arrow
Trang Nhà arrow  Biên Khảo arrow Biên Khảo arrow 39- THỬ ĐỌC LẠI TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG: NƯỚC VĂN LANG - Nguyên Nguyên
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
39- THỬ ĐỌC LẠI TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG: NƯỚC VĂN LANG - Nguyên Nguyên PDF Print E-mail

THỬ ĐỌC LẠI TRUYỀN THUYẾT
HÙNG VƯƠNG: NƯỚC VĂN LANG

(Tiếp theo Cỏ Thơm số 38)

Bình Nguyên Lộc [10] dựa vào việc đồng âm dị nghĩa của tiếng Hán đưa ra giả thuyết rằng 'Văn Lang' là một từ Hán dùng để chỉ một thứ cau, gọi là cau sọc. Cau sọc tức một thứ cau có sọc trắng trên nền xanh của trái cau. Bởi theo tiếng Hán, cây cau hoặc trái cau được gọi ‘tân lang’. Tiếng Mã Lai có từ dùng để chỉ ‘cau’ là ‘Pin nang’, cũng gồm 2 âm, rất dễ đọc trại ra thành ‘Tân Lang’ theo kiểu người Tàu. Bởi ở pên Tàu nhất là miền Hoa Bắc, ngày xưa không có ‘cau’ nên có lẽ họ phải vay mượn từ ‘pin-nang’ để gọi cau, rồi biến ra thành ‘tân-lang’. Và 'Văn Lang' chính là tiếng Hán dùng để chỉ thứ ‘cau sọc’. Tức 'Văn Lang', theo [10], có thể chỉ là từ Hán dùng để phiên dịch từ tiếng dân bản địa, chỉ ... 'nước cau sọc'. Đối với các hình người trên trống đồng có đội mũ lông chim thật to, Bình Nguyên Lộc đặt ra nghi vấn: phải chăng đó là ‘tàu cau’ chứ không phải lông chim. Cũng theo Bình Nguyên Lộc, vào cổ thời dân Việt rất trọng cây cau, và xem cau như một vật tổ quan trọng, với dẫn chứng, rất nhiều địa điểm thiêng liêng ở Việt Nam đều có vết tích cây cau. Đền thờ Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, Chùa Thiên Phúc ở Sơn Tây, Tháp Bình Sơn ở Vĩnh Yên, chùa Thiên  Phúc ở Bắc Ninh, Chùa Keo ở Thái Bình,  chùa Một Cột tại Hà-nội, tất cả đều có cây cau.
   Thuyết 'nước cau sọc' sẽ có thêm cơ sở, nếu biết nước Chăm (Chiêm Thành, Champa, Chàm) vào thời cổ đại có phân chia thành hai bộ tộc Bắc và Nam, vẫn thường 'choảng' với nhau. Phiá Bắc có vật tổ là 'Cau', mang hiệu 'nước Cau' hay 'bộ tộc Cau' (Kramuka Vamsa) và phía Nam, vật tổ 'Dừa', 'bộ tộc Dừa' (Narikela Vamsa) (xem [6]). Dân các bộ lạc Dừa chính là hậu duệ, hoặc bà con rất gần với dân Phù Nam [14]. Dân các bộ lạc Cau ở phía Bắc chính là dân Lạc Lê [10] có chủng bà con với dân Hải Nam nguyên thủy [15]. Bộ lạc Cau phía Bắc giáp giới với nước Văn Lang xa xưa. Nước cau sọc (Văn Lang) có biên giới phía Nam giáp với một 'nước Cau' khác, nên việc tự xưng 'nước Cau Sọc' có thể cũng là một chuyện không nằm ngoài lý lẽ thông thường.
   Taylor [11] trích dẫn Trần Quốc Vượng và Henri Maspero về những thuyết khác biện giải cho tên Văn Lang. Theo Trần Quốc Vượng, Văn Lang chính là tên một thứ chim thần linh totem của bộ tộc các vua Hùng. Lý giải này cũng không giải tỏa được những lấn cấn về chữ Hán ròng, dù rằng dành cho tên...con chim. Maspero đưa ra biện giải rất có thể Văn Lang là một phát âm đọc sai từ Dạ Lang (Yạ Lang), một xứ khi xưa nằm tại tỉnh Quí Châu ngày nay. Chúng ta đã thấy theo trích dẫn ở trên [13], Yạ Lang và Yiệt Lang là hai âm rất gần nhau. Nhưng từ Yạ Lang chuyển sang Wăn Lang, con đường biến âm bắt đầu dựa trên một số quy luật khác (xem [20]), như biến âm giữa /W/ và /Y/ (Yun-nan và Wân-nam (Vân Nam), Wang Yũ => Vương Vũ), vẫn có thể chấp nhận được. Tuy vậy, Yạ Lang hay Wăn Lang cũng không giải tỏa được sự thiếu thốn tính cách nôm-na trong tên Văn Lang.

