arrow
Trang Nhà arrow Giao Điểm arrow 39- Ỷ LAN THÁI PHI - Nguyễn Phú Long
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
39- Ỷ LAN THÁI PHI - Nguyễn Phú Long PDF Print E-mail

Ỷ LAN THÁI PHI

Xa xăm và cũng rất lâu,
Tự nhiên hồi tưởng lại câu chuyện nàng:
Ỷ-Lan tình đẹp mơ màng,
Trước sau xin kể rõ ràng...Ngày xưa...

Ngày xưa.
Thời gian cách đây khoảng một nghìn năm, khi đó Vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072 ) đã bốn mươi tuổi mà chưa có con trai nối dõi, ngõ hầu sau này truyền lại ngai vàng, nên ngài thường ngự du các danh lam thắng cảnh, đi lễ chùa chiền khắp nơi để cầu tự. Mong sao với tấm lòng thành kính van vái tứ phương, câu “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.” Sẽ không còn là nỗi ám ảnh, buồn phiền…
Một hôm khi vua Lý-Thánh-Tông qua làng Thổ-Lỗi (sau đổi là hương Siêu-Loại.) thuộc phủ Thuận-Thành, tỉnh Bắc-Ninh bây giờ. Dân chúng biết tin vội đổ xô ra hai bên đường chiêm bái rất đônG.  …Duy có một người con gái làm nghề hái dâu nuôi tằm, đứng dựa vào cây lan từ xa, dáng vẻ thờ ơ.
Vua thấy thế lấy làm lạ, bèn sai người nạp vào cung cho làm phu-nhân, đặt tên là Ỷ-Lan (dựa vào cây hoa lan, Magnolia champaca.)
Về sau Ỷ-Lan sinh được người con trai, Vua Lý-Thánh-Tông mừng rỡ, đặt tên là Càn-Đức rồi lẽ dĩ nhiên Càn Đức sẽ giữ chức thái-tử và trở thành Vua Lý-Nhân-Tông (1072 – 1127 ) sau này. Còn Bà Ỷ-Lan thì nhờ đó cũng được cất nhắc lên hàng nguyên-phi. Đến khi Lý-Nhân-Tông lên ngôi đã phong cho mẹ làm thái phi… Cuộc đời người con gái hái dâu, nuôi tằm như thế là đã lên đến tuyệt đỉnh vinh hoa phú quý rồi!
Ấy thế mà, theo Việt-Nam Sử Lược của Trần-Trọng-Kim, khi thấy Dương-Thái-Hậu giữ nhiều quyền hành, trong bụng Ỷ-Lan không yên, sợ có gì bất trắc xẩy ra cho mình nên bà đã súi Vua Lý-Nhân-Tông bắt Thái-Hậu và 72 người thị nữ tay chân bỏ ngục tối rồi đem giết cả.
