arrow
Trang Nhà arrow  Thơ arrow Thơ arrow TƯỞNG NIÊM THI SĨ HOÀNG TRÙNG DƯƠNG - Biên Soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
TƯỞNG NIÊM THI SĨ HOÀNG TRÙNG DƯƠNG - Biên Soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

 

Tập “THƠ TÌNH HOÀNG TRÙNG DƯƠNG” ghi lại gần một trăm bài thơ. Trong phần mở đầu có bài viết “Đọc thơ Hoàng Trùng Dương” của nhà thơ Hà Bỉnh Trung như một lời giới thiệu. Kế đến là bài viết “Tình Thơ” của nhà thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao như một bài cảm đề và phân tích tác phẩm. Sau đó là nội dung chính của tập thơ gồm 5 phần:  “HOA TÌNH”, “XUÂN MƠ”, “HẠ NHỚ”, “THU SẦU” và “ĐÔNG LẠNH”.
 
Dưới đây Cỏ Thơm trích đăng lại toàn bài “TÌNH THƠ” của nhà thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao trong tác phẩm trên.

TÌNH THƠ
   Nhà thơ mở hé cánh cửa vườn thơ, nhẹ nhàng bước vào. Trong vườn đầy những hoa thơm cỏ lạ. Trên cao những đám mây bàng bạc theo nhau trôi về cuối chân trời, thấp thoáng ẩn hiện những hình ảnh của một thời dĩ vãng xa xưa, nay chỉ còn ghi lại dấu ấn nhạt nhòa một thời trai trẻ đầu đời:
Có những mảng quá khứ
Nhẹ lãng đãng trôi về
Đi qua vùng ký ức
Của một thời đam mê

(Một thuở yêu người)
     Chợt đâu một mùi hương thoang thoảng bay qua. Hương của loài hoa tình yêu. Hương của mái ấm gia đình hiện tại khơi trào nguồn thi hứng:
Nhìn em say giấc ngủ
Anh đi tìm nàng thơ

(Độ lượng)
     Hương của tình nghĩa phu thê quấn quít gắn bó gợi thương gợi nhớ:   
Nhà vắng em, anh đi về lặng lẽ
Bữa cơm chiều bếp lạnh tựa mùa đông
Vắng tiếng cười và những lời thỏ thẻ
Một tháng dài hơn thế kỷ chờ mong!”

(Xuân lạnh)
     Thời gian cứ trôi đi, lá cứ thay sắc mầu nhưng cuộc tình lúc nào cũng còn say đắm như những buổi ban đầu đầy lưu luyến:
Xuống chân tháp anh và em nhẹ bước
Bên dòng sông cùng du khách lại qua
Tình yêu mình càng thắm đượm hương hoa
Ta sống lại những tháng ngày trăng mật

(Paris thơ mộng)  
"Hoa tình yêu muôn thuở
Vẫn mãi mãi ngát hương..."
(Hoa tình)
     Hương tình gợi tứ thơ. Nhà thơ nhìn thiên nhiên vũ trụ với cái nhìn đầy nghệ sĩ tính. Ánh trăng vẫn là ánh trăng của mọi ngày sao tự nhiên giờ đây lại đượm vẻ lãng mạn:
Trăng soi mặt biển nạm vàng
Tung tăng sóng giỡn với nàng Hằng nga

(Đêm trên bãi biển Ocean City)
     Và nắng xuân cùng với hoa xuân khoe sắc trong tiếng nhạc sao thấy êm đềm quá:
Nắng xuân trải lụa bên thềm
Nàng xuân nhẹ bước nhung êm gót hài
Nhạc xuân rót mật bên tai
Hoa xuân khoe sắc cành mai nở vàng

(Tuyệt vời mùa Xuân)
     Nghe tiếng chim hót, ngắm sương rơi trên nụ hoa thấy mùa Xuân thật diễm lệ:
Nụ hoa còn điểm giọt sương
Long lanh như hạt kim cương trên cành
Líu lo tiếng hót hoàng anh
Bạch dương khoác áo màu xanh nõn nà

(Xuân diễm lệ)
*
     Nhưng mùa Xuân nơi đây hình như thiếu vẻ ấm cúng. À thì ra Xuân không còn là Xuân nơi quê mẹ của thời xa xưa nữa rồi:
Quê người đất khách Xuân sang
Trời đông giá lạnh lòng hoang vắng sầu
Cảnh đời sao lắm biển dâu
Tuổi thơ cho đến bạc đầu phong sương

(Hoài niệm Xuân quê hương)
     Tình hoài hương dâng tràn, nhà thơ chợt cảm nhận thấy nỗi đoạn trường của thân phận những kẻ phải bỏ nước ra đi:   
Cuối đời sống kiếp ly hương
Ngoảnh nhìn cố lý khói sương mịt mù
Lang thang như kẻ mộng du
Đi trong vô thức hoang vu đường trần

(Lênh đênh)
Tôi đi bỏ lại quê hương
Chia ly xa biệt phố phường, người thân.
Tạ từ bằng hữu xa gần
Mắt cay, lê gót phong trần lưu vong

(Bài thơ đoạn trường)
     Biết bao kỷ niệm của thời ấu thơ nơi quê cũ lại ào ạt kéo về:
Ngồi đây nhớ về đất mẹ
Xa xôi cách nửa địa cầu
Mơ màng một thời thơ ấu
Cố hương thơ mộng còn đâu?!”

