arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow NHỚ XUÂN XƯA - NHẠC SĨ NGUYỄN TÚC - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
NHỚ XUÂN XƯA - NHẠC SĨ NGUYỄN TÚC - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

Ngược dòng thời gian ... Vào thập niên 60, chị Minh tôi có thân với một cô bạn cùng lớp tên Minh Thư. Cô ta ở mãi bên "Nhà Thờ Ba Chuông" nhưng không hiểu sao lại phải đi học ở Trường Nguyễn Bá Tòng, bên cạnh Nhà Thờ Huyện Sĩ, cách nhà của Bố Mẹ tôi mươi phút. Hầu như ngày nào Minh Thư cũng ghé chuyện trò với chị tôi trước khi hai người cắp sách đến trường nên tôi thân và xem Minh Thư như là người trong gia đình. Lúc vào trung học đệ nhị cấp tôi mê đàn ca thì biết Minh Thư cũng thích hát hò, có lẽ ảnh hưởng từ bố là Nhạc Sĩ Nguyễn Túc! Thuở ấy, khi ghé chơi thì thấy trong nhà Minh Thư nhiều nhạc cụ như đàn và kèn; được biết một số anh em trai cũng chơi nhạc. Tôi chưa gặp Bác Túc khi ở Sài Gòn vì nghe nói Bác đi làm việc ở ngoại quốc, ít khi về thăm nhà. Mãi đến khi đi du học bên này, tôi mới có dịp ghé thăm Bác lần đầu tiên tại Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thịnh Đốn (lúc ấy Ông Trần Kim Phượng là Đại Sứ). Sau chính biến tháng 4-1975, Bác vẫn ở quanh vùng Hoa Thịnh Đốn còn tôi về tỉnh Richmond, Thủ Phủ của Tiểu Bang Virginia, cách Bác khoảng 150 cây số về phía Nam.

Năm 2003, sau khi chúng tôi sinh hoạt trở lại với các nhóm yêu âm nhạc và Cơ Sở Cỏ Thơm, thỉnh thoảng có gặp Bác chụp ảnh ở các buổi họp mặt của Cộng Đồng, vẫn nụ cười hiền hòa và tính tình dễ dãi, thân thiện với mọi người. Được biết Bác đã đoàn tụ với một số con cháu, ở quanh vùng Bắc Virginia, cuộc sống của họ đã ổn định với công việc tốt nhưng không ai theo nghề nhạc cả tuy Bác đã cố gắng thành lập một ban nhạc cho cậu con út. Bác nói: "thế cũng tốt vì theo nghề nhạc: vui nhưng không có tiền cháu ạ!".

                                         

Cách đây hơn một tháng, khi làm một trang để tưởng nhớ Nhạc Sĩ Nhật Bằng, tôi đã gọi điện thoại đến Bác để kiểm chứng vài dữ kiện. Bác nhắc:"Anh đến nhà tôi chơi nhé, nhiều tài liệu lắm, tha hồ ... Nhân thể, tôi cũng đưa những hình tôi chụp anh chị mấy năm nay! Đến chơi nhé vì ... biết ngày mai sẽ ra sao?" Bác nói nhẹ nhàng, chen lẫn tiếng cười, nhưng Tâm Hảo và tôi hiểu ngụ ý. Bác nay cũng đã lớn tuổi, sức khỏe kém hơn trước nhiều. Hôm đến thăm Bác, vợ chồng chúng tôi ghé Quán Hương Bình ở Eden Center mua một vài món ăn và bánh ngọt để cùng ăn trưa. Bác không muốn đi ăn tiệm để có nhiều thì giờ hàn huyên văn nghệ. Bác vui vẻ lấy các tài liệu hình ảnh, nhạc cho xem và kể kỷ niệm về Nhật Bằng và Ban Tứ Lão (Nhật Bằng-Văn Phụng- Đan Thọ-Nguyễn Túc). Bác cũng nói về Club du Jeudi và các nghệ sĩ thường đến họp mặt ca hát văn nghệ tại tư gia. Bác dẫn xuống bếp cho xem bảng "điều lệ" của Club trên tủ lạnh, lời viết rất là tếu được các cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Nhật Bằng và Văn Phụng ký tên. Trước khi ra về, Bác chu đáo đưa tặng một hồ sơ, trong đó có nhiều hình Bác chụp chúng tôi rất đẹp, nhất là những hình ở nhà anh chị Nguyễn Đức Nam hôm gặp gỡ Huỳnh Thái Bình-Nhật Hạ năm 2007. Ngoài hình ảnh, Bác còn cho nhiều bản nhạc Bác sáng tác kèm CD để trong từng bao plastic, đánh số cẩn thận. Bác quen cách thức làm việc quy củ như thế vì ngày xưa đã từng làm cho Thư Viện của Bộ Quốc Phòng. Hôm ấy, một người bạn của Bác là nhà văn Vũ Văn Trình cũng ghé thăm, tất cả mọi người nói chuyện rất là tếu, thoải mái, không câu nệ.

Trên đường về, chúng tôi cứ tấm tắc khen Bác Túc còn minh mẫn và có vẻ khỏe hơn vài tháng trước. Trong các bản nhạc của Bác chúng tôi thích nhất Nhớ Xuân Xưa (nguyên bản: Xuân Nhớ Kinh Kỳ ) và Bâng Khuâng. Gần đây, chúng tôi khám phá thêm "Mai Mốt Tôi Về": ray rứt nhớ thương Việt Nam; "Tôi Mơ Có Một Người ": vui tươi yêu đời với thể điệu swing; "Một Ngày Xa Nhau ": vẫn nồng thắm tình yêu. Nghe Bác đàn "Em Đã Ra Đi " mới cảm thấy cái đớn đau vì một mất mát không thể thay thế!

