arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow LỐI VỀ XÓM NHỎ - Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Trịnh Hưng - Biên Soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
LỐI VỀ XÓM NHỎ - Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Trịnh Hưng - Biên Soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

                

Nhạc sĩ Trịnh Hưng, tên thật là Nguyễn Văn Hưng, sinh năm 1930 (*), quê quán ở Bắc Ninh. Năm 1945 tới 1953 ông theo kháng chiến chống Pháp, làm đội phó văn công Trung Đoàn Thăng Long. Năm 1954 ông hồi cư về Hà Nội sau đó vào Nam. Ông bắt đầu sáng tác nhạc năm 1950 nhưng mãi sau 1956 nhiều nhạc phẩm của ông mới được nồng nhiệt đón nhận.
Ông thuật lại trước năm 1954 ông là văn công ở ngoài Bắc, lúc đó ở ngoài Bắc có đấu tố nhiều quá, những người trí thức đã bỏ về hết nên ông theo người di cư vào Nam. Vào Nam ông mở lớp dạy đàn, sáng tác và luyện giọng tại đường Cao Thắng, Sài Gòn. Ông có nhiều học trò và nhiều người đã trở thành ca sĩ nổi tiếng như Ca sĩ Ánh Tuyết, Bạch Yến, Thanh Thúy và Nhạc sĩ Đỗ Lễ, Trúc Phương cũng là học trò của Ông.
Ở Miền Nam, vùng đất tự do với nắng ấm chan hòa đã gây cho ông cảm hứng để sáng tác nhiều tác phẩm về đồng quê, trong đó có nhiều bản rất nổi tiếng là bản “Tôi Yêu” , “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Lúa Mùa Duyên Thắm”, “Tình Thắm Duyên Quê”, “Tiếng Ca Dân Lành “, “Trăng soi duyên lành” … Nhạc đồng quê của ông rất được yêu chuộng bởi lời ca mộc mạc, trong sáng, tiếng nhạc vui tươi, chan chứa tin yêu, gợi cho người nghe một cảm giác thanh bình, an lành nơi thôn dã nên được yêu thích.
Sau 30 tháng Tư, 1975, Nhạc sĩ Trịnh Hưng tiếp tục dạy nhạc kiếm sống, nhưng người con trai lớn của Ông bị bắt đi lính, đẩy qua Cam Bốt, ở đó lính Việt bị chết nhiều quá, nên con ông trốn. Hai năm sau công an bắt được đã đánh con ông chết. Ông vô cùng căm hận nên viết bản nhạc “Ta Quyết Tâm Giết Lũ Hồ”, vì bản nhạc đó mà ông bị tù tám năm, từ 1982 đến 1990. Sau khi mãn tù, Ông được gia đình bảo lãnh sang Pháp. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn học hải ngoại.
Tháng Mười, 2003, Nhạc sĩ Trịnh Hưng ra mắt CD “Tôi Yêu” do Thư Viện Diên Hồng tại Pháp tổ chức để vinh danh ông. Đây có lẽ là CD duy nhất ông ghi âm thu lại những nhạc phẩm của mình để kỷ niệm cho con cháu và cho bạn bè.
Trong CD “Tôi Yêu” này có 12 bản nhạc trong đó có bản do Ông sáng tác, có bản ông phổ thơ của người khác. Tháng 11 năm 2004 Hội thơ Tài Tử tại Bắc Cali mời ông sang Hoa Kỳ trong ba tháng. Ông được báo chí và các đài phát thanh phỏng vấn và đông đảo đồng hương đến dự những buổi vinh danh người nhạc sĩ lão thành từ Âu Châu đến.
Ngoài nhạc ra, Nhạc sĩ Trịnh Hưng còn có tài vẽ hí họa và làm thơ. Trong số những bài thơ của ông, bài được nhiều người biết đến là bài “Một mình”.
Nhạc sĩ Trịnh Hưng đã vĩnh viễn ra đi ngày 10 tháng 5, 2008 tại Paris, Pháp Quốc.

Bài viết của Nhạc sĩ Lê Dinh

Ghi chú: (*) Theo Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, năm sinh của NS Trịnh Hưng là 1924.                            

    

                                                      Bấm vào tên bản nhạc để nghe:

              TÔI YÊU - Tiếng hát: Vũ Anh       LÚA MÙA DUYÊN THẮM - Tiếng hát: Như Quỳnh & Thái Sơn

                                                                 TRĂNG SOI DUYÊN LÀNH - Tiếng hát: Hương Lan

                               Lối về xóm nhỏ

Lối về xóm nhỏ” là tựa đề của một trong nhiều bài hát quen thuộc một thời với dân miền Nam ở bên nhà vào giữa thập niên 50. Lấy một thời điểm cụ thể là năm 1956 thì ngày ấy tôi mười bốn tuổi và có một kỷ niệm không dễ quên đối với bài hát này.

Dạo đó Đài Phát Thanh hàng ngày cho phổ biến khá nhiều bài hát theo tiết điệu “Mambo”. Cũng chả có gì lạ, bởi tiết điệu này lúc đó đang được phổ biến ở Âu Mỹ. Một trong những ban nhạc nổi tiếng ở Mỹ thời ấy, “chuyên trị” cái vụ “Mambo” là ban nhạc của “Xavier Cugat”. Bên Pháp thì Dario Moreno, một giọng ca đang ăn khách trên đĩa nhựa loại “45 tours”, cũng đang nổi tiếng với bài “Mambo Italiano”.
Các nhạc sĩ có tài của nước ta có cái hay là không bắt chước cái gì của phương Tây thì thôi nhưng đã bắt chước thì tạo nên cái hay riêng với nét nhạc xứ mình. (Cứ xem những bài hát của Văn Phụng thì biết! ). Thời ấy một bài nổi tiếng theo tiết điệu “Mambo” của ta là bài “Khúc ca ngày mùa” của Lam Phương mà cho đến bây giờ tôi vẫn cho là đặc sắc. Tôi nghe qua Đài Phát Thanh  những bài như “Tôi yêu”, “Lối về xóm nhỏ” của Ông Trịnh Hưng cũng vào cái thời ấy. Tôi nhớ đặc biệt bài “Lối về xóm nhỏ” từ một kỷ niệm. (Có cái gì ta chịu khó nhớ mà không từ kỷ niệm?)

Nhưng trước hết phải nói là thời ấy tuy nghe loại tiết điệu đó, cũng na ná như  “Cha Cha Cha”, thấy “có lý” đấy thế nhưng tôi không mấy “khoái”! Tính tôi hợp với các tiết điệu “uyển chuyển”, dịu dàng hơn, cho dù là “Rhumba”, “Bolero” hay “Tango”.  Mà cái đám bạn bè thuộc loại “nhóc con” như tôi thời ấy thì bọn chúng không ưa loại nhạc “nhè nhẹ”, “chầm chậm” kiểu “diễn tả tình cảm” ! Kể ra thì chúng cũng có lý: Con nít mà “diễn” với “tả” cái gì ? Do đó mà có tụ tập lại với nhai để đàn địch thì trước sau gì cũng có một lô các bài theo tiết điệu “Mambo"!
Có điều là vào một dịp gần Tết thì một đứa trong đám bạn cùng trường của tôi bên “Chasseloup” có quen với một cô bé ở một trường tư thục theo chương trình Việt. Tết đến, các “em” xúm nhau lại tổ chức họp mặt ca hát trong lớp để đón Xuân, nghỉ Tết. Thằng bạn của tôi một hôm xách cây đàn “ghi-ta” đến trường con nhà người ta để đệm đàn cho con bé bạn của nó. Nó rủ tôi theo vì tôi chạy cái xe gắn máy thì nó ngồi vắt vẻo nơi yên sau để ôm một cây đàn “ghi-ta” và một cây “mandoline” !
Đến nơi thì hóa ra trong danh mục những  bài mà “các em” sẽ hát lại có cả bài “Lối về xóm nhỏ” của Trịnh Hưng! Bài này do một “em” tên là Thu Hà đảm trách vụ hát hỏng. “Em” Thu Hà không phải con bé bạn của thằng bạn tôi. Tôi thắc mắc với các “em”: ”Tết nhất đến nơi, không hát những bài Xuân mà khi không đi chọn “Lối về xóm nhỏ” là thế nào?”  Mấy “em” còn ngơ ngác chưa biết nói năng thế nào với cái “tay Bắc Kỳ tính nết có vẻ khó ưa này” thì thằng bạn Nam Kỳ của tôi gắt: ”Người ta thích hát cái gì thì thây kệ người ta chứ mắc mớ gì đến mày?” Tôi cãi: ”Mày muốn tao phụ đệm đàn cho nó hát thì tao cũng phải thích bài hát đã chứ!” Mấy “em” kia nhao nhao: ” Aaa ! Ai là “nó” đấy ? Người gì mà dữ tợn” ! Thằng bạn của tôi thấy coi bộ không xong bèn chen vào: ”Ôi ! Hơi đâu mà bắt chẹt nó! Coi vậy chứ nó cũng hiền lắm !” Tôi gỡ: ”Đấy, thì nó chẳng vừa gọi tôi bằng “nó” là gì ?” Các “em” lại nhao nhao: ”Nhưng hai người là bạn với nhau ..” Tôi lý sự: ”Như vậy thì mấy cô không coi tôi như bạn ?” Các “cô”: “Nhưng người ta là con gái ..” Một “cô” khác: ”Người gì mà không “vô-lăng” tí nào!”
Nhưng rốt cuộc rồi thì tôi cũng đệm đàn cho “em” Thu Hà hát bài “Lối về xóm nhỏ” của Trịnh Hưng. Bài hát thì tất nhiên là hay rồi. Chỉ phiền là “em” Thu Hà ngày đó dáng dấp, mặt mũi xinh xắn như thế nhưng hát hỏng thì lại chả có ra làm sao cả! Trật nhịp lui trật nhịp tới, tuy cấu trúc về nhịp của bài hát đâu có gì là phức tạp?  

Hôm nay, một ngày Xuân muộn ở Nam Cali, cái Tết đã qua từ lâu, nhưng đuợc cái tin buồn là vừa mới đây nhạc sĩ Trịnh Hưng qua đời, tôi ngồi vào đàn, đàn lại bài “Lối về xóm nhỏ” để nhớ lại một quãng đời đã xa lắc xa lơ của riêng mình. Nhớ đến công ơn –xin lập lại: ”công ơn”- của một nhạc sĩ tài hoa đã để lại cho đời những giai điệu thật đẹp tuy chả biết dễ mấy ai còn nhớ đến tên tuổi cùng tài năng của ông!
Tôi đàn lại giai điệu của bài hát mà chỉ tiếc là giá như hồi ấy người ta cũng đã chế tạo ra các lọai “piano điện tử” như ngày nay để vào cái dịp Tết năm ấy tôi đã có cái hấp dẫn hơn để đệm đàn cho “em” Thu Hà thời ấy hát. Nhưng nghĩ lại thì thấy là như vậy cũng đuợc rồi. Có đàn với cái hòa âm phong phú hơn thì chung cuộc “cô em” đã lại càng hát sai thêm!

Thanh Trang
Nam Cali, mùa Xuân 2008

              

   

   

Lối Về Xóm Nhỏ
 
Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca
Ngọt hương lúa tình quê thêm đậm đà
Dào dạt bao niềm thương trong mái lá
Bờ dâu xanh, cô gái hát êm êm
Tầm mai chín gởi anh dâng mẹ hiền
Lòng già thêm hơi ấm khi chiều lên.

Có những chiều hôm
Trời nghiêng nắng xế đầu non
Nắng xuống làng thôn
Làm cho đôi má em thêm dòn
Lúa đã lên bông
Mắt già tươi sáng thôi chờ mong
Tiếng hò cô lái bên Cửu Long
Mơ rằng mai lúa lên đầy bông 

Chiều hôm nay quay gót bước phiêu du
Về thôn xóm để vui chung ngày mùa
Đường về thôn quyện chân lên nhánh lúa

Vầng trăng nghiêng soi mái tóc em thơ
Vài cô gái nhỏ to vui chuyện trò
Đường về thôn niềm vui dâng đây đó ...
 

                                        Bấm vào tên người trình bày để nghe:

                        Hoà tấu: Thanh Trang                Tiếng hát: Tâm Hảo

ĐÂU CÓ HẸN THỀ
Thương tiếc nhạc sĩ Trịnh Hưng trở thành người quá cố

Dù đã biết có một lần ra đi
Dù đã biết có một ngày chia ly
Dù đã biết có một lần vĩnh viễn
Dù đã biết mà người vẫn sầu bi
 
Anh đã nói muôn ngàn lời phân ưu
Anh đã tiễn bao người đi mịt mù
Anh đã ném xuống huyệt bao nấm đất,
Cúi đầu chào bao người vào thiên thu
 
Nay đến anh làm mắt người nhỏ lệ
Tiễn đưa anh trở về cõi cội nguồn
Và từ đây không còn nghe anh kể
Giòng đời thăng trầm, viết nhạc quê hương
 
Dù đã biết một lần đi không về
Dù đã biết một lần lòng tái tê
Dù đã biết một lần xa nào muốn
Cuộc hành trình ai đâu có hẹn thề
 
Minh Hồ & Minh Hồ Đào (Montpellier, France)

       > youtube - Nhạc & hòa âm: Nguyễn Minh Châu - Tiếng hát: Kyra Nguyễn

"Anh Không Một Mình"
( Cảm kích từ bài thơ "Một Mình" nhạc sĩ Trịnh Hưng đã viết tay gửi cho tôi.
Xin dâng lên một nén hương cho người nhạc sĩ với nét nhạc đậm tình yêu quê hương yêu dấu ...)

Tưởng như duyên khởi trong dòng nhạc
Nhớ mãi tình thâm, nét ngạt ngào
Trịnh trọng anh về trong thao thức
Hưng khởi thơ hòa khúc nhạc vang

Người đến bên anh, vạn tấm lòng
Yêu dòng sông bạc, ánh trăng trong
Quê nghèo chan chứa, niềm hy vọng
Hương lửa tình quê, cạnh bóng dừa

Xóm nhỏ, vầng trăng mừng bông lúa
Làng quê, thôn nữ đẹp ngày mùa
Miền Nam duyên thắm, bao lời hứa
Quê đã xa rồi, biệt lối xưa!

Trở bịnh tuổi già mưa cô quạnh
Về đâu nắng ấm bạn quanh mình?
Thiên thu chung cuộc anh linh
Cổ nhân tao ngộ, anh không Một Mình!

Lê Trọng Nguyễn Thị Nga (California, USA)

                          

        THƠ SONG NGỮ: TRỊNH HƯNG & LÊ MỘNG NGUYÊN

Nhớ Xuân Xưa

Nhà nàng cách một dậu thưa
Xuân sang hoàng cúc cũng vừa trổ bông
Nàng thường vận áo cánh hồng
Ra đứng tựa cửa để hong tóc chiều

Một chiều mưa gió đìu hiu
Nàng không hong tóc, tôi nhiều nhớ mong
Nhớ sao là nhớ lạ lùng
Cầu cho mưa lạnh, coi hong tóc chiều

Tôi thầm cảm thấy đã yêu
Nhưng không dám tỏ những điều mến thương
Vì tôi nặng kiếp phong sương
Quanh năm lặn lội chiến trường miền xa

Xuân sau được phép thăm nhà
Lòng tràn vui sướng chan hòa tình yêu
Đến nhà, chợt thấy buồn hiu
Nhà em cửa đóng gió reo ngoài trời

Chiều nay cũng gió mưa rơi
Nhìn sang hàng xóm một trời nhớ mong
Nghe như mưa ở trong lòng
Giọt mưa giá buốt rơi trong lòng mình

Nhìn quanh bốn phía lặng thinh
Xót thương số phận thân mình bơ vơ
Tôi nay như kẻ trễ đò
Vì cô hàng xóm cũng vừa sang sông

Nghe như mưa ở trong lòng
Xuân về tôi chép vài giòng thơ đau

Trịnh Hưng 

Souvenir  d’un lointain printemps

Poème en vietnamien de Trịnh Hưng

Sa maison étant séparée de la mienne par une haie vive espacée de plantes
Le printemps venu, des chrysanthèmes ayant fleuri au soleil éclatant
Portant habituellement un chemisier rose
Elle restait debout en s’appuyant à la porte pour sécher les cheveux

Un soir de pluie accompagnant un vent légèrement triste
Elle ne fut phus là pour sécher les cheveux et je pensai beaucoup à elle
Je pensai intensément à elle tout en priant pour que la pluie cessât
Afin de pouvoir la voir en train de sécher les cheveux le soir

J’eus le sentiment de l’aimer en secret
Mais je n’oserais manifester mon amour désespéré
À cause de ma vie d’aventurier
Peinant au front lointain tout au long de l’année

Au printemps suivant, j’obtins la permission de rentrer à la maison
Le cœur rempli de bonheur et d’amour débordant
Une fois parvenu dans ma demeure, la tristesse m’envahit soudain
En voyant ta maison toutes fenêtres fermées
Alors que le vent sifflait furieusement dehors…
Ce soir aussi, il pleut et vente tristement
Mes regards se dirigeant vers la maison de mon rêve
Pleine de souvenirs et d’espoir
J’entends la pluie comme s’il pleuvait dans mon cœur
Des gouttes de pluie glacées tambourinant dans mon âme malheureuse

En voyant qu’autour de moi tout semble silencieux
Je compatis à mon destin solitaire
Je suis dorénavant pareil à celui qui a manqué sa barque
Ma voisine en effet venant de traverser la rivière

J’entends la pluie comme s’il pleuvait dans mon cœur
Le printemps arrivé, j’écris ces quelques vers d’un poème douloureux

Traduit en français par: Lê Mộng Nguyên (Membre de l’Académie des Sciences d’Outre-Mer)

                            Gọi điêu tàn thức dậy

Sau một bài viết ngắn như một niệm khúc gởi Nhạc Sĩ Trịnh Hưng, khi anh vừa ra đi vào cõi vĩnh hằng. Nhạc sĩ Phan Anh Dũng gởi cái link cho tôi nghe lại 2 bài nhạc của anh Trịnh Hưng: Tôi Yêu và Lúa Mùa Duyên Thắm với chính lời thơ của anh. Mới thấy tâm hồn anh rộng trãi bao la trên những cánh đồng Miền Nam thắm tình sông nước:

"kìa cùng đùa chơi trẻ thơ ca hát say đời
dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười!"
(Tôi Yêu - Trịnh Hưng)

Tôi đã hân hạnh gặp con người có hồn thơ chơn chất ấy, với nụ cười rộng mở chứa niềm vui với những thân quen.
Nhắc cuộc gặp với nhạc sĩ Trịnh Hưng trong ngày Đại Hội Thân Hữu của Hội Thơ Tài Tử Hải Ngoại ở Washington.DC vào tháng 10 năm 2004. Tôi chợt nhớ trong đêm ra mắt Tuyển Tập Thơ "Cụm Hoa Tình Yêu 10", có một kỷ niệm khó quên.
Một trong những vị khách mời dự đêm ra mắt sách là Nhà Văn Trần Quán Niệm. Người mà trong lời ngỏ chúc mừng Đại Hội Thơ Tài Tử Hải Ngoại, đã đọc bài thơ "gọi điêu tàn thức dậy" của tôi trong tuyển tập Thơ "Cụm Hoa Tình Yêu 10".
Gợi nhớ đến, tôi vẫn còn bồi hồi từ tâm thức buồn của bài thơ được chọn đọc như một bất ngờ.

gọi điêu tàn thức dậy
uống cho hết chua cay!

Có giọt lệ rưng đau thấm vào lòng chăng? Có phải chữ nghĩa muốn khởi quật lên một tia sáng của hoài vọng: sau khi uống hết chua cay, sự điêu tàn hoang hóa sẽ trở mình hồi sinh những cánh đồng vàng rực lúa vụ chiêm, triều nghi xưa đượm tình hương sắc cũ, núi sông xanh sau cuộc chiến thê lương.
Thê lương đến độ phải bỏ nước ra đi. Đi để tìm sống trong cái lý lẽ làm người được bảo vệ bằng công bình nhân ái.
Đi với mục đích thoát những xiềng xích hận thù. Dẫu biết đi mà lòng đau như cắt khi để lại sau lưng bao thân thương của Đất, của Người.
Đi để rồi suốt nhiều năm sống trên đất người, lòng vẫn luôn cật vấn, cật vấn đến độ hóa ngông gọi điêu tàn thức dậy:

Nếu đi mà thong thả
Tội đếch chi quay về
Cứ nhìn đời đon đả
Ta dõi miết đường mê

Nếu về mà an tịnh
Cần quách gì phải đi
Ngồi lê đời bịn rịn
Mê hoặc cõi hồ nghi

Đi, Về - đường khúc gãy
Chồi nứt ngọn hoài thai
Giấc đời xa ngọt ngậy
Cong quắp khối hình hài!

Cả cái chồi nứt mầm lên cũng không xanh được, thì ngọt ngậy đời bao giờ mới có. Trách chi cái hình hài không quắp lại vì những nỗi đau mất Nước, tan Nhà!

Thế kỷ này thật tội
đau thương quá hóa rồ!
(gọi điêu tàn thức dậy)

*

"Lúa thắm vàng đầy đồng
Người sống với tình mặn nồng
Như cùng nhau xây tình yêu sông núi
Tô màu cho nước Việt ngày thêm tươi!"
(Lúa Mùa Duyên Thắm - Trịnh Hưng)

Ôi yên ả và thành bình chi lạ
Phù sa thơm ôm gốc mạ xanh!

Vậy mà điêu tàn! Vậy mà hoang phế! Uổng công thơ chuốt chữ cho đời!
Còn đâu trên những cánh đồng cò bay thẳng cánh, rôm rả tiếng hát:

... gánh thóc về
gánh thóc về...

Chỉ còn những đường khúc gãy, mỗi nhìn trước nhìn sau nghẹn những niềm đau, khi người làm ruộng thiếu gạo ăn, khi trẻ đến trường không lành tấm áo!
Mặc, tôi vẫn gọi điêu tàn thức dậy, uống niềm tin để thoát cơn đau.

Phù sa rồi lại thơm
Lúa đòng đòng mẩy hạt
Câu thơ lồng tiếng hát
Trong khúc nhạc đồng quê

Những tấm lòng gặp nhau từ tâm điểm ấy - Ân tình gởi núi sông!

Tạm biệt hôm qua, hay vĩnh biệt hôm nay, ngày mai... chỉ là sự vắng mặt không là sự xa cách của ngôn từ thơ, nhạc viết cho đời, viết về nguồn cội quê hương.
Khi điêu tàn thức dậy, con mắt thơ không nhìn sự đổ nát mà nhìn qua khao khát để tìm về Tổ Quốc trong tim!

Cao Nguyên
Virginia 13/5/2008

         

                    Bấm vào tên bản nhạc để nghe Trịnh Hưng phổ nhạc những bài thơ của thân hữu:

   RU EM (thơ: Phạm Ngọc, Thùy Dương hát)  LỜI CHO EM (thơ: Hoàng Trùng Dương, Quỳnh Lan hát)

                        NÀNG NAI VỚI RỪNG THU (thơ: Vương Thu Thủy, Khánh Duy hát)

                  “Miền Nam mưa nắng hai mùa”

Đây cũng lại là tựa đề của một trong những bài hát quen thuộc khi xưa – ít ra là đối với tôi- của nhạc sĩ Trịnh Hưng. Trong số những bài hát của thời thập niên cuồi 50, đầu 60 ở miền Nam nói về đất nước, con người, phong thổ, thiên nhiên nói chung thì tôi đặc biệt nhớ đến những bài “Tình quê hương” (“Habannera”) của Đan Thọ (phổ Thơ Phan Lạc Tuyên), “Chiều làng em” ( “Bolero” ) của Trúc Phương, “Xuân miền Nam” (thuộc loại tiết điệu “Rhumba”) của Văn Phụng, “Cung đàn muôn điệu” (“Rhumba”)  của Trần Trịnh và “Miền Nam mưa nắng hai mùa” (“Rhumba”/”Bolero”) của Trịnh Hưng.

Lời hát nơi bài “Tình quê hương” là dễ nhớ nhất vì đấy là một bài thơ loại năm chữ. Mà không phải chỉ là thơ năm chữ loại nhàng nhàng. Ấy là một bài thơ năm chữ tôi cho là hay tuyệt. Ông Đan Thọ hẳn cũng nghĩ như thế cho nên ông mới đưa một giai điệu “ác liệt” như thế vào đấy! (Bài này tôi đã “hòa tấu” và nó nằm ngay trên “website” “Cỏ Thơm” này, cùng với bài “Cung đàn muôn điệu” là bài tôi rất thích, chứ không đâu xa!) Bài “Chiều làng em” lời lẽ mộc mạc dung dị nhưng cũng rất đẹp. Đặc biệt giai điệu thì còn đẹp nữa! (Bài này tôi cũng đã từng thích và “hòa tấu” tuy chưa đưa lên “Cỏ Thơm”).  Bài “Xuân miền Nam” thì hầu như năm nào Tết đến tôi cũng lôi ra đàn trong cảnh tĩnh mịch của những buổi chiều cuối năm.

Bài “Miền Nam mưa nắng hai mùa” thì từ ngôn ngữ nơi lời hát cũng như giai điệu  cũng như mấy bài kia, đều rất hợp với sở thích của riêng tôi. Giai điệu mạch lạc, rõ ràng, có đầu có đuôi, có cân có đối!
Cái đặc sắc nơi thể điệu “Rhumba/ Bolero” là ở các chỗ “đảo phách” ( “syncopes” ). Cả ba bài “Chiều làng em”, “Xuân miền Nam”, “Miền Nam mưa nắng hai mùa” đều do các “kiện tướng” trong làng nhạc vận dụng giai điệu cũng như câu cú cho nên bài nào cũng có những nét “đảo phách” rất đặc sắc. (Vả lại viết giai điệu theo thể “Rhumba/Bolero” mà không biết làm cho đúng cách thì làm để mà làm cái gì ?)  Tiết điệu “Rhumba/ Bolero” và “Tango” của Nam Mỹ/ Tây Ban Nha  còn có một đặc tính thú vị ở chỗ là tuy rộn ràng, là “nhanh “đấy, thế nhưng dễ chừng còn trữ tình, “lả lướt” hơn cả những tiết điệu như “Slow” hay “Boston” mà trong Tân Nhạc của ta hay phổ biến! Ai tò mò cứ vào một tiệm bán đĩa nhạc bên Nam Mỹ thì sẽ thấy là trong mười cái CD thể nào quá nửa cũng là những bài hát hoặc bản nhạc theo tiết điệu “Bolero” hay đại loại!