Hành động giết người này cũng khá ghê gớm đối với một người đàn bà, làm cho ta liên tưởng tới nhân vật Võ-Tắc-Thiên ở hậu bán thế kỷ thứ bẩy đời nhà Đường bên Trung-Quốc. Tuy nhiên, lý do giết Dương Thái Hậu như trong Việt-Nam Sử Lược chắc không đúng bởi vì lúc đó Lý-Thánh-Tông  đã băng hà, con bà là Lý Nhân Tông đang làm vua, bà đâu có sợ gì Dương-Thái-Hậu nữa! Bà giết Dương Thái Hậu có lẽ vì lòng hận thù, ghen ghét giữa hai người đàn bà lấy chung một chồng mà thôi!
Ngược lại, về mặt nhân từ, Ỷ-Lan cũng làm được  nhiều việc hữu ích. Bà thường phát tiền bố thí cho dân nghèo và bỏ tiền chuộc những con gái nhà nghèo phải đem thân cầm bán, để mà gả cho những người đàn ông góa vợ. Đây là hành động rất nhân đạo, rất tình nghĩa nhằm tạo dựng nền tảng gia-đình, xã hội lành mạnh. Nếu chẳng có bà làm việc này thì những kẻ đàn ông không may giữa đường đứt gánh khó có đủ phương tiện, khả năng lấy vợ lần nữa và các cô gái nghèo thì suốt đời phải sống cảnh nô lệ tối tăm.
Sử sách còn ghi rõ ràng, hơn một lần, Ỷ-Lan Thái Phi có cơ hội góp phần chung lo việc nước: Lần thứ nhất vào tháng hai năm Kỷ-Dậu 1069 khi Lý-Thánh-Tông thân chinh dẹp loạn Chiêm-Thành, nhà vua đã tạm thời ủy thác công việc triều chính cho bà. Nhưng quan trọng phải kể thời gian sau khi vua băng hà, giặc Tống lăm le xâm lược lần thứ nhì, Vua Lý-Nhân-Tông mới lên mười, bà đã cùng Thái Uy Lý-Thướng-Kiệt và Thái Phó Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Lý Đạo Thành cùng nhau chèo chống giữ vững giang san. Sau nhiều năm ngồi buông mành dự bàn việc nước, khi nhà vua đã trưởng thành, đất nước thanh bình… bà quyết định trở lại cuộc sống bình thường của một Thái Hậu chẳng mảy may tham quyền cố vị.
Về mặt văn học, sáng tác thơ văn, bà không có hoạt động đáng kể, tuy nhiên cũng còn truyền lại cho chúng ta một bài kệ phát biểu quan điểm về hai phạm trù quan trọng của triết lý nhà Phật là Sắc và không:
Sác thị không, không tức sắc,
Không thị sắc, sắc tức không,
Sắc không câu bất quản,
Phương đắc khế chân tông.