   Vấn đề có thể được minh giải sáng sủa hơn, đơn giản hơn nếu chúng ta dựa vào mô hình của nước Xích Quỷ như đã đề ra trong một bài trước. Theo đó các tác giả truyền thuyết có lẽ đã dựa vào một khu vực được người Tàu, ở thời bắt đầu xâm lấn xuống Hoa Nam, gọi tên là Yạ Lang, rồi biến đổi chút ít thành ra Văn Lang, cũng dùng để ám chỉ việc xâm mình, tức 'Văn thân' của người bản địa. Y hệt như họ đặt tên nước tưởng tượng Xích Quỷ dựa vào lối gọi một thứ rợ có da màu thổ chu của người Hoa: Xích Địch. Ở một trường hợp khác, nếu tên Văn Lang được quần chúng biết đến sau đời nhà Đường (618-907), chuyện 'Văn Lang' xuất hiện trong các truyện cổ tích rồi về sau, 'Đại Việt Sử Lược', cũng chỉ là chuyện người nước Nam thấy các sư phụ Tàu gọi tên 'nước' mình hồi xưa ra sao, thì bắt chước gọi y như vậy.  Và nếu Văn Lang do các sư phụ Tàu sáng tác, rất có khả năng, Văn Lang bắt nguồn từ ý nghĩa hay âm vận của: Orang (Hoàng Thị Châu), Yạ Lang (một địa bàn của tộc Thái & Miêu ở Quý Châu), Cau Sọc (Bình Nguyên Lộc), Dân Xâm mình (tiếng Hán ròng).

  Các ý niệm chung quanh nước Văn Lang

Muốn minh định rõ hơn sự việc nước Văn Lang có thật hay không, chúng ta hãy thử xem lại những ý niệm về quốc gia, về nước nhà.

   Trước hết xin để ý đến những điểm chính sau đây:

   1. Ý niệm về quốc gia mới xem có vẻ rất đơn giản, nhưng thật ra vô cùng phức tạp, bởi nó luôn biến chuyển theo từng thời đại, từng khối hoặc nhóm chủng tộc khác nhau, và trào lưu chính trị. Thí dụ vào thời xa xưa, thông thường không có đòi hỏi giới cầm quyền phải cùng một thứ chủng tộc với dân tộc đa số trong nước đó. Thí dụ nước Sở, nước Tấn, nước Tề,... ở thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu có những người cầm quyền là Tàu, hoặc lai Tàu, hoặc đa số thuộc chủng Tàu, trong khi khối lê dân thuộc vào một khối các chủng khác với giới cầm quyền. Thí dụ khác, nước Trung Hoa nhất thống dưới thời Nguyên, thời Thanh có khối dân to tát không mang cùng một thứ chủng như giới cai trị, nắm chính quyền.

   2. Ngày nay đa số thảo luận của giới khoa bảng về ý niệm quốc gia thường kèm theo đòi hỏi rất 'thời thượng': Nước đó, nếu được gọi 'nước', phải đạt được 'độc lập' và 'tự chủ'. 

   3. Dưới khía cạnh chủng tộc, lại cũng có rất nhiều mô hình khác nhau. Có nước gần như thuần chủng, như nước Nhật, hay một vài nước ở Bắc Âu, các hải đảo Thái Bình Dương, nhiều quốc gia ở Phi Châu, ... Có nước bao gồm hai ba chủng lớn chung sống với nhau, như Canada với chủng Anh và Pháp. Có nước hoàn toàn một thứ hợp chủng, rất thành công. Một nước tương đối mới: HOA Kỳ. Một nước hợp chủng từ ngàn xưa: Trung HOA. Và gần như ở mọi nước trên thế giới, nước nào cũng có thổ dân, với những dấu tích 'văn minh' rất xưa cũ. Thí dụ: Thổ dân Úc (Aborigine) vẫn thường tự hào đã biết vẽ hình trên động đá cách đây 40000 năm.

