm qua!  Chúng ta đã có một tác phẩm nghệ thuật chân chính, cao cấp, lớn lao nói hộ cho chúng ta hầu như tất cả những nỗi niềm mà mỗi người trong chúng ta vẫn hằng cưu mang ôm ấp mà không tự mình bộc bạch ra hết được. Hôm nay, chính nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã làm công việc ấy cho tất cả chúng ta, với “Khúc Giao Hưởng Việt Nam 1975” của ông.
Dùng phương tiện diễn đạt là nhạc giao hưởng Tây phương, một phương tiện phong phú nhất để diễn tả bằng âm thanh những trạng thái khác nhau của cuộc sống, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã làm sống lại cả một giai đoạn lịch sử của Việt Nam. Dựa trên nhiều làn điệu dân ca dân nhạc, ông đã kể lại cho chúng ta nghe một thời thanh bình của đất nước chúng ta nó như thế nào, cuộc sống êm đềm của dân chúng với các rước xách hội hè, với tình yêu trai gái, và sức sống tươi vui của dân chúng bàng bạc khắp nơi. Nhưng rồi chiến tranh tới, chúng ta nghe những bước chân khẽ khàng của những kẻ gây chiến qua những dòng nhạc ngập ngừng bí mật, nhưng cuối cùng cũng biết đó là ai với tiếng vọng của bài Quốc tế ca từ xa xa, rồi Tiến quân ca, rồi bài Xì Lai quốc ca của Trung Cộng, rồi cuộc chiến bùng lên với sức kháng cự của quân dân miền Nam với những giai điệu thật là hùng tráng. Nhưng rồi cuộc chiến tàn với sự thất bại của miền Nam, tác giả đã diễn tả ngắn gọn nhưng với tất cả tâm tư của người trong cuộc, đến nỗi giáo sư sáng tác nhạc Gary Smart của đại học Wyoming đã phát biểu rằng: “Câu nhạc ngắn sau đoạn giao tranh trong hành âm Trong Đêm Thâu thật sự đánh động tâm tư con người.”

Nhưng cuộc bại trận chỉ mới là bắt đầu của bi kịch. Kể ra, nói về bi kịch thì cả một miền Nam sau 1975 là một bi kịch lớn lao, cả nước đang no đủ bỗng trở thành nghèo đói, đang có nhà cửa bỗng trở thành kẻ vô gia cư, đang có tài sản bỗng trở thành vô sản, đang tự do bỗng thành tù tội. Người ta đang bức tử một xã hội tự do thành một trại lính có tên gọi là xã hội chủ nghĩa. Người dân không chịu nổi, họ phải ra đi. Họ đi đâu? Phần lớn họ đi ra biển, tìm đường đến với thế giới bên ngoài. Và hàng triệu người đã ra đi, nhắm mắt gởi thân phận mình cho đại dương có thể rất hiền từ mà cũng có thể rất hung tợn. Cả một lớp người ra đi này đã tạo nên một khúc bi tráng ca độc nhất vô nhị trong lịch sử Việt Nam, nói cho loài người từ thiên cổ cho đến ngàn sau rằng con người chỉ có thể sống đầy đủ với tư cách một con người nếu họ được tự do. Trong cuộc đi tìm tự do vĩ đại này, dân tộc chúng ta đã trả một cái giá không phải là nhỏ: khoảng nửa triệu người đã chìm sâu dưới lòng đại dương trước khi họ thấy bến bờ tự do. Quý vị phải nghe hành âm số 6 “Trên Biển Cả” để sống với tất cả nỗi khủng khiếp này, để thấy thân phận nhỏ nhoi của con người trước sự gào thét của sóng gió biển khơi, nhưng đồng thời Lê Văn Khoa cũng cho chúng ta một cảm giác rất lạ lùng trong hành âm này, đó là sự vươn lên của ý chí, càng bị vùi dập thì con người càng mạnh mẽ, chúng ta sẽ rõ ràng nghe được sự hùng tráng vẫn tiềm ẩn trong tự thâm tâm chúng ta, và nó đã được khơi dậy, khiến chúng ta hào hứng, chúng ta đầy niềm tin vào mình, vào đồng bào của mình và vào nhân loại, và chúng ta sẽ chảy nước mắt trong nỗi hân hoan bí ẩn ấy, nó bỗng dưng xuất hiện giữa cảnh những chiếc thuyền bé nhỏ đang nghiêng ngả giữa sóng gió vô tình của biển cả. Lê Văn Khoa với dòng nhạc của ông trong hành âm 6 đã gợi được sự tự hào ấy nơi con người, con người đầy sức mạnh có thể làm chủ lấy mình giữa thiên nhiên và giữa xã hội, dù phải trải qua nghịch cảnh cho tới đâu.