(Nhớ)
     Vườn thơ bốn mùa thay lá nhưng lòng hoài hương không hề biến đổi. Những cánh chim bay về tổ trong mùa lá vàng rơi rụng cũng khơi tình nhung nhớ về cố quận:
Chiều rơi nhuộm thắm phương tây
Chim bay về tổ từng bầy kêu sương
Thu về gợi nhớ cố hương

(Thu)
     Hòa nhập chung với tâm sự của những khách ly hương nhà thơ thầm mong một ngày có cơ duyên được quay gót về thăm chốn cũ:
Trót mang thân phận lưu vong
Nuôi chi mơ ước trông mong ngày về
Dặm trường mờ mịt sơn khê
Không gian ngăn cách lê thê tháng ngày

(Biệt ly)
     Và rồi ước mơ trở thành hiện thưc. Nhưng ô hay! Sao người trở về vẫn không tìm được niềm vui trong lòng. Phải chăng đau xót vì mình lại đóng vai “lữ khách” trên quê hương của chính mình? Đóng vai kẻ lạ giữa đất Quảng Đà thân thương với phố cổ, với sông xưa, với vùng đất “chưa mưa đã thấm” mà hình ảnh mãi còn ghi dấu trong tim?:
Về thăm Đà Nẵng chiều đông
Mưa bay hiu hắt trên sông phố Hàn
Ta người lữ khách lang thang
Trở về quê cũ lòng mang nỗi sầu

(Xuân hy vọng)
Ta về dừng gót phiêu bồng
Thăm thành phố cổ dòng sông năm nào
Biển xanh sóng vẫn rì rào
Phố xưa chứng kiến biết bao thăng trầm

(Ngày Xuân trên quê cũ)
     Ghé thăm một thành phố khác, nơi đã từng ghi dấu bao tình cảm xưa cũ, mà nay sao cũng chẳng tìm lại được hương xưa. Tiếng suối chảy vẫn là âm thanh của thời trước mà nay sao nghe như chuyên chở một nỗi sầu vô tận:
Cao nguyên se lạnh mù sương
Về đây tìm lại dư hương thuở nào
Ta về như giấc chiêm bao
Cam Ly nước vẫn nghẹn ngào buồn trôi

(Hương xưa)
*
     Nặng lòng thủy chung với nơi quê cha đất tổ nhà thơ cũng chẳng hề quên công lao của những bậc tiền nhân, những vị đã dày công xây dựïng và bảo vệ đất nước.
     Tưởng niệm hoàng đế Quang Trung, người đã đại thắng quân Thanh vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, nhà thơ kính cẩn đặt bút viết:
Mở hội đón anh hùng Nguyễn Huệ
Trên lưng tuấn mã đẹp oai hùng
Gươm thiêng ánh thép còn ghi dấu
Máu đỏ quân thù thắm áo nhung

(Xuân vinh quang)
     Hình ảnh Hai Bà Trưng với những trang sử Mê Linh oai hùng của bậc nữ lưu đất Việt cũng khó mà phai nhòa trong tâm hồn con cháu những thế hệ sau:
Vung gươm đuổi sạch bóng thù
Hát giang tuẫn tiết nghìn thu sử vàng
Nữ lưu anh kiệt danh vang
Xưng vương một cõi huy hoàng núi sông

(Hùng sử Mê Linh)
      Nói về lòng hoài hương cũng không thể quên hình ảnh đáng ca tụng của Huyền Trân công chúa, người đẹp vì đại nghĩa mà hy sinh tình riêng:
Nàng vì đại nghĩa hy sinh
Thủy chung một tấm lòng trinh với chàng
Đường vào Chiêm quốc gian nan
Nhìn về cố lý quan san mịt mờ

(Tình sử Huyền Trân)
*
     Trong cuộc sống tất bật nơi đất khách nhà thơ đôi khi phải tìm sự thanh thản cho tâm hồn. Đêm nằm nghe tiếng mưa rơi chợt nhớ lại thời hoa niên tại đồng quê xưa cũ với tiếng chuông chùa còn như văng vẳng bên tai sao thấy thật thần tiên:
Chùa xưa vọng tiếng chuông ngân
Tan mùi tục lụy cõi trần thanh cao
Hương quê nồng ấm ngọt ngào
Nhà nông quên nỗi gian lao cấy cày

(Ngày tháng thần tiên)
     Rạng soi bởi ánh đạo vàng nhà thơ nhận chân được rằng kiếp sống của con người quả thật chỉ là một sự “vô thường”. Hợp đấy rồi lại tan đấy, có khi nào trường cửu đâu. Giấc mơ dù có nở đẹp như hoa rồi cũng phải tới lúc úa tàn:
“Hai mươi năm lắm biển dâu
Phong trần nhuộm trắng mái đầu đôi ta
Tương phùng rồi mãi chia xa