Dịch nghĩa:
Sắc là không, không tức là sắc,
Không là sắc, sắc tức là không,
Sắc không đều chẳng màng,
Thì mới hợp chân tông.

Thời gian bà nhập cung, có những chuyện sẩy ra từ trước, nhưng thế nào mà bà chẳng rõ, thí dụ như Vua Lý-Thánh-Tông có thể cũng là một người con cầu tự qua giấc mơ của vua cha Lý-Thái-Tông (1028–1054)
Được Phật Bà Quan Âm đứng trên một bông sen trao cho đứa bé, rồi tiếp đó hoàng hậu thụ thai… rồi dẫn đến việc xây Chùa Một Cột, hiện di tích còn đến ngày nay.
Sau này hẳn bà biết rõ hơn ai, cô cháu nội của bà là công chúa Văn-
Khôi, nhan sắc tuyệt trần, nhưng đã cưỡng lại ý lệnh của vua cha Lý-Nhân-Tông, không chịu kén phò mã mà quyết định đi tu ở một ngôi chùa nhỏ, hẻo lánh, về sau trở thành Chùa Long-Giáng, nổi tiếng, hầu hết mọi người đều biết qua câu chuyện được Khái-Hưng kể trong cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên như sau:
“Khi lớn lên chẳng tưởng gì tới việc trần duyên, chỉ ngày đêm học đạo tu hành. Sau nhà vua có ý kén phò mã, công chúa liền đang đêm lẻn bước chốn đi, và nhờ có các thần tiên đưa đường chỉ lối tới nơi này xin thọ pháp Đức Cao Huyền Hòa Thượng.”
 “Về sau có thám tử báo tin, đức vua mấy phen cho người đến chùa đón công chúa về triều, nhưng công chúa nhất định không nghe. Nhà vua nổi giận, bèn truyền quan quân phóng hỏa đốt chùa. Ngọn lửa vừa nhóm, bỗng một con rồng vàng hiện lên phun nước tắt ngay, vì thế chùa này mới lấy tên Long-Giáng từ thuở ấy…”
Sống trong một xã hội mà Phật giáo được tôn sùng và tin tưởng như thế, lại sẵn có điều kiện, phương tiện nên Ỷ-Lan đã xuất của riêng, hô hào công sức, tài lực của mọi người để thực hiện xây cất gần một trăm kiểng chùa ở rải rác khắp nơi mà đáng kể nhất là ngôi Chùa Dạm tên chữ là Đại Lãm Thần Quang Tự trên núi Lãm-Sơn thuộc tỉnh Bắc-Ninh bây giờ.
Chùa Dạm xây trên nhiều tầng núi cao thấp khác nhau. Tầng trên cùng có đền thờ Ỷ-Lan Thái Phi, tầng thứ nhì kể từ dưới lên, bây giờ vẫn còn dấu vết của một cái giếng xưa, tương truyền gọi là giếng Bống do bà Ỷ-Lan sai đào để nhắc nhớ một thời thơ ấu nghèo khó.
Bà cũng cho xây một ngôi chùa thật đồ sộ tại hương Siêu-Loại, nơi bà và Lý-Thánh-Tông gặp nhau lần đầu, đặt tên là Chùa Linh Nhân nhưng dân gian về sau ưa gọi là Chùa Bà-Tấm.
Ỷ-Lan Thái Phi không rõ tên họ là gì, cha mẹ là ai, thân thế ra sao… chỉ biết sơ nguyên bà làm nghề hái dâu nuôi tằm ở hương Siêu-Loại thế thôi.
Theo cuốn Sử Xanh Lưu Truyền  của Qúy Linh xuất bản năm 1991 ở California. Có một bài ngắn nói về Ỷ-Lan thì Ỷ-Lan tên là Yến Cô Nương, tục danh Cô Cám, và khi gặp Lý-Thánh-Tông Ỷ-Lan đã đứng tựa vào bụi cỏ lan!
Theo sách Danh Nhân Đất Việt  của một nhóm người nghiên cứu in tại Sài-Gòn năm 1989 thì Nhà Văn Nguyên Anh cũng kể là: “Cô gái hái dâu hương Thổ-Lỗi, một buổi đứng dựa vào khóm cỏ lau (hay lan?) mà lọt vào mắt một hoàng đế nhà Lý đi tuần du, được nhà vua vời vào cung. (tập 1 trang 195)
Học giả Trần-Văn-Tích mặt khác lại cho biết, đời sau, thời Lê mạt có bà cung tần trong phủ Chúa Trịnh đã soạn một bản thần tích nhan đề “Lý Triều Đệ Tam Hoàng Thái Hậu Cổ Lục Thần Tích Quốc Ngữ Diễn Ca” thì chân dung Ỷ-Lan thái phi được mô tả như sau:
Phương phi mày liễu mặt hoa,
Má đào môi hạnh da ngà lưng ong
Quỳnh tư diệu chất lạ lùng,
Miệng cười muôn tía nghìn hồng nở ra,
Càng nhìn càng một nẫu nà,
Thu ba thua sắc, xuân hoa thẹn mầu.