   4. Đặc biệt đối với người Hoa, chúng ta cần lưu tâm đến một vấn đề mấu chốt liên hệ đến việc minh xác địa bàn nước Văn Lang ở đây. Đó là thật sự cái ý niệm về 'Quốc gia' của người Hoa vào thuở cổ thời ra sao? Đối với họ, khi nào họ gọi một vùng đất có một khối người sinh sống ở đó là 'nước'. Đại khái, có thể nói họ đã phân biệt khá rõ, nhưng thường chỉ riêng cho những 'xứ' thuộc vòng bang giao hay chiến tranh với họ mà thôi. Nghĩa là trong vòng 'hiểu biết' của các 'nước' chư hầu hoặc thiên triều của chủng Hoa (nhà Châu). Chỉ có nước minh chủ, như nhà Châu, mới có Hoàng đế hay Thiên tử. Đế ở trên hết. Tiếp theo, Vua một xứ láng giềng có bang giao hữu nghị hoặc chiến tranh với họ, hoặc thường hơn, chư hầu, họ gọi 'Vương'. Vua hay 'tù trưởng' một xứ xa xa mà họ biết đến rất ít, họ gọi: 'Quân'. Thí dụ: Tây Âu Quân, vua xứ Tây Âu. Lãnh tụ một xứ xa thật xa, thỉnh thoảng đem lễ vật đến tặng, cầu cạnh sống chung hoà bình, hay trao đổi hàng hoá, họ gọi là: 'Chúa' [10]. Thông thường họ gọi một 'nước' mà họ biết rất ít bằng một thứ từ liên hệ đến chủng tộc hay bộ  tộc: Thị. Thí dụ: Việt Thường Thị, tức một bộ tộc nào đó tự xưng Vương (khoảng 1123 TCN) để làm quen [7] [18].  Thí dụ khác, xứ Dạ Lang, người Tàu thường gọi Dạ Lang Thị, theo sử sách cổ của Tàu trích dẫn trong [10].

   5. Tóm lại, 'nước' đối với người Tàu ở thời cổ đại, nhất là đối với khối Bách Việt, là một ý niệm hết sức lỏng lẻo. Dùng cách nào cũng rất thuận lợi cho đoàn quân chiến thắng của chủng Hoa. Nếu họ dùng từ 'nước', như nước Tây Âu, nước Thục, nước Dạ Lang, nước Mân Việt, ... họ dùng cho nó oai vì họ đã thắng và thôn tính được một 'nước' chứ không phải một bộ lạc nhỏ xoàng xĩnh. Nếu họ dùng 'Thị' hay 'bộ tộc' họ xác nhận được danh chính ngôn thuận ngay tại chỗ, theo chủ thuyết terra nullius, đất trống không có loài người văn minh. Y như thực dân hàng chục thế kỷ sau. Cũng là cái lý do chính đáng để họ ở lại đó luôn. Bởi xứ đó hãy còn man rợ, cần họ giúp đỡ quản lí hành chánh và chỉ dẫn ánh sáng của văn minh. Tóm lại, đối với người Tàu, phân biệt 'nước' hay 'Thị', đường nào cũng có lợi cho họ hết. Họ không hề quan tâm. Đặc biệt chúng ta có thể để ý, theo sát và dính liền với ý niệm quốc gia họ tặng cho 'nước' mà họ thôn tính được, chính là những tên huyện quận và cả tên nước đều dùng tiếng Hán ròng. Luôn luôn họ nhấn mạnh, các tên tiếng Hán này đã có từ xưa. Với hàm ý: nước đó thời cổ đại người Hoa cũng đã biết đến rồi và đã đặt tên cho các phân bộ hành chánh từ khuya [19]. Tiền nhân tại nước Việt gần như không có sự chọn lựa nào hết, nhưng thường thích quan niệm tổ chức nước nhà và nhà nước đã có sẵn,  trước khi Hán tộc đến thôn tính. Bởi trên quan điểm đó mới có thể dẫn đến những cuộc chiến giành độc lập, và cuối cùng nền độc lập và tự chủ. Tuy vậy tiền nhân ở nước Việt rất thường dễ dãi với ý niệm rất sâu sắc (‘xấu’) đã kèm sát theo ý niệm 'nước' người Hoa đã tặng cho: tên nước, tên quận huyện toàn bằng tiếng Hoa, và đã có từ xưa, trước khi có chiến tranh thôn tính. Tức một khi người ta chấp nhận tên nước, tên bộ phủ bằng tiếng Hán ròng, ta  đã ngầm chấp nhận luôn chủ nhân các vùng đất ấy từ ngàn xưa cũng là người Hoa, bởi họ dùng tiếng Hoa để đặt tên cho những khu vực đó. Nhiều khi chỉ ở việc dễ dãi nhận các tên quận huyện bằng tiếng Hán này, rồi nói chính ‘vua Hùng Vương’ đã phân chia bộ và đặt tên, đã gây một vết lem nho nhỏ cho nền độc lập nguyên thủy của nước Nam.