(Tàn giấc mơ hoa)
     Con người mái tóc mới ngày nào còn xanh bây giờ đã ngả màu sương tuyết. Ngày nào mới cất tiếng khóc chào đời mà nay đã trở về cùng cát bụi:
Vô thường quy luật tử sinh
Trăm năm một cuộc hành trình khổ đau
Đời người bao cuộc biển dâu
Cuối đời trên một chuyến tàu hoàng hôn

(Vô thường)
Anh đi xa lánh cõi trần
Trở về cát bụi phù vân vô thường
Đời mong manh tựa khói sương
Tiễn anh tôi thắp nén hương phân kỳ

(Vĩnh biệt bạn hiền)
      Chính vì thế nên mọi giá trị vật chất như danh với lợi mà nhiều người ham muốn theo đuổi chỉ là một trò “giả”, hão huyền, không thật, không đáng được coi trọng:
Tình thơ giải tỏa ưu phiền
Lánh xa thế sự bạc tiền lợi danh
Vui cùng gió mát trăng thanh
Bạn cùng muôn thú rừng xanh hữu tình

(Tình thơ)
Thì thôi một kiếp cũng đành
Trả cho đời những hư danh hão huyền

(Như chiếc lá rơi)
     Thấm nhuần lý đạo nhà thơ hiểu rằng con người đều bị chi phối bởi “nghiệp lực” do chính mình tạo ra cả trong kiếp sống này lẫn từ tiền kiếp. Tự mình làm chủ vận mệnh của mình theo luật “nhân quả”. Bởi thế nên tốt nhất là cố vượt khỏi bờ mê, phá tan màn vô minh, hướng tâm mình theo con đường chánh:
Trót vương vào cái nghiệp
Kiếp tằm phải nhả tơ
Hoa niên đến hết kiếp
Thủy chung chẳng hững hờ

(Nghề và nghiệp)
Tâm hướng theo chánh đạo
Xa rời khỏi bến mê

(Giấc mộng đêm xuân)
     Chánh đạo sẽ đưa con người tới cõi siêu thoát, vượt ra ngoài vòng “luân hồi” quẩn quanh đầy khổ lụy. Đây là lời nguyện cầu của nhà thơ cho người quen đã khuất mặt và cũng là lời tâm nguyện của chính bản thân mình:
Đời em nhiều bất hạnh
Thôi yên nghỉ Lan Phương
Nguyện cầu em siêu thoát
Tôi đốt nén tâm hương

(Nén hương lòng cho bạn)
     Tình đạo dạt dào. Đường đạo vững tiến. Qua một năm gia đình được an lành hạnh phúc, sáng mồng một Tết nhà thơ cảm khái ghi lại tiếng lòng mình:
Tân niên khai bút đề thơ
Nhang trầm thơm ngát bàn thờ tổ tiên
Rể, dâu, con, cháu đoàn viên
Cả nhà sum họp ấm êm vui vầy
Mẹ cha hạnh phúc ngất ngây
Tạ ơn Trời Phật rót đầy hồng ân

(Xuân nguyện cầu)
     Nhân mùa Xuân, dâng lên lời nguyện cầu không những cho bản thân mình, cho gia đình mình mà nhà thơ còn trải rộng lòng từ, mong ước một sự an bình cho hết thảy mọi chúng sinh khác nữa, nhất là những nạn nhân của các cuộc chiến tranh khốc liệt:
Chiến tranh đã gieo đau thương tang tóc
Bởi con người nhiều tham vọng cuồng điên
Biết bao giờ giải sạch mọi oan khiên?
Nhân loại sống trong hòa bình vĩnh cửu!”

(Chiến trường xưa)
*
     Đạo Phật là đạo hiếu. Tâm Phật là tâm hiếu. Với tư cách một người con Phật nhà thơ lúc nào cũng khắc sâu hình ảnh mẹ trong tâm khảm. Hình ảnh này lại càng hiển hiện đậm nét hơn nữa trong những ngày đầu Xuân nhất là khi mẹ đã khuất núi và đang an nghỉ tại một nơi chốn xa xôi:
Xuân về chạnh nhớ Mẹ yêu
Nghĩa trang hoang vắng buồn hiu mộ phần
Mẹ đi giã biệt dương trần
Không còn mong đợi mỗi lần xuân qua

(Xuân nhớ Mẹ)
     Tình yêu và sự tôn kính dành cho cha cũng không kém phần thắm thiết:
Tôi một đời ngưỡng mộ
Hình ảnh đẹp của cha
Cha thành người thiên cổ
Vẫn yêu Người thiết tha…”