Quê tôi ở miền Bắc. Tôi theo Bố Mẹ vào Nam từ năm lên tám, trước đợt “Di Cư” 54 bốn năm. Đã có người viết rằng nhạc sĩ Trịnh Hưng viết bài “Miền Nam mưa nắng hai mùa” như để đền đáp lại mảnh đất miền Nam đã đùm bọc ông, một người quê quán  tận Bắc Ninh! Tôi lớn lên trong Nam cho nên xưa giờ tôi vẫn tự coi mình như một người miền Nam. Xưa giờ tôi vẫn thích viết một bài hát kiểu như mấy bài vừa nêu ở trên. Chỉ có điều là đã có những bậc đàn anh người ta  làm ra đuợc những cái mình nghĩ là chưa làm hay hơn đuợc thì tốt hơn cả là cứ việc đàn hát những bài đã có sẵn của các bậc đàn anh!

Hôm nay trời Nam Cali nóng khoảng 85 độ F. Tính ra độ C thì cũng cỡ suýt soát 30 chứ không dưới! Đã có vẻ mùa Hè ở miền-Nam-quê-tôi lắm rồi! Bài “Miền Nam mưa nắng hai mùa”, như đã nêu, có giai điệu đẹp, mạch lạc, rõ ràng, cho nên rất dễ nhớ. Lời hát thì tôi lại chỉ nhớ có mỗi hai câu cuối: ”Về nơi đây cùng anh chiến binh chung xây đời. Vừng trăng soi, có cô nàng mơ lứa đôi”. Của đáng tội, thuở nay trí nhớ của tôi đối với hàng nghìn ca khúc của ta chỉ xoáy vào giai điệu là cái chính. Lời hát có hay nữa thì càng tốt, nhưng lời hát có hay bằng giời nhưng giai điệu chả ra ngô ra khoai gì hết thì là tôi ít có màng đến. Bời thế giai điệu nơi những bài như “Miền Nam mưa nắng hai mùa” của nhạc sĩ Trịnh Hưng thì chỉ cần nghe một đôi lần là tôi nhớ như đã “thu băng” vào trong não bộ!

Sáng nay, một buổi sáng mùa Xuân theo nghĩa “Mùa Xuân trên giấy tờ” của cái đất Cali nhưng kỳ thực còn quá tổ là mùa Hè thì tôi đã ngồi vào đàn sọan vội cái hòa âm cấp tốc ở trong đầu cho giai điệu này trong khi nhà tôi đang thu xếp hành trang cuối tuần để tôi đưa đến nhà vợ chồng con gái nhớn, nơi có hai đứa cháu ngoại hình như cũng đang ngong ngóng chờ Ông Bà đến với đồ chơi mới!

Ngồi đàn bài “Miền Nam mưa nắng hai mùa” mà cứ ngậm ngùi cho không biết bao nhiêu nỗi buồn vui đã để lại ở bên kia bờ đại dương.

“Bao giò trở lại quê hương?”
“Hai mùa mưa nắng còn vương vấn lòng!”

Thanh Trang
Nam Cali., Mùa Xuân 2008 

                                                >>  Thanh Trang hòa tấu

 

            

                                                 Thư họa của Văn Tấn Phước (Paris, Pháp)

                                         > Toàn bộ 12 bản nhạc trong:  CD Tôi Yêu - Hoà âm: David Đông

                                                            hay bấm vào tên bản nhạc để nghe từng bài

                              1. Lối Về Xóm Nhỏ - Ngọc Điệp             2. Tôi Yêu - Hoàng Thái Quốc

         3. Có Bao Giờ Anh Nhớ - Phương Thùy     4. Tình Thắm Duyên Quê - Ngọc Loan & Quốc Thái

                         5 Chỉ Yêu Cuộc Tình - Trường Lâm       6. Trăng Soi Duyên Lành - Quốc Đại

                        7. Tiếng Ca Dân Lành - Ngọc Loan      8. Lúa Mùa Duyên Thắm - Ngọc Điệp

                              9. Tìm Quên - Trường Lâm            10. Đất Đẹp Miền Nam - Hoàng Thái Quốc

        11. Miền Nam Mưa Nắng Hai Mùa - Ngọc Loan          12. Sài Gòn Ơi Em Xa Rồi - Tấn Đạt

                 Yếm Vải Xứ Thanh - TRỊNH HƯNG

Từ một tình sử đau buồn trong đó người vợ trẻ bị chết đuối sau đám cưới có bảy ngày, một anh bộ đội vệ quốc quân đã kể cho tôi nỗi đau buồn tê tái của mối tình đầu xuất hồn khỏi con tim ra thành bài thơ bất hủ. Chính bài thơ đó đã tạo nên tên tuổi anh. Cô dâu mới vô phúc kia là Lê Đỗ Thị Ninh. Đại tác phẩm thi ca nói trên mang nhan đề “Màu tím hoa sim" thuộc về nhà thơ Hữu Loan.
Nhà thơ già kể lại cho tôi nghe tình sử ấy một cách say sưa với nét mặt hằn vết nhăn tuổi tác như sống lại với kỷ niệm xa xưa cách nay nửa thế kỷ, rồi chua chát mỉm cười hỏi tôi:
- Thỏa mãn chưa, chú Hưng?
Tôi trả lời :
- Thưa anh, em thật thỏa mãn, vì đã hơn năm mươi năm rồi mới gặp lại anh, lại được chính anh kể cho nghe về tình sử đó. Từ trước tới giờ, không riêng em mà nhiều người từng yêu mến bài thơ "Mầu Tím Hoa Sim" cũng chỉ hiểu sơ qua lời tâm sự chứ không biết cặn kẽ về cuộc tình tuyệt đẹp mà đau buồn đó. Bây giờ, xin anh cho em biết thêm một chuyện khác về cuộc đời riêng của anh từ cuối năm 1952, sau ngày em về Hà Nội.
Khi ấy, với chiến thắng Điện Biên Phủ cùng tái lập hòa bình cho xứ sở, rồi trở về đến thủ đô, lý do gì mà anh và anh Quang Dũng, những sĩ quan trung cấp ưu tú và văn nghệ sĩ nổi danh, lại không được nhà nước ưu đãi như đối với các người có công khác. Ngược lại, các anh còn bị bỏ rơi, gạt ra khỏi giới nhà văn nhà thơ, bị treo bút và không cho công ăn việc làm. Đến nỗi anh Quang Dũng từ ngày về thủ đô chịu đói khổ, không có được một bữa cơm ăn đơn sơ cho no lòng. Còn anh thì bị trục xuất về quê và còn bị quản thúc, không được phép liên hệ với bất cứ ai. Tại sao lại như vậy, thưa anh?

Thi sĩ Hữu Loan lại mỉm cười chua chát bảo tôi;
- Chú muốn biết, anh sẽ kể rõ hết cho chú nghe. Chú, anh chị Trạch, và anh Trần Chánh Thành về Hà Nội, anh nào có hay. Sau đó, anh được anh Quang Dũng cho biết là anh ấy có đi đưa tiễn gia đình chú về Hà Nội. Anh bảo Quang Dũng rằng như thế là may cho anh chị Trạch và anh Trần Chánh Thành, chứ nếu ở lại hậu phương thì khổ, vì các anh ấy vốn thuộc giới trí thức làm quan lại cho Tây hồi xưa.
Đến cuối năm 1952 đầu năm 1953, chính phủ ta đi theo đường lối chính sách của Tầu. Đó là rập theo mô hình đấu tố của Mao đề ra đang được thi hành bên Tầu. Chúng gửi cố vấn sang Việt Nam, bắt buộc chính phủ ta phải thi hành việc đấu tố như Tầu.
Cố vấn Tầu đưa Trường Chinh lên làm chủ tịch và Hoàng Quốc Việt làm phó, bắt đầu mở màn phát động chiến dịch đấu tố cái mà chúng gọi là "địa chủ cường hào". Tụi cố vấn Tầu chỉ định đưa bà Nguyễn Thị Năm, tên hiệu là Cát-Thành-Long chủ một đồn điền lớn ở Thái Nguyên ra đấu tố làm điển hình.
Trong quá khứ, bà Cát-Thành-Long là một phụ nữ rất hiền hậu, yêu nước, thương người. Bà có tiệm ở Hà Nội lấy nhãn hiệu Cát-Thành-Long và là một nhà giàu nhất nhì Hà Nội trong thời Pháp thuộc. Chính bà đã nuôi nấng, giấu giếm trong nhà nhiều cán bộ cộng sản, giúp họ khỏi bị Tây bắt. Trong số cán bộ được bà Cát-Thành-Long che chở nuôi ăn có cả Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt. Đến khi Việt Minh có chân trong Hội Đồng chính phủ, già Hồ ngầm tổ chức Tuần Lễ Vàng lấy tiền mua súng để thành lập quân đội thì người ủng hộ nhiều vàng nhất Hà Nội bấy giờ cũng chính là bà Cát Thành Long tức Nguyễn Thị Năm.
Rồi cuối năm 1946 chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Dân thành phố Hà Nội bỏ nhà bỏ cửa đi tản cư khắp trong vùng quê tỉnh nhỏ. Bà Năm cùng gia đình chạy lên Thái Nguyên ở vùng Việt Bắc vì nơi đó bà có một đồn điền lớn với nhiều tá điền. Những người này được bà Năm quý mến, lại tận tình giúp đỡ khi họ gặp khó khăn, và họ cũng đều thương mến kính trọng bà.
Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến, bộ đội phải sống rất vất vả trong nghèo nàn đói khát. Gạo không có mà ăn cho đủ no. Thường thường mỗi bữa mỗi người chỉ được hai miệng bát cơm gạo mục mốc đầy thóc và sạn. Cho nên, nhiều khi bộ đội hành quân qua đồn điền của bà Năm, quân số lên cả tiểu đoàn. Bà mời họ ở lại, sai người nhà mổ bò heo, làm gà vịt để bộ đội ăn no cho có sức ra trận đánh Tây. Vì thế bộ đội ở Việt Bắc lúc đó ai cũng thương bà, gọi bà là Mẹ chiến sĩ. Thêm vào đó, bà có hai con trai đều đi bộ đội. Người con lớn làm đến sư đoàn trưởng, người con thứ làm đến trung đoàn trưởng. Cả hai đánh giặc rất hăng.
Ấy thế mà sau này tụi cố vấn Tầu lại bắt Trường Chinh phải đem bà Năm ra đấu tố làm điển hình. Tên Trường Chinh quá sợ nên y theo lệnh. Hoàng Quốc Việt còn chút lương tâm, viết thư về trình cho Hồ Chí Minh hay vì hắn tin rằng chỉ có già Hồ mới đủ sức can thiệp cứu mạng cho bà Năm mà thôi. Nhưng không ngờ già Hồ làm ngơ khi đọc thư tường trình của hắn, để mặc Trường Chinh mang bà ra đấu tố cho đến chết. Hai con trai bà cũng sợ, không dám về hoặc kiếm cách can thiệp gì cả.
Sau khi hoàn thành việc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, bọn họ phát động phong trào đấu tố toàn tỉnh Thanh Hóa. Từ thành phố đến huyện xuống tới xã thôn, nơi nào cũng có cán bộ đến giải thích kích động hô hào. Biểu ngữ căng đầy đường. Ngày đêm, họ tụ họp các thanh niên nam nữ, thiếu niên, nhi đồng, đi thành từng đoàn, hô to những khẩu hiệu được học thuộc “Hãy giết sạch lũ địa chủ cường hào ác bá!” “Đào tận gốc, trốc tận rễ!" "Cường hào ác bá ra tro!"... Khắp chốn, các đội cán bộ đến lôi dân chúng ra tuyên truyền nhồi sọ những lời vu oan giá hoạ dùng để áp đặt lên những người bị đem ra đấu tố. Dân chúng kinh hoảng khi thấy đội cán bộ vào làng để học tập việc đấu tố. Quyền hành sinh sát trong tay họ. Dân chúng sợ quá nói với nhau “Nhất Đội, nhì Trời”! Đội gieo tang tóc, máu đổ thịt rơi, gây kinh hoàng, làm cho từng người dân đêm nằm ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo có người trong đội hoặc du kích rình rập bên ngoài nghe trộm.
Nhà thơ Hữu Loan ngừng nói, nhấp vài hớp trà, rồi nhìn tôi đăm đăm, kể tiếp :
- Lúc đó, anh còn là chính trị viên tiểu đoàn. Anh thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Hơn nữa, mình là người có học, hiểu biết luân thường đạo lý, lại có tâm hồn nghệ sĩ, nên anh cảm thấy chán nản quá và không còn kính trọng già Hồ cũng như chủ nghĩa cộng sản nữa. Tuy nhiên, anh đã trót làm đảng viên được mấy năm rồi. Thú thật với chú, lúc đó anh thất vọng vô cùng!
Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa anh ở độ mười lăm cây số, có một gia đình địa chủ rất giầu nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Ông địa chủ giầu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội sư đoàn 301 của anh thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ bộ đội. Anh là Trưởng Phòng Tuyên Huấn và Chính Trị nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông ta, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Riêng anh rất quý mến và luôn luôn nhớ đến ông.
Thế rồi một hôm anh nghe tin gia đình ông địa chủ ấy bị đội đấu tố mang cả hai vợ chồng ra cho dân đấu tố, sỉ vả, nhục mạ, rồi chôn xuống đất để hở có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ xấu số chỉ còn có một cô con gái mười bảy tuổi được tha chết nhưng bị đội đấu tố đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo. Dã man hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm dân chúng cả việc lấy các con cái của địa chủ làm vợ làm chồng.
Anh Hữu Loan chớp chớp đôi mắt nhăn nheo có hai vành mi ướt đỏ đượm mầu thương cảm. Anh mím miệng, nuốt nước bọt cho bớt nghẹn cổ, rồi kể tiếp :
- Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đình ông bà địa chủ mà anh hằng nhớ ơn, anh trở về xã đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, vì trước kia anh cũng biết mặt cô ta. Lúc gần tới nơi, may sao anh gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc, đang lom khom tìm lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Anh quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra. Anh lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao. Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai còn sống hay sẽ chết vì đói khát!
Anh nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong lòng vô cùng xúc động. Anh bèn đem cô ta về quê của anh, rồi bất chấp lệnh cấm, anh đã lấy cô ta làm vợ. Cho đến ngày nay, bà ấy đã cho anh mười người con ngoan. Khi xưa, quê anh nghèo, nhà anh cũng nghèo, anh lại còn ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no.
Sau khi lấy vợ, anh trở lại đơn vị làm đơn xin bỏ ngũ và trả lại thẻ đảng, rồi về quê luôn không chờ cấp trên có chấp thuận cho anh giải ngũ hay không. Được một năm, vợ anh sinh cho anh một cháu trai rất kháu khỉnh.
Năm 1954 Việt Minh thắng thực dân Pháp. Cuối năm đó, nhà nước bảo Tố Hữu đặt Nguyễn Đình Thi là một văn nô làm chủ tịch hội nhà văn miền Bắc cộng sản, quy tụ hết nhà văn vào hội. Anh ở dưới quê nhưng Nguyễn Đình Thi cho mời anh lên Hà Nội nhận chức tổng thư ký hội nhà văn Bắc Việt. Anh thương vợ con cả năm sống ở nhà quê với mảnh vườn ba trăm thước, nên bàn với vợ anh: "Nhân dịp hội nhà văn mời cộng tác, vợ chồng mình lên đó có lương và tiêu chuẩn gạo cũng đỡ khổ hơn là ở quê nhà." Thế là hai vợ chồng thu xếp lên Hà Nội ngay. Anh thi hành chức vụ tổng thư ký, được cấp một căn nhà nhỏ, được lĩnh gạo cho hai vợ chồng và hai đứa con trai. Hàng tháng, anh còn lĩnh số lương khiêm tốn để mua thức ăn.
Sau ít tháng, Tố Hữu ra lệnh cho Nguyễn Đình Thi tổ chức Đại hội Nhà văn toàn thể miền Bắc quy tụ tất cả anh chị em văn nghệ dân sự cũng như quân sự. Tất cả mọi người kéo về Hà Nội họp mặt đầy đủ, ai nấy hồ hởi lắm.
Hội Nhà văn mời hết khách quý trong các ngoại giao đoàn. Anh được chọn làm thư ký ngày Đại hội. Cán bộ đảng và nhân viên chính quyền tới tham dự, có Hồ chủ tịch ra đọc diễn văn khai mạc cho long trọng. Trong bài diễn văn, ông Hồ chú trọng nhất đến trách nhiệm nặng nề của nhà văn lúc đó và vạch ra đường hướng cho anh chị em nhà văn đi theo. Tựu trung, ông muốn đưa ra một chỉ thị...
Nghe anh Hữu Loan kể đến đây, một ý nghĩ nảy ra trong đầu, tôi vội giơ tay ngăn anh lại, rồi ôn tồn nói:
- Xin anh vui lòng kể chi tiết buổi khai mạc Đại hội nhà văn có ông Hồ chủ tọa.
Anh Hữu Loan bóp trán, rồi chậm rãi nói :
- Lúc ông Hồ ra đọc diễn văn khai mạc, ông cúi chào và cám ơn các quan khách, cán bộ đảng cùng nhân viên chính quyền, và các văn nghệ sĩ (mà ông gọi bằng "các chú"). Đọc xong diễn văn, ông nói thêm: ”Các chú văn nghệ sĩ hãy nghiêm túc học tập để hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình." Đoạn ông hỏi: "Ai có ý kiến gì thì cứ mạnh dạn góp lời để bổ túc thêm. Tôi rất hoan nghênh."
Trong số anh em nghệ sĩ đi họp hôm đó có nhiều vị thuộc loại nhà văn tiền chiến nhiều tuổi hơn hoặc bằng tuổi ông Hồ. Thế mà ông ta cứ ngang nhiên gọi tất cả là "các chú". Điều này làm anh nổi tự ái và nóng mắt. Anh liền giơ tay lên xin góp ý. Ông Hồ thấy anh xung phong liền đi lại bắt tay anh cười thân mật nói: "Chú có ý kiến gì đóng góp, cứ tự nhiên phát biểu để mọi người cùng nghe." Anh khoanh tay lễ phép cúi đầu: "Dạ thưa Chủ tịch kính mến của dân tộc Việt Nam, tôi được Chủ tịch cho phép đóng góp ý kiến, do vậy tôi xin mạo muội đưa ra một đề nghị nho nhỏ thô sơ, nếu có gì sơ suất thất thố xin Chủ tịch rộng lòng tha thứ cho." "Không sao. Chú cứ tự nhiên góp ý." Già Hồ nói.
"Kính thưa Chủ tịch kính mến, tôi thật là vui sướng được chỉ định làm thư ký trong những ngày Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất. Đại hội này là biến cố trọng đại sẽ được ghi vào lịch sử đồng thời cũng là niềm hãnh diện cho tất cả anh chị em văn nghệ sĩ khắp nơi được về thủ đô hội họp gặp mặt cùng nhau học tập chuẩn bị cho hướng đi ngày mai như lời dạy bảo của Chủ tịch nói trong bài diễn văn khai mạc. Vinh dự lớn lao cho anh chị em văn nghệ sĩ là được Chủ tịch anh minh kính mến làm chủ tịch danh dự của ngày Đại hội cũng như đọc diễn văn khai mạc trước các quan khách ngoại giao đoàn, các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước ta mới độc lập và có chủ quyền. Để Chủ tịch giữ trọn vẹn cương vị và tư thế của một vị lãnh đạo anh minh có công đuổi được thực dân Pháp giành độc lập cho quốc gia, tôi xin phép Chủ tịch góp một ý kiến thô thiển là xin Chủ tịch hãy gọi các văn nghệ sĩ là "anh chị em văn nghệ sĩ" thay vì "các chú văn nghệ sĩ". Bởi vì đây là ngày trọng đại có đủ quan khách quý hóa chứ không phải là một buổi họp tọa đàm thân mật của văn nghệ sĩ. Nếu ở trong buổi họp thân mật mà Chủ tịch gọi chúng tôi là "các chú" văn nghệ sĩ thì anh chị em sẽ vui lắm vì đó là lời thân mật của gia đình văn nghệ.”
Nói xong, anh lễ phép cúi đầu chào Chủ tịch và các quan khách cùng văn nghệ sĩ ngồi dưới. Anh nghe có một vài tiếng vỗ tay. Liền đó, ông Hồ tiến lại bắt tay rồi ôm lấy anh với nụ cười rất xã giao của nhà chính trị. Ông nói: "Tôi thành thật khen chú đã góp ý hay cho tôi. Tôi xin ghi nhận." Nói xong, để tỏ ra mình là người trên biết ghi nhận lời kẻ dưới, ông Hồ quay lại nói với văn nghệ sĩ cùng quan khách bên dưới: "Kính thưa văn nghệ sĩ, tôi xin thành thật ngợi khen lời góp ý của nhà thơ Hữu Loan, và bây giờ xin anh em ai có ý kiến gì hay cứ việc mạnh dạn lên đây phát biểu. Chúng ta là văn nghệ sĩ cần phải nói thẳng nói thật để sáng tác phục vụ cho nhân dân.”
Anh đi xuống bàn thư ký. Khi bước ngang qua hàng ghế đầu, anh liếc nhìn thấy Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi mặt lạnh như tiền, hai cặp mắt nhìn anh không một tí thiện cảm. Anh biết hai ông thầy của anh rất ghét và tức anh, nhưng anh làm lơ về chỗ ngồi tiếp tục nhiệm vụ của mình.
Tiếp theo đó, là phần thảo luận các đề tài trong bài diễn văn của ông Hồ nêu ra. Đến mười hai giờ, mọi người nghỉ đi ăn, chờ buổi chiều bàn tiếp. Anh cũng rời chỗ đi ăn cơm. Khi ra phòng ngoài, nhiều bạn bè xúm lại bắt tay anh ôm anh và tỏ lời khen ngợi anh can đảm nêu ý kiến rất hay. Tuy nhiên, một số đông nhìn anh bằng cặp mắt không những tỏ ra thiếu thiện cảm mà còn khinh khi nữa. Trong số bạn bè yêu mến và ca ngợi anh, có một anh bạn vỗ vai anh bảo nhỏ: "Cậu hay lắm! Nhưng hãy giữ mình thận trọng đó!”

