arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow LỠ CHUYẾN ĐÒ - TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ ANH VIỆT
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
LỠ CHUYẾN ĐÒ - TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ ANH VIỆT PDF Print E-mail

                                                        

                                                Nhạc Sĩ Anh Việt (1927 -2008)          

SAN JOSE, California- Cựu Ðại Tá Trần Văn Trọng, nguyên Cục Trưởng Cục Quân Cụ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), tức Nhạc Sĩ Anh Việt đã từ trần vào ngày 15 Tháng Ba 2008 tại San Jose, Bắc California, Hoa Kỳ, thọ 81 tuổi (sinh năm 1927).

Nhạc Sĩ Anh Việt đã bắt đầu viết nhạc từ các năm của thập niên 1940 và có thể nói được rằng vào thời kỳ đó chưa có truyền hình và hệ thống phát thanh trên toàn Việt Nam còn thô sơ và hạn chế từng vùng, nhưng nhạc của ông đã được phổ biến rộng rãi trên các đĩa nhựa 33 tours, máy hát còn phải quay bằng tay, thay kim sau vài lần hát, chứ chưa có bao nhiêu máy chạy bằng điện, song đã giúp ông nổi tiếng ngay với các bài như “Chiều Trong Rừng Thẳm” (1945), “Bến Cũ” (1946), “Một chuyến đi”, “Thơ Ngây” (1951)... khiến đi đến đâu từ thành thị đến các vùng nông thôn, người ta cũng đều nghe thấy vang lên các lời ca như sau:

Trong rừng xa vắng... âm u nhuộm ánh dương mờ/Tiếng gió rít lên... ngàn cây xác xơ...” (Chiều trong rừng thẳm), hay “Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly, gió cuốn muôn phương về đây, thấy bóng người về hay chăng?...” (Bến Cũ), hoặc “Khi ấy em còn thơ ngây/Ðôi mắt chưa vương lệ sầu...” (Thơ ngây)...

Ngoài ra nhạc sĩ Anh Việt còn sáng tác các bản nhạc khác như “Rồi Ngàn Sau”, “Lúa Vàng”, “Một Chuyến Ði”, “Ai Xuôi Biên Thùy”, “Lỡ Chuyến Ðò”, “Ngày Xưa Yêu Nhau”...

Theo các người thân quen nhạc sĩ Anh Việt, thì cho đến năm 1993, ông còn phổ nhạc cho bài thơ của Tố Oanh, mang tựa đề “Bâng Quơ”.

Năm 1967 Nhạc sĩ Anh Việt từng là Chủ tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội của QLVNCH.

        Tang Lễ của Nhạc Sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng

                                                     

(Dân Sinh News) Trong giờ tưởng niệm vào chiều Thứ bảy 22/3/2008, ca sĩ Thu Hà, tức Bác sĩ Nguyệt, đã hát bài "Bến cũ" bằng một giọng truyền cảm và xúc động để tiễn đưa lần cuối Nhạc sĩ Anh Việt tại nghĩa trang Oak Hill, thành phố San Jose.

Bà Thu Hà cho biết nữ thi sĩ Tố Oanh là phu nhân của cố nhạc sĩ đã để bản nhạc trên đầu giường bệnh. Nghe nửa chừng thì ông ra đi. Bây giờ xin nghe trọn vẹn bài ca rất nổi tiếng từ năm 1946.

Nhạc sĩ Anh Việt tức Đại tá Trần văn Trọng mất ngày 14-3-2008 hưởng thọ 81 tuổi. Quê ở Rạch Giá, ông lập gia đình với bà Tố Oanh họ Nguyễn tại Huế và có được 9 người con. Tất cả đều đã trưởng thành và cư ngụ tại miền Bắc California.

Ðại tá Trọng trước khi nhập ngũ khóa 1 Nam Định, đã cùng học trường Công Chánh với Tướng Nguyễn khắc Bình và Đại tá Tô đăng Mai. Trước khi tiễn đưa chiến hữu lần cuối, rất nhiều quân nhân các cấp lên tiếng chia buồn cũng tang quyến và nhắc lại các kỷ niệm từ 30 đến 50 năm về trước.

Hiện diện có Đại tướng Nguyễn Khánh, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm từ Sacramento, các vị tướng lãnh tại San Jose như Bùi Đình Ðạm và Nguyễn Khắc Bình. Phái đoàn Quân Cụ tại 2 miền Nam Bắc Cali về dự đông đủ do Đại tá Nguyễn Hồng Ðài hướng dẫn.

Ðại tá Trọng xuất thân Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định (sau là Thủ Ðức) và theo học ngành Quân Cụ. Ông bắt đầu từ chức vụ Trung úy Quân Cụ tốt nghiệp tại Pháp và 10 năm sau đã lên đến chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Cụ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc Đại tá. Ông đã tốt nghiệp các văn bằng dân sự và quân sự cao cấp từ cao học của viện Ðại học Ðà Lạt đến Cao Đẳng Quốc Phòng QLVNCH. Lúc còn trong quân đội, Đại tá Trọng cũng đã tốt nghiệp bằng cấp nhảy dù và từng chỉ huy các đơn vị quân cụ yểm trợ trực tiếp tại chiến trường.

Lễ nghi quân cách gồm có tưởng niệm, đọc tiểu sử và phủ cờ Việt Nam Cộng Hòa do gia đình Mũ Đỏ San Jose đảm trách với sự hiện diện của các quân nhân trong đồng phục sinh viên sĩ quan Thủ Ðức.

Tang lễ còn có sự hiện diện của đông đảo quý vị thuộc khóa 1 Nam Ðịnh do Đại tá Nguyễn Hàn Tý đại diện anh em. Ða số quý vị sinh viên Sĩ quan từ 1951, ngày nay đã trên dưới bát tuần, ngậm ngùi đưa tiễn bạn già về nơi vĩnh cữu.

Trong hàng ngũ của Bộ Tổng Tham Mưu và Tổng Cục Tiếp Vận có vòng hoa của Trung tướng Ðồng Văn Khuyên gửi đến với lời chia buồn cùng chị Trọng và tang quyến. Trung tướng Khuyên vừa là cấp chỉ huy vừa là bạn đồng khóa với người ra đi.

Chiều thứ bảy, trong buổi tưởng niệm nhạc sĩ Anh Việt do nhà văn Sao Biển phối hợp chương trình đã có sự hiện diện của các thi sĩ Diên Nghị, văn sĩ Diệu Tần và rất nhiều văn nghệ sĩ góp mặt với các bài văn và bài ca gửi người nghệ sĩ danh tiếng qua đời trong sự tiếc thương của anh em.

Từ Washington State có Thi sĩ Quốc Nam của cơ sở Văn hóa Ðông Phương và từ Nam Cali có nhà thơ Viên Linh của Nguyệt san Khởi Hành về tham dự và góp lời ca ngợi sự nghiệp của nhạc sĩ Anh Việt.

Lúc sinh thời ông Anh Việt đã sáng tác những bài ca rất phổ biến với lời và nhạc tha thiết ca ngợi tình yêu, quê hương và đất nước.

Ông cũng soạn rất nhiều bản hùng ca cho các đơn vị quân đội, các bài ca cho hội ái hữu đồng hương.

Ba nữ quân nhân tại Bắc Cali đã lên hát bài ca của đoàn do Nhạc sĩ Anh Việt soạn thảo.

Gần 10 năm trước, do đề nghị của cơ quan IRCC nhân dịp kỷ niệm 25 năm Dân Sinh, bà Dân biểu Alquit đã nhân danh quốc hội tiểu bang California trao tặng Nhạc sĩ Anh Việt Trần văn Trọng bản tuyên dương sự nghiệp một đời phục vụ cho cộng đồng qua âm nhạc.

Những bài nhạc do tác giả soạn từ năm 1946 cho đến nay đã được phổ biến rộng rãi mọi nơi và hầu hết các danh ca đều có trình diễn nhiều lần.

Những năm gần đây ông soạn nhạc tâm linh phổ thơ của Thiền sư Nhất Hạnh. Bên giường bệnh, luôn luôn có những bài nhạc do ông soạn được mở ngày đêm cho đến khi ông ra đi. Bà Tố Oanh, vợ của nhạc sĩ cũng thường xuyên có mặt bên cạnh để đọc kinh hay đọc các bài thơ, bài nhạc của ông trong suốt thời gian dài nằm điều trị.