(Chân dung người Cha)
     Từ nơi đất khách có dịp trở về thăm lại cội nguồn xưa cũ người con hiếu như còn vẳng nghe thấy lời kinh cầu thân thương thuở nào… Lời kinh chắc đã độ cho song thân khuất bóng được siêu thoát rồi. Xin thắp lên một nén hương lòng trước khi quay trở về tiếp nối cuộc sống lưu vong:   
Quê nghèo qua mấy biển dâu
Về thăm vườn cũ còn đâu gia đình!
Chỉ còn âm vọng lời kinh
Độ trì cho những bóng hình thân thương
Tâm thành thắp một nén hương
Ngậm ngùi trở gót trên đường lưu vong

(Nguồn xưa)
*
     Nhà thơ dạo bước trong Vườn Thơ. Từ khi “HOA TÌNH” chớm nở thấm thoắt thế mà đã trải qua bốn mùa mưa nắng. Từ ngày đầu “XUÂN MƠ” chuyển qua “HẠ NHỚ” rồi sang tới “THU SẦU” và cuối cùng là “ĐÔNG LẠNH” ghé qua.
     Nhà thơ thoải mái trải lòng mình thành những vần điệu đầy nhạc tính. Đôi lúc điểm dăm ba nét chấm phá bằng những dòng tưởng nhớ tới một số người khuất mặt, hoặc tặng các bằng hữu còn ở quanh mình, hoặc ghi lại đôi lời chúc tụng con cháu trong gia đình. Thật thủy chung. Thật trọn vẹn cả tình lẫn nghĩa.
     Khép nhẹ cánh cửa Vườn Thơ. Gửi một nụ hôn từ giã nàng Thơ. Quay gót trở về thư phòng trong cõi nhân gian đầy “hỉ, nộ, ai, lạc” nhà thơ đặt bút ghi lại mọi cảm xúc mãi còn trào dâng trong lòng mình và dành mấy dòng thơ thanh thoát để vào bài thơ cuối cùng của thi phẩm:
Chông gai, cay đắng phong ba
Ngọt bùi, hạnh phúc, gấm hoa trong đời
Trần gian vẫn đẹp tuyệt vời
Bài thơ viết tạ Phật Trời trên cao

(Tạ ơn)
    

      Có tiếng chim Hoàng Anh vui hót từ ngoài vườn vẳng lại, hương muôn hoa thơm ngát như còn thoang thoảng bên song, tâm hồn nở đóa hoa an lạc, nhà thơ lật lại trang bìa tập bản thảo và nắn nót ghi: “THƠ TÌNH HOÀNG TRÙNG DƯƠNG” như một tặng phẩm gửi thân nhân cùng những kẻ đồng điệu.

TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO (Virginia, tháng 7 năm 2007)

 

                                  

VĨNH BIỆT THI SĨ HOÀNG TRÙNG DƯƠNG

Trước sự ra đi đột ngột của Nhà Thơ Hoàng Trùng Dương, trước cái tang đau đớn này, Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm, không biết nói gì hơn là xin thành thật chia buồn cùng chị Hoàng Trùng Dương cùng tang quyến, và xin có vài lời cảm tạ Nhà Thơ đã cộng tác với Cỏ Thơm từ nhiều năm nay. 
Cỏ Thơm rất hân hạnh đã là nhà xuất bản tập Thơ Tình Hoàng Trùng Dương của anh. Trong dịp Tết vừa qua chúng tôi mời anh chị tới nhà họp mặt Cỏ Thơm, anh nói không được khỏe không đến được, nhưng sẽ cố gắng tham dự ngày kỷ niệm 13 năm Cỏ Thơm vào ngày 13 tháng 4.  Tôi cũng nhắc với anh khi nào anh muốn ra mắt tập thơ thì anh chị em Cỏ Thơm sẽ làm.  Anh nói để khi lấy được nhiều sách về thì sẽ tính. 
Cỏ Thơm rất ân hận không kịp ra mắt sách cho anh nhưng Cỏ Thơm đã may mắn có bài tiểu sử về anh và bài anh Ngô Tằng Giao giới thiệu Thơ Tình Hoàng Trùng Dương trong số báo Mùa Xuân phát hành vào dịp kỷ niệm Cỏ Thơm 13 tuổi.  Trong số báo này còn có bài thơ Anh Hoàng Trùng Dương “Tiễn Biệt Anh Vương Đức Lệ” và bài thơ Xuân Lạnh thật tha thiết nồng nàn, anh tặng hiền thê. 

Anh Phan Khâm cùng anh Đăng Nguyên và Vũ Hối đã đem số báo mới này đến thăm anh Hoàng Trùng Dương đúng một tuần trước ngày anh ra đi. Anh đã cười hài lòng và khen báo đẹp. 

Ôi, Anh Hoàng Trùng Dương, hương linh anh còn phảng phất nơi đây, xin chứùng giám lòng thương tiếc chân thành của Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm và các văn, thi, họa, nghệ sĩ thân hữu.  Hình ảnh và tiếng thơ của anh sẽ còn lưu mãi trong vườn thơ Cỏ Thơm, trên Website Cỏ Thơm và Thi Văn Đàøn Việt Nam Hải Ngoại.  Cầu mong hương linh anh sớm phiêu diêu miền cực lạc.
(Điếu văn đọc trước linh cữu HOÀNG TRÙNG DƯƠNG ngày 4/2/2008).

NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG

 

HOÀNG TRÙNG DƯƠNG
HƯƠNG LINH SIÊU TỊNH ĐỘ

Hoàng hoa thuý trúc cõi siêu nhiên
Trùng điệp âm ba điệu nhất huyền
Dương hải khơi xanh niềm bất tận
Hương trầm tỏa biếc ý vô biên
Linh thiêng tiếng nước dòng Hàn thủy
Siêu việt lời mây đỉnh Tản Viên
Tịnh lạc nhân lành sinh qủa đẹp
Độ tha tự độ ước như nguyền
.

VI KHUÊ (02 tháng tư, 2008)

Vĩnh biệt anh Phạm Phú Hoàng Anh

(Gìn vàng giữ ngọc hồn thơ HOÀNG TRÙNG DƯƠNG)

 KIẾP LƯU VONG làm THƠ TÌNH
 Sáu mươi năm với bóng hình HOÀNG ANH
 Bên bờ ly biệt tử sanh,
 Vô vàn ngấn lệ chảy thành TRÙNG DƯƠNG.
 Đớn đau khôn xiết vô lường
 Biết rằng nơi cõi vô thường... sắc không.

Phan Khâm

Biển

(Thương tiếc thi hữu Hoàng Trùng Dương đã ra đi vĩnh viễn ngày 29.03.08)

Biển đưa anh đến bờ đất lạ
Biển đưa anh qua ngả thuyền nhân
Miên man nhung nhớ xa gần
Quê hương yêu dấu, ngàn cân ngậm ngùi

Biển đưa anh không lùi chân bước
Trên xứ người xuôi ngược mưu sinh
Nhưng không ngừng trải lòng mình
Qua vần thơ tỏ chân tình bốn phương

Biển đưa anh trên đường phiêu bạt
Nửa tinh cầu dào dạt chờ trông
Ngày mai hết cảnh mưa lòng
Người đi kẻ ở lệ đong vơi dẩn

Biển đưa anh đi về ý nguyện
Nơi vĩnh hằng, bất biến trần gian
Tiếc thương anh chẳng nhòa tan
Nhà thơ lãng mạn tên Hoàng Trùng Dương

Minh Hồ và Minh Hồ Đào
30.03.08 - Montpellier, France


Tiếc Thương
(Thương tiếc thi hữu Hoàng Trùng Dương và thành thật phân ưu cùng chị H.T.D. và tang quyến.)
 

Hay tin thi hữu họ Hoàng
Trùng Dương theo cánh hạc vàng bay xa
Anh lìa xa cõi ta bà
Trần gian tục lụy lệ nhòa tiếc thương
Bùi ngùi thắp một nén hương
Tiễn anh về cõi miên trường thảnh thơi
Hội thơ chừ mất anh rồi
Hồn thơ còn đọng góc trời DC *
Thương anh cầm bút vội ghi
Đôi lời tiễn biệt người đi ngàn trùng
Tiếc thương anh đến vô cùng
Được tin anh mất não nùng tâm tư
Anh đi về cõi thiên thu
Giã từ khỏi chốn ngục tù trần gian
Gần xa thi hữu bàng hoàng
Tin anh vĩnh biệt thế gian vô thường
Xa lìa khỏi chốn đoạn trường
Đem thơ đi khắp bốn phương tặng đời
Từ nay đời mất anh rồi
Anh là thi hữu người người mến thương.

Lê Trọng Nghĩa
Sacramento, CA. Mar. 29, 2008

* District of Columbia

Tôi thường đọc web Cỏ Thơm, thích nhất là được biết về các anh chị trong nhóm Chủ Biên và các tác giả thân mến. Một buổi chiều, tôi nhận được Thơ Mời dự Họp Mặt mừng Cỏ Thơm năm thứ 13 và dự chiềuThơ Nhạc Sinh Hoạt Nghệ Thuật. Tôi cảm động, biết sẽ có dịp hân hạnh được gặp các văn thi nghệ sĩ vùng Hoa Thịnh Đốn, trong đó có thi sĩ Hoàng Trùng Dương. Nhưng thật đột ngột, vài tuần sau đó nghe hung tin thi sĩ Hoàng Trùng Dương đã từ giã cõi trần ...

Nhớ Mùa Hoa Đào

Hoa đào nở đẹp sớm tàn
Phù du phận vậy, võ vàng xót xa
Đời người đẹp tựa đào hoa
Hoa tàn lại nở, kiếp hoa luân hồi

Đông Tây thơ nhạc tuyệt vời
Hoàng thi nhân đã cho đời nở hoa
Trùng Dương ôm ấp tình nhà
Người đi để lại thi ca với đời

Nghe tin lòng những bồi hồi
Một đời sinh tử, thơ tình phôi pha
Duyên thơ Hoàng sớm lìa xa
Trần gian rời bước, tháng ba hoa đào

Lê Trọng Nguyễn Thị Nga
(Cảm tác khi nghe thi sĩ Hoàng Trùng Dương qua đời)