Yếm Vải Xứ Thanh 2

Sau đó ít lâu ở miền Bắc xảy ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Trong đám Nhân Văn có cụ Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Đặng Đình Hưng bị kết tội rất nặng. Cụ Phan Khôi tuổi đã quá cao nên không bị bắt đi trại cải tạo như Trần Dần, Phùng Quán, Đặng Đình Hưng. Nhưng cụ bị cô lập, không được tiếp xúc với ai, và người nào cũng sợ hãi không dám liên hệ với cụ vì cụ bị coi là kẻ phản động xấu xa, đến nỗi cụ bị chết đói!
Trong số những người liên can đến vụ Nhân Văn Giai Phẩm, có tôi, anh Quang Dũng, và cả nhạc sĩ Văn Cao cũng dính líu vì có bài viết. Nhưng Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi chỉ bắt chúng tôi lên làm kiểm điểm. Sau đó, họ đuổi chúng tôi ra khỏi Hội Nhà Văn, nghĩa là bị treo bút không được đi làm. Cho nên, anh Quang Dũng sống trong cảnh nghèo đói, cho đến lúc chết chẳng bao giờ được hưởng một bữa cơm ăn độn cho no lòng. Anh Văn Cao cũng bị trừng phạt, nhưng anh ấy còn nhờ vả được vợ là chị Băng. Trước đó, chị thuộc con nhà tư bản ở Hà Nội nên còn dành dụm được một ít tiền bạc đem ra nuôi chồng con. Anh Văn Cao buồn rầu quá đâm ra nghiện rượu nặng. Riêng tôi được lệnh phải về quê để chịu an trí quản thúc, cấm không được liên hệ với bất cứ ai. Thế là hai vợ chồng lại lếch thếch bồng con về ngôi nhà cũ nát: nhà mái lá, mỗi khi trời mưa, nước dột khắp nơi, nên ngày cũng như đêm, chúng tôi phải thay phiên nhau nằm chống tay lấy thân che cho đứa con nhỏ ngủ.
Lúc đó, nhờ còn trai tráng sức vóc, nên sáng sớm tôi đi đánh giậm kiếm vài con tôm con tép, mang bán lấy tiền, chỉ giữ một ít đem kho muối mặn chát ăn với cơm. Buổi chiều, tôi ngồi xe trâu đi thồ đá, đổi công lấy gạo và ngô. Tuy vậy, hai vợ chồng yêu thương nhau, sống rất hạnh phúc. Nhà tôi chịu cực rất nhiều, lại sinh đẻ cho tôi những đứa con. Khi đứa đầu 7 tuổi, đứa thứ hai 5 tuổi, và đứa thứ ba 3 tuổi, thì trong bụng bà ấy mang một đứa nữa sắp chào đời!
Trong thời gian ấy, ngoài Bắc gặp khó khăn trầm trọng, là thiếu gạo cho dân ăn. Mọi người sống bằng mì của Liên Xô viện trợ. Tiêu chuẩn mua gạo hàng tháng bằng tem phiếu. Nhưng đâu có được mua gạo đầy đủ. Có tháng mỗi đầu người chỉ mua được 30% gạo, còn 70% là mì Liên Xô. Nhà nước ra lệnh cấm ngặt không ai được dùng bột gạo làm quà bánh bán cho dân. Từ tỉnh thành đến thôn quê, người ta thèm ăn quà có bột gạo, nên con buôn đã làm "chui" các món quà có bột gạo để bán cho dân, như là bánh cuốn, bánh đúc, và các loại bánh khác. Công an và tụi quản lý chợ kiểm soát rất gắt gao. Ai bán hàng bột gạo "lậu" vô ý để công an bắt được, sẽ bị tịch thu hết hàng hóa và phạt tiền rất nặng. Thế là hết vốn! Mặc dù vậy, nhưng vì cần phải sống nên người ta cứ phải liều lĩnh mà làm "chui" bán "chui".
Để có số thu nhập cho cuộc sống gia đình đỡ khổ một phần nào, vợ tôi cũng liều bắt chước người ta làm bánh cuốn mang ra chợ bán. Bà ấy nẩy ra một sáng kiến bán "chui", và thực hiện ngay. Bà đi mua “chui” gạo giá chợ đen. Ban ngày bà xay gạo ra bột. Đến khuya, lúc 2 giờ sáng, bà dậy tráng bánh để sáng ngày đem ra chợ bán. Biết dân đói khát thèm thuồng, bà tráng bánh bánh thật dầy và to, khác với bánh cuốn tráng mỏng và nhỏ như ở thành thị thời xưa. Làm xong, bà cho bánh cuốn cùng nước mắm chanh pha sẵn vào thúng, đậy lên bằng hai, ba cái mẹt nhỏ. Đoạn bà đội thúng bánh lên đầu, tay dắt theo hai con lớn, đứa bảy tuổi đứa năm tuổi. Mẹ con lần vào trong ruộng mía hoặc ruộng ngô um tùm kín đáo, từ bên ngoài không trông thấy được. Ở đó, bà lẳng lặng xếp bánh và nước chấm ra hai cái mẹt, mỗi mẹt chỉ có ba phần ăn thôi, rồi cho hai con đem vào chợ bán, còn bà ngồi lại chờ. Bà dặn dò hai con phải cùng nhau trông chừng công an và quản lý chợ; đứa nào bán hết ba phần thì trở lại lấy tiếp bánh cuốn đem bán. Làm như vậy là để tránh việc đem đi nhiều, nhỡ công an bắt được là hết vốn. May Trời thương Thánh độ, và hai thằng bé cũng tinh khôn, nên không bị bắt lần nào! Nhờ vợ tôi mà gia đình bớt khổ!
Bọn trẻ con mang bánh cuốn đi bán được các bà nhà quê đi chợ mua ăn. Họ rất thương mến hai đứa, còn bảo chúng: "Các cháu hãy về nói với mẹ là nên thêm vào trên mỗi cái bánh cuốn một ít hành mỡ. Bánh sẽ ngon hơn và bán được nhiều hơn." Nghe các con nhắc lại ý kiến khách hàng, vợ tôi thấy hợp lý nhưng khó khăn, vì "đường, gạo, thịt" là những loại hàng bị cấm.
Ấy thế mà bà ấy cũng chạy chọt mua "chui" được mỡ để trộn với hành cho bánh ngon hơn! Tuy nhiên, có mỡ đã là khó rồi, đến lượt rán mỡ ra nước rồi phi với hành lại là vấn đề gian nan. Ở nhà quê không khí trong lành, hành mỡ phi vàng lên bốc mùi thơm bay đi rất xa. Công an hay du kích ngửi thấy mùi thơm của hành phi mỡ, sẽ đánh hơi tìm ra nơi mình làm bếp "chui" ngay! Cho nên cứ phải đến 4 giờ sáng bà ấy mới nhóm bếp, kê chảo, cho hành thái nhỏ vào chảo phi lên. Trong lúc bà ấy làm, tôi có bổn phận ra ngoài cửa canh gác xa xa. Tôi định bụng nếu thấy bóng công an hoặc du kích đi tới là tôi sẽ bước ra ngăn chặn, kiếm cớ to tiếng cãi nhau, để trong nhà có thì giờ mang cái chảo hành mỡ ra vứt xuống cái ao bên cạnh bếp cho phi tang. Cũng may là không bao giờ xảy ra chuyện gây cấn đó cả!
Trong hai ba năm đầu bị đuổi về an trí quản thúc tại quê nhà, tôi thấy thương xót vợ con vất vả khổ cực nên nhiều đêm tôi trằn trọc thao thức không ngủ được. Tôi cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn, cố tìm ra lời giải đáp chính xác cho câu hỏi : Tại sao đảng lại an trí quản thúc đầy đọa tôi tại quê nhà như thế này? Tôi nghĩ đến các bạn trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, và tự đưa ra các câu hỏi:
- Những người bị kết tội nặng đi tù đã đành, còn anh Quang Dũng, anh Văn Cao và tôi chỉ bị kiểm điểm vì mắc tội nhẹ, mà sao họ lại đuổi ba chúng tôi ra khỏi Hội Nhà Văn, treo bút, không cho công ăn việc làm?
- Các anh Quang Dũng, Văn Cao không bị đuổi ra khỏi thành phố, không bị quản thúc tại quê nhà, mà chỉ mình tôi chịu hình phạt như vậy, là do nguyên cớ nào?
Tôi cần biết rõ lý do để tự giải đáp thắc mắc cho mình. Tôi nghĩ là phải có một lý do đặc biệt nào đó nên họ mới đối xử với tôi như thế.
Sau nhiều đêm suy nghĩ, tôi kiểm điểm lại mọi thứ. Tôi nhớ lại thời gian tôi được đề cử làm Thư ký Hội Nhà Văn. Hàng ngày tôi gặp Chủ tịch Hội là ông Nguyễn Đình Thi. Ông ta chỉ trao đổi với tôi về các công việc của Hội thôi chứ không tỏ thái độ thân thiện, đôi khi còn có vẻ lạnh nhạt nữa. Còn người đỡ đầu ông Thi là ông Tố Hữu. Ông ấy có tuổi đảng và chức vụ cao. Mỗi lần gặp tôi, ông chỉ bắt tay sơ qua rồi quay đi, nét mặt ông tỏ ra rất khó chịu và có vẻ ghét tôi nữa. Tôi nghĩ có lẽ hôm họp đại hội nhà văn, tôi đã cả gan phê phán ông Hồ, nên vì thế mà ông ghét tôi chăng. Tuy vậy, vì tự trọng của một văn nghệ sĩ, tôi cũng chẳng cần săn đón để họ tưởng là mình nịnh bợ.
Rồi tôi chợt nhớ ra một chuyện xảy vào năm 1951 khi mà tôi còn ở quân đội khu 4. Tôi chợt hiểu rằng Tố Hữu không những ghét tôi mà còn thù tôi là khác. Hắn nhỏ nhen ích kỷ ghen tức với tôi vì hắn biết là vợ hắn yêu tôi đến độ say mê. Đã một lần cô ta dọa ly dị và nói cho hắn biết cô ta yêu tôi, sẽ đi tìm tôi để lấy tôi sau khi vợ thứ nhất của tôi mất mấy năm.
Vợ Tố Hữu tên là Thanh, gái Huế khá đẹp, con nhà danh giá. Có một thời gian cô ta học trường Collège tỉnh Thanh Hóa. Hồi đó tôi đã đậu xong Tú Tài Pháp, nhưng tôi không làm việc với Pháp mà trở về Thanh Hóa sống với gia đình, thay cha mẹ nuôi nấng dạy dỗ các em, đồng thời đi dạy học tư cũng như kèm cho các em dự bị thi trung học.
Trong số các em đến nhờ tôi kèm luyện thi, có một số là nữ sinh gồm bảy, tám em tuổi chừng 16, 17. Mỗi tuần tôi dạy kèm ba buổi. Trong số có một em lớn hơn cả tên là Thanh. Nàng tỏ ra rất yêu mến tôi, chăm sóc tôi. Đặc biệt là Thanh năn nỉ tôi phải cho cô ta tới học mỗi ngày chứ không cách ngày như các em khác.
Tôi lúc đó là một thanh niên cao lớn, khỏe mạnh, đẹp trai. Các em nữ sinh học tôi em nào cũng tỏ ra thương mến tôi. Nhưng bản tính tôi rất đứng đắn, hết sức tôn trọng các đức tính làm người như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, của Ông Cha truyền dạy. Nên tôi lúc nào cũng coi các nữ sinh học lớp tư của tôi như chính em gái ruột mình. Tôi luôn luôn nghiêm nghị, không hề có ý tưởng thấp hèn đối với họ. Do đó, các em rất nể phục tôi, coi tôi vừa là thầy giáo vừa là người anh của họ.
Một hôm, tôi thấy Thanh đến nhà tôi trước lớp học cả giờ. Nét mặt buồn thiu, Thanh nói: "Hôm nay em lại sớm vì em muốn mời anh đi ăn cơm và nói chuyện, chứ không học bài, và có lẽ mãi mãi em không còn được đi học cũng như gặp anh nữa!” Tôi hiểu là Thanh đang có tâm sự gì đau buồn, muốn gặp riêng tôi để giãi bày, nên đồng ý đi ăn cơm hiệu với cô ta. Đến một quán ăn, Thanh chọn chọn một bàn ở trong cùng. Hai thầy trò ngồi xuống, gọi nước uống trước khi bảo làm món ăn.
Lúc đó, Thanh khóc lóc bảo tôi:“Hôm nay, em mời anh ăn một bữa lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Sau đó, có lẽ không bao giờ em còn gặp lại anh nữa. Em sẽ phải giã từ bạn bè, mái trường, và cả cuộc đời ngây thơ của một nữ sinh nữa!” Thanh chấm nước mắt, nói tiếp :”Chiều hôm qua, có đứa em trai ở Huế được cha mẹ em sai ra đây đưa thư cho em, bảo em phải xin nghỉ học về Huế ngay để thu xếp cho kịp ngày đi lấy chồng. Trong thư, cha mẹ em còn cho em biết là người chồng em sắp lấy là con trai của người bạn đồng môn cũ. Hai bên đã hứa hẹn từ lâu rồi, và cũng là chỗ môn đăng hộ đối. Cha mẹ em nói thêm là chồng chưa cưới của em hiền lành, đã có bằng trung học Pháp. Bổn phận em là con gái phải vâng lời cha mẹ đặt đâu ngồi đó, nên em đành tuân theo. Chỉ vài hôm nữa em về Huế, nên phải đến gặp anh hôm nay để nói lời từ giã, cảm ơn anh đã tận tâm dạy em học trong thời gian qua! "
Nhìn Thanh vừa khóc vừa nói, tôi xúc động và cảm thương cho thân phận Thanh, nhưng không biết phải nói gì để an ủi Thanh. Tôi chầm chậm nói vài ba lời khuyên: "Anh rất cảm thông cho nỗi buồn của Thanh. Nhưng việc vâng lệnh cha mẹ về lấy chồng của Thanh chứng tỏ rằng Thanh là người con gái ngoan, có hiếu, biết tuân theo lời cha mẹ. Đó là điểm son đáng quý ở người con gái Việt Nam. Hơn nữa, là trai hay gái, lớn lên trước sau cũng phải lập gia đình, đó là bổn phận của con người mà Tạo Hóa ban cho để nối tiếp dòng dõi. Và, nói cho cùng, mỗi con người sinh ra đều có một định mệnh do Trời dành cho. Đời con gái đi lấy chồng mười hai bến nước trong nhờ đục chịu. Anh cũng buồn lắm khi thấy em phải xa trường xa bạn, xa anh là thầy dạy kèm. Bây giờ anh chỉ mong em có đủ nghị lực làm tròn bổn phận người con; mai sau, em có hạnh phúc là anh mừng rồi."
Thế là sau bữa ăn tiễn biệt, Thanh đã âm thầm ra về, và từ đó tôi không có tin tức gì về hoàn cảnh của Thanh nữa.
Vào đầu mùa Hè năm 1951, tôi đi làm về, ăn uống xong, ra nằm trên võng trước cửa nhà hóng mát, trong đầu nghĩ tới người vợ chết đuối mấy năm trước. Chợt tôi thấy một người đàn bà đầu đội nón sụp xuống che mất hẳn cái mặt đang đi từ ngoài ngõ vào và tiến về phía tôi nằm. Tôi ngơ ngác chưa biết đó là ai thì người đàn bà đó đến chỗ tôi nằm, quỳ xuống ôm chầm lấy người tôi, vừa khóc vừa giở nón ra miệng nói:“Anh Hữu Loan ơi! Anh còn nhận ra em không? Em là Thanh trước học ở Collège Thanh Hóa, từng học lớp tư của anh rồi chia tay với anh về Huế lấy chồng đây nì!” Lúc đó tôi mới nhìn rõ ra Thanh, đúng là cô nữ sinh của tôi ngày xưa. Tôi vội vàng ngồi dậy. Thanh ngồi dưới đất gục đầu lên gối. Tôi đi vào nhà lấy cái ghế ra, đỡ Thanh ngồi lên. Nàng lả người vào mình tôi. Tôi vội bảo nàng: "Em có chuyện gì buồn, để thủng thẳng nói ra sau. Bây giờ em hãy nín đi, đừng khóc lóc nữa. Hãy ngồi thẳng người trên ghế đàng hoàng, kẻo lỡ có ai trông thấy em sát cạnh anh, họ hiểu lầm, là mất danh dự và xấu hổ lắm đấy!"

Yếm Vải Xứ Thanh 3

Thanh nghe lời tôi, ngồi thẳng người lên, không khóc nữa. Nàng yên lặng nhìn tôi đăm đăm bằng đôi mắt đẫm lệ. Tôi ôn tồn hỏi:"Em từ đâu đến đây tìm anh? Có chuyện gì mà buồn thế? Em cứ nói hết cho anh nghe. Nếu anh có thể giúp gì được cho em, anh sẽ hết lòng."
Thanh lấy vạt áo chấm lệ, mím miệng thở dài rồi cất giọng gái miền Trung dịu dàng quen thuộc thuở xưa:"Em ở tận trên Việt Bắc, trong rừng thuộc tỉnh Thái Nguyên. Từ đó về đây, nơi nào có thuyền em đi thuyền, còn không thì đi bộ, mất ba ngày mới đến nơi, anh ạ. Chủ đích của em về đây gặp anh để cho anh biết chuyện của đời em, quan trọng mà buồn lắm!" Thấy tôi cũng yên lặng nhìn nàng, Thanh chớp chớp cặp mắt to đen, bắt đầu kể:"Một ngày sau buổi chia tay với anh ở quán ăn tại Thanh Hoá, em và thằng em trai trở về Huế sớm vì em rất sợ phải gặp lại bạn bè trong nỗi đau buồn. Chúng em đi xe đến Huế đã mười giờ tối. Cha mẹ em thấy em khoẻ mạnh thì mừng lắm. Mẹ em dọn cơm cho hai đứa ăn. Xong, mẹ em bảo em:"Đường xa về mệt, con hãy đi ngủ ngay. Sáng mai, cha mẹ sẽ nói chuyện tương lai của con." Hôm sau, em dậy sớm. Chờ em rửa mặt ăn sáng xong, cha em bảo:"Như đã nói trong thư, cha mẹ gọi con về lập gia đình, xây dựng tương lai cho con. Con trai con gái lớn lên, ai cũng phải lập gia đình, như cha mẹ, rồi sinh con đẻ cái nối tiếp giống nòi. Chồng sắp cưới của con là con trai một người bạn thân của cha từ nhỏ. Gia đình anh ta danh giá, môn đăng hộ đối với nhà ta. Anh ta đã học xong trung học, lại biết khá nhiều về văn thơ và lấy bút hiệu là Tố Hữu. Tuy hai con chưa bao giờ có dịp gặp nhau, vì cả con lẫn anh ta phải đi học phương xa, nhưng cha mẹ thấy anh ta hiền lành nên rất ưng. Cha mẹ luôn luôn ước mong cho con có nơi nương tựa xứng đáng."
(Đến đó, Thanh lắc nhẹ mái tóc đen hơi bù rối, kể tiếp). Cha mẹ em còn nói thêm là nhà trai xin làm lễ cưới vào tháng sau cùng ngày vì đó là ngày lành tháng tốt. Em không có ý kiến nào cả, chỉ biết chờ đợi sự diễn tiến của số mệnh mà thôi. Trước ngày cưới nửa tháng, người chồng tương lai của em theo cha mẹ đến trình diện chào hỏi cha mẹ em. Lúc đó, em nấp trong buồng nhìn ra để biết mặt chồng chưa cưới, chứ không được phép ra tiếp chuyện. Em thấy anh chàng dáng dấp thư sinh, không cao ráo khoẻ mạnh đẹp trai, nhưng cũng không phải là người xấu trai, có vẻ hiền lành trong bộ quần áo dài cổ xưa chứ không mặc âu phục như các thanh niên thời nay. Hơn nữa, em thấy anh chàng có nhiều nét quê mùa là đằng khác.
Thế rồi, ngày cưới đến. Đám cưới được tổ chức linh đình cho đẹp mặt hai họ, vì cả hai gia đình đều khá giả. Lần đầu tiên đi làm dâu, xa gia đình, đến ở nhà chồng, cái gì cũng lạ lẫm. Cha chồng em rất hiền lành ít nói, duy có bà mẹ chồng người Huế đầu óc còn nặng phần cổ hủ phong kiến nên bà tỏ ra hơi khắt khe. Về phần các cô các cậu em chồng, chẳng ai tỏ ra thân thiện thương mến em cả. Thái độ chồng em lúc nào cũng lầm lì, khô khan, nên đời sống tình cảm của em thật buồn, nhưng số phận đã lỡ như vậy, em đành phải chấp nhận mọi thứ, kể cả việc làm vừa lòng mẹ chồng cùng các em chồng.
Chồng em hay vắng nhà. Khi ở nhà, anh ấy chẳng nói năng gì hoặc làm cử chỉ nào để biểu lộ sự yêu thương chiều chuộng vợ cả. Em chỉ biết có bổn phận làm vợ mà thôiỳ chứ không tài nào yêu chồng em được. Cứ như thế, em lầm lũi làm tròn bổn phận dâu hiền vợ ngoan. Được hơn một năm, em sinh con trai đầu lòng. Tới lúc đó em mới tìm thấy nguồn vui sướng và an ủi ở đứa con trai, nên em dồn hết tình thương vào nó, quên đi những chuyện xảy ra hàng ngày.
Thế rồi tới ngày 19 tháng Tám năm 1945, Cách Mạng tháng 8 của Việt Minh thành công. Lúc đó em thấy chồng em có vẻ vui sướng khác thường, lại đi họp đi hành liên miên. Có lần em tò mò hỏi Tố Hữu chồng em:"Sao anh đi họp hoài vậy?" Chồng em hơi cau mày, lạnh lùng nói:"Bây giờ cách mạng thành công, bổn phận làm trai phải đóng góp chứ." Rồi anh ấy gật gù nói thêm:"Sau này, nước ta sẽ không còn cảnh nhà giầu nhà nghèo, sẽ hết chuyện người bóc lột người hoặc dùng quyền hành áp bức đồng loại bắt người ta làm nô lệ nữa."
Rồi một hôm, trong khi thu dọn quần áo của chồng đem đi giặt, em thấy chồng em để quên cái bóp đựng giấy tờ. Em tò mò giở ra xem thì thấy một giấy chứng nhận anh ấy là đảng viên cộng sản từ năm lấy em. Khi đó em mới hiểu, vì là đảng viên cộng sản nên chồng em hay vắng nhà đi hoạt động, chẳng ngó ngàng chú ý gì đến vợ con cả. Và khi cách mạng thành công, anh ấy lại hăng say hơn.
Đến cuối năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Nghe lời kêu gọi của chính phủ cộng sản, người dân ở thành thị tản cư và theo chính sách tiêu thổ kháng chiến. Gia đình nhà chồng em cũng đi tản cư về vùng quê, còn em thì bế con theo chồng đi lên Việt Bắc. Ở có chính phủ trung ương lãnh đạo kháng chiến đặt bản doanh. Chồng em được cử làm chủ tịch văn nghệ kháng chiến. Anh ấy rất hăng hái hoạt động, làm thơ ca ngợi cách mạng, quên hết vợ con. Em thui thủi một mình lo lắng nuôi nấng chăm sóc đứa con và hầu hạ chồng mỗi khi anh ấy về thăm nhà. Có lẽ vì quá hăng say làm việc, đầu óc căng thẳng, nên anh ấy đâm ra khó tính, hay cáu gắt với em dù chỉ là một việc nhỏ nhặt chẳng đáng gì. Hơi tí anh ấy cũng lôi em ra phê bình gay gắt. Em buồn quá đâm ra lì lợm.
Cách đây hai năm, em sinh thêm một con trai nữa. Hai đứa con đem lại cho em niềm vui, làm em khuây khỏa, chứ nói thật với anh, lắm lúc em chán đời không thiết sống nữa! Từ khi lớn lên ở tuổi con gái học trò ngây thơ đầy mơ mộng, em chưa được hưởng hạnh phúc tình yêu. Năm học ở Thanh Hoá với anh, em chỉ có một tình yêu đơn phương câm lặng. Người em yêu là anh mà anh đâu có biết. Lúc nào anh cũng mang vẻ nghiêm nghị đạo mạo của một ông anh, ông thầy. Em là con gái, lại là con nhà nề nếp, nên tuy rất yêu mà không dám thổ lộ tình cảm với anh. Em sợ anh sẽ khinh em là con gái Huế lãng mạng thiếu giáo dục, nên em đành ôm mối tình câm và sau đó phải trở về nhà tuân theo lời cha mẹ đi lấy chồng, một người xa lạ mà em không yêu.
Lúc ấy, em nghĩ rằng vì không có hoàn cảnh gặp nhau để phát sinh ra tình yêu, nhưng sau này thành vợ thành chồng sẽ nẩy nở tình cảm. Nhưng số em không may. Từ ngày lấy chồng đến nay đã có hai mặt con rồi mà em chưa hề được hưởng một cử chỉ âu yếm lời nói ngọt ngào từ người chồng mà chỉ nhận được sự hững hờ cay đắng thôi. Nhất là từ khi vợ chồng dắt nhau đi tản cư lên Việt Bắc, anh ấy quá ham mê quyền lực danh vọng, xa lánh vợ con. Hôm nào anh ấy về nhà là có chuyện, không chuyện này thì chuyện khác. Em chỉ còn biết ôm con khóc thôi, trong bụng mong cho anh ấy đi cho sớm và càng ít về càng hay!