Cầu chúc Bác vẫn vui, khỏe, tếu, vẫn tự tạo cho mình những công việc hữu ích hằng ngày, vẫn đàn, vẫn sáng tác và quan trọng nhất: vẫn nói chuyện điện thoại viễn liên để con tim vẫn còn son trẻ mãi ...

Phan Anh Dũng
(10 tháng 7, 2008) 

  

                                                               Tiểu Sử

                                                           

                                                                Nguyễn Túc                          

 Sinh năm 1923 tại Hà Nội, bạn cùng Phố Hàng Gai với Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh. Qua đời ngày 3 tháng 7, 2009 ở Tiểu Bang Virginia, Hoa Kỳ

- CHƠI NHẠC: từ hồi 14 tuổi, thời Tino Rossi, ca sĩ thần tượng của dân Hà Nội.
- HỌC NHẠC:
* Tự học theo sách vở và nghe nhạc (bắt đầu bằng cuốn Solfège Danhauser và mandoline)
* Học từ quân nhạc trưởng Schmetzler.
* 1965: Tốt nghiệp Conservatoir International de Musique de Paris tại Pháp.
- SÁNG TÁC: Bản đầu “Bên Sông Vắng” 1944 với Tạ Tấn, “Phút Chia Ly” (lời ca) 1948 với Hoàng Trọng.
- TRÌNH DIỄN NHẠC (Hà Nội, Nha Trang, Saigon, Washington D.C….) tại các phòng trà, vũ trường, Đài Phát Thanh, Nhạc Hội (Ban Gió Nam 1952, Hà Nội).
- DẠY NHẠC:
* Hạ-uy-cầm (Hà Nội 1944) cùng thời Tạ Tấn, Thiện Tơ, Hoàng Giác, Đỗ Liên
* Dạy ký âm pháp trong Ban Quân Nhạc Nha Trang (1956)
* Nhạc Hội (Nga Mi-Trần Lãng Minh 1993)
- MỞ TIỆM ĐÀN: “Lutherie Nguyễn Túc” tại Hà Nội (Phố Hàng Quạt + Bờ Hồ + Phố Huế)
- SỞ TRƯỜNG:
* Nhạc cụ: Hạ-uy-cầm, Contrebasse, Keyboard.
*Thâu thanh (MiniStudioTuc)
* Nhiếp ảnh (PhotoTuc)
* Viết nhạc bằng computer (Computuc)

HOẠT ĐỘNG (tại Hà Nội, Nha Trang, Saigon, Pháp, Hoa Kỳ)
- 1937-42: Học sinh Trường Bưởi Hà Nội (đậu Diplôme 1941)
- 1948: Gia nhập Ban Quân Nhạc Đệ Tam Quân Khu ở Hà Nội cùng Hoàng Trọng, Nguyễn Cầu, Tạ Toàn, Đan Thọ, Nguyễn Khắc Cung, Nhật Bằng, Tụ Khuê, Thanh Hùng.
- 1954: Ban Quân Nhạc di chuyển vào Nha Trang.
- 1956: Bộ Quốc Phòng (Phòng Báo Chí ) cùng Đỗ Thiếu Liệt, Vũ Thành, Huyền Vũ, Vũ Lữ Bằng, Dương T Nhân, Đào Đình Kỳ.
- 1967: Bộ Ngoại Giao (phục vụ 2 lần tại Tòa Đại Sứ Việt Nam Paris 62-70 và Hoa Kỳ 1973)

        Tác Phẩm

 - Bên Sông Vắng (1944) - viết chung với Tạ Tấn
- Phút Chia Ly (1948) - nhạc: Hoàng Trọng, lời: Nguyễn Túc
- Nhớ Xuân Xưa (1955) - nguyên tác: "Xuân Nhớ Kinh Kỳ"
- Chiều Vắng Bên Sông
- Người Yêu Không Gặp
- Bâng Khuâng
- Em Đã Ra Đi
- Bốn Mùa Nhớ Thương
- Solitude - Lời: Vân Nga
- Mai Mốt Tôi Về - lời: Tạ Mạnh Chuyên và Nguyễn Túc
- Nhớ Tết Năm Xưa - lời: Nguyễn Túc và Hạnh Phúc
- Tôi Mơ Có Một Người - lời:Tạ Mạnh Chuyên và Nguyễn Túc
- Nụ Hôn Đầu - viết chung với Linh Phương
- Một Ngày Xa Nhau - viết chung với Linh Phương
- Tôi Yêu Lá Cờ Vàng - thơ Ngô Minh Hằng, viết chung với Linh Phương
- Hãy Khóc Cho Ai - viết chung với Linh Phương
- Ngợi Khen Danh Chúa - viết chung với Linh Phương
- Ngày Vu Quy - Nhạc Hawaii: Ke Kali Nei Au - lời Việt: Linh Phương & Nguyễn Túc

              

                 Bấm vào tên ca sĩ để nghe:  Mai Hương hát Phút Chia Ly;  Khánh Ly hát Bên Sông Vắng

                    Bấm vào đây để nghe: Hoàng Trọng giới thiệu về Phút Chia Ly

                      

Phút Chia Ly - Nhạc: Hoàng Trọng, Lời: Nguyễn Túc

Lòng tê tái vương nhớ nhung
Người chinh phu với sầu đông
Thuyền không bến lắng trôi tới đâu
Ðưa đón ai xa ngừng bến nào
Thầm reo rắc chi sầu nhớ