Vào giây phút cuối cùng, tất cả 9 người con đã lần lượt lên cảm ơn trên 200 quan khách hiện diện và nói những lời tha thiết với người cha, người chồng ra đi lần cuối. Bà Tố Oanh cũng là người rất sùng bái đạo Phật, với tấm lòng thanh thản chấp nhận định mệnh đã cầu xin cho chồng sớm siêu thoát. Thái độ bình tĩnh và với một tinh thần hết sức an nhiên tự tại, chấp nhận chuyện tử sinh của bà mẹ với 9 con còn ở lại đã làm cho không khí tang gia bớt phần ảm đạm. Do đó, mỗi khi thân hữu lên nói xong lại có những tiếng cười và tiếng vỗ tay thường hiếm thấy trong không khí ma chay. Các bằng hữu quyến thuộc thường biết ông Trần văn Trọng qua hình ảnh một quân nhân hay người soạn nhạc, nhưng ít ai biết ông đã từng làm việc tại học khu và làm thầy phụ giáo trong những năm đầu định cư tại San Jose. Vì vậy việc gấp lại lá cờ Việt Nam Cộng Hòa ngày Chủ nhật đã do 4 cậu học sinh của thời kỳ 76-77 đảm nhận. Các cậu học trò rất phá phách nghịch ngợm 30 năm trước nay đã trưởng thành, có gia đình nhiều con cái được giới thiệu lên gấp lá cờ cho ông thầy lần cuối để trao lại cho tang gia.

Sau đó, đoàn tăng lữ của Tu viện Lộc Uyển từ San Diego do Thiền sư Nhất Hạnh gửi đến đã dâng lời cầu nguyện sau cùng.

Trong số các tăng ni có cả các vị sư chính gốc Hoa kỳ và Ấn Ðộ tham dự.

Các bạn bè của gia đình cùng Bác sĩ Nguyễn thượng Vũ đi hai bên linh cữu đưa vào lò hỏa thiêu.

Sau ba ngày dài từ lúc phát tang đến khi di hài thành tro bụi đã có biết bao người thăm viếng, các trang báo phân ưu, những vòng hoa tưởng niệm, những bài viết và rất nhiều các điện văn từ xa gửi về chia buồn.

Người ra đi được lưu ý nhiều như thế là do sự đa tài, quảng giao, sinh hoạt qua nhiều lãnh vực và đã để lại nhiều điều tốt đẹp.

Trong tình lưu luyến, gia chủ mời quan khách xa gần dùng bữa ăn trưa cùng với các tăng ni trước khi chia tay tại nhà hàng trên đường Story.

Phái đoàn Quân Cụ của bác Đại tá Nguyễn Hồng Ðài thì lo ra về cho kịp chuyến xe đò Hoàng buổi chiều.

Bác đại tá Dược sĩ Cao thiện Chánh thì cùng phu nhân theo về chuyến xe khách. Tất cả cùng suôi về miền Nam.

Ðại tướng Nguyễn Khánh và Trung tướng Hoàng xuân Lãm thì ngược lên miền Bắc. Một vị cao niên ghé tai bạn nói nhỏ: “Tha hương ngộ cố tri. Mấy năm trước toàn gặp nhau trong đám cưới. Ngày nay con cái yên bề gia thất. Gặp lại nhau toàn thấy trong đám ma”.

Ông bạn gật gù đồng ý: "Chứ sao. Kẻ trước người sau... đó là mệnh trời."

         Nhạc khúc "Lỡ chuyến đò" của Anh Việt
 
Nhạc sĩ Anh Việt vừa mới qua đời ở Bắc Cali. Biết đuợc cái tin buồn ấy thì tôi đã không tránh đuợc nỗi ngậm ngùi không nhỏ! Có những con người trong cõi nhân gian này họ như thể đánh dấu cho một thời. Họ ra đi vĩnh viễn thì như thể một mảng đời của mình có liên quan gần xa gì đấy đến những con người ấy cũng vĩnh viễn mất đi theo. Tôi không hề có cái may mắn trực tiếp quen biết gì với nhạc sĩ Anh Việt, thế nhưng tôi lại rất quen thuộc với những bài hát của ông.
 
Đối với những người nghệ sĩ có thực tài, đuợc người đời biết đến, thì hình như điều ấy - đuợc người đời biết đến tác phẩm của mình -  có lẽ mới là điều thực quan trọng. Và nếu như từ thuở còn nhỏ cho đến tận bấy giờ tôi vẫn còn yêu thích một số những bài hát của Anh Việt mà tôi quen biết từ xưa thì đối với riêng tôi như thế cũng đã là đủ!
Mới vừa hồi năm 2006 đây thôi, khi mà các CD trên thị trường ít cón mấy ai biết để chọn những ca khúc có giá trị khi xưa của Anh Việt thì một ngày đẹp giời tôi đã ngồi đàn bài "Lỡ chuyến đò" của Ông rồi gửi cho bạn bè để đưa lên "Net". Như cũng là để nhắc nhở cho người nghe khắp bốn phương nhớ đến những cái hay, có giá trị nghệ thuật bền vững thay vì cứ phải nghe những cái gọi là "mới" nhưng thường vẫn chưa bằng một góc của cái gọi là "cũ kỹ", là "xưa". ( Còn nhớ lời của Nhạc Sĩ Hoàng Dương, tác giả của "Hướng về Hà-Nội" hoặc "Tiếc Thu" khi xưa, :"Không có chuyện nhạc mới và nhạc cũ; chỉ có chuyện nhạc hay và nhạc dở!" )
 
Thuở mới tám chín tuổi đầu thì ở Sài Gòn hàng ngày tôi vẫn nghe những bài hát của Anh Việt như "Lỡ chuyến đò", "Một chuyến đi", "Thơ ngây" trên Đài Phát Thanh Pháp Á. Xưa giờ tôi vẫn nghĩ rằng không có những bài hát của lớp nhạc sĩ tiền bối khi xưa như Văn Cao, Phạm Duy, Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn, Ngọc Bích, Nguyễn Văn Khánh, Anh Việt, Lâm Tuyền, Việt Lang, ... thì tôi đã chẳng bao giờ có đuợc lòng yêu thích âm nhạc như tôi vẫn hằng yêu thích.
Một bài hát có thời gian tính, khung cảnh cùng mội trường sống trong tâm thức của người nghe. Sài Gòn thời tôi còn nhỏ tương đối "đất rộng người thưa" gấp bội so với mãi về sau này. Hay ít ra nó cũng còn tương đối "vắng vẻ" so với cái thời bắt đầu từ năm 54, với cuộc Di Cư từ Bắc vào Nam. Con đuờng Đại Lộ "Charner", sau trở thành "Nguyễn Huệ", cứ chiều đến, khoảng bốn năm giờ đã đủ hoang vắng để đám con nít tụi tôi kéo nhau ra giữa lộ mà thả diều. Con đuờng đó dẫn thẳng ra bến sông Sài Gòn. Những buổi chiều lang thang ra đấy, nhìn những con đò chở khách qua sông, phía bên kia bờ "Thủ Thiêm", rồi nhìn ánh nắng chiều đọng trên triền núi xa xa về hướng "Vũng Tàu" - "Cap Saint Jacques"- thì không thể nào không liên tưởng đến bài hát "Lỡ chuyến đò" của Anh Việt mà hàng đêm tôi vẫn nghe trên Đài Pháp Á.  Ai thuở nhỏ không có sự "gắn bó thiết thân" gì với những bài hát thì tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng đối với tôi thì nó là như thế.
 
Trở lại xứ này một ít lâu sau năm 1990, tôi đuợc biết là nhạc sĩ Anh Việt sinh sống trên miệt Bắc Cali. Tôi ở miệt Nam. Đã có người bạn vong niên trong giới văn nghệ cho tôi số điện thọai của ông Anh Việt. Đã năm lần bảy lượt tôi cứ rắp tâm là có dịp đi San José thì sẽ gọi điện thọai xin phép đuợc đến vấn an cũng như thăm hỏi ông Anh Việt. Tôi có những kỷ niệm của thuở ấu thời đối với hai bài hát "Một chuyến đi" và "Lỡ chuyến đò" cho nên tôi cũng muốn tìm hiểu đôi chút về những kỷ niệm riêng tư của chính tác giả đối với hai bài ấy. Những vẫn chưa thực hiện đuợc điều mình dự tính. Ba tôi năm nay chín mươi ba tuổi; ông Anh Việt khi mất mới có trên tám mươi cho nên tôi cứ nghĩ rằng Ba mình còn sống, ông Anh Việt còn trẻ hơn cả chục tuổi như thế thì thể nào tôi cũng có duyên may đuợc gặp. Nay ông mất đi thì rõ ràng bài "Lỡ chuyến đò" tôi đàn hai năm trước đây hóa ra như có sự linh nghiệm đối với riêng mình!
 
                                            

                                         Thanh Trang soạn và đàn Lỡ Chuyến Đò

                  

                 Nhạc sĩ Anh Việt sinh hoạt văn nghệ năm 1997 tại nhà Vũ An Thanh Springfield, Virginia 
     (Anh Thanh là cựu sĩ quan QLVNCH, ngành Quân Cụ. Hình ở trên: bên cạnh anh Thanh là ca sĩ Mai Ngân)

                                        Vũ An Thanh trình bày: " Lỡ Chuyến Đò"

                   

Lỡ Chuyến Đò - Anh Việt (1947)

Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương
Đây người sang với con đò xưa.
Và chiều chiều thôn nữ vấn vương.
Duyên tình xưa êm thắm còn đâu.