                           Xin bấm vào tên bản nhạc LỜI CHO EM để nghe ca sĩ Quỳnh Lan hát

                                      Nhạc: Trịnh Hưng (FRANCE) - Lời: thơ Hoàng Trùng Dương

                  

                  

Quê hương và tình yêu qua thơ lục bát
của Hoàng Trùng Dương

     Quê hương và tình yêu xưa nay vẫn là những đề tài lớn cho mọi giai tầng và lứa tuổi trong xã hội. Riêng đối với  thi nhân Việt Nam, đây là nguồn thơ vô tận. Người ta làm thơ có lẽ vì nhiều nguyên nhân và động cơ khác nhau; có người làm thơ vì xúc cảnh sinh tình muốn mượn thơ để góp phần tô điểm thêm cho đời sống; người khác làm thơ như một nhu cầu. Với thành phần nầy, họ làm thơ như để đáp lại một tiếng gọi thiêng liêng nào đó tuy rất mơ hồ nhưng rất thôi thúc và có sức cuốn hút mãnh liệt. Có người xem thơ như một cứu cánh, một người bạn chân tình không bao giờ phản bội. Thơ đối với họ như một chiếc phao giữa biển đời mịt mùng sóng vỗ, như một bàn tay để vịn mà ngoi lên như Phùng Quán đã từng nói “ Những lúc ngã lòng, vịn câu thơ đứng dậy”. Với ho,̣ thơ là duyên nợ một đời, chỉ có thể trả xong khi nhắm mắt xuôi tay. Với họ, một ngày còn thở là một ngày còn phụng sự nàng Thơ. Nhà thơ lão thành Hà thượng Nhân đã viết “ Thơ là một nghiệp, không phải một nghề”. Hơn ai hết, thi nhân thừa hiểu và nhận chân được cái nguyên lý rất quái ác nhưng cũng rất căn bản nầy. Thơ không đem lại cho họ vật chất đủ để nuôi sống bản thân và gia đình, họ phải dùng một nghành nghề nào khác để mưu sinh và để họ còn được tiếp tục làm thơ. Người làm thơ, như con tằm đến phút cuối đời vẫn quặn người nhả ra những sợi tơ cho người dệt vải, lắm khi như cội mai già giữa trời đại hạn, thiếu phân bón, thiếu nước nhưng vẫn cố hút dăm ba giọt sương hiếm hoi để nở cho đời vài đóa hoa xuân. Xưa nay trên thế giới không thiếu gì những nhà thơ nổi tiếng đã sống và chết trong đói lạnh. Nếu người làm thơ trở nên vinh thân phì da nhờ thơ thì thơ chắc không còn chất thơ nữa.

     Vườn thơ Việt Nam hải ngoại vừa có thêm một đóa-hoa-thơ-hương-sắc mà người trổ ra nó là Hoàng Trùng Dương, một thi nhân xứ Quảng- lại cũng xứ Quảng! Có lẽ vùng đất còn vương lệ Huyền Trân Công Chúa nầy đã được Tạo Hóa chọn để mang đến cho đời món-quà-thơ vô giá của Người. Và chắc vì thế mà từ xứ Quảng, mỗi giọt nước, mỗi hòn sỏi, mỗi viên đá, mỗi chiếc lá, mỗi ngọn cây là một lời thơ. Gần như người xứ Quảng nào cũng là thi nhân tuy khả năng sáng tạo và tác động có phần khác nhau. Hoàng Trùng Dương, một người xứ Quảng cũng không vượt ra ngoài thông lệ ấy. Với anh, thơ là nghiệp, không phải nghề. Sanh ra trên quê nghèo đất Quảng, một miền đất với dãy đầy tai ương bất hạnh, kinh qua những giờ phút đau thương của quốc gia dân tộc, tim đã dập dồn hay thắt nghẹn với hạnh phúc và khổ đau trong tình yêu, anh có thừa chất liệu để viết nên những vần thơ tuy đơn sơ nhưng rất cảm xúc, phản ảnh trung thực những rung động từ tận cùng sâu thẳm của con tim. Rất nhiều bài thơ trong thi tập “Kiếp Lưu Vong” của anh đã được viết theo thể lục bát. Có lẽ vì yêu thích thơ lục bát nên anh đã chọn thể loại này như một phương tiện để chuyên chở tâm tình và tư tưởng của mình .Anh mở đầu tập thơ bằng một bài lục bát với những câu thơ nhẹ nhàng nhưng mênh mang nỗi buồn viễn xứ:

“Người đi cạn chén quan hà
Giọt buồn đọng lại nhạt nhòa lệ dâng
Lưu vong đã mấy mùa Xuân
Nhìn hoa tuyết rụng lâng lâng gợn sầu”
  (Kiếp Lưu Vong, tr. 3)

Tình quê hương lai láng rạt rào lúc nào cũng sẵn sàng làm thi nhân rơi lệ:

“Hợp tan, tan hợp trong đời
Ta đi để giọt sầu rơi trên đèo”
  (Trên đỉnh đèo Hải Vân, tr.8)