Kể đến đây, anh Hữu Loan chợt ngừng lại, nhìn tôi hỏi:
- Chuyện dông dài quá nhỉ?
Tôi vội nắm tay anh, miệng ân cần:
- Em phục trí nhớ của anh. Anh em mình gặp nhau lần này, biết bao giờ em mới trở lại đây để đàm đạo với anh nữa. Những chuyện thâm sâu ấy cần được phơi bày hết ra một lần cho đồng bào hải ngoại và có thể quốc nội được hiểu rõ mọi chuyện. Xin anh cứ kể tiếp.
Anh Hữu Loan thở dài, cất giọng trầm trầm đặc sệt âm điệu Thanh Hoá:
- Anh cũng chiều ý em, Hưng ạ. Có một điều anh cần cho em biết thêm. Đó là Thanh tuy là gái Huế, nhưng qua nhiều tháng tiếp xúc với bạn bè tứ xứ và nhất là sau biết bao cuộc trò truyện riêng với anh, tiếng nói của nàng rất đặc biệt. Nó vừa mang âm thanh Huế cổ kính và âm sắc du dương của Hà Nội, vừa đượm âm hưởng xứ Thanh Hoá rất nhẹ nhàng của anh, khiến người nghe dễ bị "thôi miên". Thế mà anh chàng Tố Hữu không hề cảm động. Có lẽ đó là hiện tượng chung cho đa số thanh niên Bôn-Chê-Vích chăng? Riêng anh là một ngoại lệ, cũng như một số nhỏ thanh niên trong thế giới cộng sản này, nên anh không khỏi mủi lòng trước cảnh "nhi nữ trường tình". Và, anh đã chú ý nghe Thanh kể lể...
Thanh vén tóc, vạch áo cho anh thấy những vết bầm tím trên đầu trên người, trông thật phũ phàng với những dấu đòn thù thô bạo in vào làn da trắng mịn vô tội! Thanh ngước mắt nhìn anh, mấp máy cặp môi mềm đầy quyến rũ, hiến cho đời và cả anh những lời nỉ non của một sầu nữ diễm tình:
"Anh Hữu Loan ơi! Từng giây từng phút trôi qua trong cái quá khứ nhạt nhẽo ấy mà chỉ riêng em buồn tủi một mình, không có ai thân thiết mà tâm sự cho vơi đi niềm đau nỗi khổ. Em đã dằn lòng nhịn nhục hết sức rồi mà vẫn không thay đổi được gì. Cây muốn lặng gió chẳng muốn dừng. Sự chịu đựng của con người cũng có hạn thôi chứ, khổ nhục quá ai chịu nổi! Con giun xéo lắm cũng quằn mà! Cách đây một tuần lễ, anh Tố Hữu về nhà. Em lo cơm lo nước cho anh ấy, cố làm tròn bổn phận người vợ. Em nhận thấy nét mặt anh ấy lúc nào cũng đăm chiêu đầy khó chịu. Thằng con lớn của chúng em lại hay nghịch ngợm phá phách. Thế là anh ấy kiếm chuyện đay nghiến em:"Ở nhà cả ngày, có hai đứa con mà cũng không biết lo dạy dỗ, để chúng nó phá phách thế à! Mai sau lớn lên sẽ hư hỏng!" Em bực mình quá nên cãi lại, dần dần hai vợ chồng thành to tiếng. Cơn nóng giận của anh Tố Hữu nổ bùng lên. Anh quát tháo mắng em là "con nhà mất dạy vô giáo dục" dám cãi lại cả chồng. Trời ơi! Chửi em là "con nhà mất dạy vô giáo dục" là đụng đến cha mẹ em rồi! Em không dằn được nữa, nên em cãi lại hăng hơn, không còn nể nang gì anh ấy nữa. Em cũng dùng những câu nặng nề chỉ trích gia đình anh ấy, làm anh ấy càng nổi nóng thêm, miệng hét toáng lên, lao người tới chỗ em đứng, một tay nắm lấy tóc em quấn chặt lại! Rồi anh ấy vừa đè em xuống vừa dùng tay kia đánh em một trận không nương tay. Đánh xong, hả cơn giận, anh ấy vơ lấy áo quần cho vào cặp, xách ra cửa đi luôn
Sau trận đòn, khắp, người em đau ê ẩm. Tủi thân quá, em vào buồng ôm hai đứa con thẫn thờ vì hoảng sợ, em khóc sưng cả mắt. Với mối uất hận ngập trời, em tự nhủ em không bỏ phí cả cuộc đời, sống trong cảnh khổ đau mãi như thế được. Chồng gì mà vũ phu quá! Cuối cùng, em quyết định xin ly dị để không còn sống trong cảnh địa ngục trần gian như thế này nữa! Suy đi tính lại suốt đêm, sáng hôm sau, em dậy lo cho hai con ăn uống xong, tuy thân thể mặt mũi còn đau, em lấy giấy bút ra thảo ngay một lá đơn xin ly dị với các lý do đến từ câu chuyện xung đột giữa hai vợ chồng. Em ký tên sẵn một bên và để trống một bên cho anh ấy ký sau.
Kèm theo lá đơn xin ly dị, em còn viết riêng cho anh Tố Hữu một bức thư dài, trong đó có đoạn như sau:
"tôi lấy anh là do lệnh của cha mẹ tôi. Từ ngày ấy cho đến nay, tôi âm thầm chịu đựng cố gắng làm tròn bổn phận làm vợ làm dâu con. Thật ra, tôi chưa hề xúc động một tí nào với anh mà cũng chẳng cảm thấy yêu thương anh một giây phút nào cả. Thêm vào đó, tôi chưa bao giờ được hưởng hạnh phúc dù cũng chỉ là giây phút. Trái lại, cuộc sống vợ chồng chứa chất toàn chuyện cãi cọ do anh gây sự mắng nhiếc tôi. Vừa rồi, anh lại giở thói vũ phu thuộc loại côn đồ ra đánh đập tôi. Cho nên, tôi không còn muốn sống chung với anh nữa. Anh nên ký tên vào tờ giấy ly dị mà tôi viết sẵn kèm theo đây..."
Kể đến đó, Thanh ngửng đầu nhìn anh bằng ánh mắt vô cùng tha thiết. Nàng nhắm mắt vài giây rồi mở ra như quyết định lần cuối cùng trước khi thổ lộ một điều hệ trọng. Bằng giọng nói run run như của thiếu nữ lần đầu trao đổi lời yêu đương với người tình, Thanh nói trong hơi thở:
"Anh Hữu Loan ơi! Em đã nói trong thư gửi cho anh Tố Hữu những lời sau đây:"Lúc còn con gái đi học ở Thanh Hoá, tôi đã quá yêu anh Hữu Loan. Đó là một con người có học thức, nhiều đạo đức, và là một nhà thơ nổi tiếng thời nay với bài thơ khóc vợ nhan đề Màu Tím Hoa Sim. Chắc anh cũng biết bài thơ đó. Lúc ấy, tôi đã yêu anh Hữu Loan một cách đơn phương, câm lặng, chỉ mình tôi biết cho chính tôi mà thôi. Anh Hữu Loan rất đứng đắn. Anh ấy dạy tôi và các chị em bạn tôi trong lớp riêng tại nhà. Ai ai cũng mến anh ấy, nhưng anh ấy quá nghiêm trang, coi tụi tôi như những người em gái mà thôi. Đó là mối tình đầu của tôi và tôi đã chân thành dâng hết con tim cho anh Hữu Loan. Tuy không được đáp lại, nhưng tôi luôn luôn tôn thờ mối tình cao đẹp đó.
Thế rồi bỗng dưng cha mẹ tôi gọi về, gả tôi cho anh. Tôi nào có quen anh yêu anh đâu. Chỉ vì chữ hiếu nên tôi phải vâng lời cha mẹ. Còn anh Hữu Loan lấy vợ được vài ngày thì chị ấy chết đuối.
Ngày mai, tôi sẽ gửi hai con cho người bạn, và tôi sẽ đi thật xa, về tỉnh Thanh Hoá, tìm đến anh Hữu Loan, kể cho anh ấy hết tâm sự của tôi. Tôi sẽ nài xin anh ấy hãy thương tôi và nhận cho mối tình sâu đậm chân thành mà tôi đã từng dành cho anh ấy. Nếu anh ấy chấp nhận tình yêu của tôi, tôi sẽ ở lại với anh ấy đến bạc đầu. Còn hai con, nếu anh lo cho chúng được thì càng hay, bằng không anh biên thư về Phòng Chính Trị khu Tư cho tôi biết, tôi sẽ về nhận hai con để nuôi nấng dạy dỗ chúng cho nên người sau này, vì tôi thương hai con tôi vô cùng."
Viết xong, em để cả hai tờ giấy trên bàn, rồi mang con đi gửi. Đoạn, em thu xếp quần áo thường dùng vào tay nải, lên đường ngay. Suốt trong ba ngày lặn lội bằng cả đường bộ lẫn đường thủy, em tới được Thanh Hoá, hỏi thăm chỗ anh ở và tìm đến gặp anh đây nì, anh Hữu Loan yêu dấu ngàn đời của Thanh ơi!!!

Yếm Vải Xứ Thanh (đoạn kết)

Nghe Thanh thổ lộ trong nước mắt tâm sự đau buồn của nàng, tôi (Hữu Loan) vừa xúc động vừa thương hại Thanh. Nhưng điều này đưa tôi vào cái thế vô cùng khó xử. Thật tình tôi không hề biết việc Thanh đã yêu tôi từ ngày còn học ở Collège Thanh Hoá. Khi ấy, trong các lớp tư gia của tôi có nhiều nữ sinh. Tôi đều coi họ như em gái thôi. Bản tính tôi rất đứng đắn đối với phụ nữ, luôn luôn tôn trọng đạo đức làm người. Cho nên, tôi hằng quan niệm tình yêu giữa thầy trò là chuyện không trong sáng.
Giờ đây, tôi chỉ ngồi yên lặng nghe Thanh khóc lóc kể lể hết quãng đời làm vợ của nàng cho vơi đi nỗi buồn khổ của nàng. Chờ cho đến khi nàng ngừng nói một lúc, tôi mới nhẹ nhàng khuyên Thanh :
- Anh rất xúc động và cảm ơn Thanh đã dành cho anh một tình yêu cao đẹp. Anh sẽ giữ trong lòng cảm tình đó như một kỷ niệm quí báu suốt đời anh. Giờ đây, mọi việc đã lỡ rồi. Ta hãy coi đó là số mệnh do Trời an bài cho mỗi con người. Em hãy tạm quên đi những u uẩn của đời mình. Bây giờ, anh dẫn em đi ăn cơm nhé. Sau đó, về đây anh sẽ chỉ chỗ cho em nghỉ ngơi qua đêm cho thân xác khoẻ khoắn, tinh thần yên ổn. Tất cả mọi việc rồi sẽ qua đi một cách êm suôi. Em đừng suy nghĩ nhiều quá, không những có hại cho sức khoẻ mà còn ảnh hưởng không tốt đến tương lai.
Nghe tôi bình tĩnh khuyên bảo, Thanh nín khóc. Nàng chấm nước mắt, ngoan ngoãn theo tôi ra phố ăn cơm. Khi trở về nhà, tôi sửa soạn chỗ cho nàng ngủ ở gian trong, nhường cho nàng cái giường của tôi có mắc màn. Còn tôi ra ngoài thềm nhà có mái hiên, mắc võng vào hai cái cột, ngủ cho mát.
Sáng hôm sau, chờ Thanh dậy sớm rửa mặt mũi xong, tôi lại dẫn nàng đi ăn điểm tâm. Khi trở về nhà, tôi quyết định nghỉ làm việc một ngày để có thì giờ tiếp tục khuyên nhủ Thanh. Tôi lựa lời hỏi nàng :
Đêm qua em ngủ có ngon không ? Em đã lấy lại sư bình thản của tâm hồn chưa ?
Thanh cười gượng, đáp :
- Em đi bộ đư?ng xa mệt mỏi quá nên nằm xuống là ngủ ngay và ngủ ngon lắm, anh Hữu Loan ạ ! Còn tâm hồn em chắc không bao giờ bình thản được đâu !
Tôi nhìn Thanh, khoan thai nói :
- Lấy tư cách thầy cũ đáng tuổi một người anh lớn của em, anh có vài lời khuyên nhủ đối với em. Nếu em yêu anh, em hãy lắng nghe và làm theo lời anh chỉ bảo nhé ?
Thanh gật đầu, long trọng hứa sẽ tuân theo những gì tôi sẽ nói. Nhìn sâu vào cặp mắt nhung còn vương nét chân thật của cô nữ sinh ngày xưa, tôi nhẹ nhàng nói :
- Anh rất thông cảm nỗi đau buồn của em. Chính anh cũng đã phải gánh chịu nỗi đau đớn không kém gì em. Anh lấy vợ. Đó là người con gái anh yêu lần đầu tiên trong đời anh. Thế mà chỉ có bảy ngày sau đám cưới, tử thần đã cướp đi người vợ yêu quí của anh trong một tai nạn chết đuối. Em tưởng tượng và sẽ thấy không còn gì có thể làm anh đau khổ hơn nữa. Nhưng rồi anh cho đó là một định mệnh do Trởi đã đặt để cho anh cũng như cho từng con người chúng ta. Chính em cũng không thoát khỏi cái thuyết định mệnh đó. Vậy thì chúng ta chỉ còn một cách là cố gắng chịu đựng nó mà thôi.
Giờ đây, anh thương mến em nhiều hơn trước, lý do là em đã làm tròn bổn phận của một người con gái có hiếu, biết vâng lời cha mẹ. Đó là một đức tính cao quí của con người. Tuy em không nhận được tình yêu lòng thương của người chồng, nhưng em có được tình yêu thương của các con. Anh tin chắc rằng tình mẫu tử em dành cho chúng đã và sẽ giúp em vơi dần đi sự đau khổ. Em đã từng hy sinh thì hãy tiếp tục hy sinh để thi hành trọn vẹn Tứ Đức Tam Tòng. Em hãy nghe anh, trở về với các con. Em có thể bỏ chồng, nhưng anh chắc em không nỡ bỏ con đâu, phải không, Thanh. Con trẻ không có tội tình gì cả. Tội lỗi là do người lớn gây ra. Lẽ nào con trẻ phải gánh chịu tội lỗi ấy ! Hơn nữa, chúng còn quá nhỏ, rất cần sự trông nom săn sóc với tất cả tình mẫu tử. Nếu chẳng may gia đình đổ vỡ, chúng sẽ bơ vơ khốn khổ biết chừng nào ! Trong hoàn cảnh chia ly, con trẻ ở với mẹ thì mất tình phụ tử cần thiết, mà ở với cha lại thiếu tình mẫu tử thiêng liêng. Từ lúc ấu thơ đến khi niên thiếu, chúng nó sẽ ra sao ? Nhất là ở tuổi biết suy nghĩ, chúng sẽ buồn rầu lạc lõng. Điều đó rất có hại cho tương lai của đứa trẻ mất cha hoặc thiếu mẹ. Trong thực tế, trẻ con cần mẹ hơn ai hết.
Hơn nữa, nếu em ly dị với chồng, đi tìm hạnh phúc mới, em sẽ làm buồn lòng cha mẹ em khi các người còn ở trên dương thế. Tai tiếng sẽ bay xa, dư luận ngoài đời sẽ phê phán cha mẹ em vô phúc không dạy nổi con, để con gái tự do "trốn chúa lộn chồng" ! Cha mẹ em sẽ đau lòng vô cùng ; em mang thêm tội bất hiếu.
Do đó, anh tha thiết khuyên em hãy vì các con mà hy sinh bản thân, trở về với gia đình.
Về phần anh, tuyệt đối anh không thể nào chấp nhận chung sống với em, dù biết rằng em yêu anh từ lâu một cách chân thành. Sự tự trọng của người đàn ông và đạo đức làm người không cho phép anh phá hoại gia cang người khác bằng hành động cướp vợ người ta, để mang tiếng nhuốc nhơ muôn đời !
Từ thuở sơ sinh đến khi khôn lớn, anh được thừa hưởng dòng sữa trong trắng của người mẹ trung trinh dưới lần yếm vải của phụ nữ Việt Nam nói chung và của người đàn bà xứ Thanh Hoá nói riêng. Em sinh trưởng trong một gia đình xứ Huế cổ kính và đã từng được giáo dục tại đất Thanh Hoá nổi tiếng về truyền thống Lạc-Việt, nên anh nghĩ rằng trong con người của em phải chứa đựng đầy đủ căn bản đạo đức tuyệt vời của gái miền Trung. Em hãy gìn giữ những đức tính ấy, để mọi tầng lớp phái đẹp mang yếm vải không hổ thẹn với đời.
Hơn nữa, đối với Tố Hữu, dù chỉ là quen biết qua vài lần hội họp văn nghệ, hai người chúng anh không phải là bạn bè, nhưng dầu sao anh Tố Hữu và anh cùng là những người đồng tâm đồng chí trong Hội Nhà Thơ cũng như trong cuộc chiến đấu chống thực dân.
Em cứ yên tâm nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ở đây vài bữa, dành thì giờ suy nghĩ cân nhắc về những điều anh vừa khuyên nhủ em. Nếu em nhận thấy đó là những lời chân tình phát xuất ra từ thâm tâm của một người thầy, một người anh, và nhất là một người mà em yêu, anh xin em hãy vui vẻ trở về với các con của em. Anh thiết tha mong ước như vậy.
Thanh chăm chú nghe tôi nói, nhưng không làm một cử chỉ hoặc thốt ra một tiếng nào bày tỏ sự đồng ý chấp thuận cả. Khi tôi ngừng nói, Thanh thở dài cúi xuống ôm mặt. Tôi biết là đang đụng phải bức tường đá kiên cố mà những đợt tấn công vừa rồi không làm lay chuyển một ly ! Tôi tự nhủ :"Mình phải kiên nhẫn với thiếu phụ con cháu bà Trưng bà Triệu này, may ra mới lay chuyển được !"
Những đêm kế tiếp, trong khi tôi chật vật ngủ trên võng, làm bạn với muỗi, chịu đựng sự giằng xé của bảy thứ tình Trời ban cho người trần tục, người đẹp mang tên thứ nhất của danh hiệu Thanh-Hoá êm ấm ngủ trong giường mắc màn, thân hình phô bày tất cả đường nét yêu kiều cám dỗ cao độ của một thiếu phụ đang xuân thì !
Tôi chợp mắt, thấy mình đang tiến gần khu vườn điạ đàng với biết bao mỹ nữ chào mời không ngớt !
Tôi thức giấc theo tiếng gà gáy tinh sương, nhỏm dậy, đi xuống bếp đã thấy Thanh lom khom nhóm lửa. Chiếc lưng thon trong lần áo cánh mỏng chạy xuống bờ mông cong cong nở nang dưới làn vải thâm của chiếc quần hơi chật đong đưa nhè nhẹ khiến tâm can tôi như đang bị chính ngọn l?a do hai bàn tay nàng đang nhóm đốt cháy ! Tôi phải đưa ngón tay cái lên miệng, ghé răng cắn mạnh, và thấy ngọn lửa tình thấp hèn trong tôi vụt tắt !
Thanh dọn bữa điểm tâm đơn sơ lên chiếc bàn mộc cũ, rồi hai chúng tôi cùng ngồi xuống ăn. Thanh cười như hoa nở, cất tiếng ríu rít như chim sơn ca, chớp chớp cặp mắt nhung đầy cám dỗ. Tôi lặng lẽ nhai nuốt miếng cơm mảnh cà, mang theo xuống bụng một cảm giác bồi hồi khó tả ! Tôi ăn thật nhanh, rồi đứng lên bảo Thanh :
- Em ở nhà nghỉ ngơi, đừng chợ búa cơm nước gì nhé. Anh đi làm, đến trưa về đưa em đi ăn cơm.
Thanh nhìn tôi bằng ánh mắt tha thiết, cho tôi một nụ cười ám ảnh cả buổi sáng hôm đó, cũng như những buổi kế tiếp. Ra khỏi nhà, tôi vừa đi vừa cúi đầu suy nghĩ. Buổi trưa cũng như buổi tối, sau giờ làm việc, tôi về nhà dẫn Thanh đi ăn cơm. Khi ngồi ăn trong góc quán kín đáo, hoặc khi đối diện tại nhà, bất cứ lúc nào hai anh em bắt đầu tâm sự là tôi lại xoay câu chuyện vào điệp khúc khuyên nhủ đã trình diễn với Thanh như trên, qua những lời hết sức nhẹ nhàng mà cương quyết. Tôi cố gắng giúp Thanh nhận ra lẽ phải đường ngay, làm cho nàng ý thức rằng không còn con đường nào tốt hơn nữa. Ba ngày hai đêm trôi qua. Buổi tối ngày thứ ba, sau khi ăn cơm ở quán xong, về nhà, tôi nhận thấy nét mặt Thanh đoan trang hẳn lên. Nàng dịu dàng nói với tôi :
Thưa anh Hữu Loan, mấy hôm nay nghe lời khuyên của anh, em suy nghĩ rất nhiều. Đêm hôm qua, nằm vắt tay lên trán, em nhận ra rằng những gì anh nói với em là những điều hay lẽ phải. Em chợt thấy thương các con em quá ! Em cần chúng nó và chắc chắn chúng nó đang cần có em bên cạnh. Em nhớ các con vô cùng. Em tự hứa sẽ làm theo lời dạy bảo của anh. Sáng mai, em xin được từ biệt anh để quay về với các con. Em đi cũng khá lâu rồi, chắc chúng nhớ mẹ chúng lắm !
Sáng hôm sau, ăn điểm tâm xong, Thanh chào từ giã tôi. Tiếng nói của Thanh trong trẻo đầy chịu đựng tuy có thoáng hương vị ẩm ướt :
- Em cám ơn anh rất nhiều. Suốt quãng đời còn lại của em, em sẽ ghi nhớ mãi hình ảnh quí mến cùng những lời dạy bảo tốt đẹp của anh. Đó sẽ là những kỷ niệm tươi đẹp nuôi sống tâm hồn em. Em xin nguyện sẽ ăn ở thật xứng đáng với phái mang yếm vải Việt Nam !
Nói xong, Thanh vội vàng quay lưng bước ra khỏi cửa. Kể từ ngày đó, tôi không bao giờ gặp lại Thanh nữa. Tôi thở dài nhẹ nhõm, trong lòng mừng rỡ vô hạn, vì đã thực hiện được một việc tốt lành.
Năm 1955, tôi làm thư ký cho Hội Nhà Văn nên thường xuyên gặp Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi. Mỗi lần gặp nhau, Tố Hữu bắt tay tôi với đôi lời chào hỏi xã giao kèm theo ánh mắt cùng gương mặt lạnh lùng, trái với truyền thống thân mật giữa anh em cùng giới văn nghệ sĩ. Tôi hiểu là Tố Hữu với bản tính nhỏ nhen ích kỷ đã rất khó chịu khi biết rằng vợ hắn yêu tôi. Chắc hắn nghĩ rằng tôi cũng tầm thường như bao người khác đã lợi dụng vợ hắn mê trai nên đã làm điều xằng bậy với Thanh. Chẳng bao giờ hắn biết rằng chính tôi đã cố gắng hàn gắn cho gia đình hắn không đổ vỡ. Việc hắn biết ơn tôi lại càng mơ hồ hơn.
Vì luôn luôn ghen tức với tôi, thêm vào việc tôi đã tự ý bỏ hàng ngũ "cách mạng", lấy con nhà địa chủ, phản đảng mà lại dám phê bình lãnh tụ, nên nhân dịp vụ Nhân Văn Giai Phẩm xảy ra, hắn ra lệnh quản thúc tôi nơi quê nhà tại Thanh Hoá cho bõ ghét. Đó là lý do tôi bị quản thúc.
Hữu Loan ngừng nói, khoan thai nhồi thuốc vào nõ điếu cầy, châm lửa rít một hơi dài. Tôi (Trịnh Hưng) rất thích được nghe tiếng điếu cầy kêu tong-tóc, rồi nhìn các cuộn khói đặc quánh bay ra khỏi cửa miệng mở rộng, dâng lên cao, tan mờ trong không gian. Đôi mắt lờ đờ vì khoái cảm hương vị ngậy đắng nồng cháy, Hữu Loan cất tiếng ấm hơn lúc nãy :
- Chắc chú không còn lạ gì đường lối chủ trương của đảng đối với văn nghệ sĩ vốn mang tiếng là tiểu tư sản mang nặng đầu óc lãng mạn ngả nghiêng. Đảng chỉ cần văn nghệ sĩ trong giai đoạn cần thiết như cuộc kháng chiến đánh Tây thôi. Khi đó, đảng hết mực chiều chuộng vuốt ve anh chị em văn nghệ sĩ. Sau khi chiến thắng, họ chẳng cần quái gì văn nghệ sĩ nữa ! Họ chỉ cần "văn nô" thôi. Anh chị em văn nghệ sĩ chân chính ai cũng tự trọng, không chịu làm "văn nô", tức là sáng tác theo chỉ thị đặt hàng đồng thời ca ngợi đảng một cách trơ trẽn ! Ai chịu làm "văn nô" thì được ưu đãi ; ai không chịu, đảng thẳng tay gạt ra bên lề xã hội, đuổi ra khỏi Hội Nhà Văn, không cho công ăn việc làm, đẩy những văn nghệ sĩ ấy vào cảnh đói khổ chung với gia đình họ !!!
Cộng sản xưa nay chắc chắn rằng văn nghệ sĩ dù cứng đầu đến đâu cũng mềm lòng trước cảnh vợ con đói khát khốn khổ mà phải khom lưng đầu hàng chúng, chấp nhận làm "văn nô" cho tập đoàn cộng sản. Nhưng chúng đã lầm. Dù bị quản thúc trù dập liên miên, các văn nghệ sĩ này vẫn hiên ngang tranh đấu cho cuộc sống của gia đình họ. Hữu Loan, Quang Dũng, Văn Cao, .. .. .. Một phần không nhỏ, sự tranh đấu cương cường của họ đã từng được bàn tay các hiền thê trợ lực. Những nữ tướng âm thầm này mang tâm hồn đầy hy sinh cao cả, một lòng thờ chồng nuôi con. Dù phải vất vả trăm chiều, các bà vợ văn nghệ sĩ kia không bao giờ nản chí. Đức tính này từ từ lan rộng như vết dầu loang trong giới phụ nữ sống dưới chế độ cộng sản có những ông chồng mang danh cán bộ cao cấp mà tâm hồn nhỏ nhen ti tiện. Một số những người vợ vô phúc đó vẫn duy trì được tâm hồn cao đẹp, một mặt theo gương tốt của các bạn cùng phái, một mặt làm sánh danh tình mẫu tử bao la của người Mẹ Việt Nam. Chính vì thế, cái xã hội bị chủ thuyết vô luân làm nhão nát cho đến nay không bị hoàn toàn băng hoại. Phải chăng các phụ nữ ấy đang nuôi dưỡng tinh thần nữ anh hùng của bà Trưng bà Triệu, gây mầm mống quật khởi cùng nam phái nổi lên phá sập chế độ cộng sản Việt Nam độc tài man rợ, xây dựng cho đất nước m?t tương lai sáng lạn vừa làm sống lại truyền thống con Rồng cháu Tiên vừa theo kịp đà văn minh Tự Do Nhân Bản ?!

Nhạc sĩ TRỊNH HƯNG


* * *
Thay lời bàn của một người cùng phái yếm vải xứ Thanh :

Thi nhân nhạc sĩ lừng danh
Chót theo " cách mạng" nên thành bại nhân
Nhờ yếm vải chân trần sữa trắng
Nuôi chồng con, nuốt đắng chịu cay
Trải qua ngũ thập niên này
Hiếu Trung Tiết Nghĩa cao dày keo sơn
So nam phái nào hơn nữ phái
Cũng tim hồng cũng mái tóc xanh
Vinh gì quyền lợi tranh giành
Nước non gấm vóc biến thành tang thương
Nhóm lãnh đạo một phường trộm cắp
Lượm của dân đầy ắp túi tham
Trẻ già lớn bé nữ nam
Hãy theo gương Mẹ quyết làm chiến công :
Giữ gia đạo Tiên Rồng lịch sử
Đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền
Hỡi người liệt nữ chính chuyên
Chèo cùng nam giới con thuyền quốc gia !

THUỲ-HUYÊN
Đồng tác giả Bình Huyên
(Những tháng lịch sử của 2003)

               Phỏng vấn Trịnh Hưng, Hữu Loan và Quang Dũng

                         Thy Nga - Phóng viên RFA (Radio Free Asia) thực hiện

     > Phần 1 (mp3)     > Phần 2  (mp3)      > Phần 3 (mp3)          > Phần 4 (mp3)

    

                 Tôi Yêu với Trịnh Hưng - Phương Oanh

                          

Sáng nay thứ bẩy 10/5/2008. Như thường lệ, thức dậy, tôi mở máy để xem mails.
Đang mơ màng, bỗng tỉnh hẳn người, điện thư của Thy Như, báo tin Nhạc Sĩ Trịnh Hưng vừa bỏ chúng ta để đi vào cõi vĩnh hằng sáng ngày 10 tháng 5 năm 2008 anh vừa bước vào tuổi 80.

Nói về anh, không thể nào không biết đến LỐI VỀ XÓM NHỎ, TÔI YÊU... mà anh đã sáng tác lúc vừa 20 tuổi và những nhạc phẩm khác cũng rất quen thuộc với chúng ta.

Qua buổi trình diễn nhạc TRỊNH HƯNG với chủ đề TÔI YÊU vào tháng 10 năm 2006, do Hội Dược Sĩ Việt Nam Paris đã tổ chức để VINH DANH TRỊNH HƯNG trong ngày văn hóa của hội tại Vincennes

                     

Tôi dùng chữ ANH để nói về Trịnh Hưng, vì anh là một nhạc sĩ.
Mà nhạc sĩ thì không già... mặc dù lưng còm, sức yếu, nhạc sĩ luôn luôn có mặt trong bất cứ buổi trình diễn văn nghệ nào được tổ chức tại Paris.

Hôm mùng một Tết Mậu Tý, anh đã ngồi nghe các ca nhạc sĩ đàn em trình diễn giúp vui trong nhà thương Broca cho người lớn tuổi. Nhìn gương mặt rạng rỡ của anh khi chúng tôi hát bài Tôi Yêu, anh cũng đứng dậy hát chung. Tôi không ngờ đây là lần cuối cùng anh có mặt.