Người nghệ sĩ lăn lóc gió sương.
Tơ đàn say đắm quên sầu thương.
Dành tình này cho kẻ khổ đau.
Quên tình xưa thôn nữ chờ mong.

Người của bốn phương
Người đã ra đi có nhớ bao giờ
Dù duyên thề ước đắm với giấc mơ
Đường tơ vấn vương
Đem gieo thắm tươi vào đời đau thương
Và cố quên đi tình người bơ vơ

Người nghệ sĩ đi giúp núi sông
Cung đàn vui xóa bao chờ mong 
Dành tình này cho kẻ khổ đau
Quên tình xưa, quên cả đò xưa.

   

    

             Tiếng hát:  Khánh Ly     Tuấn Ngọc     Duy Quang

                  Nhạc hòa tấu: Quyền Văn Minh - saxo với Big Band

                                Bác Trọng đi rồi...
                              Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (San Jose) - March 21, 2008

Bài này chúng tôi viết để tưởng niệm hương hồn Đại tá Trần Văn Trọng dưới một hình thức thân quen như láng giềng hàng xóm 30 năm. Như bạn bè gần gũi, dù rằng quê quán hai ngả Bắc Nam và tuổi tác cách nhau chừng nửa con giáp. Chẳng gì chúng tôi cũng có lúc đã gần thành sui gia đấy. Trong 30 năm qua, mỗi khi gặp bác Trọng nghiêm túc, tôi vẫn hay nói đùa, nhưng ông rất vui vẻ đáp lễ. Vì vậy dù bây giờ âm dương đôi ngả, tôi vẫn không thay đổi. Xin bác Trọng, người của Bến Cũ vui lòng nhớ cho như thế.
Phải chăng chính bác đã viết rằng: Đừng khóc làm chi, Làm khổ người đi…

Bác Trần văn Trọng là một sự kết hợp đặc biệt giữa người quân nhân và một nghệ sĩ, giữa người cha chân thành trong gia đình và người tình trong thế giới yêu đương. Gần 10 năm trước, nhân danh quốc hội tiểu bang California, bà dân biểu Alquit trao bác bằng tuyên dương “Sự nghiệp một đời” bác đã nói về chuyện sinh tử thường tình trong kiếp phù vân. Từ đó đến nay, bác đã hướng lòng về nơi vĩnh cửu bình yên ngay khi còn sống trong cái thế giới ồn ào hiện tại. Hôm nay, bác đã đi rồi, xin mạn phép có đôi lời ai điếu trong tình thân hữu, để người ở lại chúng tôi cùng chia xẻ với bác cái ý nghĩa tử sinh. Vì vậy bài viết này sẽ không có những lời khách sáo nghiêm túc, bởi vì trước sao sau vậy. Nghìn thu vĩnh biệt, niên trưởng Trần văn Trọng.

              

                                   Nhạc sĩ Anh Việt với cây đàn mandoline

Thăm nhau lần cuối

Mấy tháng gần đây vợ chồng tôi thường vấn an anh chị Trần Văn Trọng. Mỗi lần liên lạc nhà tôi vẫn nói chuyện với nhạc sĩ Anh Việt qua điện thoại. Chẳng là bà xã của tôi quê Rạch Giá. Thuở xưa đã có một lần nhờ ông anh văn nghệ mua hộ cho cô nàng cây đàn Mandolin. Nhạc sĩ nhà ta cũng là người cùng quê ở Kiên Giang. Trước khi vào làm trong ngành y tế ở bệnh viện Chợ Rẫy, Việt Nam cho đến Hồng thập Tự, Hoa kỳ, nàng cũng đã văn nghệ văn gừng từ Rạch Giá lên Sài Gòn. Sau này chạy qua Mỹ bỏ lại cây đàn. Chưa có dịp nhờ ông Anh Việt mua cây đàn khác. Cho đến tháng ba năm nay, chợt một hôm nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh gọi lại cho biết. “Này, ta vừa vào thăm Trọng ở nhà thương. Đuối lắm rồi.” Vợ chồng tôi bèn liên lạc và được biết, chị Trọng cùng các cháu đã đưa anh qua Nursing home ở Los Altos. Chúng tôi vào thăm. Anh Trọng gầy yếu nhưng tay chân vẫn còn hoạt động. Người lúc tỉnh lúc mê nhưng chưa cần giây dợ chằng chịt như thiên hạ. Con mắt như hết thần, hỏi gì cũng trả lời như là hiểu biết, nhưng thực ra có vẻ không còn biết gì nữa. Bên giường là cái máy nhỏ phát ra điệu nhạc cầu kinh do chính bệnh nhân soạn, thơ của Thiền Sư Nhất Hạnh. Những năm gần đây nhạc sĩ Anh Việt lại chịu thầy Nhất Hạnh và soạn nhạc Thiền, nhạc kinh Phật. Từ những giây phút đó ông đã chuẩn bị cho chính mình con đường thoát tục giữa chốn trần gian. Nhìn bác nằm đó, tôi nhớ chuyện rất xưa.

Một thời quân đội

Xuất thân Thủ Đức khóa 1 nhưng ngay khi vào trường bác Trọng cũng đã lớn tuổi hơn các anh em cùng khóa. Ông ra trường Thủ Đức 1951 thì tôi còn đang học ở Nam Định. Ông đeo đại úy thì tôi mới ra trường Đà Lạt. Khi tôi lên thiếu tá thì bác đã là đại tá giám đốc. Một hôm đại tá Phạm kỳ Loan, tham mưu trưởng tiếp vận kêu điện thoại. “Này, Lộc. Toa điện thoại nói gì với đại tá Trọng mà ổng nói Toa hỗn quá, lần sau đừng kêu thẳng ổng nữa, có gì nói để moa kêu.” Đó là lần đầu tôi giao thiệp với thượng cấp Trần Văn Trọng. Bác hơi khó đấy nhé. Bây giờ Bác đi rồi, tôi mới có dịp ngồi lại xem tiểu sử của con người mà mình quen biết bấy lâu nay tại đất Hoa Kỳ. Ông vào quân đội gia nhập ngành quân cụ rất sớm. Đi Tây đi Mỹ vào Nam ra Bắc nhiều đơn vị. Ông lại có cả bằng Nhẩy Dù. Từ yểm trợ trực tiếp lên đến cục trưởng của toàn ngành xe cộ, súng ống, đạn dược, rồi ông qua cả bên Tổng cục chiến tranh chánh trị. Sau cùng về trấn thủ ở Bộ Quốc Phòng. Trên khắp nẻo đường đất nước, bác Trọng chợt tìm thấy tuổi thơ ngây của cô nữ sinh Huế khi nàng đi học Đà Lạt về thăm nhà ở đất Thần Kinh. “Khi ấy em còn thơ ngây, Đôi mắt chưa vương lệ sầu.” Mắt đó là mắt của nàng Tố Oanh xứ Huế. Thuộc giòng họ gia thế. Bên nội của nàng là Ngài Nguyễn văn Tường và bên ngoại là cụ Phan thanh Giản. Và ông quân cụ theo chân ông nhạc sĩ cùng ở lại miền Trung. Một cuộc tình bền vững lâu dài với 9 đứa con ra đời. Tôi cứ nói đùa với ông là ngài chỉ làm ra vẻ sắp sửa ra đi, xa rời bến cũ. Thật ra bến cũ giữ chân chàng như con thuyền bỏ neo tầu chiến, chẳng thể nào rời xa để mà nhớ với nhung.
Bao nhiêu năm tôi yêu cầu ông bỏ bài Bến Cũ để sáng tác bài New Port nhưng bác Anh Việt đành cười trừ không thể làm được. Tôi hoàn toàn không rành về âm nhạc, nhưng khi nghe nhạc của Anh Việt, qua những bài tình yêu thương nhớ rạt rào, ta không thể hình dung ra được những rung động như thế có gì liên quan đến chiến xa, đại bác, xe GMC, xưởng sửa chữa tu bổ cấp 1 cấp 2. Nhưng đó lại chính là sự kết hợp đặc biệt giữa đại tá quân cụ Trần Văn Trọng với nhạc sĩ Anh Việt đất Kiên Giang lấy vợ Huế mà tôi gặp lại ở đất San Jose vào năm 1976.