   Bây giờ chúng ta thử quan sát thêm một số ý niệm về quốc gia, về nước nhà và nhà nước.

   Ý niệm 'bình dân' nhất thường cho rằng một nước phải có đủ 3 thành tố: lãnh thổ, dân tộc và chính quyền. Nhưng chúng ta sẽ thấy 3 thành tố đó chỉ tạo nên điều kiện cần, chứ không phải luôn cho điều kiện đủ, cho một quốc gia ở thời cổ đại.

   Lịch sử thế giới chỉ nội trong thế kỷ 20 vừa qua đã cho thấy lãnh thổ có thể co giãn, thu hẹp lại, hoặc bành trướng, hay bị cắt đôi chia ba. Thí dụ: Ấn Độ sinh ra thêm Pakít-tăn rồi tách ra Bangla-Đesh. Nước Do Thái được thiết lập trở lại. Trung quốc nuốt luôn Tây Tạng. Nhiều nước bị chia đôi xẻ ba. Thí dụ: Triều Tiên, Liên Xô (cũ),...

   Dân tộc lại càng phức tạp hơn. Ý niệm dân tộc cũng lại mơ hồ. Rất nhiều nước có rất nhiều chủng. Nhất là các quốc gia mới thành lập trong vòng vài trăm năm qua, như Mỹ, Úc, Canada, ... Rồi vấn đề di tản tị nạn được quốc tế nhìn nhận đưa đến ý niệm 'xin chọn nơi khác làm quê hương'  mỗi khi con người thấy bị kỳ thị áp bức do ở quan điểm chính trị, tôn giáo hay chủng tộc. Việc di tản thường xảy ra mỗi khi có chiến tranh binh lửa khốc liệt.  Và người di tản xin tị nạn ở nước khác, an bình hơn, có khả năng hoặc nhu cầu kinh tế khá cao, để có thể thu nhận họ. Ngoài ra còn việc di dân đối với những người có ngành nghề thuộc nhu cầu tại các nước tiên tiến khác. Đó là việc 'chảy não'. Vài năm sau khi định cư, người di tản hoặc di dân được mang quốc tịch mới, và gia nhập vào khối 'dân tộc' của nước mới. Kết quả: ý niệm 'dân tộc' càng ngày càng trở nên sinh động bởi luôn luôn thay đổi, mặc dù rất chậm. Nhưng cũng sinh động hơn ngày xưa.

   Chính quyền, tuy là một trong ba thành tố, nhưng thường rất quen thuộc và nổi bật nhất trong vấn đề ‘quốc gia’. Bởi chính quyền thông thường vừa là một ý niệm, cũng vừa là một thực thể. Mặc dù dân tộc và lãnh thổ là thành phần nòng cốt, nhưng nước nào cuối cùng phải được biểu hiện và đại diện bằng chính quyền. Chính quyền cũng là một thực thể, bao gồm một nhóm người trực tiếp chịu trách nhiệm về an ninh, cơm ăn áo mặc, cho dân chúng và bảo toàn lãnh thổ quốc gia. Nhưng ta cũng để ý, hầu hết và gần như đến 99% các quốc gia ngày nay đều có vài ba dạng thức chính quyền giống giống với nhau. Tức bao gồm 3 thành phần: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Một nguyên thủ, như quốc trưởng, hay tổng thống, nữ hoàng, hoặc Vua, hoặc chủ tịch, kiêm luôn hay cộng với một chức vụ (như thủ tướng) cầm đầu nội các. Nước nào cũng giông giống như vậy. Đặc điểm của nội các là phân chia 'chuyên ngành'. Nội các nước nào cũng có những Bộ chính như: giáo dục, tài chánh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, v.v... 