Với tư cách là những con người tị nạn, chúng ta biết ơn nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã hiến tặng cho chúng ta tác phẩm này, một tác phẩm ca ngợi đất nước và con người Việt Nam, và điều quan trọng nhất là làm bừng sống phẩm giá của con người.

           Lê Văn Khoa và cuộc chiến cho danh dự người Việt - Phạm Kim Vinh

Nhân dịp Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ sắp tổ chức một đêm nhạc quy mô nhằm vinh danh nhạc sĩ Lê Văn Khoa vào ngày 11 tháng 10 năm 2008 sắp tới, chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết rất công phu về con người hoạt động văn hóa Lê Văn Khoa do Luật sư Phạm Kim Vinh tức bình luận gia Trương Tử Phòng của báo Chính Luận ngày trước, sáng lập viên và là Tổng thư ký Hội Phổ Biến Văn Hóa Việt Nam, viết từ năm 1987.
Từ đó đến nay, đã 21 năm qua, nhạc sĩ Lê Văn Khoa vẫn không một phút nào ngơi nghỉ trên con đường hoạt động nhằm phát triển nghệ thuật và văn hóa Việt Nam tại hải ngoại. Ngoài những thành tựu trước năm 1987 mà nhà văn Phạm Kim Vinh nhắc đến trong bài này, chúng ta còn biết nhiều hoạt động khác của nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong thời gian sau này, ngày càng sáng chói rực rỡ hơn, như "Bản giao hưởng Việt Nam 1975" và CD Memories đạt được tiếng vang quốc tế, cùng rất nhiều buổi trình diễn âm nhạc, nhiều khóa đào tạo và triển lãm nhiếp ảnh v.v... làm phong phú đời sống văn hóa của người Việt Nam tị nạn và góp phần giúp thế giới, nhất là người Mỹ, hiểu biết văn hóa Việt Nam hơn.

                                   Bấm vào đây để xem toàn bộ bài viết của LS Phạm Kim Vinh (pdf)

     

                                       Mời quý vị nghe hai nhạc phẩm, lời và nhạc của Lê Văn Khoa:

                                               NHỚ TIẾNG XƯA do Hà Bích Hợp trình bày   

                                                         GỌI NHỚ do Kim Tước trình bày

                                                                 

           Mời xem video Ca sĩ Lê Ngọc Hà hát: Mừng Xuân (Welcome Spring) nhạc, lời, hòa âm: Lê Văn Khoa 

                                                  

                    Tình Hoài Hương - Nhạc & lời: Phạm Duy - Hòa âm & đều khiển dàn nhạc: Lê Văn Khoa

                  Bấm vào đây:   Thái Thanh hát (mp3)           phim video (youtube) 

                                            

      Tìm Một Ánh Sao - Nhạc: Hoàng Trọng; lời: Vĩnh Phúc - Hòa âm & điều khiển dàn nhạc: Lê Văn Khoa

                         Bấm vào đây:   Mai Hương hát (mp3)        Phim video (youtube)

       Vài Bản Nhạc với hòa âm của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa

             

                                            Việt Nam, Việt Nam  Nhạc & lời: Phạm Duy

                   Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội   Nhạc: Phạm Đình Chương - Thơ: Hoàng Anh Tuấn

                               Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng     Nhạc & lời: Phạm Đình Chương

                                         Tiếng Dân Chài   Nhạc & lời: Phạm Đình Chương

      

      

Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Nhạc Trưởng Nguyễn Khánh Hồng, Ban Hợp Xướng Hy Vọng, Dàn Nhạc Vietnamese American Philharmonic Orchestra trong Ngày Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Phạm Đình Chương, La Mirada Theater, 21 tháng 9, 2003

Ghi Chú: Quý vị muốn có CD "Memories" hay "Symphony Viet Nam 1975", xin email về:

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com