Ba ông Đại tá đi xin Job ở San Jose

Vào những ngày khác nhau cuối năm 1976 đầu năm 1977, học khu San Jose mướn được 3 ông gốc nhà binh. Ba ông đại tá đi xin việc. Hỏi ngày xưa ở Việt Nam làm nghề gì. Nói thật bác Trọng e rằng Mỹ chả mướn. Nhưng bác Nhơn vẫn khai là thống đốc Hậu Nghĩa, sau đổi về thống đốc Biên Hòa. Hoa Kỳ hết sức kính trọng. Khi tôi vào nhận việc Teacher Aid thì đã có sự hiện diện của đại tá Mã Sanh Nhơn tại San Jose High. Ông hơn tôi vài tuổi, lại thâm niên quân ngũ, vào làm trước mấy tuần nên ra cái điều thông thạo chỉ dẫn đàn em đâu ra đấy. Rồi chúng tôi cùng lên thăm ông đại tá Trần Văn Trọng làm ở trên văn phòng học khu. Ba anh em làm ăn lai rai, gặp nhau nói chuyện thời thế, nghĩ đi nghĩ lại tuy chạy thoát nhưng cũng cay đắng ngậm ngùi. Ông Nhơn nói là trước khi vào đây làm moa đi chùi toilet mấy tháng cho trường học. Tôi khai là đã làm thợ sơn gầm xe ở Illinois. Bác Trọng không nói ra nhưng xem chừng công việc cũng không khá hơn chúng tôi.
Rồi chúng tôi tổ chức văn nghệ Tết, những cái Tết đầu tiên. Ba ông sĩ quan đều là trung niên tráng sĩ đi sưu tầm bài hát để dạy học trò. Lúc đó nghề của chàng nhạc sĩ được đem ra sử dụng và bác Mã Sanh Nhơn xem ra cũng có khá nhiều ý kiến. Anh em làm việc gần nhau bên lề của ngành giáo dục tại Hoa Kỳ, lãnh lương tối thiểu được vài năm thì ba chàng hiệp sĩ lại chia tay mỗi người một ngả. Lâu lâu vẫn gặp nhau ở những tiệm ăn đầu tiên tại San Jose. Bác Trọng có tiệm chạp phô rất mới mẻ và nhỏ bé ngay ở góc đường số 4 và đường Santa Clara. Anh em gọi là chợ Mê Kông, gợi nhớ giòng Cửu Long của quê hương đất nước.
Tôi làm ở cơ quan IRCC có cho ra đời một bản tin hàng tháng đầu tiên đặt ở chợ Mêkong của nhạc sĩ Anh Việt. Giá bán ủng hộ 10 xu, nhưng 5 xu cũng OK mà lấy luôn cũng được. Đó là bản tin Việt ngữ đầu tiên của cả miền Bắc California với tên là Về Nguồn. Tiếp tục được một năm thì chấm dứt dành đất cho các tay chuyên nghiệp làm báo ngon lành hơn.
Thấm thoát đã 30 năm trôi qua, Bác Mã Sanh Nhơn bị bệnh tim ra đi từ sớm, cả bác Trọng và tôi có dự đám tang. Nhớ lại thời xưa cùng một lượt còn có đại tá Ngô Như Bích. Bác Bích chỉ ở San Jose một thời gian và bây giờ đã thành một nhà sư qui y xây dựng một ngôi chùa ở San Diego. Vì vậy quay đi quẩn lại chỉ có 3 ông bạn già có mặt từ đầu. Bây giờ đi mất hai, chỉ còn một.

Món nợ sau cùng

Năm ngoái phu nhân bác Trọng có nói chuyện với tôi về lịch sử giòng họ Nguyễn của bà tại kinh đô xứ Huế. Chị có nhũ danh là Nguyễn thị Ngọc Oanh. Khi làm thơ có bút hiệu là Tố Oanh. Họ nội dòng dõi Nguyễn Văn Tường, họ ngoại dòng dõi Phan Thanh Giản. Chị có cả một hồ sơ thanh minh cho cụ tổ 5 đời là ngài Nguyễn Văn Tường. Bác Anh Việt qua điện thoại năm 2007 có vẻ rất quan tâm đến công việc của phu nhân nên nhắc tôi khi có dịp, sẽ giới thiệu trên báo chí với bà con hải ngoại về câu chuyện lịch sử của họ hàng nhà vợ. Bây giờ bác đã ra đi. Nói về sự nghiệp âm nhạc 30 năm đã có cánh văn nghệ sĩ. Về chuyện khóa 1 Nam Định đã có quí niên trưởng hội ái hữu tại địa phương. Chuyện quân dụng đã có anh em quân cụ. Tôi xin giãi bày chuyện của bác gái, gọi là trả nợ ân tình. Vì hai bác đã có dịp đến nhà cháu, dự trù cả chuyện sui gia. Duyên nợ đôi trẻ không thành, nhưng tình di cư tỵ nạn giữa anh em thì vẫn còn nguyên. Lại thêm mối liên hệ đồng hương Rạch Giá của nhà tôi với ông anh văn nghệ. Vậy thì bây giờ tôi giới thiệu chuyện của Bác gái đây nhé, gọi là thi hành “theo lời ủy thác của người ra đi”.

Mở hồ sơ lịch sử

Số là cuối đời vua Tự Đức, trong triều có hai vị công thần. Đó là các ngài Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Ông Tường là đệ nhất phụ chính, thượng thư đầu triều, tương đương với thủ tướng đương thời. Ông Thuyết là đệ nhị phụ chính, nguyên là binh bộ thượng thư. Khi vua băng hà mọi việc trông cậy vào các vị quan phụ chính và triều đình đề cử người kế vị. Bên trên còn có mẹ vua là bà Từ Dũ.
Đất nước đang gặp lúc khó khăn. Bên trong thì giặc cướp. Bên ngoài thì Pháp đang tìm đường mở thêm cuộc xâm lăng. Binh lực triều đình thì yếu kém, võ khí thô sơ. Tất cả chỉ còn con đường đấu tranh chính trị.
Ngày xưa, lúc còn học tiểu học rồi lên trung học chúng ta ai cũng còn nhớ đến giai đoạn vua Hàm Nghi lên ngôi. Đó là thời kỳ Pháp chiếm đóng thành Huế. Quan phụ chính Tôn Thất Thuyết chủ chiến đã khởi động cuộc phản công. Việc không thành nhà vua và Tam Cung Lục Viện cùng toàn thể triều đình phải rời bỏ kinh thành đi lánh nạn. Có hai quan đầu triều là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đi hộ giá.
Sau một thời gian, ông Thuyết dẫn đoàn binh hầu cận và hoàng gia đến Quảng Trị. Ông Tường liên lạc về đầu hàng quân Pháp. Trang sử khép lại tại đây. Ghi lại rằng Tôn Thất Thuyết phù vua nổi dậy. Nguyễn Văn Tường phản quốc theo Tây.
Từ đó về sau, những đoạn sử Việt vắn tắt dành cho những học trò tiểu học thế hệ này qua thế hệ khác vẫn chỉ ghi lại chừng đó. Con cháu của dòng họ Nguyễn Tường khắp bốn phương trời vẫn còn đeo mãi nổi oan khuất của tổ tiên là ngài Nguyễn Văn Tường. Biến cố đã xẩy ra hơn 100 năm. Ngày nay con cháu ngài Nguyễn văn Tường đã đến đời thứ bẩy.
Trong những năm gần đây, tại Việt Nam nhà sử học bắt đầu xa lánh ảnh hưởng của cộng sản giáo điều, xem lại tài liệu để đặt ra các nghi vấn của thời kỳ cận đại. Tại sao ngài Nguyễn văn Tường đầu hàng theo Pháp mà lại bị Tây bắt đi đầy tại Tahiti. Hội nghị các sử gia đầu tiên tại Sài Gòn vào năm 1991 mới hé mở đôi chút ánh sáng vào vụ án bán nước cầu vinh của tiền nhân họ Nguyễn ở cuối thế kỷ thứ 19. Năm năm sau, 1996, vụ án lịch sử được mở ra lần thứ hai với tên chính thức của cụ Nguyễn văn Tường được cứu xét. Nhưng lạ lùng thay, không phải các học giả Việt Nam từ Sài Gòn đến Hà Nội lên đường đi truy tầm biên khảo mà chính gia đình hậu duệ con cháu năm sáu đời phải tự đi tìm tư liệu. Cháu gái đời thứ 5 là chị Ngọc Oanh bắt đầu mở hồ sơ của tiền nhân Nguyễn văn Tường. Quyết tâm đi tìm dấu vết của người xưa để soi sáng lịch sử. Một công việc lạ lùng khó khăn, không ai có đủ ý chí để bắt đầu. Nhưng chính người con gái của bác Anh Việt, Trần văn Trọng mới thực sự là cô gái cứng đầu đã làm nên chuyện lớn. Cháu Trần Nguyễn Từ Vân đã bỏ ra 7 năm trời để giúp mẹ hoàn thành sứ mạng. Tìm lại dấu vết của người xưa. Nơi ông cố bị đi đầy, tìm hiểu về cuộc sống hàng ngày của ông cho đến khi qua đời. Di tích mộ phần, việc cải táng đem về Việt Nam và đặc biệt tìm đủ các văn kiện lịch sử của Pháp thời kỳ mới chiếm đóng Đông dương. Mẹ con xin vào lục lọi các văn khố của bộ ngoại giao, bộ hải quân, lục quân và các trung tâm văn khố từ Pháp quốc đến Tahiti là nơi ngài Nguyễn văn Tường đã sống những ngày cuối cùng. Suốt bao nhiêu năm tháng dài, những chuyến đi vượt đại tây dương, biết bao lần phải ghé ở hải đảo. Sống với mớ hồ sơ cũ đã vàng úa, những tấm hình xưa chụp lại. Sau cùng, công khó được đền bù. Ngày 2 tháng 7-2002, hội nghị lịch sử họp tại Thừa Thiên cứu xét các tài liệu của những người con gái 5 và 6 đời của cụ Nguyễn đã chính thức kết luận ngài là vị công thần của quốc gia, được chính thức tôn vinh. Hy vọng là từ nay, sử sách các lớp của thế hệ sau này sẽ không còn làm buồn lòng con cháu dòng họ Nguyễn Văn…

Và ông nhạc sĩ Anh Việt họ Trần, cháu rể đời thứ 5 của ngài Nhiếp chính thượng thư Nguyễn văn Tường, ra đi từ San Jose khi về cõi vô cùng, gặp được tiền nhân bên họ nhà vợ, sẽ có dịp kể rõ nguồn cơn.