Năm 2004, Phượng Ca trình diễn mừng 35 năm thành lập, anh đã đến với anh chị Thận-Tuyết Mai để xem dàn nhạc dân tộc đàn bài "Lối về xóm nhỏ". Anh đã tặng cho Phượng Ca cuốn sách nhạc của anh và một CD nhạc.

Dòng thời gian vẫn tiếp tục không ngừng, trên chuyến xe của cuộc đời, có người xuống trước, có người xuống sau, tuổi tác không phải là cái mốc để cho ta tưởng tượng mình già, mình cằn cỗi.

                        

Anh đã rời xa thế giới này để về lại quê hương, để đi gặp lại những người bạn văn nghệ sĩ: Văn Phụng, Phạm Đình Chương, Duy Khánh, Nghiêm Phú Phi, La Thoại Tân.v.v để tạo lại một không khí thơ nhạc cho cuộc đời không hận thù, không thương đau và hòa bình luôn luôn có mặt ở khắp nơi.

                    

                                Anh Trịnh Hưng,
                Giờ đây một mình, Anh, trên Lối Về Xóm Nhỏ
                Thong dong nhìn đời qua khúc hát Tôi Yêu
            Đồng ruộng mênh mang cho Lúa Mùa Duyên Thắm
              Non nước hữu tình để Tình Thắm Duyên Quê...

   

         Trịnh Hưng và các nhạc bản đượm tình quê hương
                                          (2006-07-24 - Thy Nga, phóng viên đài RFA)

                                                  > Chương Trình (mp3) 

Trong những buổi sinh hoạt của người Việt các nơi, có lẽ bài “Tôi yêu” là ca khúc dễ thương, và dễ hát để mọi người cùng hát lên với nhau cho vui. Nhạc bản này, tác giả là Trịnh Hưng, nhạc sĩ kỳ cựu và nổi tiếng về những bài mang âm điệu dân ca. Trong câu chuyện trao đổi với Thy Nga, ông nói lý do vì sao hay sáng tác theo thể loại ấy, rất giản dị.

Câu trả lời gọn ấy cho thấy rõ tấm lòng của ông dành cho quê hương. Năm nay đã 76 tuổi nhưng giọng nói của ông vẫn sang sảng như quý vị nghe đó, từ bên kia đường dây điện thoại viễn liên từ Créteil, ngoại vi Paris bên Pháp.

Trịnh Hưng chào đời năm 1930 tại Hà Nội. 15 tuổi đã theo kháng chiến chống thực dân Pháp, làm đội phó văn công Trung đoàn Thăng Long và bắt đầu sáng tác từ năm 1950.

Trịnh Hưng là tên thật của người nhạc sĩ này, nghĩa là do cha mẹ đặt, chứ không phải như trong giấy tờ là Nguyễn Văn Hưng, cái tên do hoàn cảnh mà có, ông thuật lại: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)

Rời bỏ hàng ngũ Cộng sản vào năm 53 về Hà Nội, và ngay trong năm này, di cư vào Nam. Miền đất tự do chan hòa nắng ấm gây cảm hứng cho Trịnh Hưng viết lên những nhạc bản ca ngợi cuộc sống an bình, nhất là về dân tình đôn hậu. “Lối về xóm nhỏ” Elvis Phương hát với Kiều Nga …

Từ năm 1954, Trịnh Hưng mở lớp tại đường Cao Thắng, Saigon dạy đàn, sáng tác, và luyện giọng. Trong số những học trò của ông có các nhạc sĩ Đỗ Lễ, Phạm Thế Mỹ, Trúc Phương, ca sĩ thì có Ánh Tuyết (thời trước), Bạch Yến, Thanh Thúy, …

Kế đến, là các nhạc bản “Tình thắm duyên quê”, “Tiếng ca dân lành”, … đều với nhạc và lời mộc mạc, trong sáng, rào rạt niềm vui, chan chứa tin yêu nên được mọi người đón nhận một cách nhiệt tình.

“Lúa mùa duyên thắm” … do đôi nghệ sĩ Ngọc Cẩm - Nguyễn Hữu Thiết trình bày

“Trăng soi duyên lành” Quốc Đạt hát …

Kẹt lại sau biến cố 30-tháng Tư 1975, Trịnh Hưng dạy nhạc kiếm sống nhưng rồi … người con trai lớn của ông

Thấy con bị chết, Trịnh Hưng uất ức, viết ca khúc chống đối chế độ. Hậu quả là cái án 8 năm cải tạo. Trong tù, Trịnh Hưng ghi lại những hoàn cảnh chung quanh mình thành các bài thơ. Năm 1990, ra khỏi nhà tù Cộng sản. 9 tháng sau đó thì ông qua Pháp theo sự bảo lãnh của con gái.

“Saigòn ơi, xa em rồi” qua giọng hát Tấn Đạt …

Ở Pháp, theo ông nói thì môi trường cho nghệ sĩ Việt Nam không mở rộng cho lắm.

“Lối về xóm nhỏ” …

Năm 2000 trở lại thăm quê hương, ông có dịp gặp lại bạn cũ như các nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, Hoàng Giác, Y Vũ, các nhà thơ Yên Thao, Hữu Loan, gia đình cố thi sĩ Quang Dũng, … ở ngoài Bắc. Trong Nam thì gặp lại các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết, Châu Kỳ, Khánh Băng, Huyền Linh, v.v …

Các lần kế tiếp trở lại Việt Nam vào năm 2002 và 2005, ông ghi nhận về xã hội và cuộc sống người dân trong nước: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)

Trở sang Pháp, Trịnh Hưng thuật lại những mẩu chuyện đó trên báo. Những giai thoại về các nghệ sĩ cùng thời với ông, tình cảnh đưa đến sự ra đời các tác phẩm nổi tiếng thì ông chia xẻ với độc giả trên các tạp chí văn nghệ.

Tháng 10 năm 2003, Trịnh Hưng ra mắt CD “Tôi yêu” trong buổi do Thư viện Diên Hồng tại Pháp tổ chức để vinh danh ông. Đây là lần đầu tiên (và có lẽ là duy nhất) ông thâu âm ghi lại các nhạc bản của mình.

Tháng 11 năm sau đó thì “Hội thơ tài tử” tại Bắc California mời ông sang Hoa Kỳ. Trong 3 tháng lưu lại đất Mỹ, ông được báo chí, các đài phát thanh, truyền hình tại Bắc và Nam California phỏng vấn liên miên. Và đông đảo đồng hương đến ủng hộ các buổi vinh danh người nhạc sĩ lão thành đến từ Âu châu.

Về buổi tổ chức tại Hội quán Trùng Dương ở Quận Cam, ông kể lại: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)

Ngoài nhạc, Trịnh Hưng còn có tài hí họa (vẽ Caricature) và làm thơ. Trong số hơn chục bài thơ của ông, bài được nhiều người biết đến, là bài “Một mình” viết trong hoàn cảnh như sau:

“Một mình uống, một mình ăn một mình một chiếu, một chăn một giường một mình nhớ một mình thương một mình thao thức đêm trường năm canh …

Một mình lắm lúc ngồi ì Hai mình có phải diệu kỳ hơn không?”

( trích bài thơ “Một mình” )

Bài thơ ngồ ngộ này được trình bày trong buổi vinh danh nhạc sĩ Trịnh Hưng tổ chức tại San Jose trong dịp ông sang Hoa Kỳ. Ca sĩ Thu Hà cho biết hôm đó, chị ngâm bài thơ “Một mình” theo lối Ca trù, rồi hát nhạc bản do Tuấn Khanh phổ.

Một mình là cuộc sống của nhạc sĩ Trịnh Hưng từ hơn bốn mươi năm nay, sau khi hôn nhân đổ vỡ. Nhạc bản “Tìm quên” bài tình ca duy nhất mà ông viết, Trường Lam hát sau đây để kết thúc chương trình về nhạc sĩ Trịnh Hưng … chào tạm biệt quý vị …

                   Nhớ về cố nhạc sĩ Trịnh Hưng
                                        Thy Nga, phóng viên đài RFA / 2008-05-26

                                                   > Chương trình (mp3)

Dòng nhạc này, quý vị chắc nhiều người đã biết là bài “Tôi yêu” của Trịnh Hưng. “Tôi yêu” qua giọng hát Vũ Anh …

Tin buồn là ông đã qua đời. Vâng, nhạc sĩ Trịnh Hưng đã từ trần vào ngày 10 tháng 5 vừa qua tại Créteil ở ngoại vi Paris bên Pháp, thọ 78 tuổi.

Thưa quý vị, nhạc sĩ Trịnh Hưng đã dự định sang vùng thủ đô nước Mỹ cùng với nhà thơ Đỗ Bình và nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên cho buổi sinh hoạt thơ và nhạc chiều 19 tháng Tư.

Nhưng trước khi khởi hành vài ngày thì mọi chuyện bỗng thay đổi. Không nghe tin ông qua, Thy Nga phone sang hỏi thăm thì ông nói là bị ngã (ông kể là ban đêm lò dò lấy nước uống trong tủ lạnh xong, lùi ra thì bị ngã ngửa) trong người rất đau, phải hủy bỏ chuyến đi. Thật tiếc vì nhạc sĩ Trịnh Hưng vẫn luôn thích sang Mỹ, nơi mà ông nói là người Việt hải ngoại có môi trường hoạt động văn nghệ, chứ ở Pháp thì sinh hoạt này còn bị gò bó.

Một tuần sau đó, Thy Nga phone lại thì nhạc sĩ Trịnh Hưng nói rằng đã đi bác sĩ nhưng sao vẫn đau lắm.

Thế mà chuyện không xong: Vào trưa ngày 10 tháng 5, tin về sự ra đi vĩnh viễn của nhạc sĩ Trịnh Hưng được giới yêu nhạc truyền nhau qua email, và loan tải trên các diễn đàn của người Việt hải ngoại.

Quý thính giả theo dõi mục này lâu nay, chắc còn nhớ chương trình Thy Nga viết về nhạc sĩ Trịnh Hưng.

[ xem bài liên quan: “Trịnh Hưng và các nhạc bản đượm tình quê hương” ].

Sau đó, ông đã giúp Thy Nga rất nhiều trong việc viết về nhà thơ Hữu Loan và nhà thơ Quang Dũng.

Phải nói là nhạc sĩ Trịnh Hưng có trí nhớ đặc biệt, chuyện từ hơn nửa thế kỷ mà ông kể vanh vách, giọng nói sang sảng dù rằng khi đó, đã 76, 77 tuổi. Nơi chốn nào, và ai ra sao, ông nhớ từng chi tiết, lại thêm những chuyện từ 3 chuyến về Việt Nam nên Thy Nga đã ghi được các tài liệu hiếm có về hai nhà thơ vừa nói.

Tiếp đến, nhạc sĩ Trịnh Hưng còn viết thư, kể những giai thoại về các nghệ sĩ cùng thời với ông (kèm theo cả ảnh chụp), và tình cảnh đưa đến sự ra đời các tác phẩm nổi tiếng, … Thư nào cũng cả chục trang (ông không sử dụng được computer) ông viết bằng bút mực trên cả 2 mặt giấy mỏng, thành ra đọc xong là hoa cả mắt! nhưng Thy Nga ráng đọc vì biết rằng đó là những tài liệu hiếm quý: Nhạc sĩ Trịnh Hưng đã trải qua các khúc quanh lịch sử đất nước, lại có dịp quen biết những văn nghệ sĩ mà Thy Nga cần ghi lại tình tiết về họ.

Đến đây, chúng ta hãy nghe lại giọng nói của nhạc sĩ Trịnh Hưng qua câu chuyện khi đó với Thy Nga.

Về chuyện ông bị tù vì viết nhạc khúc chống chế độ, khi thấy đứa con trai lớn của mình bị Công an đánh chết, ông nói

Tôi tức quá, tôi làm bản nhạc chửi, Chị biết là tôi cũng gan lắm à. Người ta nói là tôi cũng phúc lắm chứ không thì tử hình a, hay là cũng chung thân, nhưng quất tôi 8 năm tù.  

Tù ở Hàm Tân từ năm 82 đến năm 90, tôi ra, tôi sang Pháp đấy chứ.

 “Saigon ơi, xa em rồi” qua giọng hát Tấn Đạt …

Với sự bảo lãnh của con gái lớn có chồng người Pháp ở Lyon, nhạc sĩ Trịnh Hưng qua Pháp định cư. Rồi, ông xoay sở bảo lãnh cho bà vợ (mà thực ra là đã ly dị) qua được, kèm theo 3 người con.


Tuy nhiên, do bản tính phóng khoáng, nhạc sĩ Trịnh Hưng sống một mình, như đã bốn mươi mấy năm qua. Hoàn cảnh đó, ông ghi lại trong bài thơ “Một mình” Thy Nga đã yêu cầu ông đọc:


“Một mình uống, một mình ăn
 một mình một chiếu, một chăn một giường

 một mình nhớ một mình thương

 một mình thao thức đêm trường năm canh …

Một mình lắm lúc ngồi ì

 Hai mình có phải diệu kỳ hơn không?”

( trích bài thơ “Một mình” ) 

Trịnh Hưng : Người ta hỏi tôi tại sao làm câu này, tôi nói là “Diệu kỳ hơn không” nhưng mà ở một mình thì buồn, hai người thì có lẽ thêm bực.  Anh em hỏi, tôi bảo “Có thể hai mình hơi bực, cãi nhau suốt ngày, bực lắm à”.

Tôi ở một mình, nó tự do, lắm lúc cũng buồn lắm. Các anh em văn nghệ ở đây thì lúc nào cũng mời tôi đi họp hành, vui thì vui thế, mà lúc về nhà một mình thì buồn quá, tôi mới ngồi nghĩ, tôi làm bài thơ “Một mình” đấy chứ.

 “Tìm quên” Trường Lam hát …

Nhạc bản “Tìm quên” là bài tình ca duy nhất mà ông viết cả nhạc và lời. Nhà thơ Đỗ Bình là người đã lo đưa nhạc sĩ Trịnh Hưng từ Lyon lên thủ đô Paris nên biết khá rõ về ông, thuật lại:

Ở Lyon thì anh ấy cô đơn lắm. Anh ấy không có những người bạn để có thể chia sẻ được. Có được một vài người nhưng mà cũng ở khá xa.

Khi mà tôi xuống Lyon, thấy hoàn cảnh anh Trịnh Hưng, tôi mới về Paris nhờ người bạn liên lạc với cái “foyer” thì mang được anh Hưng lên cái foyer cho người già, mà anh Hưng ở đó.

Thy Nga : Xin thưa cùng quý vị: “foyer” mà nhà thơ Đỗ Bình vừa nói, là một tòa nhà trong hệ thống an sinh xã hội của Pháp với những dịch vụ rất tốt dành cho người cao niên. Foyer này ở Créteil vùng ngoại ô Paris, và Trịnh Hưng được trợ cấp một căn phòng.

Thy Nga hỏi chuyện tiếp nhà thơ Đỗ Bình về tính tình nhạc sĩ Trịnh Hưng.

Nhà thơ Đỗ Bình : Anh ấy rất ghét đạo đức giả bởi vì cuộc sống của anh ấy cũng trôi nổi lắm.

Anh ấy thẳng tính, nghĩ sao nói vậy. Anh ấy coi tất cả mọi sự rất là tầm thường, mà anh ấy chỉ trọng nhân nghĩa thôi. Nếu mà người nào tử tế, người nào nhân nghĩa mà anh ấy nhìn thấy thật thì anh ấy kính phục lắm. Còn người nào mà lem nhem thì có nhiều lúc, nặng tay, anh ấy viết những bài anh ấy kể, thì làm cho một số người họ ngại.

Anh Trịnh Hưng sống rất phóng khoáng, đồng bạc mà anh ấy có trong túi, là anh ấy phải xài cho hết, đó là một cái cách sống của anh ấy.

Cách sống thứ hai là anh ấy sống cho bạn bè nhiều hơn là cho bản thân. Anh ấy bất cần, ai mà rủ thì anh ấy đi, đâu anh ấy cũng đi hết. Nghĩa là anh ấy sống buông thả, cái đó nó gây ảnh hưởng đối với gia đình anh ấy. Bà vợ cả chia tay ông ấy vì bà ấy không chịu nổi cách sống phóng khoáng của ông ấy.

Trong foyer chỉ có một cái phòng chật chội. Anh ấy ngủ, chẳng thèm đóng cửa. Ăn uống thì có sao, ăn vậy. Cái điều đó nó quá nghệ sĩ đi, thì anh chị em nghệ sĩ đến giúp đỡ anh ấy, mỗi người giúp một tí. Con anh ấy nó cũng giúp cho anh ấy, nhưng mà anh ấy không lấy tiền của con, không thích nhờ con.

Thy Nga : Thì ra … đây là một trong những trường hợp người cao niên ở hải ngoại. Những vấn đề va chạm giữa người lớn tuổi với bản tính Việt Nam, và đám con đã hội nhập xã hội nước sở tại, là trường hợp của Trịnh Hưng có rể người Pháp.

Đỗ Bình : Sống trong nhà anh ấy, anh ấy được thoải mái hơn, theo kiểu Việt Nam. Còn đến con, thì anh ấy không tới. Nhưng rồi, con cái cũng đến anh ấy. Con gái anh ấy ở Paris, hằng tuần đều mang thức ăn đến.  

Thy Nga : Mấy chuyến nhạc sĩ Trịnh Hưng về Việt Nam, anh thấy ra sao.

Đỗ Bình : Về mà gặp những ông như là Hữu Loan, Quang Dũng, Yên Thao hay một số những nhà văn, nhà thơ cũ đó, thì quả thật rất khó, hồi khi anh ấy về. Tôi phải nói là anh Trịnh Hưng bạo lắm. Anh ấy ra ngay cái chỗ mà gọi điện thoại, đánh Internet công cộng, là địa điểm đầy rẫy Công an, anh ấy không thích Cộng sản mà anh ấy nói oang oang.

Trong sinh hoạt văn hóa thì tôi quý là quý những tác phẩm, quý cái tình mà anh ấy cư xử với bằng hữu, những người mà còn ở trong nước. Anh ấy muốn chia sẻ lắm nhưng mà không có tiền. Tôi hiểu được cái tấm lòng của anh ấy.

Thy Nga : Vào cuối đời, nhạc sĩ Trịnh Hưng mang bệnh viêm gan, tiểu đường, và cả ung thư nữa. Khúc quanh tới với vụ ông ngã vừa rồi. Khi tình trạng trở nên nguy kịch, người con trai đưa ông vào nhà thương. Nhạc sĩ Trịnh Hưng rơi vào hôn mê, rồi rời xa mãi mãi. Các con ông đã nhờ nhà thơ Đỗ Bình giúp báo tin đến những người quen biết, và hướng dẫn nghi thức đám hỏa táng. Nhà thơ Đỗ Bình kể tiếp:

Con cái anh Trịnh Hưng nhờ tôi giúp đỡ, hướng dẫn các cháu làm đám tang. Tang lễ có rất nhiều hội đoàn chính trị cũng như văn hóa, đến tiễn đưa anh Trịnh Hưng lần cuối. Mục sư Huỳnh Ngọc Bá lo về mặt tôn giáo bởi anh Trịnh Hưng lúc trong tù thì anh ấy theo đạo Tin Lành.

Về phần nghi thức đời, thì tôi đứng lên mời những đại diện các tổ chức, hội đoàn, nhân sĩ, văn nghệ sĩ phát biểu điếu văn.

Những ca khúc của Trịnh Hưng dễ hát, dễ thuộc nên rất phổ biến. Nổi tiếng nhất, là bài “Tôi yêu” chúng ta hay nghe hát vang trong những buổi sinh hoạt của người Việt các nơi.

Có điều này, không hiểu có phải là cái điềm hay không mà cách nay mới mấy tháng, trung tâm băng nhạc Thúy Nga đã chọn nhạc bản “Tôi yêu” làm tiết mục cuối của chương trình về ba miền quê hương, và là bài hát chia tay của buổi đó.

Nhạc sĩ Trịnh Hưng cho Thy Nga hay, là ông rất vui lòng

khi nhận được tiền tác quyền. Nay thì ông đã từ bỏ tất cả. Sự ra đi vĩnh viễn của nhạc sĩ Trịnh Hưng là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, lời ca chân phương, trong sáng, cùng với tiếng nhạc rộn ràng của ông còn mãi dư âm trong lòng những người yêu nhạc Trịnh Hưng.

 “Tôi yêu” Như Loan, Hồ Lệ Thu và Thanh Trúc hợp ca …

Thy Nga xin kết thúc chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ Trịnh Hưng với ca khúc “Tôi yêu” … chào tạm biệt quý thính giả …

        Một số youtube có liên quan đến Nhạc Sĩ Trịnh Hưng

Văn Tấn Phát hát Tôi Yêu Quê Tôi tặng NS Trịnh Hưng - Paris 12/17/2007

Trịnh Hưng và một nhóm thân hữu - Paris 2008

Liên Khúc Lối Về Xóm Nhỏ & Tôi Yêu (Quê Tôi) - Phương Hồng Quế & Phương Hoài Tâm

Lúa Mùa Duyên Thắm - Như Quỳnh & Thế Sơn

Lối Về Xóm Nhỏ - Huong Viet Dan Tranh Ensemble

  

                  Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên giới thiệu
                   ''Tôi Yêu'' của nhạc sĩ Trịnh Hưng
 
'' Tôi đã nhận được thư anh đề ngày 14/03/1998 và ba bài thơ anh gửi tặng, xin cảm ơn anh nhiều. Không ngờ anh không những là một nhạc sĩ rất tiếng tăm mà còn là một thi sĩ có biệt tài, đã làm tôi xúc cảm nhớ nhung qua những vần thơ dễ thương như :

Nước vẫn màu xanh, nắng vẫn hồng
Người qua kẻ lại một thêm đông
Nhưng em vẫn thấy lòng hoang vắng
Vì mất anh rồi, anh biết không
(Ngày Về Thiếu Bóng Anh)
hoặc :

Chiều nay cũng gió mưa rơi
Nhìn sang hàng xóm một trời nhớ mong
Nghe như mưa ở trong lòng
Giọt mưa giá buốt rơi trong lòng mình

(Nhớ Xuân Xưa : x. bản dịch Pháp ngữ của Lê Mộng Nguyên trong HỒN QUÊ 14)
và nhất là lúc anh đề cao tình nghĩa vợ chồng trong thời khói lửa :

Xin cám ơn em, cám ơn đời
Cám ơn người vợ của tôi ơi
Em là Tiên nữ trời sai xuống
Trả nợ cho Anh, trả nợ Đời
(Xin Cám Ơn Em, Người Vợ Hiền)
Bao giờ anh cho xuất bản một thi tập, tôi sẽ không ngần ngại viết đôi lời cảm nghĩ để trình bày cho độc giả báo chí hải ngoại ? ... '' (thư ngày 21/03/1998 gửi TH).

... Anh được di cư đến Pháp ngày 02/07/1990 và định cư tại Lyon. Từ năm 2000, anh được lên Paris, ngụ tại Créteil (ngoại ô kinh thành) và sống độc thân với tiền trợ cấp của chính phủ Pháp. Anh là một cộng tác viên (trong Ban biên tập) của báo Nghệ Thuật do nhạc sĩ Lê Dinh chủ trương ở Montréal (Canada) ngay từ ngày nguyệt san này được sáng lập nghĩa là vào khoảng năm 1994. Anh có tài viết văn theo loại tùy bút tùy hứng nhiều lúc hài hứng mà cũng nhiều lúc hoài cảm sau những buối gặp gỡ (chuyện trò) với một nhân vật có tiếng tăm trong giới văn nghệ sĩ. Anh có về thăm gia đình ở VN một lần đầu vào tháng 12-1999 và lúc trở lại Pháp 3 tháng sau đã viết luôn một mạch trên NT nhiều bài về các nhạc sĩ anh được gặp lại ở quốc nội, như : Aloha ! Nhạc sĩ Ưng Lang, Vài nét về cuộc đời của nhạc sĩ Huyền Linh, Quang Dũng với âm nhạc, Nhà thơ Yên Thao và trước đó rất nhiều kỷ niệm ... và nhất là về cái chết thê thảm của nhạc sĩ Đỗ Lễ (tác giả nhạc phẩm Sang ngang), một người học nhạc ngày xưa của TH, đã làm tôi không cầm được nước mắt. Trong những học trò của anh giảng dạy với tư cách giáo sư nhạc lý từ 1954 (sau Hiệp định Genève, anh di cư vào Nam tự mở lớp dạy nhạc riêng tư ở đường Cao Thắng để nuôi sống gia đình cho đến năm 1983 anh bị đi tù cải tạo), ngoài Đỗ Lễ là nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, tác giả những bài : Nắng Lên Xóm Nghèo và Trăng Tàn Trên Hè Phố (cũng đều được nổi tiếng lúc bấy giờ).