Giòng sông xanh trôi lững lờ
Lạnh lùng ngân khúc hùng ca
Người trai tráng sẽ mang tấm thân
Trong trắng đi trên đường sáng ngời
Lòng vương vấn bao nhớ thương

Bàng hoàng giờ phút từ ly
Tuy lòng đau nhưng cố quên thê nhi
Tần ngần chàng bước chân đi
Ði tới nơi xa xăm bao hình mơ

Thuyền dần trôi xa bến bờ
Ngại ngùng thay phút biệt ly
Người anh dũng dứt chân bước đi
Trong bóng tre xanh hồn nước nhà
Lòng đau với bao tiếng tơ

Nhưng trên bến xa, tay bế con còn thơ
Bên sông cố trông, thuyền khuất xa nửa vời
Dòng dòng lệ rơi từ đây trong đêm giá đông
Ðèn khuya chung bóng hoa
Còn đâu phút êm xưa

Thôi lưu luyến chi, đau đớn cho người đi.
Nam nhi chí trai, chàng quyết tâm quên mình.
Nàng về ngàn dâu, ngày quay tơ với nhớ mong.
Cầu sao mau tới khi, rền tiếng tơ thanh bình

Thuyền dần trôi xa bến bờ
Ngại ngùng thay phút biệt ly
Người anh dũng dứt chân bước đi
Trong bóng tre xanh hồn nước nhà
Lòng đau với bao tiếng tơ.

Bên Sông Vắng - Tạ Tấn & Nguyễn Túc

Đêm nay trăng sáng trên trời mây
Gió lướt vi vu qua muôn lá cây
Một mình im đứng bên bờ sông xa vắng
Lòng buồn vương biết bao thảm sầu

Xa xa êm lướt trên làn sóng
Bóng in chiếc thuyền lững lờ trôi xuôi dưới trăng
Hỡi con đò tình trôi tới đâu
Hãy mang mối sầu ta tới phương xa

Nhớ người ra đi
Nay đã chầy ba thu
Chim én nào đâu thấy đưa mối tin
Hay ai đã ngoài phương xa lời nguyền quên hết
Hỡi người có thấu lòng ta thương nhớ

Dù ngày tháng trôi qua lòng ai chóng thay
Nay đã bao đêm ngồi bên sông vắng
Ta ngóng phương trời
Cố trong giấc mơ
Tìm bóng cố nhân xa mờ

                                     Bấm vào tên người trình bày để nghe Nhớ Xuân Xưa:

                                           Hòa tấu: Nguyễn Túc & Văn Phụng    

Tiếng hát: Tâm Hảo (Richmond, Virginia - USA)     Tiếng hát: Hoàng Cung Fa (Burke, Virginia - USA)

                                               

                                                 

             Nguyễn Túc đàn Hạ-Uy-Cầm: NỖI LÒNG (Nguyễn Văn Khánh) với phụ đệm của Văn Phụng 

               

                                     Bấm vào tên người trình bày để nghe EM ĐÃ RA ĐI:

  Tiếng hát: Nga Mi            Hòa tấu: Văn Phụng-Nguyễn Túc        Độc tấu dương cầm: Linh Phương

                      

        Những bản nhạc của Nguyễn Túc trong Nhạc Hội "Tứ Lão", bấm vào tên người trình bày để nghe:

               Bốn Mùa Nhớ Thương - Băng Tâm             Mai Mốt Tôi Về- Mai Hương

      Tôi Mơ Có Một Người - tiếng hát: Thanh Phượng     hòa tấu: Nguyễn Túc & Văn Phụng

                                

                                Bấm vào tên người trình bày để nghe Chiều Vắng Bên Sông:

                                    Hương Giang đơn ca            Gia Tường & Mai Hạnh song ca        

                                    Văn Phụng & Nguyễn Túc hòa tấu      Tâm Hảo đơn ca

 

                

               

 Ghi chú: Vương Quân là bút hiệu của cố Thi Sĩ Vương Đức Lệ - Bài viết đăng trong Nguyệt San Kỷ Nguyên Mới

                     

                              

    

                                    Bấm vào tên người trình bày để nghe Bâng Khuâng:

 Hòa tấu: Văn Phụng & Nguyễn Túc    Độc tấu dương cầm: Linh Phương       Hòa tấu: Nguyễn Túc

                Song ca: Nga Mi & Trần Lãng Minh         Song ca: Cẩm Vân & Khắc Triệu

                 

   

 

            > Hợp Ca: Hiếu Thuận, Cung Fa, Tâm Hảo, Anh Dũng, Ý Hoa, Trần Lượng           

                                                                > Tiếng hát: Mỹ Dung

                     Bóng Thời Gian: Thầy tôi  - Lê Văn Phúc

             

Trong đời người, ai cũng có ít nhất là một ông thầy. Trước tiên, chữ “thầy” ở đây có thể hiểu là người đã sinh ra mình. Mà cũng còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nữa.

Diễn nghĩa về chữ “Thầy”

“Thầy” là người hướng dẫn, khai tâm, chỉ đường mách lối cho mình tiến tới. Cổ nhân cũng đã căn dặn kỹ lưỡng rằng thì là “Không thầy đố mày làm nên” để xác quyết rằng chúng ta lúc nào cũng cần phải có người hướng dẫn, chỉ bảo, truyền cho những kinh nghiệm mới có thể đi đến thành công. Bắt buộc phải có người dạy bảo mới được. Không có thầy là hỏng bét!

Nói theo định nghĩa trên thì chúng ta nghĩ ngay đến rất nhiều ông thầy.