Tiễn bác ra đi, xin giới thiệu chuyện nhà trăm năm trước, gọi là hoàn tất lời ủy thác cuối cùng, mong bác bình yên ở chốn ngàn năm vĩnh cửu.

Giao Chỉ Vũ Văn Lộc (San Jose)

                             

Bến Cũ -Nhạc: Anh Việt - Lời: Ngọc Quang

Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly
Gió cuốn mây trôi về đây
Thấy bóng người về hay chăng?

Xa nhau bến xưa ngày ấy
Anh đi thế thôi từ đây
Sầu chết bên lòng
Hồn nặng nhớ mong

Biết đi sầu em mong
Nhưng ngàn dân đang ngóng
Dưới trời gió mưa
Làn gió chiều đưa

Xa nhau bến xưa ngày ấy
Anh như bóng mây hồng trôi
Về chốn xa vời
Lòng nặng nhớ mong

Cố quên sầu thương đi
Anh nguyền đi theo gió
Chớ buồn khóc chi
Càng khổ người đi

Bến ấy chiều sương chờ mong
Vấn vương lòng ta
Gió cuốn mây trôi về đâu
Cố nén sầu lòng bao năm

                   Tiếng hát:     Ánh Tuyết     Sĩ Phú      Lê UyênMP3   Youtube

                         Julie & Đức Huy       Nhạc Hòa Tấu - ban nhạc Trung Nghĩa

                     

               

               

Thơ Ngây - Anh Việt

Khi ấy em còn thơ ngây
Đôi mắt chưa vương lệ sầu
Cười đùa qua muôn ánh trăng
Đắm xinh đôi môi hồng thắm
Em ngắm mây hồng hay giòng nước trong
Thấy lòng vẩn vơ như tìm một bóng ai

Kìa đôi bướm nhởn nhơ vờn hoa
Và trong nắng em nhìn đôi chim
Nắng tỏ bướm vàng ánh trăng tiếng đàn
Bóng thông gió ngàn lòng càng say sưa

Rồi một hôm
Có chàng trai trẻ đến nơi này
Đời em có một lần
Là lần tim em thấy yêu chàng
Khi lòng yêu ai
Môi hồng dầu phai
Lắm buồn nhớ bâng khuâng
Lắm yêu đương, lắm tơ vương
Nước mắt không vơi hết lúc thơ ngây

Tiếng hát:    Vũ Khanh     Ái Vân        Mai Hương

                                          Chương Trình Phát Thanh

                             Nhạc Sĩ Anh Việt:  Phần 1    Phần 2   - Bích Huyền thực hiện

                            Nhạc Sĩ Anh Việt - Thy Nga thực hiện - Âm Nhạc Cuối Tuần VOA

                     Nhạc Sĩ Anh Việt -  70 Năm Tình Ca - Hoài Nam (SBS Úc Châu) thực hiện

                              Một Số Bài Viết về Nhạc Sĩ Anh Việt

                                 Nhạc Sĩ Anh Việt Đã Trở Về Bến Cũ - Sao Biển 

                                    Tưởng Nhớ Nhạc Sĩ Anh Việt - Trần Chí Phúc

                             SacTo Xuôi Ngược - Nhạc Sĩ Anh Việt - Nhật Thịnh

              Nhạc Sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng Đã Trở Về Bến Cũ - Diệu Tần

                              Thưa Niên Trưởng Trần Văn Trọng - Diên Nghị

                     Vĩnh Biệt Nhạc Sĩ Anh Việt - Phương Duy Trương Duy Cường

                                  Kỷ Niệm về Tuần báo Khởi Hành  - Viên Linh

                          

                                    >  Nghe toàn bộ 10 bản nhạc

1. Bến Kiên Giang                        2. Bến Cũ
3. Một Chuyến Đi                        4. Ngày Xưa Yêu Nhau
5. Bâng Quơ                              6. Hương Thời Gian
7. Chiều Trong Rừng Thẳm            8. Thơ Ngây
9. Theo Dấu Thơ Nhạc                 10. Lỡ Chuyến Đò

     

                  Một số Nhạc Thiền - nhạc phổ từ thơ của Thiền Sư Nhất Hạnh

                                                          > Toàn bộ 8 bản nhạc "CD Trường Ca Avril"

                                              Nẻo Vắng   Giao Cảm    Buông Thả    Padmapani

                                            

                    Những Giọt Không  Trường Ca Avril     Bướm bay vườn cải hoa vàng

                

  Nhạc sĩ Anh Việt và Dòng nhạc 50 năm sáng tác - Trần Ngọc 


                                            

Ai trong chúng ta đã chẳng từng hơn một lần thưởng thức những lời ca trong sáng, lãng mạn và trữ tình của nhạc phẩm “Thơ Ngây” :

Khi ấy em còn thơ ngây
Đôi mắt chưa vương lệ sầu
Cười đùa qua muôn ánh trăng
Đắm xinh đôi môi hồng thắm
Em ngắm mây hồng hay dòng nước trong
Thấy lòng ngẩn ngơ như tìm một bóng ai
Kìa đôi bướm nhởn nhơ vờn hoa
Và trong nắng em nhìn đôi chim
Nắng tơ bướm vàng ánh trăng tiếng đàn
Bóng thông gió ngàn lòng càng say mơ...

Những lời ca trữ tình ấy lồng trong những cung bậc âm thanh dịu dàng xao xuyến như luôn mãi đưa chúng ta vào khung trời bềnh bồng hoa bướm mỗi khi được cất lên. Nhạc khúc ấy hình như đã đọng lại ở một góc nào đó trong tâm hồn của người yêu nhạc, chìm sâu ở đó nhưng không bao giờ mất, để sẽ sống lại mỗi khi được khơi lên, như lòng than vẫn ấm đỏ khi tro bụi được thổi bay đi.

Trải qua bao thăng trầm của dòng đời, nhạc phẩm “Thơ Ngây” sáng tác năm 1951 của Nhạc Sĩ Anh Việt vẫn giữ vững vị trí tươi thắm của một nụ hồng xinh đẹp không bao giờ tàn phai trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam. Khởi đi từ giọng hát lãng mạn thuở xa xưa như Mai Hương, Lệ Thanh, Sĩ Phú, Elvis Phương rồi gần đây qua những tiếng hát như Hương Lan, Ái Vân ...v..v.. nhạc phẩm Thơ Ngây vẫn là nỗi rung cảm tuyệt vời , nỗi say sưa mê đắm cho cả người hát lẫn người nghe .

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, những nhạc phẩm có tác dụng giao hòa được tâm hồn và trái tim của người trình diễn lẫn người thưởng thức, như nhạc phẩm Thơ Ngây, không phải là nhiều. Chính vì thế “Thơ Ngây” đã sống mãi với thời gian, không khác gì những nhạc phẩm lãng mạn bất hủ như “Biệt Ly” của Doãn Mẫn, “Con Thuyền không bến” của Đặng Thế Phong, “ Nỗi lòng’ của Nguyễn Văn Khánh hay “ Em đến thăm anh một chiều mưa” của Tô Vũ...v...v..

Nhạc tình của Anh Việt có thể nói đã mang trọn vẹn âm hưởng của nhạc Tiền Chiến. Ngoài “Thơ Ngây” (1951), còn ít nhất hai nhạc phẩm nữa là “Bến Cũ” (1946) và “Lỡ Chuyến đò” (1947) cũng nằm trong khuynh hướng này.