TÔI YÊU là một tập tuyển tình ca mà Trịnh Hưng sẽ xuất bản, lấy tên sách từ bài Tôi Yêu (vang bóng một thời), và gồm nhiều nhạc phẩm nổi tiếng của anh viết vào khoảng năm 1956 đến đầu thập niên 60 (''... hiện nay vẫn được đồng bào hải ngoại yêu mến, được hầu hết các nhà sản xuất băng cassette và vidéo hải ngoại thâu băng, và ở Việt Nam có 5 nhà sản xuất vidéo thu băng các nhạc phẩm dân ca'' : CHTY VI-2000) cộng với một phần ít nhạc viết từ đất Pháp và rất nhiều phổ nhạc thơ của các nữ sĩ chớm nở hoặc đã lừng danh... Theo thư anh viết cho tôi (23/07/1999), tuyển tập của anh chia làm ba phần, mỗi phần có một đề mục chung. Anh cho tôi biết là Phần 1 (rất tiêu biểu tâm hồn anh) : tôi yêu quê hương gồm 7 bài dân ca cũ đã lừng danh một thời và nay vẫn còn được các ca sĩ (nam nữ) hải ngoại và quốc nội tiếp tục trình bày trên đài phát thanh và cho vào cassette, CD hoặc vidéocassette (Tỉ dụ Bài Tình Thắm Duyên Quê được nhạc sĩ Anh Bằng của hãng Asia giới thiệu cả tác phẩm lẫn tác giả trong cuốn vidéo ''Đêm Saigon 6''). Nơi quê quán của Trịnh Hưng rất quan trọng vì có ảnh hưởng lớn đến nhạc anh làm trong cuối năm thập niên 50 và đầu năm thập niên 60. Lúc anh giới thiệu Thơ ''nhạc LÁ'' (1998) của Thu Minh và nói về quê quán của nàng thì cũng như nói đến quê quán của anh. Thật vậy, cũng như Thu Minh, anh sinh đẻ ở Bắc Ninh (Bắc Việt), giáp ranh với thủ đô Hà Nội (''ngàn năm vạn vật của nước Việt Nam'') : Đất Kinh Bắc được nổi tiếng là nơi gạo trắng nước trong và cũng là nơi quê hương của nhiều nhân tài về văn thơ từ ngàn xưa, như cụ Hàn Thuyên, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm và là quê mẹ của nhà đại thi hào Nguyễn Du... và chính nơi đó là cái nôi của nền Dân Ca Quan Họ đã sống trong lòng người dân Việt mãi đến tận ngày nay mọi người còn mến mộ. Những bài TH sáng tác hồi ấy (và được sắp lựa trong Phần 1 này), cho ta thấy rõ là ''nhờ sự tận tâm của nhạc sư Tạ Phước (mà anh đã theo học trong thời gian anh đi kháng chiến và gia nhập Văn Công Trung Đoàn Thăng Long của Việt Minh, từ cuối 1946 đến 1953 là ngày anh hồi cư về Hà Nội)... mà anh có một căn bản vững chắc về hòa âm và lý luận sáng tác theo giai điệu Tây phương hay Á Châu và nhạc sư còn phân tách kỹ càng sự khác biệt khi sử dụng âm giai ngũ cung của nhạc Tàu và âm giai ngũ cung dân ca Việt Nam...'' (Lê Dinh, NT số 2). Chúng ta biết rằng nhạc cổ điển VN chỉ dùng 5 bực (hò, xự, xang, xế, cống) trong lúc nhạc mới (kiểu Âu Tây) có 7 nấc làm nền tảng (đi từ thấp đến cao) cho thang âm là : Do-Ré-Mi-Fa-Sol-La-Si. Trịnh Hưng đã biết hòa hợp nhạc Tây, Tàu và cổ VN để sáng tác - với tâm hồn nghệ sĩ đầy tình cảm của anh trong thời tưới trẻ - hai bản đầu tay tuyệt diệu : Lối Về Xóm Nhỏ và Tôi Yêu, cả hai đều theo cung ré majeur và theo nhịp 2/2 (hay C chẻ). Trên 7 bài nổi tiếng, 2 bài này được mọi người yêu thích nhất và các ca sĩ lựa chọn hát và thâu thanh nhiều nhất :

Tôi yêu quê tôi , yêu lũy tre dài đẹp xinh
Yêu con sông xanh dâng cát hoe vàng bến đình
Yêu trăng buông lơi hôn má cô nàng dệt tơ
Và yêu cánh đồng vời xa, ngàn tay đang dựng mùa hoa
........................................................................................
Bài TÔI YÊU với những lời trong sáng, nhẹ nhàng, êm dịu, lạc quan, là một tán dương ca cho quê hương xinh tươi qua cánh đồng man mác, những cô gái quê mượt mà, xóm làng trong nắng đẹp của một mùa lúa mới, TH muốn kêu to ở đây cái tình yêu của anh cho tất cả mọi người và cho vạn vật :

Tôi yêu quê tôi, yêu mãi bây giờ càng yêu
Yêu chim bay qua mang đến tin mừng thái hòa
Yêu anh yêu em, yêu xóm yêu làng gần xa
Và yêu mối tình nở hoa, ngàn năm không hề phai nhòa

Bài này cũng như những tác phẩm khác của Trịnh Hưng trên mặt hòa âm (một nghệ thuật, một khoa học để tới cách dùng hợp âm êm tai) đã đạt được mức tột đỉnh. Xin nhắc lại, anh là đồ đệ của nhạc sư Tạ Phước và sống với gia đình nhờ nghề dạy nhạc từ năm di cư vào miền Nam (1954). Nhạc anh thuộc về nhạc ''hậu chiến'', nhưng về phần chuyên môn và tình cảm không thua gì những bậc đàn anh đã nổi tiếng trong những năm 1945-1946. Về lối hành nhạc, anh khuyến dụ Moderato để cho giọng nữ hát một mình, nhưng hợp ca như trong cassette ''Quê Hương Nhạc Tuyển 3'' (do Trung Tâm Băng Nhạc Nguyệt Ánh, Việt Dzũng & Tuấn Minh, Virginia, USA, thực hiện) mau hơn một chút (Allegretto) thì quá hay. Tôi cũng có nghe Vũ Anh hát đơn thanh bài này với giọng Baryton rất hấp dẫn, vừa nhịp nhàng vừa tươi vui như một buổi sáng bình minh. Tôi Yêu viết theo cung ré majeur (Khóa Sol với do dièse và fa dièse) có chủ âm (tonique) ré , áp âm (dominante) la và cảm âm (sensible) do dièse , theo đúng mỗi 4 trường canh đặng nhạc và lời được đi từ đầu đến cuối câu, trừ một đoạn có 8 trường canh (8 chia 2 = 4) để diễn tả : Mưa nắng ơn trời, lúa vàng nắng đẹp sáng ngời. Xóm làng đón mùa chiêm mới, ấm no ấp ủ lòng tôi. Tôi yêu quê tôi, yêu mãi bây giờ càng yêu. Yêu chim bay qua mang đến tin mừng thái hòa. Thật là đúng luật thăng bằng của một bài ca nhịp nhàng viết theo một kỷ thuật hòa âm hoàn hảo. Hơn nữa, tác giả rất khéo léo đã xử dụng nhiều lần ba nốt ré-mi-la (lên hoặc xuống) để làm cho nhạc theo phương pháp Âu Tây biến thành âm điệu dân ca đượm màu Việt Nam và Đông Nam Á. Giỏi lắm thay !

Trong 6 bài còn lại, như tôi đã nói trên, Lối Về Xóm Nhỏ viết theo một nguồn cảm hứng dạt dào đối với quê hương, cũng dựa trên cung ré majeur (như bài Tôi Yêu) nhưng theo lối hành nhạc Cha-Cha-Cha (TH với bản này và 5 bản khác mà tôi sẽ nói sau, thuộc về những nhạc sĩ khai sáng vào cuối thập niên 50 qua 1960 và vài năm sau đó, một loại nhạc đượm tình dân tộc mà giới bình dân dán tên là ''dân ca Mambo'') :

Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca
Ngọt hương lúa tình quê thêm đậm đà
Dào dạt bao tình thương trong mái lá
Bờ dâu xanh cô gái hát êm êm
Tầm mai chín gởi anh dâng mẹ hiền
Lòng già thêm hơi ấm khi chiều lên
.............................................................
Bài này cũng được trình bày cùng trong băng ''Quê Hương Nhạc Tuyển 3'' với hai giọng nam nữ đồng ca, theo hành nhạc nhịp nhàng như ý muốn của tác giả, làm cho người nghe muốn hát và khiêu vũ theo. Tôi rất ưa thích Lối Về Xóm Nhỏ do Elvis Phương và Sơn Tuyền hát, nhất là lúc hai danh ca bắt đầu hòa hợp qua những lời :

Có những chiều hôm, Trời nghiêng nắng xế đầu non
Nắng xuống làng thôn, làm cho đôi má em thêm dòn (thật là nhí nhảnh và bướm bay !)
Lúa đã lên bông. Mắt già tươi sáng thôi chờ mong
Tiếng hò cô gái sông Cửu Long. Mơ rằng mai lúa lên đầy bông.

Những bài khác (thuộc về loại ''dân ca Mambo'' của Trịnh Hưng) như sau : 1) Lúa Mùa Duyên Thắm (cung ré mineur , nhịp 2/2 hay C chẻ, ''Mambo-Boléro'') với kết thúc : Này ai ơi ! Miền nước tôi ruộng lúa ôm bờ đê. Người sống vui tình thắm vương hồn quê, gạo trắng trong mà nên duyên hẹn thề; 2) Trăng Soi Duyên Lành (đồng cung, nhịp và hành nhạc), với lời mở đầu : Trên sông sâu đôi mái chèo nhẹ khoan, Quê hương tôi đẹp như ánh trăng ngàn,Trăng lên khơi tôi hát lời hò khoan, trăng sáng về miền Nam, Trăng sáng cả đèo ngang... Thanh Phong & Thanh Thúy đồng ca); 3) Tình Thắm Duyên Quê (đồng cung và hành nhạc, nhịp 4/4 hay C), với kết thúc rất âu yếm lả lơi :

... Hàng dừa nghiêng nghiêng mơ soi bóng sông.
Ruộng ngày mai say sưa những ước mong
Gái miền sông Thương, chàng trai miền Cửu Long
Hai ta ước thề xây đắp tình duyên quê
, được Mạnh Bình và Sơn Tuyền đồng ca trong lúc Phương Dung đơn ca theo lối hành nhạc ''Moderato'' trong băng ''Sương Lạnh Chiều Đông'' (Tú Quỳnh Hải Ngoại 4) do Lê Bá Chư thực hiện; 4) Miền Nam Mưa Nắng Hai Mùa (cung sol majeur, nhịp 2/2 hay C chẻ, hành nhạc Rumba ) : tác giả Trịnh Hưng muốn tỏ lòng biết ơn với miền Nam tự do là nơi anh chọn lựa sinh sống với gia đình sau Hiệp định Genève 1954, bằng những lời nhạc mến cảm, hoan lạc như :

Này ai ơi miền Nam nước tôi chia hai mùa
Đồng xanh tươi nói lên niềm vui bao chan chứa
..........................................................................
Về nơi đây cùng chung đắp cho thôn làng
Người hân hoan với cây cờ vàng đẹp tươi sáng
Chiều lên khơi, vừng trăng sáng buông lơi ven đồi
Bầy em tôi, có cô nàng vui lứa đôi

và 5) Tiếng Ca Dân Lành (cung ré mineur, nhịp 2/2 hay C chẻ, hành nhạc Mambo-Boléro) với kết thúc đầy hy vọng và tin tưởng trong tương lai tươi sáng (tương tự một bức tranh đượm tình thôn dã của MILLET 1818-1875) :

Chiều hôm nay có bàn tay lại nắm bàn tay, hứa cùng nhau chung cánh vai gầy, bên luống cầy chàng ca em cấy. Để mai đây cánh đồng xanh ngập lúa đầy bông, bởi mồ hôi đổ xuống ven đồng, sông đẹp trong tình thắm duyên nồng.

Năm bài này cũng được sáng tác (như 2 nhạc phẩm Tôi Yêu và Lối Về Xóm Nhỏ) vào cuối thập niên 50 và những năm đầu của thập niên 60... là những năm Trịnh Hưng hứng cảm dồi dào, tình yêu dạt dào đối với quê hương miền Nam là đất nước tự do và hạnh phúc gia đình của anh... Trong Phần 1, còn thêm một bài Sài Gòn Ơi Xa Em Rồi viết theo cung la majeur (với 3 dièses : fa-do-sol, nhịp C chẻ và hành nhạc Rumba). Tác giả cho tôi biết bài này anh làm sau khi rời VN qua Pháp và được Giải Nhì trong cuộc thi Nhạc năm 1993 do Phong Trào Hưng Ca ở Hoa Kỳ tổ chức : Sài Gòn ơi ! Ta hẹn em mùa xuân tới, Ta về xây lại quê mới. Ôi đẹp quá Sài Gòn ơi... Và Trịnh Hưng đã được về Sài Gòn thăm nhà cuối năm 1999 (nhưng SG đã mất tên từ năm 1975 !). Trở lại Pháp (đầu năm 2000) là đất nước tự do và tôn trọng nhân quyền, anh giữ vững niềm tin vào Thánh Đạo và sáng tác nhiều bản ca ngợi Chúa Jésus. Đó là chủ đề Phần 2 của tuyển tập Trịnh Hưng : YÊU CHÚA trong đó có hai bài anh làm ở Pháp để tặng Giáo hội Công giáo tại thành phố Lyon và một số đạo hữu Tin lành ở Lognes (Pháp) : Ngợi Khen Cha và Con Có Chúa (cung ré majeur, nhịp 3/4, hành nhạc Valse-Moderato), với đoạn cuối đầy Tin, Mến :

Con có Chúa ban cho Cậy, Tin, Mến
Chúa dạy con hãy sống trong hiền hòa
Chúa cho con an bình vạn lời ca
Con tôn kính trọn đời tạ Ngôi Ba.

Tuyển tập TÔI YÊU của Trịnh Hưng chấm dứt với Phần 3 : ''Yêu Tình Người'' gồm nhạc lãng mạn tình yêu lứa đôi, tình bạn, tình cha con... '' (thư gởi LMN, 23/07/1999) và rất nhiều bài được anh phổ nhạc vào thơ của Bích Xuân, Thu Minh, Vương Thu Thủy, Đỗ Bình, Phạm Ngọc, vân vân. Về mặt thơ phổ nhạc, ta phải công nhận là nguồn hứng cảm và biệt tài của nhạc sĩ Trịnh Hưng vẫn còn lai láng và thao thao bất tuyệt như ngày xưa.

 Lê Mộng Nguyên (Paris)

       

          Trịnh Hưng và tôi tại Montreal - Bích Xuân

Từ Hoa Kỳ trở về đầu tiên tôi phải làm công việc: lau chùi nhà cửa, quét màng nhện, giặt giũ áo quần v.v…mặc dầu trước khi đi tôi đã dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp. Đi xa gần ba tháng ngôi nhà bé tí nằm sát bên xa lộ, hàng ngày không biết bao nhiêu xe cộ chạy qua lại, nên đã hứng không biết bao nhiêu là bụi đường. Bụi dính trên cửa, trên bàn, trên ghế v.v… Trong lúc làm công việc mà lòng tôi vẫn nhớ: "Những lần phiêu bạt thân đơn chiếc/ Lần lượt theo nhau suốt tối ngày…" nên vừa dọn dẹp xong là tôi hẹn với nhạc sĩ Trịnh Hưng, để bàn về chuyến đi Canada sắp đến.
Nhạc sĩ Trịnh Hưng cách đây 50 năm về trước, chuyên sáng tác những nhạc phẩm canh kê lúa gạo, là quê hương của những người giàu tính thiên nhiên dân tộc, ( Tôi Yêu, Lối Về Xóm Nhỏ v.v…) Ngồi trước mặt tôi bây giờ là một ông già, theo định luật của thời gian. Một  nghệ sĩ ăn mặc xuềnh xoàng "bụi đời". Đầu tóc được chải chuốt, nhưng sao nó cứ xù xù ra thế ! Nhưng tôi chẳng hề khó chịu, tôi chỉ có thói quen đánh giá về  nét duyên  nơi đàn ông, và không biết tự lúc nào, tôi thân thiết Trịnh Hưng như đôi bạn. Tôi luôn luôn dành một khoảng mênh mông trong lòng, cho người nghệ sĩ  này.

Trời tháng ba vẫn còn lớp sương mù, bao phủ thành phố Paris. Văn nghệ đối với tôi một món ăn được hình thành thú vị, trong tinh thần sẵn có. Vì thế Kỷ niệm Đệ Thất Chu Niên của nguyệt san NGHỆ THUẬT được tổ chức tại Montreal, Trịnh Hưng và tôi với tính cách của một cộng tác viên thường xuyên của báo, đến Canada dự đêm văn nghệ kỷ niệm 7 năm thành lập, cũng là để biểu hiệu đồng cảm với  nhạc sĩ Lê Dinh chủ nhiệm tạp chí Nghệ thuật.
Vài năm trước tôi nhận được tạp chí Nghệ Thuật (Canada). Lật coi bên trong, có bài thơ trích từ tập thơ tôi xuất bản. Đó là lần đầu tiên, được một chủ biên trích thơ đăng gởi báo tặng. Và, truyện ngắn đầu tay " Chuyện Cái Diskette" tôi cũng được "khai bút" trên tờ Nghệ Thuật, mang lại những niềm vui bất ngờ khác, tôi thật sự đã hạnh phúc …
Tôi được quen với nhạc sĩ Lê Dinh, do nhạc sĩ Trịnh Hưng giới thiệu. Chỉ nói chuyện qua điện thoại vài lần, ông nhạc sĩ giọng miền Nam mộc mạc, tôi cảm thấy rất dễ chịu… Tôi cố tập cho mình, có được tính nhận xét là không để cho đầu óc rỗng tuếch, có lý do để nghĩ về cảm xúc. Tôi muốn nói đến cách xử sự khoan hòa, tâm lý sâu xa, là những hương chất được tiết tỏa từ tha nhân, ghi vào bộ nhớ mình …

Trên chiếc máy bay Air Canada, đang bay trên chín tầng mây. Làm sao biết được mây chín tầng mà người đời thường hay nói ! Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay, không thấy gì ngoài một đám mây trắng, dày đặc phía dưới. Lúc  đứng dưới đất nhìn trời âm u. Bây giờ ngồi trên máy bay nghe lòng nôn nao,  máy bay chuẩn bị đáp xuống vùng đất tuyết mênh mông, những người chờ đón chúng tôi chưa hề biết mặt…
Chúng tôi bước ra khỏi máy bay, và được rửa giày bằng thuốc khử trùng trước khi đến nơi xuất trình thẻ thông hành. Trịnh Hưng vai đeo cái xách, tay cầm cây guitare đi phía sau, thỉnh thoảng tôi ngoái đầu lại và đứng chờ ông ….cụ  72 tuổi nghệ sĩ này đang bước theo tôi, như muốn chạy mà vẫn không kịp. Chúng tôi đứng sắp hàng theo thứ tự như bao nhiêu người khác chờ xuất thẻ thông hành. Một lát sau không thấy Trịnh Hưng đâu ? Thì ra ông cụ qua đứng hàng kế bên kia. Yên chí khỏi sợ ông đi lạc. Nhưng khi quay nhìn lại thì ông đâu mất rồi ? Tôi thấy ông sang đứng hàng thứ ba, đứng ngay phía trước. Mấy ông tây bà đầm này dễ chịu thật, thấy ông già chen lên đứng phía trước cũng chẳng nói gì…Trịnh Hưng đi ra trước và đứng chờ tôi nơi để hành lý. Thế mới ngon lành…

Cánh cửa vừa mở, tôi và Trịnh Hưng đẩy xe hành lý bước ra, đã nghe có tiếng gọi (giọng đàn bà). Tôi biết ngay là chị Lê Dinh. Rồi hai người đàn ông nữa, tôi cũng đoán được ai là nhạc sĩ Lê Dinh, người đàn ông bên cạnh tự nhiên tôi nhanh miệng một lãng xẹt: "A …chào anh Hồ Đắc Vũ…" Chị Lê Dinh lắc đầu: Bồ Giang Công Tử đó…" Tôi quê dễ sợ ! Chỉ biết chào Bồ Giang Công Tử bằng nụ cười… ruồi.
Bồ Giang Công Tử tức Lãng Tử phụ trách mục "Ngồi quán cóc tán dóc chuyện đời" cùng đi đón tôi và Trịnh Hưng hôm nay, anh Lê Dinh không cho hay trước, nên tôi nhầm Hồ Đắc Vũ là Bồ Giang Công Tử, vì nhìn hình trong báo Nghệ Thuật, hai chàng cùng đeo kính cận, nét mặt hao hao giống nhau, nên tôi nhầm !

Trên xe trực chỉ về nhà nhạc sĩ Lê Dinh, Trịnh Hưng đặt nhiều câu hỏi, với anh chàng Bồ Giang Công Tử, lời đâu lắm thế….bây giờ mới thấy ông TH khoẻ re, không như ngồi trên máy bay cứ gật gù như gà bị trúng nước. Xe không chạy thẳng về nhà mà ghé vào quán phở. Trong khi chờ ca sĩ Huyền Châu đến, anh Lê Dinh đưa cho chúng tôi coi 3 tờ chương trình, trong đó có những ngày chúng tôi cư ngụ tại Montréal, chương trình của buổi văn nghệ đêm thứ bảy 7 –4 –01 và bản ghi với những di tích lịch sử do Lãng Tử sưu tầm, để chúng tôi biết "vài nét về thành phố Monréal" . Điều gây cho tôi chú ý, là tờ dự thảo chương trình những ngày tôi và nhạc sĩ Trịnh Hưng lưu ngụ tại đây, bắt đầu từ ngày 5 đến 18/4. Mỗi sáng, trưa, chiều tối, giờ giấc, cũng như những buổi điểm tâm dùng món gì tại đâu. Sẽ gặp những ai, và viếng thăm thắng cảnh Québec, Montréal được ghi rõ v.v…Như rứa là hôm nay 5/4 ngay trang đầu chương trình đã ghi : 12 giờ đón tôi và Trịnh Hưng. 13 giờ 30 ăn phở tại nhà hàng Victoria. Về nhà nghỉ ngơi. 18 giờ dùng cơm tối nhà hàng Tam Tam. 21 giờ: 30 Lên núi Vương Sơn ( Mont Royal) xem thành phố về đêm…

Qua đêm hôm sau, chúng tôi được thưởng thức món bún bò Huế, tại tư gia của đôi nghệ sĩ Huyền Châu và Lãng Tử, tức Bồ Giang Công Tử, trong mục "Ngồi quán cóc nói dóc chuyện đời" mà tôi vẫn khoái. Chiện nói dóc mà mình thích mới lạ ! Món bún bò Huế là món nghề của nàng. Nàng đây là "tôi" một cây nấu món bún bò Huế rất quê hương mà phải đầu hàng cô ca sĩ gốc Bắc này. Kỷ niệm buổi tao ngộ, bằng hương vị đậm đà, bún bò giò heo, vừa cay vừa ngọt, vừa có tí tị mùi mắm ruốc, mùi hành lá trong tô bún bay ngang. Nghệ thuật tạo miếng ăn là phải thực hành. "Thực" đây là ẩm thực, vừa ăn uống vừa nói chuyện, mới sáng thêm chân lý nghệ thuật…ăn. Nhân dịp này tôi được gặp nhà văn và cũng là hoạ sĩ: Hồ Đắc Vũ, Lê Thái ( đài Tiếng Nói Việt Nam ) nhạc sĩ tây ban cầm Duy Ngọc v.v… Họa sĩ Hồ Đắc Vũ chải tóc ngược hết ra phía sau, nét mặt đăm đăm trông rất "ngầu" giống nam tài tử chính trong phim "Người tình". Lê Thái phụ trách đài phát thanh, có mái tóc chải một bên trông rất lãng mạn lả lướt, như điệu Tango trong bài La Cumpascita của Geraldo Martos Rodriguez ! Ít nói, nhưng thỉnh thoảng anh chen vào một vài câu rất ý vị. Đúng là dân của đài phát thanh…Đến Duy Ngọc người đệm đàn tay ban cầm. Trời ạ ! sao nghe tiếng đàn guitare, du dương quyến rủ tôi đến thế !… Tôi mà như Duy Ngọc tôi sẽ tập cho các… em gái thành ca sĩ hết…..

Đêm văn nghệ Kỷ niệm tạp chí Nghệ Thuật tròn 7 tuổi. Không phải kỷ niệm những gì buồn vui trong 7 năm làm báo, mà kỷ niệm những gì đã qua, không bao giờ trở lại nữa. Tôi nhìn phong độ ung dung thư thái của nhạc sĩ Lê Dinh, hẳn đã sắp xếp đâu vào đấy, nên chẳng thấy anh bận rộn bất cứ chuyện gì, bao giờ cũng giữ một nụ cười lịch thiệp trên môi, nhìn các loài hoa trên sân khấu, đang làm đẹp mùa xuân. Ngồi cạnh tôi nhà văn Hồ Đắc Vũ, nhà thơ Nguyễn Bá Dĩnh, cùng bà xã Thuỷ Trang và Lê Thái. Nguyễn Bá Dĩnh trông anh rất hoạt bát, nhanh nhẹn…Hoàng Lê đi ngang qua, lúc nào cũng có nụ cười  trên môi. chào nhau bằng cái vẫy tay. Ngồi dưới sân khấu nghe Bà Lê Bạch Lựu, đọc thơ chúc mừng Nghệ Thuật. Rõ ràng thi ca chẳng buông tha một ai, khi trong tâm hồn đã có dòng cảm xúc. Ban nhạc Đại Dương, do gia đình nhạc sĩ Phi Hùng phụ trách. Hai cô con gái thay phiên nhau sử dụng nhạc khí, organ, trống, guitare v.v…. Hôm dợt nhạc với nhạc sĩ Phi Hùng, gặp cô đầm Lily Doiron gốc Canadien trăm phần trăm, hát bài: "Tiếng hát chim đa đa" của Võ Đông Điền và "Nhớ em lý bông mai" của Kim Tuấn. Tôi phục sát đất, nhất là tiếng láy và cách phát âm rõ ràng của cô. Hèn chi năm 1994 cô đã trúng giải nhất, trong buổi tuyển lựa ca sĩ tại Montréal, do nhạc sĩ Lê Dinh tổ chức. Và, Lê Duy. Chu choa ! anh chàng MC đang giới thiệu chương trình, văng vẳng theo làn hơi tròn trịa âm ấm, gây sự chú ý người ta, trong không khí nhộn nhịp vòng quay, và nét nghệ sĩ hoạt bát, là một yếu tố để thành công trong vai trò MC dễ chiếm trọn vẹn cảm tình của khán giả.