Thầy gần gũi nhất là thầy giáo. Thầy này dĩ nhiên là thầy có học hành đỗ đạt. Học thấp hay cao không lý đến nhưng dư sức dẫn dắt chúng ta qua bậc vỡ lòng, tiểu học. Cổ nhân đã cẩn thận dặn dò kẻ hậu sinh rằng thì là: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, nghĩa là học thầy một chữ cũng gọi là thầy, mà học chỉ có nửa chữ thôi cũng là thầy luôn. Chữ nghĩa quý hóa như thế nên học trò phải chăm chỉ học hành thì sau này mới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được.

Người xưa đã xếp theo thứ bậc đình huỳnh “Quân, Sư, Phụ”: Trên hết là vua, dưới là thầy học, sau đó mới là cha. Chúng ta thấy ngay là thứ bậc của thầy ở trên thứ bậc của cha thì đủ hiểu vai trò của thầy quan trọng và đáng kính đến như thế nào rồi. Lý do xếp thầy trên cha là vì cha mắc đi cày kiếm cơm, không có thời giờ chăm lo săn sóc con cái. Thôi thì xin nhờ thầy cô dạy bảo các cháu dùm. Thế nên trách nhiệm của thầy cao hơn vai trò của cha mẹ.

Thế nhưng, có những thầy không dạy ta điều chi mà ta vẫn phải gọi là thầy.

Như thầy bói, thầy tướng, thầy tử vi, thầy địa lý. Mấy ông này chỉ bàn toàn những chuyện trên trời dưới đất, trăng sao, âm dương, ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ, tuần triệt, hóa khoa hóa lộc hóa quyền, hóa đủ thứ. Rồi là phong thủy, yểm bùa, gieo quẻ, bắt mạch thái tố... xong phán cho thân chủ phải làm thế này, làm thế nọ mới ăn nên làm ra, thoát hiểm, hóa giải, thăng quan tiến chức...

Ta phải trả tiền công bội hậu cho ông thầy tiên đoán được vận mệnh mình và có thể lái cuộc đời của mình qua một ngã rẽ khác. Còn như lời tiên đoán có linh nghiệm, ứng nghiệm hay không thì không ai biết. May mắn trúng thì coi như ông thầy là bậc tiên tri, đoán trúng như thần. Còn không trúng thì ta lại đi ông thầy khác để thử thời vận.
Lại có những ông thầy không dạy trực tiếp, không lấy học phí, chỉ đường vẽ lối, hiến kế cho ta thi hành. Được việc hay không, ông thầy ấy không chịu trách nhiệm: Ấy là những ông thầy dùi!

Loại thầy này thường xúi dại, xúi bậy hơn là chỉ đường ngay lẽ phải cho ta. Những ông thầy này thường là không có nghề ngỗng gì hoặc có tật ngứa mồm, thích phát ngôn nên hễ ai hỏi ý kiến thì tuôn ra như nước chảy, lên mặt ông thầy chỉ bảo, dạy dỗ tận tình.

Còn kẻ nghe cũng thường là người đang chờ đợi những lời vàng ngọc cho nên được vậy thì mừng húm, nghe theo không théc méc. Và kết quả hay hậu quả thì không có gì gọi là khả quan. Lắm khi còn bị vỡ mặt hay vỡ nợ là đằng khác!

Một loại thầy nữa được gọi bằng một danh từ rất trọng vọng là “quân sư”. Nhà lãnh đạo nào cũng có quân sư hay còn gọi là cố vấn để phò tá, giúp ý kiến chuyên môn về mọi mặt. Quân sư rất được trọng nể và có uy thế trong triều đình cũng như trong chính phủ.

Nhưng có loại quân sư gọi là “quân sư quạt mo” là loại chỉ cố vấn vớ vẩn, vô thưởng vô phạt, có khi còn làm cho hư bột hư đường là đằng khác. Thứ quân sư này, ở các nước nhược tiểu, kém mở mang có đầy rẫy. Thành ra, thứ quân sư quạt mo ấy nhiều khi bị gọi lái đi là “quân sư mặt mo”.

Trên đây, tạm đưa ra vài loại thầy để bạn đọc thấy rõ khuynh hướng hoạt động của các thầy ra sao.

Bi chừ, tôi nói về ông thầy của tôi: Nguyễn Túc.

Hầu hết ban đọc đều không biết ông thầy này là ai? Già hay trẻ? Làm gì? Có cái gì đặc biệt không? Mà tôi lại xưng tụng là “Thầy”?

Thưa bạn đọc, thầy tôi có nhiều cái lạ, cái ngộ và cái đặc biệt lắm ạ! Thầy trò tôi cũng có dăm cái giống nhau nữa nha!

Thầy đờn

                                      

Sở dĩ tôi gọi là “thầy” vì trước tiên tôi chính là học trò môn “Ki-bo” của thầy vậy.

Từ khi nghỉ hưu, theo vợ lên vùng đất tình nhân Virginia, tôi cũng cảm thấy buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn vì trên này chả thấy tình nào sất cả. Tình gần, tình xa, tình khắng khít, tình mộng mơ đều chả bói đâu ra. Đến như tình muộn, tình hờ, tình cờ, tình đến rồi đi cũng không thấy tăm hơi đâu cả. Thế nên, buồn tình, tôi phải kiếm một cái gì giải khuây cho cuộc đời bớt sầu cô quạnh!

Nhân ông anh nuôi tôi là Đặng Đình Kỳ ở bên Toronto, Canada là bạn cũ với nhạc sĩ Nguyễn Túc ở vùng DC, giới thiệu tôi lại gặp làm quen nên tôi mới biết nhạc sĩ lão thành này. Biết rồi, tôi mới thấy nhạc sĩ này có nhiều cái rất ngộ, rất lạ mà cũng rất dễ thương nên đâm ra gần gũi.