Sở dĩ tôi chưa dám goị các nhạc phẩm trên là Nhạc Tiền Chiến , bởi vì theo sự phân tích của các nhà văn học sử thì Thi ca Tiền Chiến phải nằm trong thời điểm 1932-1945, là thời điểm khi ấy nước ta chưa có những trận đánh lớn với người Pháp, hay nói rõ hơn nước ta chưa thực sự là một Quốc gia có chiến tranh. Do đó mới gọi là Tiền Chiến. Cho đến năm 1945 thì với cuộc Cách Mạng mùa Thu của Việt Minh, nền Văn Học của chúng ta đã rẽ qua một khúc quanh khác, nên năm 1945 được coi như năm đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn Tiền Chiến. Thêm nữa Thi ca Tiền Chiến về nội dung phải chuyên chở những tư tưởng tiến bộ, ca ngợi giá trị nhân bản và đặc biệt ca ngợi tình yêu lãng mạn. Đó là những điều thoát thai từ luồng tư tưởng mới, du nhập từ các xã hội Âu tây vào nước ta từ năm 1932, như một luồng gió lạ làm lung lay chế độ phong kiến với đạo Nho, đạo Khổng . Khởi xướng cho việc tiếp nhận luồng tư tưởng mới lãng mạn này là nhóm Tự Lưc Văn Đoàn gồm những nhà văn, nhà thơ như Nhất Linh, Khaí Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, T.T. KH, Nguyễn Bính, Quang Dũng ..v..v..rồi sang đến lãnh vực âm nhạc là các nhạc sĩ như Dương Thiệu Tướ , Đặng Thế Phong, Văn Cao, Doãn Mẫn ..v..v..

Nhạc tình của Anh Việt có đầy đủ nội dung và ý nghĩa của Nhạc Tiền Chiến , nhưng thời điểm sáng tác lại sau năm 1945, tuy rằng ông không hề chịu ảnh hưởng gì của cuộc Cách mạng Mùa Thu. Do đó nếu luận theo sự phân tích của các nhà Văn Học Sử, thì Nhạc tình của Anh Việt vẫn chưa thể được goị là Nhạc Tiền Chiến 100%. Nhưng nếu nói theo cảm quan, thì người ta vẫn xem Nhạc Tình của Anh Việt là Nhạc Tiền Chiến.

Nhạc Sĩ Anh Việt, một ngôi sao sáng trong nền tân nhạc Việt Nam, nhưng ánh sáng sao của ông lại chuyên chở một nét vẻ rất đặc biệt. Nó chuyển biến theo những thăng trầm của chiều dài lịch sử Việt Nam, chuyển biến theo tâm thức và nỗi lòng nổi trôi của tác giả.

Ông đã từng viết nhạc về lý tưởng, về chiến đấu, về tình tự quê hương và tình yêu lứa đôi . Rồi sau đó , đến những năm tháng dài ly hương , và khi ông đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy “ , tuổi đời mà ánh sáng nhạt phai của buổi hoàng hôn đã bắt đầu ghé thăm, ông đã vượt qua cái NGÃ của chính mình, để chuyển sang viết nhạc TÂM LINH, nơi đó ông đã nhìn thâý ánh sáng nhiệm màu và vĩnh cửu của cuộc đời.

Rất ít ai biết rằng Nhạc Sĩ Anh Việt đã có một khối lượng sáng tác lớn, hơn 200 nhạc phẩm, một số đã được phổ biến, một số chưa phổ biến, một số tuy đã phổ biến nhưng không được rộng rãi lắm, và một số thất lạc sau ngày di tản khỏi đất nước năm 1975.

Trải qua sự thăng trầm của lịch sử và sự nổi trôi của của chính cuộc đời người nhạc sĩ, chúng tôi xin được phép phân tích Dòng Nhạc của Anh Việt ra làm ba giai đoạn :

I ) Giai đoạn thứ nhất (1945-1950) : Giai đoạn viết Nhạc cho Kháng Chiến.

Đây là giai đoạn nước ta còn là thuộc địa của Pháp. Những người trai trẻ Việt Nam, với lòng ái quốc sục sôi, đã theo chân những đoàn kháng chiến để đứng lên chống Pháp , dành độc lập tự do cho dân tộc. Dòng sáng tác của Nhạc Sĩ Anh Việt đã không khỏi mang dấu tích của cuộc chiến đấu , như những ca khúc tiêu biểu: Bến Kiên Giang (1945), Em chờ (1945), Chiều trong rừng thẳm (1945), Tự do (1946), Một chuyến đi (1945) , Bến cũ (1946), Lỡ Chuyến đò (1947), Lúa vàng (1948), Tiếng sóng Bạch Đằng(1948), Ai xuôi biên thùy (1948), Hờn Vong quốc (1948), Những ngày tàn mơ (1949)...v..v..
Hãy nghe nhạc sĩ Anh Việt trong bước khởi đầu sáng tác, đã viết về Kiên Giang, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, nơi đã có những chàng trai, từ giã người yêu bên bờ giòng nước Kiên Giang để ra đi vì nợ nước mà chẳng hẹn ngày về :

Sông Kiên Giang lờ đờ
Sông trôi đi nơi nào
Hàng cây bến xưa còn đó
Nhưng bóng anh nay còn đâu
Đã ra đi lòng nguyện đền nợ núi sông
(Bến Kiên Giang)

Đó là cảm tình rất trung hậu của ông với nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có hàng dậu thưa, có lũy tre xanh bóng, có ruộng đồng thẳng cánh cò bay, có dòng hạ lưu Cửu Long mặn mòi chảy qua trước khi đổ sang Vịnh Thái Lan, nơi làm điểm gặp cho những cuộc hẹn thề và tiễn đưa .

Người nhạc sĩ đã vô chiến khu năm 1945 và đã sáng tác nhạc phẩm “Chiều trong rừng thẳm” (1945) ca ngợi những người lính chiến đã nằm xuống cho cuộc đấu tranh chống thực dân giải phóng Quê Hương .

Bao ngày chinh chiến nơi đây nhuộm máu anh tài
Dấu vết vẫn ghi ngàn năm chẳng phai
Muôn cờ tươi thắm trong sương gợi chí tang bồng
Rừng chiều như vọng tiếng gọi thù xưa
( Chiều trong rừng thẳm)

Trớ trêu thay, nhạc phẩm này đã trở thành Nhạc Hiệu của đài Phát Thanh Pháp Á tuy rằng họ đã đồi tên thành bản “Nhạc Thanh Bình”, với những lời ca mới như :

Đây ngày tươi sáng muôn chim ca hót tưng bừng.
Tắm ánh nắng mai ngàn hoa thắm tươi...

Riêng bài “Tự Do” cũng đã được chọn làm nhạc hiệu cho Đài phát Thanh Kháng Chiến Nam Bộ, đồng thời cũng là bài hát chính cho Liên Đoàn Thanh Niên Việt.

Những ca khúc sáng tác trong thời kháng chiến, có hai nhạc phẩm đặc biệt mà lời ca rất lãng mạn trữ tình và âm điệu lại rất êm đềm xao xuyến mang nặng âm hưởng của Nhạc Tiền Chiến mà tôi đã có dịp đề cập ở trên. Đó là bài “Bến Cũ” (1946) và bài “ Lỡ Chuyến đò” (1947) . Cả hai bài tuy lồng trong bối cảnh của một Quốc gia thời kháng chiến , nhưng lại là những bản nhạc tình thật hay , nói lên sự chia xa của một mối tình : Chàng lên đường theo tiếng gọi non sông , nàng ở lại bến cũ chờ mong . Thời gian trôi qua, nước sông đã xuôi chảy bao lần lá vàng , nhưng bóng người chinh chiến vẫn ngàn khơi không thấy và người con gái vẫn cắm sào nơi bến sông cũ chờ mong một ngày hẹn về vô định .

Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly
Gió cuốn muôn phương về đây
Thấy bóng người về hay chăng...
( Bến cũ)

hay:

Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương
Đây người sang với con đò xưa
Và chiều chiều thôn nữ vấn vương
Duyên tình xưa êm thấm còn đâu
( Lỡ Chuyến đò)

Hai nhạc phẩm này khiến tôi chợt nhớ đến những vần thơ trong cuốn Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, mô tả nỗi lòng của người cô phụ tưởng vọng trông chồng khi mỗi mùa xuân hoa đào nở :

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã cuốn gió đông
Phù dung lại đã bên sông bơ sờ

II . Giai đoạn thứ hai (1951-1975) : Nhạc viết về Quê Hương , Quân Đội và Tình Yêu.

Cuộc đấu tranh của dân tộc đã thành công đưa đến sự chấm dứt chế độ bảo hộ của người Pháp, nhưng cũng đã khiến hai miền Nam Bắc bị chia đôi sau Hiệp định Genève 1954 với dòng sông Bến Hải làm lằn ranh ngăn cách. Việt Minh đã thanh toán tất cả các tổ chức kháng chiến quốc gia để độc quyền lãnh đạo và đã lộ nguyên hình là một tập đoàn Cộng Sản. Hàng triệu đồng bào đã rời bỏ miền Bắc để di cư vào Nam tìm tự do và nắng ấm.