   Đối với các nước ở miền Hoa Bắc (phía Bắc sông Dương Tử) ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, chúng ta thấy họ hội khá đầy đủ 3 thành tố kể trên của một quốc gia, theo với khung đối chiếu của thời đó. Mặc dù biên giới từng nước chưa được xác định rõ, nhưng sau một cuộc chiến tranh một sống một còn, người ta có thể thẩm định được biên giới của nước đã bị tiêu diệt, ngày trước đã rộng đến đâu. Thành tố dân tộc cũng không thua hay hơn thời bây giờ bao nhiêu. Các chủng cứ sống chung nhau trong cùng một lãnh thổ trước đã, rồi sau vài mươi năm, vài trăm năm - dưới sự điều động và tác động của chính quyền (trung ương), hoặc do ở sinh hoạt chung với nhau - sẽ tạo được thành một dân tộc đặc thù cho nước đó. Chính quyền của các nước ở Hoa Bắc cũng được thể hiện rất rõ nét. Đặc biệt họ đã tiến đến những thể chế chính trị rất siêu đẳng vào thời đó. Bởi họ có đầy đủ chính quyền trung ương, cầm đầu tất cả chính quyền địa phương. Có ‘nội các’, có một số ‘hiến pháp’ không thành văn quy định các chức vụ trong triều, phân chia giai cấp thứ bực, luật pháp, quyền đại diện (như quan lớn có công trạng được quyền tiền trảm hậu tấu), và trên một hai địa hạt đã đi trước văn minh Tây Phương cả ngàn năm. Điển hình nhất là cái chức ‘Quân Sư’ của những tay như Thúc Nha, Quản Trọng, Tôn Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử… Thời bây giờ thường gọi: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia.

   Miền Hoa Nam hay ‘Lĩnh Nam’, so với Hoa Bắc thì sao? Buồn năm phút: Thua xa. Lãnh thổ và dân tộc: Có vẻ như hãy còn trong tình trạng các bộ lạc sống gần gũi với nhau, rất nhiều khi khác nhau qua chi chủng, hay hoàn toàn khác chủng với nhau. Chính quyền: Không có chính quyền thực thụ ở trung ương theo như mô hình của các nước ở miền Hoa Bắc. Lý do chính:

   - Hoa Nam không bị sức ép của thiếu thốn thực phẩm như phía Tây Bắc nước Tàu (rợ Nhục Chi, Hung Nô). Để ý, rất ăn khớp với thuyết Ngũ Hành: Tây khắc Đông. Chu diệt Thương. Tần diệt Chu – sau khi Chu dời đô về Đông. Sở thôn tính nước U Việt ở phía Đông. Tần diệt Sở rồi gồm thâu lục quốc, phần nhiều ở hướng Đông.Tây khắc được Đông nhờ ở thế 'thượng phong' của con ngựa và chữ viết, đều xuất hiện trước tiên ở phía Tây.

   - Hoa Nam, mặc dù có thể có 3 điều kiện cần cho hình thái ‘nước nhà’ kể trên, trong dạng thô sơ nhất, nhưng lúc nào cũng thiếu 2 điều kiện đủ kia: ‘con ngựa’ và ‘chữ viết’. Có con ngựa mới có phương tiện mạnh mẽ hỗ trợ cho chiến tranh, và truyền thông từ trung ương và tạo dựng đời sống cộng đồng quốc gia. Có chữ viết mới có người viết, mới sinh ra chủ thuyết hỗ trợ cho nhà nước quân chủ, hay các lí thuyết về việc an dân trị nước. Mới có được sinh hoạt quốc gia: như trồng trọt canh nông, làm lụng tập thể, sáng tạo nghệ thuật, thi văn, ca hát (thí dụ: Sở Từ), xâm lăng hay phòng thủ, bang giao với các xứ lân cận, v.v.. Mới có được những cơ viện trung ương, như Triều Đình, trung tâm quyền lực nhà nước. Mới có được pháp lệnh, thưởng phạt đối với từng cá nhân trong xã hội. Duy trì an ninh trật tự.