Để biết hôm nay sẽ có chương trình gì, tôi coi thời khóa biểu ghi sẵn, trưa nay tôi và Trịnh Hưng sẽ có mặt trong quán cóc của cô Tư Hồng Ngự, để nghe 6 vị trong tấm hình vẽ trên trang báo, nói dóc, nói phét ai mà chả khoái... Trước khi đến quán cóc tôi dặn Trịnh Hưng, chuẩn bị tinh thần để nói…phét ! Trịnh Hưng có vẻ tự tin. Thấy Trịnh Hưng cầm ly nước tôi hỏi :
- Nè, uống gì mà nước…vàng khè vậy ?
Trịnh Hưng nói uống thuốc bổ.
- Chớ không phải v..i..a..g..r..a… hả !
Trịnh Hưng nạt ngang:
- Đâu phải loại này….
Tôi nôn nóng:
- Ủa ! "nó" ra làm sao ? Cho "tui" coi viên thuốc đó được không ?
- Lát nữa ra quán cóc mà hỏi…

Chúng tôi đến quán cóc của cô Tư Hồng Ngự. Mọi người cùng vào một lượt, đúng giờ. Tôi thầm nhủ: mình là người từ Phú lang sa đến phải biết câu"Nhập gia tùy tục". Người ngồi đối diện tôi, được anh em trong quán cóc gọi ông Lang Tây, là người cứu nhân độ thế. Ôângbác sĩ này có nét mằn mặn nghệ sĩ lắm…, dù ông trong bộ "com lê" rất lịch sự. Tôi nghe anh em gọi anh chàng ngồi bên cạnh tôi làLâm . Anh này trẻ nhất, coi bộ con nhà giàu…học giỏi. Tôi đoán không sai, hiện anh là thầy cãi. Trịnh Hưng trổ tài nói dóc ngay. Anh  họ Lâm ú ớ…cãi. Rứa là 1/ 0. Tôi tiếp lời Trịnh Hưng để tấn công…Tôi nói tôi chỉ thích cái lỗ…mũi của Lâm thôi… Mấy người không biết chi hết trơn. Quí tướng hiện trên đường mũi to, biểu hiệu sự vinh quang phú quí…Cái mũi làm sao thì..thì "cái…nớ " như dzậy…Chàng Lâm nghe nói có lý quá, khoái tỉ cười hả hê không cãi. Phe ta ( Paris) sơ sơ 2/ 0 . Lại được thêm sự hỗ trợ của cô Tư Hồng Ngự và ca sĩ Huyền Châu cũng rất "mặn"cho thêm vào. Tôi quay nhìn Trịnh Hưng, ông cười hô hố lộ hai hàm răng ông ra, tôi thêm yên tâm. Ông ngầm ra dấu chỉ Bồ Giang Công Tử… xơi luôn. Tôi nhìn qua"công tử" mắt lim dim vò vò ly rượu, với dáng điệu lạc phách giang hồ, và "hồng diện" bừng bừng da thịt, cười khì khì mà coi bộ lầm lì "mặn" dữ quá ! Chắc chắn là dòng "nòi tình" nên tôi hơi…ngán, chỉ khẽ ê a ngâm : Hơi rượu mơ hồ qua khóm tre/ Ai kia như mắc kẹt… trong khe. Bồ Giang Công Tử ngồi tít góc bên kia không nghe lọt, chỉ có Lê Thái nghe xong cười ha ha. So vơí Bồ Giang Công tử, Lê Thái khác xa một trời một vực, ốm…teo. Bên trong không biết sao, chớ bộ vó bề ngoài thấy chưa đủ "mặn".  Tôi lại để ý thấy Đại ca thuần phát mà phong lưu tài tử, đang nghiêng nghiêng cười… khoái trí. Nụ cười xa xa vô thưởng vô phạt, lúc ẩn lúc hiện…Một lần gặp gỡ nơi đây, chiện nói phét tiếu lâm, hào hứng sôi động cho có …nghệ thuật.

Đại ca chuyển qua đề tài về hai cuốn sách: "Đất quê ngoại" và "300 chuyện cười" của nhà văn Trà Lũ, tổ chức ngày 15/4 tại Montréal. Tất cả chúng tôi sẽ có mặt. Tôi bắt đầu say say, lung linh một màu vàng yến trước mắt, mấy cái tựa sách về ĐẤT: Đất Hạnh Phúc, Đất Mới, Đất Hứa, Đất Thiên Đàng, Đất Yêu Thương, Đất Lạnh Tình Nồng, Đất Quê Ngoại v.v… Vậy "cha" nhập môn trong nghề văn, bắt đầu khi đến vùng đất Canada, nên mới có mấy tựa sách: Đất Mới, Đất Hứa, Đất Thiên Đàng. Riêng vùng Đất Thiên Đàng rõ ràng cha ni… xạo. Chắc gì trên Đất Thiên Đàng ấy có món thịt tái…dê, có bờ hồ, có cây rũ lá xuống nước, có xóm tre xào xạc trước cổng nhà… lầu ngát hương trà, say nồng men rượu ! Rồi tới Đất Yêu Thương là cái chắc, vì sách  được độc giả khắp nơi đón tiếp nồng hậu quá mờ…gọi cha vì lúc xưa  Trà Lũ, cha ở trong nhà dòng Chúa cứu thế .Nghe nói đến Canada là thấy những đống tuyết trước nhà. Đất Lạnh Tình Nồng, Đất Lạnh dĩ nhiên rồi. Tình Nồng cũng dĩ nhiên nữa. Tiình bạn ai mà nói Tình Nồng, chỉ nói tình bạn thân quí thôi.  Đọc tựa sách Đất Quê Ngoại, chắc tác giả muốn ngày nào đó sẽ trở về vùng đất quê ngoại hơn bao giờ hết.

Sau đêm văn nghệ kỷ niệm tờ báo Nghệ Thuật. Hai tuần ở Montréal và những chuyện liên miên tiếp diễn. Tôi và Trịnh Hưng được đi xem thắng cảnh ở Québec, phố cổ Montréal trong một ngày có mưa gió. Tôi thích có những cái dịu vợi của mây trong cơn mưa nó có cái gì lạ lùng dưới vòm trời xa lắc. Và, những tiếng cười, tiếng đàn, tiếng hát, mối giao tình tôi với các anh chị em văn nghệ càng thắm thiết hơn, nhất là chị Lê Dinh và Huyền Châu cảm hoà từ tâm linh dễ mến. Nhờ bàn tay đảm đang của hai chị, "không phải năm ngày một tiệc lớn, ba ngày một tiệc nhỏ, mà là mỗi ngày một tiệc nhỏ…" nên hai ông chồng sống trọn vẹn đời nghệ sĩ của mình. Trong hai tuần ở Montréal tôi và Trịnh Hưng ngày nào cũng được đưa đi chơi. Anh  Lê Dinh rất nguyên tắc, đã lập ra chương trình, dù no cũng phải …ăn, mệt cũng phải đi…chơi. Ấy vậy khi đi thì hết mệt. Không đói mà ăn vẫn thấy ngon, do sự ân cần thật tâm của chị Lê Dinh.

Mỗi buổi sáng tôi mở toang cánh cửa sổ, để nhìn qua ngôi nhà trước mặt. Sáng nào như sáng nấy, cũng người đàn bà đứng lau chùi cánh cửa chính. Tôi chợt nghĩ phải chi người đàn bà biến thành…đàn ông để lòng tôi gợi ý thơ ! Và, đi đâu rồi cũng phải về nhà, sau khi "phiêu bạt" đó đây. Đi chơi cũng là một nhu cầu rất đời rất người, và cũng là điều mơ uớc. Đi cho biết đó biết đây, biết chiện đời, biết lòng người nghệ sĩ, biết nhà giàu nhà nghèo bật ra đầy đủ tính cách …Nhưng cái thú vị đệ nhất "ăn chơi" không phải là sự hưởng thụ, mà cuộc đời có được sự ưu ái, đó là điều an ủi. Tất cả ghi lại đây với những lời mộc mạc mới diễn được cái tình đầy đủ khi lòng xúc động. Thật quí báu biết bao, với những tấm lòng rộng mở với người nghệ sĩ, như gieo được một câu văn tình cảm, vần thơ hay…Không riêng gì tôi, khi gặp gỡ nhau ở đây, đã để lại kỷ niệm, mà kỷ niệm là những tiếng vang chung quanh, trong tình tri kỷ kết đọng trong con người. 
Tôi ngồi sau xe cùng với mớ hành lý, anh chị Lê Dinh đưa tôi ra phi trường về lại một nơi thuộc về của tôi. Nhưng tôi chưa về. Tôi còn đi nữa…Tôi đổi máy bay tại Toronto để qua Hoa Kỳ. Ông Trịnh Hưng bay thẳng về Pháp. Tôi không biết bao giờ sẽ trở lại nơi đây nữa, để đứng dưới ánh đèn sân khấu, hát những bài ca nhẹ nhàng, tha thiết  trong "Đêm nguyện Cầu, Một cõi riêng ta, Cảm ơn v.v…" của Lê Dinh. Không đơn giản hát, khi biết có ông nhạc sĩ ngồi dưới sân khấu, chăm chú nghe từng lời, từng nhịp phách và cách phát âm, phải rõ ràng không được nuốt chữ. Tôi rất hứng thú chú trọng đến lời nhạc lúc ca cho được đậm đà, để gây cảm giác cho người nghe. Và, chắc chắn tôi không quên những đêm văn nghệ khoan hoà, những ngày hồn nhiên tại Montréal lần thứ nhì này.

Tôi quay nhìn ngược lại thành phố, thành phố dần dần thu ngắn lại, đang xa dần trong đám sương mù tím úa, và cổng máy bay nhấp nhóa sáng lòe…Thầm thì tôi ngân lên bài ca hạnh phúc, trong niềm say mê thầm lặng, cùng tâm hồn tôi đến kiệt cùng, để san sẻ, để chia sớt những buồn vui trong đêm sâu. Mơ màng tôi thấy mình bay lên, bay mãi lên tít vòm trời. Còn gì nữa ngoài sự bồi hồi…

Bích Xuân

(Ghi chú: bài viết này đã được đăng trong Nguyệt San Nghệ Thuật, Montreal Canada năm 2001)

                     LỐI VỀ CHÂN MÂY - Ðỗ Bình


“Mưa Paris giọt buồn rơi thánh thót,
Cơn mây chiều giăng nỗi nhớ quê hương.
Thu đến sớm lá hôm qua vàng vọt,
Gió nửa khuya rụng vài chiếc bên đường!....”

(Mưa Paris)


Tôi thường nghĩ: « Một tác phẩm ở bất cứ một thể loại nào dù là văn học hay nghệ thuật giá trị đích thực không hẳn ở lời khen tiếng chê mà tùy thuộc vào tác phẩm có thực đi vào lòng người hay không. Tuy nhiên người đời vẫn lầm lẫn giữa tác phẩm và nhân cách tác giả ! Người nghệ sĩ và tác phẩm là hai thực thể tách rời nhau nhưng lại khắn khít, có chung một niềm bất hạnh chứa đầy rủi ro, đôi khi bị vùi dập vì ngộ nhận ! Tâm hồn nghệ sĩ rất phóng khoáng, bao dung, yêu thiên nhiên, yêu tha nhân, yêu cuộc đời cho dù đời muôn cay đắng! Người nghệ sĩ chân chính yêu nghệ thuật và yêu tự do như hơi thở mạng sống.”

Trong dòng lịch sử tân nhạc Việt Nam đã mấp mé gần thế kỷ khởi từ những nhạc sĩ đầu tiên như Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương, Hoàng Qúy… Những giai điệu quê hương mang tính lãng mạn trữ tình của dòng nhạc tiền chiến. Gió vi vu trên đồi, rừng xào xạc lá, những tiếng động va chạm phát ra trong thiên nhiên ; thoảng nghe chỉ là những tạp âm. Nhưng nếu tất cả những âm thanh đó hòa với nhau, phải chăng lại là bản giao hưởng tuyệt vời mà tạo hóa đã ban cho con người ? Hay phải đợi đến lúc xuất hiện người nghệ sĩ, nhờ sự rung động cảm xúc, đã biết vận dụng kỹ thuật, chắt lọc các âm thanh phối hợp thành một thứ nghệ thuật gọi là âm nhạc ?”.

Vòm trời văn nghệ vừa tắt một vì sao, nhạc sĩ Trịnh Hưng vừa giã biệt chúng ta !. Hương hồn nghệ sĩ ấy đã bỏ trần thế đi về miền miên viễn tìm cõi phiêu bồng trú ngụ. Hôm nay tôi xin dạo một khúc nhạc lòng, nén hương để tiễn người đi xa.

Trịnh Hưng sinh năm 1930 tại Hà Nội, nguyên quán Bắc Ninh, bố là một quan huyện, mẹ là thứ thiếp. Ông mồ côi mẹ lúc mới ba tuổi nên sống với một người bà con ở Hà Nội. Thuở thiếu thời cuộc sống của ông rất chật vật, ông có người bạn rất thân thuộc gia đình khá giả là Phạm Nghệ. Ông cho biết: “Phạm Nghệ mới có năng khiếu âm nhạc bẩm sinh nhất là phân biệt được những âm sắc của tiếng động ở những cường rất độ nhỏ.”. Hai người cùng đi kháng chiến lúc tuổi còn rất trẻ để thỏa chí làm trai, họ cùng chung trong đoàn văn công. Trong chiến khu ông được thụ huấn một lớp âm nhạc do Gs Tạ Phước giảng dạy. Sau nhiều năm dài tham gia kháng chiến, hai người đã cùng bỏ hàng ngũ về thành vào những thời gian khác nhau. Nhạc sĩ Phạm Nghệ di cư vào nam sau đó qua Pháp du học ngành âm nhạc và trở về trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn làm giáo sự thực thụ môn violon cho mãi dến 1975, ông cùng gia đình di tản qua Hoa Kỳ. Trịnh Hưng và Phạm Nghệ vẫn giữ tình bằng hữu nồng ấm như thủơ ban đầu và liên lạc thường xuyên với nhau. Do đó người có thể biết được Trịnh Hưng nhiều nhất ở Mỹ là giáo sư Phạm Nghệ.

Vì biết mình chỉ còn con đường âm nhạc để tiến thân, nhạc sĩ Trịnh Hưng ngoài ngón đàn Mandoline, Hawaii, ông đã học sáng tác và dành nhiều thì giờ tự tập thêm đàn Guitare trong cuốn Méthode de Guitare soạn bởi F. Carulli, được giáo sư Tạ Phước chép lại. Nhờ sự chăm chỉ tập luyện, ông có thể độc tấu Tây Ban Cầm cho bằng hữu thưởng lãm. Ðầu năm 1952 ông sáng tác bản đầu tay là: “Lối Về Xóm Nhỏ” theo điệu Fox. Ca từ trong thời đó hoàn toàn khác với ca từ và cấu trúc nhạc phổ biến sau này. Nhạc sĩ Trịnh Hưng đọc cho tôi ghi, có sự hiện diện con trai ông là cháu Trịnh Phước Ðạt và cháu gái của ông tên là Hoàng Thị Hương trong lúc ông ở bệnh viện, trước khi ông rơi vào hôn mê một ngày. Tôi không chép ca từ đó ra đây vì lý do: Ca từ sau đẹp hơn ca từ trước vì nó mang tính nghệ thuật, cấu trúc và thể điệu phong phú, mới hơn. Có thể nói nhạc sĩ Trịnh Hưng là một trong số những nhạc sĩ tiền chiến viết theo dòng nhạc ngũ cung, dân ca dân nhạc, và là một trong những người tiên phong đổi mới làn điệu dân ca qua các thể điệu Tây Phương như: Cha cha cha ( Lối Về Xóm Nhỏ), Mambo - Boléro ( Lúa Mùa Duyên Thắm, Trăng Soi Duyên Lành, Tình Thắm Duyên Quê, Tiếng Ca Dân Lành), Rumba ( Miền Nam Mưa Nắng Hai Mùa).

Trong thời gian ở vùng chiến khu miền Thanh Hóa, nhạc sĩ Trịnh Hưng ở chung với gia đình ông bà Lê Khải Trạch và nhận ông bà Lê Khải Trạch là anh chị nuôi. Cũng chính ở đây ông gần gũi và thân với nhà thơ Quang Dũng, vì nhà thơ Quang Dũng là bạn thân với ông bà Lê Khải Trạch. Lúc trước ông đã từng gặp gỡ nhà thơ Quang Dũng và nhà thơ Hữu Loan, nhưng vị thế của ông và hai người khác nhau nên chưa có sự giao tình đậm đà. Nhạc sĩ Trịnh Hưng cho biết: “Nhà thơ Quang Dũng rất đẹp trai và đa tài. Ông cũng như nhạc sĩ Văn Cao nhà thơ Quang Dũng biết Cầm, Kỳ, Thi, Họa, ngâm thơ và hát rất hay”. Ông thường độc tấu đàn cho nhà thơ Quang Dũng nghe, cũng vì thế ông trở thành em kết nghĩa của nhà thơ Quang Dũng. Và cũng từ điểm này ông cũng trở thành em kết nghiã với ông Trần Chánh Thành (thời đệ nhất Cộng Hòa giữ chức Bộ trưởng Thông tin), ông Trần Chánh Thành là bạn thân của vợ chồng ông bà Lê Khải Trạch. Những người này đang chuẩn bị để trở về thành.Trên đường về thành phải qua những trạm kiểm soát của công an Việt Minh, để tránh bị phiền nhiễu, bà Nguyễn Thị Chi vợ của ông Lê Khải Trạch (từng đảm nhận chức Ðổng lý văn phòng bộ trưởng bộ Xã Hội, Lao Ðộng thời đệ nhất Cộng Hòa), đã nhận Trịnh Hưng là em ruột, từ đó Trịnh Hưng đổi thành Nguyễn Văn Hưng. Nhạc sĩ Trịnh Hưng cho biết ông cùng các anh chị về thành năm 1952. Về Hà Nội nhạc sĩ Trịnh Hưng đi đánh đàn trong các phòng trà dancing cho lính Tây khiêu vũ một thời gian ngắn, và dạy thêm đàn Hawai cho một số em học sinh. Sau đó ông vào Sài Gòn muốn tiếp tục đàn cho các phòng trà Dancinq nên đã đến gặp ông bầu quản lý các ban nhạc các phòng trà là nhạc sĩ Trần văn Lý, một danh thủ piano, accordéon và cũng là nhạc trưởng của dancinq Kim Sơn, các phòng trà và đài Sài Gòn. Nhưng vì các nơi đó đã có đủ nhạc sĩ, nên ông chỉ được mướn chơi đàn thế những lúc các nhạc sĩ bị bệnh hay vì một lý do nào đó vắng mặt. Trong sự bấp bênh đó, may thay có người giới thiệu ông đến khu Hồ Văn Ngà, một khu vực bán đàn và dụng cụ âm nhạc thời bấy giờ. Vì thấy ông chơi đàn giỏi, người chủ mưới ông ngay và còn cho ông mở lớp nhạc tại đó nhằm mục đích câu khách. Cách tiệm bán đàn của ông không xa có hai lớp dạy nhạc của hai danh sư là nhạc sĩ Lâm Tuyền và nhạc sĩ Trọng Khương. Thời cuối thập niên năm mươi nền âm nhạc Tây Phương đang thịnh trong giới thượng lưu trí thức Sài Gòn, những nhạc sĩ chơi đàn guitare giỏi như Lâm Tuyền, Trọng Khương, Trịnh Hưng không nhiều lắm. Nhạc sĩ Trịnh Hưng nhờ lớp nhạc mà trở nên khá giả, đời sống trở nên phong lưu, tiền bạc dư giả, quan hệ bạn hữu càng rộng rãi, ông lập gia đình 1955. Cuối năm 1956 nhạc sĩ Trịnh Hưng dời lớp nhạc về số 9/1 Cao Thắng, và ở đó đến ngày ông qua định cư bên Pháp. Ở lớp dạy nhạc Cao Thắng ông dạy đủ thứ: đàn Mandoline, Hawai, Guitare, và Luyện thanh, nhưng chỉ có môn guitare là sở trường của ông. Có rất nhiều nghệ sĩ sau này thành danh đã từng đến học ông, hoặc nhờ ông chỉ dẫn hoặc nhờ sự đỡ đầu của ông trên lãnh vực âm nhạc. Những ca sĩ đã từng học ông: Ánh Tuyết, Thanh Thúy, Bạch Yến, Túy Hồng.. và các nhạc sĩ như: Trúc Phương, Phạm Thế Mỹ, Ðỗ Lễ...vv.. Riêng cặp nghệ sĩ Ngọc Cẩm Nguyễn Hữu Thiết chỉ mượn chỗ của ông để luyện thanh và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa mượn chỗ của ông để dạy sáo. Nhạc sĩ Trịnh Hưng gặp nhạc sĩ Trúc Phương vào cuốn năm 1967, lúc đó nhạc sĩ Trúc Phương đang dạy kèm nhạc cho một cô con gái của một nhà xuất cảng tại Sài Gòn. Qua hình nốt và giai điệu, mối duyên âm nhạc đã nảy sinh chuyện tình giũa người nhạc sĩ nghèo và người con gái nhà giàu. Vì mối tình trắc trở đó, nhạc sĩ Trúc Phương đã viết ca khúc Lỡ Chuyến Ðò, và muốn tung nhạc Phẩm: Lỡ Chuyến Ðò của mình ra thị trường, nên Trúc Phương đã đến nhờ nhạc sĩ Trịnh Hưng đỡ đầu lancer. Trong giao tình nhạc sĩ Trúc Phương đã học thêm về kỹ thuật sáng tác của Trịnh Hưng, và hai người đã viết chung ca khúc: “Tình Thắm Duyên Quê ”.

Thời kỳ ở chung với ông bà Lê Khải Trạch, Trịnh Hưng đã thầm trộm yêu cô con gái ông bà Lê Khải Trạch là cô Lê Thị Bích Liên. Người thiếu nữ mới chớm tuổi trăng tròn cũng thầm mê tiếng nhạc của chàng nhạc sĩ nghèo. Mối tình đầu thơ ngây, trong sáng tưởng sẽ thăng hoa, nhưng ai ngờ mối tình đầu đời gặp đầy oan trái! Cuộc tình chỉ kéo dài chưa đến một năm thì tan vỡ vào cuối năm 1954! Nhưng nợ tình còn vương vấn mãi đến ngày trước khi bị hôn mê, nhạc sĩ Trịnh Hưng vẫn còn nhắc tên người tình xưa! Ôi chữ tình!
Nhạc sĩ Trịnh Hưng ôm mối tình sầu buông lời ai oán. Ca từ ray rức than thở tiếc nuối :

“Buồn trông mây tím giăng ngang trời,
Chiều thu như chết trong lòng tôi.
Ðêm nào em khẽ nói bên tôi,
Đây tình yêu trong trắng trao tôi
Em thề yêu chỉ anh mà thôi.
Lời xưa âu yếm nay đâu rồi?
Thoáng như cơn gió đưa bèo trôi.
Ai ngờ câu chót lưỡi đầu môi,
Đem tình yêu gian dối trao tôi,
Cho lòng tôi mang mãi hận đời !
Thôi tình lỡ rồi mà hình bóng người còn như mãi trong lòng tôi.
Duyên tình lỡ làng đành nhớ tiếng đàn
Tìm trong quên lãng theo thời gian!
Ðàn tôi đã đứt giây tơ rồi.
Mình tôi cam sống trong lẻ loi.
Ai làm cho đôi lúa đôi nơi,
Cho lòng ta đau xót khôn nguôi
Mong thời gian xóa đi hận đời.”

Trịnh Hưng trách ông tơ bà nguyệt không se duyên, hay trách nghịch cảnh? Vì trên danh nghĩa ông là cậu của người đẹp Bích Liên. Gia đình của ông Lê Khải Trạch là một gia đình danh tiếng và đầy thế lực lúc bấy giờ, do đó dư luận nào cho phép! Nhạc sĩ Trịnh Hưng đành chôn chặt khối tình si trong lòng, và từ nỗi đau đó nhạc sĩ đã viết được một ca khúc tuyệt đẹp, giai điệu lãng mạn, cấu trúc cầu kỳ, ca từ đãi lọc qua thể điệu Tango. Ðây là một bài độc nhất trong đời nhạc sĩ Trịnh Hưng viết về “tình yêu đôi lứa”, một ca khúc ngoài chủ đề quê Hương. Nhạc sĩ Trịnh Hưng mê người đẹp Bích Liên lắm, bằng chứng ông vẫn để tấm hình cỡ trung của người thiếu nữ rất dệp này trên đầu giường. Ông nói:

“Tấm ảnh đó đã theo ông hơn nửa thế kỷ và lúc nào cũng để đầu giường”.

Tôi có hỏi ông:

“ Tại sao anh không viết thêm những bài trữ tình như thế nữa?”

Ông trả lời:

“ Nàng đã mang hết tình yêu của tôi đi rồi, còn yêu gì nữa mà viết!”

Tôi hỏi tiếp:

“Ngày trước tôi không được nghe bài này, anh có lancer trên đài không?”

Trịnh Hưng cười nói:

“ Có chứ ! Tôi bỏ tiền ra lancer nài lần trên đài phát thanh Sài gòn nhưng không gây được ấn tượng thính giả, nên dẹp luôn!”

Tôi im lặng, một thoáng suy tưởng về dòng nhạc Tango lãng mạn, vào thời điểm đó những nhạc sĩ viết thể điệu Tango tuyệt vời là Hoàng Trọng, Dương Thiệu Tước, Ngọc Bích và Trần Hoàn thì bài “Tìm Quên” của Trịnh Hưng bị chìm là lẽ đương nhiên! Hơn nữa những ca khúc ca ngợi tình quê hương đang được chính quyền thời đó khuyến khích, thì những bản nhạc chỉ đề cao tình cảm trái ngang đôi lứa ít được phổ biến, nhạc tình chỉ dành cho số ít người hâm mộ.

Hôm vào thăm nhạc sĩ Trịnh Hưng lúc ông còn tnh; tôi có đề cập đến bài “Tìm Quên” và định hỏi những ca sĩ nào hát bài đó. Nhưng ông say sưa kể chuyện đời và về những văn nghệ sĩ khác. Lòng tôi xa xót vì biết đây là những lời cuối của một kể sắp ra đi, do đó tôi thôi không hỏi và im lặng nghe ông nói.