Trong giai đoạn này , nước ta đã rẽ sang một khúc quanh mới của lịch sử , với cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Gia và Cộng Sản. Nhạc Sĩ Anh Việt đã một lần nữa , khoác bộ Chiến Y để phục vụ trong QLVNCH , tiếp tục cuộc chiến bảo vệ tự do độc lập cho miền Nam . Một mặt cầm súng chiến đấu với bước chân đặt trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật của nẻo đường miền Nam Việt Nam, một mặt dùng lời ca tiếng hát để ca ngợi Quân Đội, Quê Hương và Tình Yêu.

Cũng như các nhạc sĩ Phạm Duy, Trúc Phương ,Nguyễn văn Đông , Lam Phương, Trần Thiện Thanh..v... dòng nhạc Anh Việt đã không khỏi không ghi dấu những nét của cuộc chiến mà trong đó những người chiến binh QLVNCH đã được tiêu biểu để ngợi ca . Chẳng hạn như nhạc phẩm “ Chiến ca” viết cho Khóa I Thủ Đức ngày mãn khóa năm 1951 và đã được dùng làm nhạc phẩm đồng ca cho ngày mãn khóa, nhạc phẩm “ Quân Cụ Hành Khúc” (1956) và “ Nhảy Dù Hành Khúc “ (1968) ..v..v.. Đặc biệt với cuộc Hành Quân Hạ Lào 1972 , nhạc sĩ Anh Việt đã cảm khaí phổ nhạc cho một bài thơ hào hùng rất dài của nhà văn Phan Nhật Nam , mà hồi đó đã được phát thanh rất nhiều lần trên các làn sóng Quân Đội .

Về Nhạc Tình và Nhạc Quê Hương của Anh Việt trong giai đoạn này, ta có thể kể : Thơ Ngây (1951), Cô Em xóm Lúa (1953), Hững Hờ ( 1954),Say trăng (1954), Mưa đêm(1957),Tình quê nối lại nhịp cầu (1956), Mây thu(1957),Áo em màu thiên thanh(1958),Hương thời gian (1966), Rồi ngàn sau (1968), Tiếng ru vào đời (1973) ...v...v..

Điều cần nhắc lại là cũng thời khoảng này , Nhạc sĩ Anh Việt đã cùng bốn nhạc sĩ nổi danh khác là Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Hiền, Hoàng Nguyên và Lan Đài góp bài để nhập chung những sáng tác về Tình Ca thành tuyển tập “ Nhạc Ru Tuổi Hồng” , rất được giới thưởng ngoạn yêu mến. Trong nhóm “ Nhạc Lâm Ngũ Sĩ “ này thì hiện nay chỉ còn lại có ba người, vì nhạc sĩ Hoàng Nguyên và Lan Đài đã vĩnh viễn đi về miền an giấc ngàn thu.

Với nhạc phẩm tình ca “Hương Thời gian” , có lẽ nhạc sĩ Anh Việt viết để tặng riêng cho mình. Một chiều nào đó , tạm rũ áo chinh y , trở về chốn cũ thăm lại cố nhân , nhưng người xưa nào đã chẳng thấy đâu , chỉ còn nghe tiếng gió ngàn , than thở trong nỗi quanh hiu:

Bao năm còn nặng gánh non sông, còn giông tố
Chiều nay dừng bước giang hồ , sau bao ngày chinh chiến
Thân trai về sông núi, xông pha áo nhuốm phong trần
Về lại thôn cũ chốn vườn xưa cỏ úa
Bóng người xưa xa vắng , biết tìm về nơi nao.
( Hương Thời gian)

Tiếng lòng này cũng giống như tâm sự của chàng Kim Trọng trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du , trở lại vườn Lãm Thúy để tìm Thúy Kiều nhưng nàng đã đâu còn thấy bóng :

Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Nỗi lòng này của Anh Việt cũng chỉ là một chút ủy mị thoáng qua, rất thường tình và “ rất người”. Và rồi trở về thực tại, nhạc sĩ Anh Việt vẫn sống cuộc đời Quân ngũ và vẫn tiếp tục phục vụ nghệ thuật , song song cuộc đời quân ngũ . Ông đã từng có những Sinh Hoạt Văn Nghệ trên các làn sóng : Đài Phát Thanh Pháp Á với Chương trình Nhạc Tình , Đài Phát Thanh Quân Đội vói chương trình Nhạc Quê Hương , Đài Phát Thanh Saigon vói Chương Trình Hương Thời Gian và Đài Truyên Hình Việt Nam với Chương Trình Nhạc Thính Phòng Jazz Symphonic , có sự cộng tác của các nhạc sĩ Hoàng Nguyên và Nguyễn Hậu ..v...v...Rất nhiều tiếng hát nổi danh thời bấy giờ đã cộng tác như Mai Hương , Anh Ngọc, Thanh Lan..v..v..

Nhạc sĩ Anh Việt đã dành tuổi trẻ của mình cho Quân Đội nên viết nhạc cho Quân Đội là lẽ tất nhiên. Tuy nhiên tình ca vẫn là tiếng lòng muôn thuở của loài người , nên như trên đã đề cập , Anh Việt đã viết rất nhiều Tình Ca để chia sẻ nỗi nhớ nhung của những người yêu nhau mà phải xa nhau vì chiến cuộc . Ông cũng viết nhạc Quê Hương để xoa dịu và chữa lành những vết thương do chiến tranh gây nên bằng những hình ảnh thân thương , cao đẹp và đáng yêu của đất nước . Có yêu nhau, có yêu Quê Hương thì sẽ đương nhiên phải chiến đấu để duy trì được những tình cảm đó.

III . Giai đoạn thứ ba ( từ 1975 đến nay) : Giai đoạn tha hương.

1. Thân phận cá nhân tha phương :

Tiếc thay, miền Nam Việt Nam, mảnh đất thân yêu của chúng ta cũng bị mất theo cuộc đổi đời ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhạc sĩ Anh Việt , cũng như gần hai triệu người Việt Nam , đã phải bỏ xứ ra đi lưu vong khắp bốn phương trời , để tìm tự do.

Trong những ngày sống tha hương, khi Quê Hương đã nghìn trùng xa cách , nhạc sĩ Anh Việt vẫn không thể rời xa được cõi âm thanh mà tâm hồn ông đã gắn bó. Ý nhạc của Anh Việt cũng nổi trôi theo vận nước và thân phận con người , mang mang những nét bâng khuâng , nghẹn ngào , khắc khoải và lắm khi chua xót.

Nỗi lòng này của nhạc sĩ Anh Việt , chúng ta có thể tìm thấy được trong các tác phẩm như : Ngày tôi xa Saigon (1975), Đừng khóc nữa em ơi (1975), Xuân Viễn xứ (1975), Giọt sương đêm (1978), Tôi sẽ về quê hương (1985), Hè về đâu đây ( 1985), Từ chiều đó (1986) , Ngày xưa yêu nhau ( 1986) , Giọt buồn (1987), Một thời dễ thương (1990)..v..v..

Hãy nghe Sài Gòn hàng đêm trở về với Anh Việt, nhẹ nhàng như những thầm thì của một giấc mơ :

Có nhiều đêm nằm mơ, về gặp lại Saigon
Sài Gòn buồn hỏi tôi :
Bây giờ anh vui mộng hải hồ
Bây giờ anh quên tình sông núi
Không , tôi không quên Saigòn đâu
( Ngày tôi xa Sai Gòn)

Và rồi Anh Việt hứa sẽ trở về quê hương , thăm lại đường xưa lối cũ:

Tôi sẽ về Quê Hương tôi với non sông gấm vóc
Tôi sẽ về lại làng tôi với ruộng sắn nương khoai
Với đồng mạ xanh rờn và đàn cò bay nhởn nhơ.
(Tôi sẽ về Quê Hương tôi)

Ước mộng thật giản dị nhưng rất khó thực thi. Bao giờ quê hương ta mới thực sự tự do no ấm , bao giờ quê hương ta mới thực sự lúa vàng reo hát trong những ngày mùa ? Nhớ lại miền thùy dương bóng dừa ngàn thông, khi ngày ấy bên giòng Hương Giang lững lờ xuôi chảy , dưới hàng phượng vĩ đỏ thắm nở dọc hai bên bờ , “tôi đã đến thăm em một chiều nắng nhạt, một đêm trăng sáng, để thấy hương dạ lan vương mái tóc em, để làm hồn tôi vương vấn...” và để rồi từ đó hai tâm hồn đã tìm đến nhau dệt giấc mộng vàng trăm năm :

Em đến với tôi rực rỡ như nắng hạ
Bên bờ Hương Giang hoa phượng vĩ khoe màu thắm
Như em đi vào đời tôi
Tôi đến thăm em khi trăng vàng rơi trước ngõ
Và mùi hương dạ lan còn vương tóc em
Say sưa, mênh mang , vấn vương lòng tôi.
( Ngày xưa yêu nhau)

Cũng có khi , Anh Việt rung cảm với nỗi buồn triết lý của người bạn đời đã theo sát ông với những thăng trầm và nổi trôi của cuộc sống để viết ra những dòng nhạc nhẹ nhàng man mác như tiếng suối nhẹ chảy qua ghềnh đá:

Nghiêng mình soi bóng nước
Ta thấy bóng của ta
In trên nền sỏi đá
Giữa lòng sông chiều tà
Một nỗi buồn xa lạ
Xâm chiếm mảnh hồn ta
Ta bảo sao ta không là sỏi đá
Vô tư khi dòng nước trôi qua
( Bâng quơ: Thơ Tố Oanh)

Rồi cũng như bà Huyện Thanh Quan, một chiều nao “thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, nhạc sĩ Anh Việt đã hơn một lần trong ngày buồn tháng tư, chợt hỏi lại lòng mình để tìm xem nỗi bàng hoàng xúc cảm của ngày xa xưa ấy khi bước chân ra đi trong đời viễn xứ :

Nhớ tháng Tư buồn chia tay,
Nhớ người ra đi từng gọi tên Việt Nam.
Nhớ thương vô ngần
. ( Đêm tháng tư buồn )

2) Nhạc Thiền và Nhạc Kinh.