Với danh hiệu Bà Tấm, với cái giếng Bống trên Chùa Dạm, với cuộc đời của bà, từ một cô gái hái dâu nghèo khó may mắn bước lên chốn cao sang quyền quý… Mọi người, kể cả bà nữa, chắc đã thấy thân phận của bà thấp thoáng giống hoàn cảnh của nhân vật Cô Tấm trong truyện cổ tích “Cô Tấm Cô Cám” xưa…
Trong truyện cổ tích nhân vật Cô Tấm có mẹ chết sớm, như thế chẳng biết có phải Ỷ-Lan cũng mồ côi từ mẫu và phải sống trong một gia đình dì ghẻ con chồng nổi tiếng khắc nghiệt hay không! Và nếu đúng như thế, chắc là thiếu thời bà đã bị dì ghẻ bạc đãi điêu đứng chứ chẳng thể nào tránh được! “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng.”
Nhưng nếu có đúng như thế chăng nữa, thì hoàn cảnh của Ỷ-Lan cũng chỉ giống truyện cổ tích ở giai đoạn đầu. Giai đoạn bị hất hui, ghét bỏ, hành hạ… thế thôi! Cái giếng Bống làm nhớ đến đoạn chuyện kể, cô Tấm là một đứa bé cô đơn, không kẻ đoái hoài trong gia đình, ngoài mấy con cá bống mà cô nuôi lén dưới giếng làm bạn để rồi sau khi hoàn tất công việc cực nhọc suốt ngày, chiều chiều đem dấu vài hột cơm thừa thả xuống giếng rồi gọi cá bống lên mặt nước ăn cơm:
“Bống bống bang bang, mày ăn cơm vàng cơm bạc nhà tao, chớ ăn cơm hẩm cháo hôi nhà người.”
Đào giếng và đặt tên là giếng Bống, tên  “Bà Tấm” rất phổ biến và không bị cấm cản gì… Như thế, hình như Ỷ-Lan Thái Phi rất khoái sự ví von cuộc đời của bà như số phần Cô Tấm trong truyện cổ tích xưa…Ỷ-Lan có vẻ là người có tâm hồn nghệ sĩ, lãng mạn.  Chẳng biết mỗi lần trước những nghịch cảnh đau khổ bà có thường ngồi khóc như Cô Tấm không ???
Đã có sáng kiến đặt tên giếng Bống thì thể nào chẳng cho thả  vài con cá bống dưới giếng cho nó giống y câu chuyện xưa. Song những con cá bống của bà chắc chắn không được ông Tiên thỉnh thoảng hiện ra biến hóa thần kỳ để thay đổi cuộc đời bà như truyện cổ tích Cô Tấm Cô Cám được, mặc dù sau này bà cũng có một cuộc đời cao sang quyền quý không ai bằng.
Sử sách không ghi chép bà thọ bao nhiêu tuổi. Cuốn Kiến Trúc Phật Giáo Việt-Nam của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng do Hoa Cau xuất bản năm 1989 cho biết lúc về già Ỷ-Lan Thái Phi về ở hẳn trên Chùa Dạm, cho mở chợ ngay trước cổng chùa dưới chân núi và cho đào một con ngòi chạy thẳng ra Sông Thiên-Đức để nhà vua đi thuyền rồng cho tiện đường vào thăm bà.
Con ngòi thẳng tắp, nghe kể đào có một đêm là xong, nên được gọi là ngòi Con Tên, trên bờ ngòi trồng 100 cây thông, chẳng may hai cây bị chết nên rất tiếc không đủ chỗ cho 100 con phượng hoàng về đậu:
Trên chùa dưới chợ.
Hàng phố hai bên
Núi Rồng ở trên
Ngòi Tên ở dưới.