Cũng như bao gia đình khác ở miền nam, tháng tư năm 1975 là một biến cố lớn trong đời nhạc sĩ Trịnh Hưng. Mấy người anh kết nghĩa trong chiến khu: nhà thơ Quang Dũng thì bị tước đoạt đi ngòi bút sau vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, đời sống bị dập vùi tối tăm không biết trôi dạt đi đâu! Còn ông anh rể (trên giấy tờ) là ông Lê Khải trạch bị VC bắt đi mất tích ngay sau ngày 30 tháng tư năm 1975, và người anh kết nghĩa thứ ba là ông Trần Chành Thành thì tự tiết khi VC vào chiếm Sài Gòn. Những chỗ dựa tinh thần của nhạc sĩ Trịnh Hưng bị hụt hẫng, mất hút. Bằng hữu văn nghệ thì tản mạt khắp phương trời. Kể từ đó ông đâm ra cô đơn, chán đời! Ông đã từng sống với Việt Minh nên hiểu rõ bộ mặt CS, ông biết cách thu mình, điếu đóm với công an khu vực cho qua ngày. Sau này ông tâm sự với tôi:

“ Khi CS vào chiếm miền nam, tất cả anh em đều đi tù; mà tôi vẫn mở lớp dạy nhạc; dù rằng những bài nhạc thực tập là những bài nhạc vàng, được xếp loại văn hóa đồi trụy... nhưng tôi vẫn cảm thấy hổ thẹn vì mình không được đi tù, nghĩa là không được xếp loại thành phần Nguy hiểm, Trí thức Văn Nghệ sĩ!”

Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng chợt hiểu cái tính ngông thời đại của kẻ sĩ.

Sau năm 1975 ngọn lửa bạo lực đã thiêu rụi mạch sống của vườn hoa văn nghệ miền Nam. Biết bao văn gnghệ sĩ tinh hoa của đất nước bị tước đoạt ngòi bút, không những thế còn bị đầy ải cầm tù trong chiến dịch X2, mệnh danh « chiến dịch đánh văn nghệ sĩ phản động » như : Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ðồng, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Hoàng Anh Tuấn, Hồ Nam, Họa sĩ Chóe, Họa sĩ Ðằng Giao, Sơn Ðìền Nguyễn Viết Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Minh Ðăng Khánh, Lê Văn Vũ Bác Tiến, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Như Phong Lê Văn Tiến, Mạc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Thái Dương, Trần Việt Sơn, Lý Ðại Nguyên, Trịnh Viết Thành, Cao Sơn, Trịnh Hưng, Nguyễn Khánh Giư, Ngô Công Minh, Ðậu Phi Lục, Võ Xuân Ðình, Anh Quân, Nguyễn Văn Minh (Minh Vồ), Ninh Chữ, Uyên Thao ..vv..

Những người đã chết trong tù: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Hiếu Chân, Ngọc Thứ Lang, Dương Hùng Cường, Minh Vồ, Thục Vũ, Minh Kỳ, Hồ Ðình Phương, Minh Ðăng Khánh..

Hoặc những người được thả ra về nhà chết: Vũ Hoàng Chương, Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Trần Việt Sơn… Bạo lực có thể cướp đi mạng sống của con người, nhưng vẫn không thể nào hủy diệt được tâm hồn nghệ sĩ chân chính và những người yêu tự do. Nhạc sĩ Trịnh Hưng ôm cái thẹn của kẻ sĩ, vì những người trên đều là bằng hữu của ông. Ðến khi người con trai ông bị công anh đánh chết vì tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, không chịu sang Campuchia. Thế là ngọn lửa căm thù có dịp bùng phát. Nhạc sĩ Trịnh Hưng chỉ trong 15 phút viết xong nhạc phẩm: “Ta Quyết Tâm Ðập Tan Lũ Giặc Hồ”. Gần 50 năm kể từ bài nhạc đầu tay, và hơn mười mấy năm sau bài: “Hoan Hô ngày 26 tháng Mười ” ra đời năm 1962 ca ngợi tổng thống Ngô Ðình Diệm, bài nhạc được bộ thông tin mua 70 ngàn đồng, số tiền quá lớn ở thời điểm ấy. Do những uẩn ức trong lòng đã giúp ô nguồn cảm hứng viết lại dòng nhạc mạnh. Và cũng chính bài nhạc này xúyt tí nữa ông đã bỏ đời trong sà lim! Số phận một tác phẩm chìm nổi tùy theo tác động của xã hội. Nhưng tác giả vẫn là kẻ bị vùi dập bởi bạo quyền khi dám lên tiếng tố giác những bất công, cường bạo của xã hội!

Tôi hỏi ông: “Làm sao công an biết mà đến bắt anh?”

Ông đanh mặt lại như còn hậm hực:

“ Chúng nó để ý tôi lâu rồi! Chúng rình, quyết bắt tôi về tội nhạc vàng, nhưng cứ mỗi lần chúng xông vào tôi cho học trò đàn những bài nhạc Liên Sô.”

Ông kể tiếp:

“Hôm đó cũng như những lần trước, học trò tôi đang đàn, công an ập vào xét nhà chúng lục một hồi thấy những bộ nhạc tuyển hàng trăm bài của các bạn bè nhạc sĩ tặng, tôi rất qúy nên đóng thành tập bìa mạ vàng thật đẹp, và cất dấu nó rất kỹ. Khi chúng lục lọi và tìm thấy, chúng mừng quá vì đã tìm ra chứng cớ buộc tội tôi chứa văn hóa đồi trụy. Chúng lập biên bản và xét người tôi, lòi ra bài "Ta Ðập Tan Lũ Giặc Hồ". Tên công an chỉ đáng tuổi con tôi, nó hét ầm lên chửi, và xỉ vả tôi thậm tệ. Tôi rất an nhiên, có lẽ đó là lần đầu tiên trong đời tôi giữ được sự bình thản như thế!”

Viên chỉ huy công an hỏi:

“Ông chứa chấp đồ phản động, lại còn viết nhạc kêu gọi lật đổ chính quyền, ông không sợ tù hả?”

Nhạc sĩ Trịnh Hưng điềm tĩnh trả lời:

“ Tôi chờ nó từ lâu, các ông đến hơi muộn.”

Viên công an giận dữ lên đánh báng súng trượt qua mặt ông. Trịnh Hưng nói:

“ Nó hù tôi chứ cái báng súng đó vào đầu là chết ngay!”

Trong số những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Hưng viết trước năm 1975 về quê hương; ông thích nhất bài “Tôi Yêu” sáng tác năm 1954, vì nó là sự hoài niệm nhớ quê hương xứ Bắc . Những hình ảnh lũy tre, con sông, bến đình, chợ làng quê... Ông mang thêm hình ảnh nhịp cầu tre miền nam đem nhập vào toàn cảnh để có một bức tranh quê sống động. Trong cấu trúc nhạc. Bài “Tôi Yêu” được viết theo cung ré trưởng vui tươi, hành âm vừa phải và theo nhịp 2/2 hay (C chẻ ), hợp với tiết tấu, giai điệu và ca từ. Ðiểm đặc biệt trong bài này ông đã dùng quảng 9, (vàng bến đình....yêu trăng buông lơi) Từ nốt Là lên nốt Si thường gặp ở nhạc không lời hay nhạc ngoại quốc. Ở thời điểm đó ít có nhạc sĩ miền Nam viết. Vì ngôn ngữ Việt đơn âm, chọn lựa một ca từ nghe hợp êm tai rất khó, nhạc sĩ Trịnh Hưng đã thành công ở sự chọn ca từ bài này. Nhạc sĩ Trịnh Hưng kể cho tôi nghe: Khi viết xong bài nhạc Trịnh Hưng có khoe với vài người bạn nhạc sĩ, tất cả đều chê viết như thế là không đúng, và khuyên ông nên sửa lại. Ông tự ái và nhất quyết tung ra thị trường và đã thành công, được mọi người yêu thích mãi đến hôm nay.. Do đó trước lúc giã từ cuộc đời, tôi hỏi ông: “Bài nhạc nào ông thích nhất ?”

Ông trả lời: “Bài Tôi yêu.”.

Tôi hỏi tiếp:

“Anh phục nhạc sĩ nào nhất, tại sao?”

Trịnh Hưng trả lời:

“ Nhạc sĩ Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Y Vân, Văn Phụng, Trúc Phương, Phạm Duy.... Riêng Trịnh Công Sơn có tài và may mắn gặp thời. Những nhạc sĩ tôi kể trên là vì họ sáng tác bài nào cũng trên trung bình. Ðó là một điều rất khó trong sự nghiệp sáng tác của đời nghệ sĩ. Anh Phạm Duy thì rất có tài và có nhiều bài hay nhưng cũng lắm bài dở, và anh ấy có có lắm tật!!”. Nhạc sĩ Trịnh Hưng không dám đụng tới những nhạc sĩ tiền chiến, anh rất tôn trọng họ. Thật ra trong làng âm nhạc miền nam, nhất là sau thập niên năm mươi xuất hiện nhiều nhạc sĩ có tài nhưng theo khuynh hướng nhạc tình lãng mạn, bán cổ điển, có phong cách thính phòng, hay nhạc thời trang ca ngợi tình quê hương, tình đôi lứa trong thời chiến, và nhạc trẻ. Tôi biết anh Trịnh Hưng không chuyên về loại nhạc đó nên không nhắc tới những người viết. Tôi hỏi tiếp:

“Trong số các văn nghệ sĩ từ thời tiền chiến đến nay anh phục ai nhất? Tại sao?

Nhạc sĩ Trịnh Hưng trả lời:

“ Về phía nhạc tôi phục nhất là nhạc sĩ Lê Thương, và văn thơ tôi phục nhất nhà thơ Quang Dũng; Vì hai ông đều là người có đức độ, đứng đắn, đôn hậu, cư xử tế, biết thương anh em.”

À, thì ra nhạc sĩ Trịnh Hưng trọng đức hơn tài! Lòng tôi bỗng hoan hỷ vì không nhận xét lầm Trịnh Hưng. Cho đến lúc tàn hơi cuối đời của ông, những tấm lòng tốt vẫn là những hình ảnh ngự trị trong tâm não, chiếm hữu tình cảm của ông.

Trịnh Hưng tính tình hiền hòa nhưng hay cục, ông ăn nói bộc trực nghĩ sao nói vậy. Nhiều lúc ông phát ngôn người nghe đến ngượng tai! Ông rất ghét những người đạo đức giả, nhưng lại rất kính trọng những người đạo đức. Ông thường ví von nói với những người chung quanh khi nhận nhật xét đạo đức người nào đó:

“Con ruồi đực bay ngang không những ông phân biệt được đâu là con ruồi đực, đâu là con ruồi cái, mà còn nhận biết cả con ruồi lại cái nữa!” .

Bằng hữu nghe cười, hiểu tính khôi hài của ông. Riêng ông chỉ muốn góp mặt, làm cười cho mọi người vui nên thích kể chuyện tiếu lâm, nhất là những câu chuyện tiếu lâm dân gian châm biếm chế độ CS. Ông rất có duyên kể chuyện, mọi người nghe đều cười ồ, và có những tiếng cười kéo dài nắc nẻ. Nhưng chuyện tiếu lâm dù có hay thì cũng chỉ nghe một lần, và bằng hữu không muốn ông kể lại ở những lần khác, nhất là các bà! Nhìn anh thở dốc tôi nén xúc động hỏi: “Trong đời anh thích nhất cái gì?” Nhạc sĩ Trịnh Hưng mở to đôi mắt vung tay nói lớn: “Tôi thích Tự Do!” Tôi và anh đồng cười lớn cảm nhau qua câu nói.

Nhạc sĩ Trịnh Hưng dáng người nhỏ bé, gầy gò, đôi má nhăn nheo xếp thành vết nứt như mùa hạn hán, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời, lấp loáng ánh tinh ranh. Ai vì vô tình chạm đến ông người đó khó được ông bỏ qua, đôi khi quá mạnh tay! Bằng hữu chơi với ông thường họ không chấp nhặt ông chuyện này, mà thường qúy ông ở những nhạc phẩm mà ông đã cống hiến cho đời, qua đó người ta tìm lại hững kỷ niệm thuở thiếu thời, vì đã từng ca hát nhạc của ông.. Nhiều năm sau này ông luôn đội chiếc mũ feutre nỉ, phong cách của các công tử đất Hà thành năm xưa, ông còn chống cây gậy. Thật ra ông thích có chút hình ảnh nhạc sĩ Văn Cao lúc xế chiều.

Tôi qúy Trịnh Hưng không chỉ về lãnh vực âm nhạc, mà còn qúy ở tấm lòng của anh biết chia sẻ với bằng hữu, nhất là bạn văn nghệ. Trịnh Hưng và tôi quen với một cặp vợ chồng hành nghề y, cả hai thích ca hát hơn đến phòng mạch làm giầu. Trong một buổi họp mặt thân hữu, bà kể cuối tuần qua, bà đi chợ ở khu Á Châu Paris 13. Bà đứng xếp hàng đằng sau bị che khuất, thoáng thấy một ông cụ già đứng xếp hàng phía trước khá lâu chỉ để mua một gói mì. Khi cụ già quay mặt lại bà bạn mới nhận ra là nhạc sĩ Trịnh Hưng. Bà thấy xót xa quá gọi lớn tên anh, cả dãy người mới biết đây là người nhạc sĩ danh tiếng một thời. Trịnh Hưng cười chào, rồi lững thững chống gậy bước đi. Tôi nghe bà bạn cho biết nên vội vã ghé thăm anh. Vì đến bất chợt không báo trước, phòng của anh thì không bao giờ khóa. Tôi thường bảo anh nên khóa của. Anh nói: “Có cái gì đâu mà mất, ít cuốn sách, dăm tờ báo bằng hữu gởi tặng ai mà thèm đọc mà lấy . Chỉ có mình mới yêu nó, trân trọng nó thôi, chứ của lả gì thứ đó!” Tôi hết ý kiến!

Thấy tôi bước vào, nét mặt anh Trịnh Hưng tươi lên. Tôi thấy anh ngồi co rúm trên giường, đèn phòng không mở, ánh sáng lờ mờ trông anh thật bệnh hoạn!

Tôi hỏi: “Anh ốm hả?”

Trịnh Hưng cười rói lên:

“ Ốm cái gì..., ốm đàn bà thì ốm!”

Chúng tôi kéo nhau ra khu Á Châu quận 13 ăn và bù khú. Tôi không nhắc đến chuyện anh mua gói mì vì sợ anh tự ái. Tôi hiểu con người Trịnh Hưng đầy rẫy mặc cảm tự tôn cũng như tự ti. Anh chỉ hỏi xin những người anh thật thân và quý. Anh nghĩ nhận của bạn là nhận sự chia xẻ, người đó không phải cho anh mà chia xẻ với anh. Hiểu điều này nên tôi đã vận động bằng hữu văn nghệ đến thăm. Rất nhiều người trong giỏi trí thức văn nghệ sĩ thường đến thăm hỏi, giúp đỡ anh. Anh có mấy người con đều khá giả, có chồng Pháp cuộc sống trung lưu ở xã hội Pháp hiện nay. Ðám con anh rất thương anh, muốn giúp đỡ anh nhưng lại sợ tính bất thường của bố! Những tặng phẩm, quà biếu anh không chê, nhưng thái độ biếu phải chân thành, nếu không lộ chân tình anh sẽ thẳng thắn từ chối và còn mắng người cho. Nhiều bằng hữu than với tôi: “Ông Trịnh Hưng...nghèo mà làm phách! Chẳng hiểu anh làm cách nào mà chịu nổi ông?!” Thật ra chẳng có bí quyết gì ngoài tình thương! Tôi kiếm lời giải thích.

Có lần nhà báo Trần Văn Ngà ở Mỹ sang thăm Paris, tôi dẫn anh Ngà và nhà báo Dương Văn Lợi đến thăm anh tại trung tâm dưỡng lão, gặp con gái của anh là cô H. Trinh đang chăm sóc cho bố. Cháu H. Trinh muốn mời chúng tôi đến dùng cơm tại nhà cô. Anh Trịnh Hưng nhìn tôi như muốn tôi nhận lời. Thế là hôm sau chúng tôi hẹn nhau cùng anh Trịnh Hưng đến nhà con gái anh dùng cơm trưa. Nhà con anh ở một khu khá sang ở Paris, chiếm nguyên một dãy, nghĩa là quá nhiều phòng thừa. Trong nhà trang trí những thứ đắt tiền. Ăn xong, chúng tôi từ giã gia chủ để về. Anh Trịnh Hưng kêu to lên:

“ Các anh chờ tôi về chung với.”

Chúng tôi ngạc nhiên. Tôi hỏi:

“ Nhà con anh đẹp quá sao không ở chơi lâu một chút?”

Trịnh Hưng trả lời:

“ Về nhà mình tuy nghèo nhưng được tự do hơn. Tính tôi thích bừa bãi, lại lơ đãng, nhỡ mình lỡ tay đụng bễ đồ của nó thì phiền! Con mình thì không sao, chứ thằng chồng Pháp của nó nếu có nặng nhẹ thì gia đình mất vui đi. Ai mà mang lại phiền hà đến hạnh phúc của con.”

Tôi nghe anh tâm sự mà thấy thương anh, tấm lòng của người cha đối với con thật cao cả, nhưng con anh nào biết.! Chúng cứ ngỡ bố chúng khó, con mời về nhà mà chê!

Nước Pháp không giầu bằng nước Mỹ, nhưng vấn đề an sinh xã hội và bảo hiểm y tế thì rất tốt, nhất là đối với trẻ em và người già. Anh Trịnh Hưng ở trong khu dưỡng lão vùng Créteil, cách khu chợ Á Châu quận 13 chừng 10 phút xe. Ðó là một trung tâm tốt và đắt tiền nhưng chính phủ trả hết. Trước năm 2000 tôi xuống Lyon sinh hoạt văn hóa, thấy hoàn cảnh của anh Trịnh Hưng, về Paris tôi nhờ chị bạn là điêu khắc gia Vương Thu Thủy có chồng làm công chức tại tòa thị chính Créteil. Nhờ sự giúp đỡ đó anh Trịnh Hưng mới vào được trung tâm dưỡng lão gần Paris. Số tiền già hàng tháng của chính phủ trợ cấp cho anh Trịnh Hưng đủ sống, ngang với tiền hưu trí của một người làm vìệc lương căn bản dưới 30 năm trên xứ pháp. Ðối với lối ăn xài của người Việt là dư chút đỉnh. Tôi ngạc nhiên vẫn thấy anh Trịnh Hưng vẫn cần kiệm kham khổ. Ở chỗ thân tình anh không dấu tôi. Ðể anh có thể tham gia sinh hoạt văn hóa và chung vui với bằng hữu tôi giúp anh những khoảng đóng góp. Anh yên tâm tham dự. Tôi biết anh Trịnh Hưng thường bớt phần ăn của mình để gởi tiền về giúp những bạn tù còn ở quê nhà. Do đó tôi đã chia xẻ cùng anh. Anh tâm sự với tôi ao ước về quê hương thăm mộ của mẹ anh mà hơn 70 năm anh chưa lần viếng, và cũng chẳng biết phần mộ ở đâu! Hơn nửa năm dành dụm, anh đã có đủ tiền vé máy bay, nhưng tiền chi tiêu và biếu bạn thì quả là nan giải! Anh không muốn xin các con, tôi hiểu nên kêu gọi vài người bạn văn nghệ giúp anh, trong đó có nhà thơ Kim Vũ ờ San Jose, vợ chồng nhà thơ Tina, Lê Trọng Nghĩa ở Sacramento, nhà văn Trần Ðại Sỹ ở Paris giúp anh một số thuốc đem về bán và tôi giúp anh chia xẻ với một số ít văn nghệ sĩ, và chọn vài người trong nhân văn giai phẩm mà tôi chưa biết mặt nhưng rất ngưỡng mộ. Anh Trịnh Hưng nhận lời vì họ đều là bạn anh. Tôi lo lắng sợ nhạc sĩ Trịnh Hưng về VN sẽ gặp nhiều rắc rối, vì những bài viết tố cộng của anh đăng tải trên khắp các báo ở Hải ngoại. Và việc anh về thăm các nhà thơ bị trù dập trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, dù phát xuất từ tấm lòng trong tình người, không một ý nào khác, nhưng tôi vẫn sợ những con người trong xã hội CS đa nghi, họ có thể giữ anh Trịnh Hưng, hay mượn cớ nhốt anh ấy lương tâm tôi sẽ không yên ổn được! Và nhạc sĩ đã làm cuộc hành trình về quê hương. Về đến Hà Nội Trịnh Hưng hỏi thăm nhiều nơi về địa chỉ nhà thơ Quang Dũng, nhà thơ Hữu Loan, nhà thơ Hoàng Cầm, nhưng chẳng một ai biết! Lần mò mãi ông cũng đã tìm được gia đình của nhà thơ Quang Dũng và nhà thơ Hữu Loan. Rất khó khăn và vất vả ông lặn lội xuống tận Thanh Hóa, thuê xe ôm tìm nhà của nhà thơ Hữu Loan cách thành phố mấy chục cây số. Và cuối cùng nhạc sĩ Trịnh Hưng cũng gặp được nhà thơ Hữu Loan. Sau khi về Paris anh đã viết lại cuộc hội ngộ đó.
Tôi xin trích một đoạn đối thoại giữa anh và nhà thơ Hữu Loan:

Nhà thơ Hữu loan kể:

“...Sau khi hoàn thành việc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, bọn họ phát động phong trào đấu tố toàn tỉnh Thanh Hóa. Từ thành phố đến huyện xuống tới xã thôn, nơi nào cũng có cán bộ đến giải thích kích động hô hào. Biểu ngữ căng đầy đường. Ngày đêm, họ tụ họp các thanh niên nam nữ, thiếu niên, nhi đồng, đi thành từng đoàn, hô to những khẩu hiệu được học thuộc “Hãy giết sạch lũ địa chủ cường hào ác bá!” “Đào tận gốc, trốc tận rễ!" "Cường hào ác bá ra tro!"... Khắp chốn, các đội cán bộ đến lôi dân chúng ra tuyên truyền nhồi sọ những lời vu oan giá họa dùng để áp đặt lên những người bị đem ra đấu tố. Dân chúng kinh hoảng khi thấy đội cán bộ vào làng để học tập việc đấu tố. Quyền hành sinh sát trong tay họ. Dân chúng sợ quá nói với nhau “Nhất Đội, nhì Trời”! Đội gieo tang tóc, máu đổ thịt rơi, gây kinh hoàng, làm cho từng người dân đêm nằm ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo có người trong đội hoặc du kích rình rập bên ngoài nghe trộm.

Nhà thơ Hữu Loan ngừng nói, nhấp vài hớp trà, rồi nhìn tôi đăm đăm, kể tiếp:

- Lúc đó, anh còn là chính trị viên tiểu đoàn. Anh thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Hơn nữa, mình là người có học, hiểu biết luân thường đạo lý, lại có tâm hồn nghệ sĩ, nên anh cảm thấy chán nản quá và không còn kính trọng già Hồ cũng như chủ nghĩa cộng sản nữa. Tuy nhiên, anh đã trót làm đảng viên được mấy năm rồi. Thú thật với chú, lúc đó anh thất vọng vô cùng!

Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa anh ở độ mười lăm cây số, có một gia đình địa chủ rất giầu nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Ông địa chủ giầu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội sư đoàn 301 của anh thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ bộ đội. Anh là Trưởng Phòng Tuyên Huấn và Chính Trị nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông ta, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Riêng anh rất quý mến và luôn luôn nhớ đến ông.

Thế rồi một hôm anh nghe tin gia đình ông địa chủ ấy bị đội đấu tố mang cả hai vợ chồng ra cho dân đấu tố, sỉ vả, nhục mạ, rồi chôn xuống đất để hở có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ xấu số chỉ còn có một cô con gái mười bảy tuổi được tha chết nhưng bị đội đấu tố đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo. Dã man hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm dân chúng cả việc lấy các con cái của địa chủ làm vợ làm chồng.

Anh Hữu Loan chớp chớp đôi mắt nhăn nheo có hai vành mi ướt đỏ đượm mầu thương cảm. Anh mím miệng, nuốt nước bọt cho bớt nghẹn cổ, rồi kể tiếp:

- Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đình ông bà địa chủ mà anh hằng nhớ ơn, anh trở về xã đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, vì trước kia anh cũng biết mặt cô ta. Lúc gần tới nơi, may sao anh gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc, đang lom khom tìm lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Anh quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra. Anh lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao. Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai còn sống hay sẽ chết vì đói khát!

Anh nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong lòng vô cùng xúc động. Anh bèn đem cô ta về quê của anh, rồi bất chấp lệnh cấm, anh đã lấy cô ta làm vợ. Cho đến ngày nay, bà ấy đã cho anh mười người con ngoan. Khi xưa, quê anh nghèo, nhà anh cũng nghèo, anh lại còn ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no.

Sau khi lấy vợ, anh trở lại đơn vị làm đơn xin bỏ ngũ và trả lại thẻ đảng, rồi về quê luôn không chờ cấp trên có chấp thuận cho anh giải ngũ hay không. Được một năm, vợ anh sinh cho anh một cháu trai rất kháu khỉnh.”

Như một vì sao băng,băng mãi. Vệt sáng vạch đêm đêm làm ngọn nền đưa ông vào cõi vô tận. Ở đó không có tranh đua, hận thù và phiền não. Và cũng chẳng cần những nốt nhạc ru đời và ru mình. Hồn sẽ an nhiên.

Tiễn bạn một vần thơ cũ:

“ Ngủ đi anh thế là xong một kiếp,
Cõi đời này ô trọc, nghĩa gì đâu!
Xuôi bàn tay hồn thênh thang giấc điệp,
Về phương xa chắc giải hết nỗi sầu."


Paris 29052008
Ðỗ Bình


Tài liệu tham khảo:

1. Các websites: www.dactrung.net, www.khanhly.net/phoxua/, www.dienhong.info,
http://nhac-viet-dominique.over-blog.com/
2. Bài viết của Lê Dinh, Bích Xuân, Lê Mộng Nguyên, Thanh Trang, Cao Nguyên, Minh Hồ & Minh Hồ Đào, Lê Trọng Nguyễn Thị Nga, Phương Oanh, Đỗ Bình ...
3. Chương trình phát thanh Âm Nhạc Cuối Tuần của Thy Nga, Đài Radio Free Asiia

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com