Tôi vốn mê nhạc hơn mê toán lý hóa Anh Pháp Việt. Hồi nhỏ, tôi đã từng đi thi hát bậc tiểu học, đậu hạng nhất với bài “Hoàng hôn” của Đào Sĩ Chu, được thưởng cái khẩu cầm tức Harmonica.

Bố tôi cũng lại chiều con, mua cho tôi vài thứ đàn địch: Mandoline, banjo, sáo. Sau lên học trường Nguyễn Trãi, Hà Nội tôi còn theo học hạ uy cầm của cụ Duyệt ở vùng hồ Halais, nhạc sĩ Đỗ Liên phố Huế, nhạc sĩ Tạ Tấn gần Đền Hàng Trống. Chả môn nào tôi chơi được cả nên rồi cũng lãng quên cái thú đàn ca.

Mấy chục năm sau, sắp lên xe đi chuyến tàu hoàng hôn, bỗng trong tôi lại nổi hứng, ao ước học dương cầm, mong theo gót Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng.

Nhân có ông thầy đàn bên cạnh, tôi nhờ thầy dẫn đi mua một cái “ki-bo” thứ kha khá và cái ghế ngồi đánh đờn, tổng cộng 500 đô la.

Rồi tôi vác đàn lên nhà thầy, học mỗi tuần 1 giờ. Xong lại vác đàn về nhà ôn tập. Tôi có trả học phí đình huỳnh. Học được vài tháng, tôi cứ vác đàn đi vác đàn về mãi nên đâm lười đâm ngại. Thầy có mấy cái đàn nhưng đàn tôi, tôi xử dụng dễ chịu hơn. Chỉ mỗi tội là đàn tôi hơi to, hơi nặng, hơi cồng kềnh.

Tôi chơi được mấy bài ngon lành: Vài bài về Giáng Sinh, bài “Hạ Trắng” của Trịnh Công Sơn, bài “Nắng đẹp miền Nam” của Lam Phương, bài “Thiên Thai” của Văn Cao... Nhưng đấy là gõ chân phương và nhịp do máy chỉnh sẵn. Bởi vậy, tôi lại đâm ra chán chính tôi.

Rồi tôi bỏ học vì mất tin tưởng là sẽ trở thành danh tài có thể độc tấu dương cầm trong các dàn nhạc trứ danh trên thế giới...

Nhưng thầy trò tôi giống nhau: Thầy đờn, trò cũng đờn. Chỉ khác nhau về tài nghệ!

Tuy bỏ học đàn nhưng thân tình của thầy trò tôi gắn bó hơn trước. Và tôi bắt đầu có vài nhận xét cụ thể và thiết thực về thầy tôi. Cũng như thầy trò có vài cái giống nhau.

Cách nhau con giáp

Thứ nhất, ông ấy cùng tuổi tuất với tôi, hơn tôi đúng một con giáp. Như vậy là ông cụ này già hơn tôi, trên tôi 12 tuổi, ở tuổi bát tuần. Được cái là tuy niên tuế cao như thế mà thầy vẫn còn có thể lái xe chạy vòng vo tam quốc. Khi lái xe đi chợ Đại Hàn mua xoài chín, đậu phụ, tương ớt, mì ăn liền. Khi tạt siêu thị Việt Nam mua vài phong bánh đậu, vài “pao” thịt xay, mấy hộp nước dừa, túi gạo nếp, dăm giây lạp xường pha gan...

Tuổi tác như thế mà thầy tôi không cần tập thể dục thẩm mỹ vẫn khỏe mạnh như thường. Lúc nào đói thì vơ đại mẩu bánh mì, quệt tí bơ hay uống ly sữa là sống thêm được vài giờ nữa. Trong ngăn kéo của thầy, có đủ các thứ thuốc bổ Âu Á để bảo đảm sức khỏe giống nòi. Thầy chỉ việc mở bất cứ lọ nào cũng là sinh tố từ A đến Z, uống 1 viên là yên chí trong 1 ngày.

Khi nào cảm thấy trong người uể oải thì thầy ngả lưng trên chiếc giường nhỏ có chăn mền và mấy chiếc gối bông chèn quanh mình, gác chân lên, đánh một giấc Nam Kha. Khi nào có chuông điện thoại viễn liên, có bạn đến chơi réo chuông đánh thức thì thầy lại tỉnh như sáo sậu, sinh hoạt lại bình thường.

Nói chung, sức khỏe của thầy coi là OK, "very good". Thầy vẫn còn có thể gặm bánh mì DC xíu mại, nhai kẹo lạc, kẹo vừng, ăn vịt quay, thịt quay nhai kêu rau ráu.

Trong người thầy, tim gan tì phế cũng có vài chỗ trục trặc thì đã được các bác sĩ “tune up” nên coi như không còn bệnh gì quan trọng nữa. Cơ may sống thọ có thể coi như trăm tuổi dư sức qua cầu!

Nói chung, thầy được ơn trên cho hưởng tuổi trời, hơn hẳn các bạn nghệ sĩ đã lên chuyến tàu hoàng hôn đi chuyến trước, như: Văn Phụng, Nhật Bằng, Nguyễn Hiền...