Bốn câu thơ tả cảnh khu chùa thật là xầm uất, thanh bình. Việc đào ngòi Con Tên với 100 cây thông va 100 con phượng hoàng có vẻ hào hứng, nhưng rất tiếc, nếu thận trọng phải nghĩ là hoang đường! Ngô Tất Tố than phiền khi viết về đời nhà Lý: “Đời thì xa… tài liệu lại bị thất lạc…” thành ra có nhiều sự việc nay ta không được hiểu rành rọt thế nào!
Tại sao đào ngòi ban đêm mà không đào ban ngày nhỉ? Chẳng lẽ người dân hồi đó quá bận rộn trong việc mưu sinh đâu có thì giờ nên phải đào ban đêm? Theo sách Bắc Ninh toàn tỉnh Địa Dư Chí thì ngòi Con-Tên phải đào xuyên qua Núi Rùa (Quy Sơn), vậy mà đào có một đêm đã xong! Lại nữa, không đủ cây thông cho 100 con phượng hoàng về đậu rồi giải quyết làm sao?
Ở vùng Nghệ An Hà Tĩnh ven Sông Cả thuở xưa, người ta cũng đồn rằng có 99 con chim phượng hoàng thường tới đậu trên 99 đỉnh núi cao chót vót của rặng Hồng Lĩnh. Nhưng kể từ năm Mậu Ngọ 1558 Ông Nguyễn-Hoàng nghe lời Ông Nguyễn Bỉnh-Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân.” bèn kéo quân vào phương Nam lập nghiệp. Nhưng khi ngang qua rặng Hồng-Lĩnh đã không dừng lại nơi đây làm đế đô mà lại đi qua bên kia Đèo Ngang nên 99 con chim phượng hoàng đã cất cánh bay đi và không trở lại.
Đó cũng là một câu chuyện về chim phượng hoàng. Đất lành chim đậu. Hình như để chim phượng hoàng bỏ đi là một điều đáng tiếc, là bỏ lỡ một cơ hội để làm nên một chuyện gì tốt đẹp, to lớn, khác thường! Có lẽ ý của những câu chuyện về chim phượng hoàng là vậy. Trong bài thơ nhan đề Phan-Thiết! Phan-Thiết! Thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng tự coi ông ta xưa kia là chim phượng hoàng:
“Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng,
Vỗ cánh bay chín từng trời cao ngất. “
Vậy phượng hoàng là giống chim gì, hình dáng ra sao mà quý như thế? Thực sự thì đến bây giờ cũng không ai thực sự biết con chim phượng hoàng nó như thế nào! Chuyện chim phượng hoàng chắc cũng giống như chuyện về con rồng, về chiếc lá diêu bông không có thực và như vậy thì không quan trọng. Điều quan trọng là những di tích uy nghi, đồ sộ, quý báu xưa như Chùa Dạm đã không còn nữa.
Hồi đó chắc chưa có vấn đề bảo tồn cổ tích. Thời gian đã tàn phá dần dần, bây giờ thì thời gian đã tàn phá hoàn toàn. Có ai lên Núi Lãm Sơn may ra chỉ còn thấy những lớp nền lờ mờ xẻ vào sườn núi thế thôi.
Thật đúng như câu “thương hải biến vi tang điền.” Những công trình vật chất tưởng có thể tồn tại thi gan cùng tuế nguyệt thì nếu không được tu bổ giữ gìn, số phần thường hoang phế và tàn biến dần. Ngược lại, cũng may thân phận con người dù bé nhỏ, yếu ớt so với thiên nhiên vạn vật, đôi khi vẫn còn là vang bóng một thời! Thì như chuyện Bà Ỷ-Lan đó !
Chuyện bà Ỷ-Lan chắc sẽ còn mãi để nhắc nhở những hình ảnh từ gần một nghìn năm trước… nhưng có điều người ta nhớ chuyện Bà Ỷ-Lan không phải tại bà là Thái Phi, cũng không phải tại bà đã phát tâm công đức xây dựng chùa chiền, mà chính là vì mối tình giữa bà với Lý-Thánh-Tông. Hay nói đúng hơn, chính là vì cuộc gặp gỡ giữa người đẹp tầm tang và Linh Nhân ở hương Siêu Loại. Có lẽ cũng bởi cái mối duyên rất là nên thơ ấy nên đã có người đời sau cảm khái mà viết ra mấy vần lục bát như vầy:
Gặp Gỡ Giữa Đàng
Em là con gái Bắc-Ninh,
Hái dâu nong kén ươm tình thơ ngây.
Một đoàn xe ngựa bụi bay,
Bâng khuâng em tựa gốc cây lan già.     
Hình như trong kiệu ngó ra
Thấy em hờ hững từ xa vô tình.
“Trúc xinh trúc mọc bên đình
“Em xinh em đứng một mình…” kệ em!
Ngựa xe thôi chẳng buồn xem,
Mớ dâu mới hái toan đem về nhà.
Người ta nào chịu buông tha,
Vời em lên kiệu gọi là ái khanh!
Chín tầng ngọc sáng long lanh,
Phấn hương ngây ngất trăng thanh đêm tàn.
Mối duyên kỳ ngộ Ỷ-Lan
Bắc Ninh vắng bóng cô nàng hái dâu!

NGUYỄN-PHÚ-LONG
(Chút Nghĩa Cũ Càng)


NGUYỄN PHÚ LONG
(Virginia, USA)

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com