   Đến đây chúng ta có thể đi đến một kết luận sơ khởi: Nước Văn Lang, có vẻ là một nước không thể có thật. Dù ở dạng với biên giới thu hẹp trong vùng đất Bắc Bộ ngày nay. Nếu có thật chăng nữa, ý niệm về ‘nước’ của các chủng ở khu Lĩnh nam (Hoa Nam) đã có nhiều điểm khác biệt với các nước ở Hoa Bắc thời Đông Châu liệt quốc. Nói nôm na hơn, nước Văn Lang không thể nằm ngoài hình thái của tất cả các nước khác của nhóm Bách Việt ở Hoa Nam. Tức bao gồm một số bộ lạc đông dân gần gũi với nhau, thường hợp sức hợp quần với nhau khi có đe dọa từ bên ngoài, tứ một chủng khác dữ dằn hơn và đầy đủ phương tiện văn minh hơn. 

TÓM TẮT:

   Trong bài này, chúng ta đã thử quan sát một vài sự kiện thực tế để tìm giải đáp cho câu hỏi: 'Nước Văn Lang có thật hay không? Nếu có, lãnh thổ Văn Lang đã rộng đến đâu?'

   Tiện dịp chúng ta đã tóm tắt ghi lại những lý giải có vẻ có chất lượng nhất cho một cái tên nước toàn dùng tiếng Tàu ròng trên một vùng đất trước đó, những người sinh sống không hề biết đến một chữ Tàu. Và cũng thuộc nhiều chủng khác nhau. Những ý niệm về nước nhà và nhà nước cũng được xem qua, và chúng ta đã phát hiện thêm hai thành tố quan trọng đã tạo nên toàn bộ năm (5) điều kiện cần và đủ để một thực thể có thể xem đã tiến tới hình thái quốc gia và nhà nước, nhất là vào thuở cổ thời. Đó là: Con ngựa và chữ viết. Năm thành tố, tạo nên một tập hợp các điều kiện cần và đủ cho hình thành của 'nước', là: (1) Lãnh thổ; (2) Dân tộc, (3) Chính quyền (triều đình), (4) Con ngựa, và (5) Chữ viết. Hai thành tố sau (4) và (5) phải có mới có thể quản lý sinh hoạt và điều động được tổ chức quốc gia. Cũng chính nhờ hai thành tố này, chủng Hoa đã tiến nhanh tiến mạnh đến việc hình thành nước nhà và nhà nước, để rồi sau khoảng 800 năm nhất thống được cả lục địa phía Bắc sông Dương Tử. Sau khi nhất thống, nhà Tần, tiếp theo bằng nhà Hán đã tiến chiếm trọn miền Hoa Nam (Lĩnh Nam), rất thần tốc như thế chẻ tre. Nguyên do chính: Khối Bách Việt ở Hoa Nam vào thời đó còn rất nhiều lủng củng trong cách thức tổ chức xã hội. Nhất là 5 thành tố cần và đủ kể trên vẫn chưa đạt được đến một góc, một phần nhỏ của hình thái ở miền Hoa Bắc. Khối Bách Việt cũng không có kinh nghiệm xương máu của chính trị, chiến tranh và hoà bình, như Hoa Bắc trong suốt hằng trăm năm Xuân Thu Chiến Quốc.
   Trong bài tới, chúng ta sẽ thử vạch ra một mô hình để nhận diện lại ý niệm về nước trong khối Bách Việt. Đặc biệt sẽ thử xem nước Văn Lang, nếu có, đã có thể rộng đến đâu. 

NGUYÊN NGUYÊN
 (Australia)