Từ 36 năm nay, thầy không còn người bạn đường, đã mất trong một tai nạn giao thông nên coi như thầy tôi “độc thân tại chỗ”. Các con cháu của thầy đều đỗ đạt cả nhưng thầy không ở với ai. Thỉnh thoảng, con cháu đến thăm đã là quý lắm rồi. Còn cô cậu nào có hảo ý ghé vai gánh vác dùm một số chi phí hàng tháng thì thầy cũng sẵn lòng chấp nhận chứ không khó khăn từ khước. Như vậy để cho con cháu chúng nó vui mà thầy cũng vui luôn.

Cùng thấp lè tè, không “ke” gì cả

Thứ hai, thầy cũng thấp lè tè như tôi, chừng 1m60 là hết đất. Tương lai không thể cao hơn được mà chỉ có nước lùn đi thôi.

Đã thấp lùn thì chớ, tuổi già làm cho cái lưng còng xuống một chút thì chớ, khi đi đứng thầy tôi còn khòm khòm cái lưng như một triết gia, nhìn quanh nhìn quẩn. Dáng đi lừng khừng như thế tưởng chừng đây là một thi nhân đi tìm vần thơ sầu rụng mà thiệt tình thì thầy tôi chả tìm tòi gì cả. Chỉ ngó xem có cái gì rớt thì lượm thôi!

Nhưng tôi chiêm nghiệm thì với vóc dáng, cách đi đứng như thế, thầy tôi coi bộ lại an nhàn, tự tại, đầu óc chả nghĩ ngợi chuyện gì đại sự, quanh co cả! Có nhẽ nhờ thế mà thầy tôi sống vui sống khỏe hơn chăng?

Thầy kể có lần đi chơi về, thấy nhà mình cháy, khói bốc mù mịt. Thầy thấy lính cứu hỏa vác vòi nước phun vào chỗ cháy. Hàng xóm láng giềng hoảng hồn kêu la, lo chạy con chạy đồ. Còn thầy thì đứng nhìn như một khách bàng quan, lại còn mỉm cười nữa chứ! Khi hỏi thầy có biết nhà ai cháy không thì thầy đáp:

- Còn phải hỏi, nhà tôi chứ nhà ai!

- Sao cháy?

- Đun nồi chè rồi chạy sang chợ Mễ mua đường, quên tắt bếp!

- Thế sao thầy lại cười?

- À, thì nom cũng... vui vui nên tôi cười!

Vậy là thầy không “ke” cái gì cả. Ở đời này, chuyện gì cũng có thể xảy ra thì lo lắng, kể khổ có cứu vãn được gì! Thông thường, ai trong cảnh ngộ ấy cũng đau đớn khóc than vì sạt nghiệp nhưng thầy thì lại coi mọi chuyện có cũng như không. Nên thầy ít khi nào bị căng mạch máu, bị “tension” vọt lên cao dễ làm bể mạch máu!

Thầy không coi chuyện gì là quan trọng hết cả. Còn tôi thì một cái tóc chẻ làm tư, hay bắt bẻ, hoạnh họe, bới bèo ra bọ, chê bai người này người nọ, làm mất lòng bạn bè, chung quanh hàng xóm láng tỏi. Cho nên, về già tôi chả còn được bao nhiêu bạn hữu cả. Ai cũng chê tôi là khó chơi, khó chịu, khó tính, cố chấp! Thế nên tôi khổ vì cái nghiệp của tôi nó hơi nặng... Trái lại, nhà thầy tôi thì ngày nào cũng kẻ vào người ra, kẻ tới người lui thật là tấp nập.

Tôi biết thế là tôi thua thiệt mà lại không thể làm được như thế!

Ai chơi với thầy cũng dễ nhận ra điều này: Thầy hiền hòa, chìu bạn nên bạn bè rất thích chuyện trò, nhờ vả. Ai tốt ai không tốt, ai hay ai không hay, thầy tôi biết hết nhưng với ai thầy cũng chơi, cũng vui vẻ tiếp tay làm nhạc, chụp hình, tham dự hội hè đình đám mà không hé răng cự nự. Bởi vậy chả có ai théc méc, than phiền gì về thầy cả. Túi khôn của thầy là ở cung cách xử sự đó! Có lẽ suốt đời tôi không theo gót được thầy.

Với tôi, thầy là người bạn già để có thể tâm sự đủ thứ chuyện.

Tôi lại hay có những thiên hạ sự nghe qua phôn, gọi từ các tiểu bang nên có cái gì vui vui, có cái gì hay hay, ngồ ngộ, là lạ hoặc chính chuyện mình thì đem kể hết cho thầy tôi nghe. Nếu tôi xin ý kiến hay lời khuyên thì thầy phát biểu rất thành thực, thân tình chứ không phe lờ hoặc đánh trống lảng!

Như tôi hay phát ngôn bừa bãi, dễ hư bột hư đường, mất lòng mất bề thì thầy bảo: Nên “dê dê”!

- Nghĩa là gì ạ?

- Nghĩa là nên “dè dặt”!

- Em cứ tưởng...

- Tưởng cái gì?

- Dạ, cái ấy đó!

- Nghèo mà ham! Trách gì chẳng nghe chửi!

- Vậy phải làm sao bây giờ?

- Tôi đã nói là phải “dê dê”...

- Dạ!

Và quý nhất là thầy không đi kể lại chuyện cho người khác nghe. Tôi yên tâm và cảm thấy nhẹ nhàng, tin tưởng ở thầy về điểm này. Chả phải thầy kín chuyện đâu mà vì thầy nghe tai này ra tai nọ, mới nói đó rồi quên ngay đó. Thành ra, muốn kể câu chuyện đầu cua tai nheo thì phải nhắc lại từ đầu để thầy kịp theo dõi tình hình rồi mới kể tiếp đoạn sau được. Chứ kể ngay đoạn tiếp hôm trước thì thầy tôi chẳng hiểu mô tê, trời trăng mây nước ra sao cả!