     Vận nước điêu linh với chế độ vô cùng khắc nghiệt đã làm biết bao người phải nát ruột tan lòng bỏ nước ra đi. Nhưng cho dù đã đến được bến bờ tự do, mộng đã thành, thân đã yên, lòng kẻ ra đi vẫn hoài vọng về người ở lại:

“ Mộng xưa nay đã thành hình
Thương muôn dân vẫn điêu linh quê nhà”
(Lên non, tr.12)

     Những thiệt thòi mất mát của tuổi trẻ trong chiến tranh cũng được thi nhân đề cập đến:

“ Ngày xanh tắt hẳn nụ cười
Tuổi xanh quằn  quại tơi bời phong ba”
(Dạ Sầu, tr.14)

     Trong chiến tranh đã thế, sau chiến tranh càng thê thảm hơn. Chỉ trong hai câu sáu tám ngắn ngủi sau đây anh đã nói lên được cảnh não lòng của quê hương sau năm bảy mươi lăm:

“Chỉ còn những cuộc chia ly
Người đi cải tạo, người đi nghìn trùng”
(Về Thành, tr.18)

     Để rồi trên bước đường lưu vong, thi nhân sống với những tháng ngày ray rứt trong nỗi nhớ thương lúc nào cũng như gai nhọn đâm sâu trên từng tế bào:

“Nhớ thương gặm nát hồn thơ
Dòng thời gian vẫn hững hờ trôi qua”
(Về Nguồn, tr.42)

     Hình ảnh quê hương xứ Quảng với dòng sông Thu một thời thơ mộng và bóng núi xanh lam được anh ghi lại:

“Tôi yêu sông nước Thu Bồn
Yêu đồng lúa chín xóm thôn gặt về”

....

“Tôi yêu rặng núi xa mờ
Trường sơn hùng vĩ trơ trơ cuối trời”
(Yêu quê, tr.98)

 

     Rồi khói lửa chiến tranh tràn tới và dòng sông Thu một thời thơ mộng trở nên:

“Đây sông Thu nhuộm máu đào
Nhớ về đất mẹ nghẹn ngào thở than
Còn đâu những chuyến đò ngang
Chèo đưa dưới ánh trăng vàng lung linh”
(Điêu Linh,tr.68)

     Thi nhân không chỉ yêu hình ảnh của nơi anh đã sinh ra mà cả những vùng đất miền Nam khác. Tình yêu ấy đã thể hiện qua những câu:

“Miền Nam rợp bóng dừa xanh
Sông ngòi uốn khúc chảy quanh xóm làng”
(Đất đẹp miền Nam, tr.72)

     Rời quê hương ra đi lòng tan nát bao nhiêu thì khi quay về thăm lại lòng thi nhân càng bồi hồi xao xuyến bấy nhiêu:

“Bảy năm lưu lạc xứ người
Ta về thăm lại khung trời thân thương
Việt Nam ơi! Vạn dặm đường
Xa người ta vẫn tơ vương suốt đời”
(Ngày về, tr.78)

     Có lẽ không có những câu thơ nào diễn tả nỗi lòng khách ly hương một cách cô động và cảm xúc như bốn câu trên.

     Tâm hồn thi nhân như cây sáo trúc mà ngọn gió và hơi thở tình yêu đã luồn vào để rung lên những tấu khúc ca ngợi tình yêu nồng nàn réo rắt :

“Tình yêu đã đặt lên ngôi
Làm sao nói hết những lời yêu đương”

Và những thơ nây nóng bỏng của một cuộc tình:

“Em tôi tỏ vẻ ngượng ngùng
Vòng tay siết chặt trong vùng đam mê” (
Tàn Tích, tr.44)

hay những nhớ thương da diết và tiếc nuối, trăn trở:

“Thương em nặng mối tình sâu
Nhớ em vò võ canh thâu một mình
Không duyên chẳng nợ ba sinh
Em nên khâm liệm cuộc tình đôi ta”
(Tình Ta, tr.21)

     Còn gì đơn sơ và chân phương hơn hai câu sau, trong đó thi nhân đã dùng những chữ rất bình dị:

“Em ơi, lệ đã cạn dòng
Đời anh sao mãi long đong thế nầy
Trời buồn nên trời nhiều mây
Anh buồn nên viết thơ nầy cho em
Tương lai là một bóng đêm
Tình anh đã trót cho em hết rồi !”
(Lời cho em, tr.63)

     Những từ như “sao mãi”, “thế nầy”, “nên”, “trót”, “hết rồi”, là những từ rất thông thường, được dùng đến nhiều trong văn nói. Dù vậy, chúng đã không làm cho những câu thơ trên mất chất thơ mà trái lại càng làm tăng thêm vẽ mộc mạc, chân tình. Tác giả đã khéo léo dùng toàn thanh bằng trong câu “Trời buồn nên trời nhiều mây”. Câu thơ tuy không theo quy luật căn bản của thơ lục bát nhưng tạo được một sắc thái đặc biệt, như để làm cho nỗi buồn đã thâm trầm lại càng trì nặng hơn.