Dòng đời vẫn xuôi chảy những tháng năm trên đôi vai người viễn xứ cho đến một ngày cách khoảng đây hơn sáu năm, nhạc sĩ Anh Việt thấy lòng mình thực sự trùng lắng : Cuộc sống con người rồi mai đây sẽ trở thành cát bụi , những yêu thương giận hờn, những cơn mê chấp rồi cũng sẽ phai tàn . Chỉ còn tâm linh và cỗi rễ của tâm linh là vĩnh cửu . Tâm linh sẽ dẫn dắt con người tới nơi an dung tự tại, về trong ánh nhiệm màu của Đức Phật . Có thế mới cứu rỗi và xoa dịu được những nỗi đau trần thế. Chính vì ý niệm như thế , nhạc sĩ Anh Việt đã dấn thân vào lãnh vực Nhạc Thiền và Nhạc Kinh.

Từ năm 1993 cho đến 1996 , nhạc sĩ Anh Việt đă thực hiện được một cuốn Sách Nhạc Thiền mang tên “ Những giọt không” và hai cuốn CD Nhạc Thiền với nhan đề : “Hoa mặt trời “ và “Trường ca Avril” . Phần lớn ông phổ nhạc từ thơ của Thiền Sư Nhất Hạnh.

Mát lòng nhờ những giọt không
Bỗng đâu thuyền đã sang sông tới bờ
Cát mềm bãi vắng nguyên xưa..
( Những giọt không)

và :

Avril về trong rừng cây trang nghiêm
Tình thương đã từ nơi ngàn xanh
Nơi suối trong thể hiện bàn tay MẸ nhiệm màu
Sửa soạn cho chúng ta ra đời
Trong hào quang của mùa Xuân tình thương ấm áp.
(Trường ca Avril)

Về nhạc Kinh thì khoảng hai năm gần đây, nhạc sĩ Anh Việt đã thực hiện được hai cuốn CD : “ Nhạc Kinh 1 “ và “ Nhạc Kinh 2 ” , phổ nhạc từ Bài Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật . Đó là những bài Kinh, Kệ, Sám Nguyện của Kinh Phật đã để lại từ ngàn xưa , do thầy Nhất Hạnh dịch ra chữ Quốc Ngữ và nhạc Sĩ Anh Việt phổ nhạc .Tiếng đàn Mandoline của Anh Việt đã dịu dàng quyện lấy tiếng ca thanh thoát của các Phật tử như đưa tâm hồn người nghe vào chốn lâng lâng không vướng bụi trần .

Anh Việt , người chiến sĩ thuở nào , đã từng hy sinh tuổi trẻ cho Quê Hương đất nước , phải chăng bây giờ đã tìm được cõi an vui thánh thiện trong tâm hồn . Cụ Nguyễn Công Trứ thuở xưa , sau khi hoàn tất bổn phận làm trai, đã ca ngợi thú điền viên .

Đường mây rộng thênh thênh cử bộ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
(Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ)

Nhưng Anh Việt thì khác, sau những năm tháng dài hiến tuổi trẻ cho Quê hương đất nước , đã tìm dến một cái gì cao hơn cái NGÃ của chính mình, để đi vào cõi nhạc tâm linh , cho mình và cho tha nhân . Nơi ấy đôi cánh âm nhạc bay miên man trong niềm an lạc , xa hẳn những chấp nê của cuộc đời và thoa dịu nỗi thương đau của trần thế .

3) Nhưng vẫn còn Nhạc tình và Nhạc Quê Hương : CD “ Bến cũ” .

Tuy nhiên nhạc sĩ Anh Việt vẫn chưa thể giã từ Nhạc Tình và Nhạc Quê Hương . Song song với những sáng tác làm cho chính mình , ông đã vì cảm tình riêng , phổ nhạc thơ cho một số văn hữu chẳng hạn như Thi Sĩ Hải Đường trong cuốn CD “Những tình khúc êm đềm bay vào đơn côi” với những tiếng hát Tuấn Ngọc, Hương Lan, Bích Ngọc, Lê Huỳnh, Như Mai, Giao Linh....và đặc biệt viết ca khúc làm Nhạc Kỷ Niệm cho hai trường Phan Thanh Giản và Đoàn Thi Điểm của Hội Ái Hữu Cần Thơ trong CD “Đại Hội Hè 99 , Gia đình Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm hải ngoại” với hai giọng ca của Thung Lũng Hoa Vàng là Trần Ngọc và Ngân Hạnh ..v...v..

Và đặc biệt hơn hết ông sẽ cho ra mắt cuốn CD mang tên “Bến cũ” để kỷ niệm 50 năm sáng tác . CD này gồm 10 Ca khúc lựa chọn ưng ý mà ông đã viết cho kháng chiến , cho tình yêu và cho quê hương : Bến Kiên Giang, Bến cũ, Một chuyến đi, Ngày xưa yêu nhau , Bâng quơ, Hương thời gian, Chiều trong rừng thẳm, Thơ ngây, Theo dấu thơ nhạc và Lỡ Chuyến đò. Những tiếng hát nổi danh đã được mời cộng tác như Tuấn Ngọc , Ái Vân , Mai Hương, Nguyễn Thành Vân.

Buổi kỷ niệm 50 năm cuộc đời sáng tác âm nhạc của ông, trong đó có ra mắt cuốn CD “ Bến Cũ” sẽ được tổ chức vào ngày 11 tháng 12 năm 1999 , tại Santa Clara Convention Center , Thung Lũng Hoa Vàng .

Người viết bài này, cũng là MC cho Chương Trình, có cảm tưởng trước là Buổi Văn Nghệ kỷ niệm này sẽ rất thành công. Thứ nhất vì danh tiếng của nhạc sĩ Anh Việt cùng với gia tài âm nhạc quý báu mà ông đã cống hiến cho nền văn học nước nhà . Thứ hai , buổi sinh hoạt văn nghệ mang một ý nghĩa cao đẹp : Nhạc sĩ Anh Việt sẽ dùng số tiền bán vé để gửi về Việt Nam giúp đồng bào 7 tỉnh miền Trung đang chịu cảnh bão lụt tàn phá .

Nhạc sĩ Anh Việt, với hơn 50 năm sáng tác và phục vụ âm nhạc ,từ thuở sơ khai cho đến giai đoạn cực thịnh , đã mặc nhiên tạo cho mình một chỗ đứng thật cao trong làng tân nhạc Việt Nam. Dù ông khiêm nhượng không muốn nhận chức vị này, nhưng người đời vẫn muốn trao cho ông chiếc áo cao quý đó . Trong trái tim của người yêu nhạc , những rung động của phím tơ dệt nên bởi nhạc sĩ Anh Việt sẽ mãi mãi là vùng trời bâng khuâng xao xuyến , có áng mây ấp ủ tình thương, có làn gió nhẹ mơn trớn tâm hồn và có những cành xôn xao lá hát để cùng nhau trao những tình tự đẹp giấc mơ hoa .

Trần Ngọc
San Jose, Mùa Lễ Thanksgiving 1999

( Bài này đã được đăng trong Tạp Chí Mẹ Việt Nam số 131, nhân dịp Buổi Tổ Chức Kỷ Niệm 50 sáng tác của Nhạc Sĩ Anh Việt, tại Santa Clara Convention Center San Jose ngày 11 tháng 12 năm 1999)

                                             

THAM KHẢO:

Tài liệu từ nhiều nguồn trên internet: Đặc Trưng, Hạt Nắng/Nhạc Xưa, Langmai.org, bài viết của NS Thanh Trang, NS Trần Chí Phúc, NV Diệu Tần, Diên Nghị, Giao Chỉ, Nhật Thịnh, Trần Ngọc, Sao Biển, Phương Duy Trương Duy Cường, Viên Linh ...

        Xin vui lòng gởi thêm tài liệu hay ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:


Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com