Như trên đã nói, thầy trò tôi giống nhau ở vóc dáng lùn tì đã đành mà còn giống nhau ở bộ mặt nom có vẻ nhà quê, coi bộ hiền lành chất phác. Nhờ đó mà không có nhà điện ảnh nào tuyển lựa đóng phim cũng như không có ai dèm pha, ganh ghét! Chứ nếu mà chúng tôi cao ráo, đẹp trai như cỡ Lê Quỳnh, Trần Quang thì không biết là có bao nhiêu hãng phim mời mọc, biết bao nhiêu các bà các mợ các cô mê hơn điếu đổ?

Thích đủ thứ!

Thứ ba, thầy tôi thích ăn đủ thứ: Cơm ta, cơm Tàu, Hamburger, Cà ri Ấn độ, món gì cũng hẩu sực. Thành ra, hàng tuần, chúng tôi hay ghé tiệm ăn trưa.

Ăn cơm Tàu ban trưa, kêu là “bớp-phê” thì mở đầu thầy chơi hai chén súp lót dạ, xong lựa đùi vịt quay, cánh vịt quay, tôm luộc, thịt bò xào. Ăn xong, thầy lại quay lại làm tua nữa với các món khác cho thay đổi khẩu vị. Xong thầy lấy cái đĩa nhỏ, xúc trái cây, bánh rán, bánh ngọt, kèm một ly nước ngọt và một ly kem đem về bàn ngồi ăn tiếp. Trước khi ra về, thầy còn làm một ly cà phê sữa nóng cho ấm dạ.

Cứ theo sự nhận xét của tôi thì thầy ăn gấp 3 lần so với trò. Điều khó hiểu là không hiểu tại sao mà thầy lại ăn nhiều đến thế?

Thanh toán vừa xong các món trên, thầy bảo đứng lên đi về nghỉ khỏe.

Tôi ra xe, mở máy lạnh cho thầy ngồi ngoẹo đầu trên ghế, mắt lim dim tìm giấc Nam Kha. Tôi nghe có tiếng ngáy nhè nhẹ, thật đều là biết thầy tôi đang đi vào cõi mộng!

Thầy ăn uống rất dễ dãi, có gì ăn nấy. Khi thì chén đậu hũ Thanh Sơn, đĩa xôi vò cũng xong. Khi thì ổ bánh mì nhồi thịt nguội cũng qua bữa. Khi thì "tỉm sắm" bánh bao chân vịt hầm Mark Duck cũng no bụng. Khi thì Peking Duck cũng OK very good.

Ăn vịt quay thì thầy chọn cái đùi, cái cánh có da ròn thịt nạc nhai thoải mái! Tôi cũng có ý định như thế nhưng thầy nhanh mắt nhanh tay hơn. Còn tôi thì ra tay quá trễ!

Câu “Ăn để mà sống” , “Sống để mà ăn” không biết câu nào áp dụng với thầy?

Phần tôi thì ăn hơi kén một chút chứ không dễ dãi như thầy! Vậy là thầy sướng hơn tôi!

Văn nghệ, văn gừng!

Thứ tư, thầy tôi có sẵn máu văn nghệ. Tôi cũng có chút máu văn nghệ nhưng mức độ khác nhau.Thầy tôi “văn nghệ nặng” còn tôi thì lại “văn nghệ nhẹ hều”. Nhưng tựu trung cũng là văn nghệ cả.

Thầy lúi húi suốt ngày viết nhạc, đặt lời, hòa âm, in CD, làm tập nhạc, cộng tác cùng nữ nhạc sĩ Linh Phương là người đang dạy dương cầm ở Houston. Liên lạc hàng ngang với nhau bằng điện thoại viễn liên hàng ngày coi bộ rất thắm thiết tình nghệ sĩ. Tôi thì chả có ma nào ngó ngàng đến nên tôi thua thầy một trời một vực. Tất nhiên tôi ở dưới vực!

Có ai nhờ thu thanh, làm CD thì thầy mở dăm bảy cái máy kéo ra từ “closet”, chuẩn bị đàn địch, micro, thử giọng rồi mở máy. Ca sĩ chuyên nghiệp, ca sĩ tài tử, ca sĩ già, ca sĩ trẻ... ca sĩ nào thầy cũng vui vẻ, sẵn sàng tiếp tay thu giọng hát với tiếng đàn đệm piano. Thu xong nghe lại, chưa được thì thầy làm lại từ đầu. Một kỳ thâu thanh như thế ít ra cũng mất nửa ngày, có khi cả ngày, có khi vài ngày. Thầy vẫn hăng hái, miệt mài làm công việc âm nhạc nghệ thuật không mảy may phiền hà, khó chịu. Tôi có nghe qua mấy bài ca, âm thanh, ca khúc, tiếng đàn, cũng muốn đóng góp vài ý kiến xây dựng nhưng không dám, e bị chỉ trích là cố chấp, khó khăn, có hại đến tình đoàn kết dân tộc.

Hai nữa, thầy đã dặn dò là phải “dê dê” nên tôi áp dụng ngay với chính mình cho mọi chuyện xuôi chèo mát mái.

Thầy có tên “Nguyễn Túc” để viết nhạc Việt. Khi muốn làm lời tiếng Pháp thì thầy lấy tên “Pierre Touquet” (trong chữ “Touquet” có chữ “Tuc” rồi đó nha). Còn tiếng Mỹ thì thầy cũng dùmg tạm cái tên Tây này cho tiện. Khi viết bài đăng báo Việt thì thầy lấy bút hiệu là “Tú Xê” (“Tú” cộng với “Xê” - “Xê” là “C” - cũng lại là “Túc”. Thầy chơi độc thế đó!)