     Những cuộc tình tan vỡ đã cho thi nhân có cơ hội viết nên những câu lục bát phảng phất âm điệu ca dao:

“Cuộc tình trót đã dở dang
Thì thôi đổ vỡ mộng vàng đắp xây”
(Sầu Đông, tr.84)

“Bọt trùng dương vẫn chưa tan
Tình ta sao vội chóng tàn vì ai”
(Tình hoang, tr.91)

“Nhớ thương thốt chẳng nên lời
Trong cô đơn thấy biển khơi bốn bề”
(Tưởng Vọng, tr.101)

     Về mặt kỹ thuật, thơ lục bát của Hoàng Trùng Dương đã cho thấy cố gắng vượt bực của tác giả trong cách gieo vần và luật bằng trắc. Nói đến thơ lục bát, chắc có người cho rằng đây là thể thơ dễ viết nhất. Điều ấy không sai nhưng không hoàn toàn đúng. Thơ lục bát thoạt trông tuy đơn giản nhưng nếu vần luật không phân minh thì thơ sẽ chẳng ra thơ. Có nhiều thi sĩ rất thành công trong các thể loại thơ khác nhưng lại tỏ ra rất ái ngại với thể thơ lục bát. Trong hậu bán thế kỷ hai mươi, nhiều nhà thơ cố tạo ra một phong cách mới cho thơ lục bát nhưng kết quả như thế nào vẫn hãy còn rất mơ hồ. Không như những nhà thơ ấy, Hoàng Trùng Dương khép mình trong khuôn khổ của thơ lục bát thuần túy, với tiết tấu, vần điệu và quy luật căn bản. Có lẽ nhờ thế mà người đọc tiếp nhận thơ anh dễ dàng hơn vì nó gần gũi với đại đa số quần chúng. Ngoại trừ một vài câu lạc vận như:

“Mẹ cha tóc đã bạc màu
Ta thân tàn phế ăn mày nhân gian”
(Dạ Sầu, tr.14) hay

“Ta theo dấu cọp về nguồn
Làm thân dã thú chở buồn theo sau
Từ đây miên viễn lưu đày
Sơn lâm vắng vẻ đêm ngày đi hoang”
(Từ Ta, tr.94) và những câu không theo quy luật bằng trắc như (có lẽ tác giả cố tình nhấn mạnh động từ “bước” dù biết rằng chữ thứ hai của câu lục phải mang thanh bằng để động tác của người ra đi nổi bật hơn?) :

“Chân bước đi dạ vấn vương” (Giã Từ, tr.28) hầu hết những bài thơ lục bát của anh đều đúng luật bằng trắc và gieo vần rất chỉnh. Những bài mà vần thật hoàn chỉnh có thể kể ra như (“Giã Từ”, tr.28), “Mừng Vu Qui của con”(tr.124), “Đêm về sáng trên thác Niagara Falls” (tr.131). Những bài còn lại vần luật rất nghiêm túc cho dù đôi khi nhà thơ bị buộc phải dùng thông vận. Nói về chính vận thì ngay cả những tác phẩm để đời của những thi hào lừng danh cũng không tránh được có lúc lâm vào thế bi. Đọc “Đoạn Trường Tân Thanh” của đại thi hào Nguyễn Du, người đã được xem như là mẫu mực khôn thước của thể thơ lục bát, người ta vẫn thấy có những đoạn thơ mà vần không hoàn chỉnh như:

“Mấy lần cửa đóng then gài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu”

Hay

“Tan sương đã thấy bóng người
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ”

...

“Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm”

Và

“Rằng nay trong tiết Thanh Minh
Mà sao hương khói vắng tanh thế nầy” thì giữ được vần như Hoàng Trùng Dương trong tất cả những bài thơ lục bát của anh thật là một điều đáng phục.

     Ngoại trừ những thiên tài “Xuất khẩu thành thi” hay những ai không biết thơ là gì, không một thi nhân đời thường nào có thể phủ nhận quá trình sáng tạo cam go khổ hạnh của một bài thơ hay. Thi nhân, như người mẹ, đã phải thai nghén những đứa con tinh thần của mình, truyền sức sống và tinh hoa cho chúng, cưu mang chúng cho đến ngày nở nhụy khai hoa. Thế đã yên đâu khi thơ “lọt lòng” lại phải sửa chữa, uốn nắn cho chúng được hoàn hảo. Đôi khi gặp những đứa con khó khăn,  người cưu mang chúng không nhiều thì ít cũng sức cùng lực kiệt. Trong ý nghĩ đó, thi tập “ Kiếp Lưu Vong” có thể được xem như là đứa con đầu lòng mà Hoàng Trùng Dương đã cưu mang nhiều năm qua. Công trình sáng tạo của anh đã mang đến cho đời một tác phẩm đẹp, và chắc chắn rằng với nền tảng sẵn có, những đứa con tinh thần của anh trong tương lai lại sẽ càng xinh xắn, kháu khỉnh hơn ./.

Vũ Đình Trường

        

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com