Ghi Chú:
[1] Nguyên Nguyên (2005) 18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về liên tục. Xem khoahoc.net, aihưucongchanh.com, honque.net. v.v.
[2] Trần Trọng Kim ( 1971) Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục xuất bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[3] Ngô Sĩ Liên và cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc Luật  hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[4] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương – Géographie Humaine et Sociologie. Institut d’Ethnographie. Paris
[5] Đọc sử 'nước' Chăm (thí dụ [6]) chúng ta thấy cho đến thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên, 'nước' Chăm hãy còn bao gồm rất nhiều tiểu vương quốc trong một dải đất rất hẹp. Đừng nói chi đến nước Hồ Tôn ở thời huyền sử.
[6] Ngô Văn Doanh (2003) Văn hoá cổ Champa. Nxb Văn Hoá Dân Tộc.
[7] Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp TP.HCM.
[8]Phụ đạo viết theo 辅 导  mang nghĩa người Thầy dạy học, có thể Thầy dạy kèm con vua. Viết như  nghĩa: con đường của Cha, ‘đạo’ làm Cha, hoặc vai trò Cha Chú...
[9] http://www.bsos.umd.edu/CSS97/papers/competin.html
http://www.slovak.sk/magazin_slovakia/496_Slovakia/history/history1.htm
http://repositories.cdlib.org/csd/03-09/  
http://college.hmco.com/history/west/mosaic/chapter13/source388.html
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_date_of_nationhood
[10] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA) tái bản.
[11] Keith Weller Taylor (1983) The Birth of Vietnam. University of California Press.
[12] Hoàng Thị Châu (1969) Nước Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ. Nghiên cứu lịch sử 120. pp.37-48.
[13] Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi và Hoàng Hưng (1973) Thời đại Hùng Vương. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[15] Chuyện cổ tích của miền Nam Cam-Bốt, tức địa bàn xứ Phù Nam xa xưa, vẫn đề cập đến Bà Chúa Lá Dừa.
[16] Quyển 'Mã Lai' của Bình Nguyên Lộc có dẫn chứng lịch sử cho rằng mỗi khi có biến loạn tại nước Chăm, người hoặc binh lính Chăm ưa chạy về đảo Hải Nam để tị nạn. Người Chăm và Hải Nam ở thời cổ đại có lẽ có bà con hay ít lắm hiểu được tiếng nói của nhau.
[17] Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc. Nxb Văn Hoá
[18] Đây cũng là một điểm sử sách Việt dễ bị lộn xộn nhầm lẫn. Theo với những luận cứ của loạt bài này, bộ lạc Việt Thường chỉ có thể là đám rợ chủng Yueh ở lưu vực sông Hoàng Hà gần miền Sơn Đông (rợ Đông Yi). Rợ Đông Yi tại Sơn Đông cũng có nhuộm răng, xâm mình y hệt như dân Lạc Việt. Chỉ có đám rợ này mới có thể đi đến Kiểu Kinh, kinh đô Tây Châu nằm trong tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Không có cách gì bộ tộc Việt Thường nằm ở Hoa Nam hay khu vực Bắc Việt được bởi ở lí do đường xá xa xôi và phải xuyên qua hàng ngàn bộ lạc rợ khác ở miền Hoa Nam. Và chuyến đi giao hảo xa xôi như vậy hoàn toàn không cần thiết. Theo thiển ý, chính ở chỗ có một bộ tộc Việt nào đó muốn tặng vua nhà Châu con chim Trĩ, nên từ đó người Hoa gọi thứ chủng Lạc đã tính tặng họ con chim Trĩ đó là chủng Lạc viết theo bộ Trĩ (còn gọi Trãi): Lạc bộ Trãi ở miền Sơn Đông, Giang Tô và Chiết Giang ngày nay:  phân biệt [10] với Lạc bộ Chuy chỉ dân Môn và Miến Điện, Lạc bộ Mã  chỉ dân Mân Việt ở Phúc Kiến, và Lạc bộ Khương tiền thân của dân Khmer. Hy vọng sẽ trở lại vấn đề này vào một dịp khác.
[19] Rất nhiều quyển sách sử Việt Nam (xem [2], [3], [7]) đều trích một đoạn, chắc chắn do những quan từ Bắc Phương soạn giúp: Ở thời cổ đại xa xưa, vua Tàu có biết đến một xứ Giao Chỉ hay Việt Thường nào đó, và họ chia sẵn xứ đó ra thành 15 Bộ. Bí quá họ viết tiếp thêm tên 15 bộ bằng tiếng Hán ròng, dựa trên tên các quận huyện ở đời sau, tức những tên họ đặt ra cả trăm năm sau khi thiết lập được thể chế đô hộ lên xứ sở của người nước Nam. Các vị sử gia Việt vội vã ‘Việt Nam hoá’ cho rằng chính Hùng Vương đã phân chia ‘nước’ ra 15 bộ rồi đặt tên toàn bằng chữ Hán ròng, cho 15 bộ đó.
[20] Nguyên Nguyên (2004) Từ chữ Nôm đến quốc ngữ. Toàn bộ 8 bài. Có trên các web: Khoahoc.net, Aihưucongchanh.com, Honque.net.

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com