Cứ lúi húi như thế mà ngày qua tháng trôi đi rất mau rất vội. Thầy không phải ngồi buồn thương nhớ vấn vương hình xưa bóng cũ. Mà chỉ thấy hiện tại. Hiện tại là tiếng nhạc lời ca, cung đàn muôn điệu, ngày nào cũng có âm nhạc ru thầy vào giấc mơ xuân. Hiện tại là tiếng điện thoại viễn liên reo vang:

- (Giọng nũng nịu): Anh ơi! Sao anh chẳng gọi cho em gì cả?

- (Giọng hờn dỗi):Anh ơi, anh đi đâu mà em gọi hoài không thấy anh ở nhà?

- (Giọng bực mình): Anh ơi, bây giờ anh ở đâu?

Tình lắm ấy chứ lị! Bởi chính đó là những chất “vitamin”, sinh tố cần thiết cho tinh thần và thể chất của những người nghệ sĩ!

Nhạc sĩ với cây đàn!

Thứ năm, thầy rất yêu nhạc, nên trước thập niên 50 đã mở tiệm đàn tại Hà Nội, vì thế có dịp quen với nhạc sĩ Hoàng Trọng đến mua dây đàn, rồi trò chuyện, rồi thân tình, rồi hai người làm bản “Phút Chia Ly”, lời của Nguyễn Túc. Đây là bản Tango mà Hoàng Trọng rất thích, coi là một trong những bài Tango hay nhất của tác giả. Còn thầy tôi thì quá thích đi rồi nên cứ “lịm” đi mà nghe thiên hạ ca tụng. Đoạn đầu như thế này, hẳn một số độc giả vẫn nhớ:

Lòng tê tái vương nhớ nhung
Người chinh phu với sầu đông
Thuyền không bến lắng trôi tới đâu
Đưa đón ai xa ngừng bến nào
Thầm reo rắc chi sầu nhớ.

Dòng sông xanh trôi lững lờ
Lạnh lùng ngân khúc hùng ca
Người trai tráng sẽ mang tấm thân
Trong trắng đi trên đường sáng ngời
Lòng vương vấn bao nhớ thương...


Đoạn tiếp là chàng ra đi, không nói rõ đi có chuyện gì, nhưng đi rất xa bằng thuyền, chắc là đi chiến đấu (vì có chữ “người anh dũng”). Nàng ở lại trên bến vắng bế con thơ nhìn theo thuyền xa bến mà mắt lệ tuôn rơi tầm tã. Ôi phút chia ly sao mà buồn thế! Nàng về quay tơ, đợi ngày non nước thanh bình, đón chàng trở lại... Phút chia ly sẽ hóa thành những phút ô mê ly!

Đại ý như thế thôi chứ thứ tôi dùi đục chấm mắm cáy không thể diễn tả cho nó văn hoa tươm tất được!

Sau bài đó, ít ai nghe nói đến sáng tác nào của thầy tôi cả. Có nhẽ vì ở “lính kèn” một thời gian rồi thầy rẽ sang ngả Ngoại Giao, đi Tây, đi Mỹ gần chục năm nên ít tham gia văn nghệ.

Ở nước ta cũng như ở nước ngoài, muốn tác phẩm được nhiều người biết đến thì phải có ai “lăng xê” mới ăn khách. Thầy tôi chả nhờ ai “lăng xê”, lại cái gì cũng “qua-loa-rơ-măng”, khen chê gì cũng được, không phiền hà. Thiềng thử ra, tôi thấy có mấy bài rất hay mà không ai biết, không ai hát, không ai phổ biến dùm. Còn tôi vô tài bất tướng, chả quen biết ai trong giới nghệ sĩ thì làm sao giúp thầy được?

Thế nên, thầy có tài mà tài nằm trong hẻm thì bao giờ thoát ra được đại lộ hoàng hôn?

Đáng tiếc! Đáng tiếc!

Thiệt ra, con người ở đời ai chả muốn có chút danh. Danh đây là chính danh, danh thơm chứ không phải là hám danh, hư danh, ô danh. Muốn có chút danh thơm khó lắm. Cổ nhân nói: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” là vậy!

Thầy tôi cũng muốn được thêm nhiều người biết đến Nguyễn Túc, đến Pierre Touquet, đến Tú Xê đấy chứ! Nhưng sức người có hạn, tài nghệ có chừng. Hơn nữa, muốn có danh thì phải thật là ham danh, cũng như muốn làm giàu thì phải thật là thích tiền, ham tiền, mê tiền, rất chịu cực chịu khó và có máu liều thì mới thành công được.

Thầy tôi cũng muốn có chút danh thơm để lại với đời đấy chứ! Nhưng thầy không chuyên tâm, không dốc lòng, không có máu liều thì làm sao đây?

Tôi cũng giống thầy về điểm trên. Tôi viết lách liên tục trên bốn chục năm trời từ hồi ở Việt Nam, nếu gom lại in thành sách, bét ra cũng được hai, ba chục cuốn. Nhưng tôi biết sức mình có hạn, có muốn nổi danh cũng khó khăn, cũng xa cách muôn trùng. Nên tôi chỉ có vài cuốn coi như mấy món ăn chơi. Còn bao nhiêu xếp đó. Thế mà lại hóa hay, không théc méc chi nhau, không mơ mộng hão huyền cho đời bớt đi nhiều sóng gió...

Tôi cũng viết lời một số bản nhạc với nhiều nhạc sĩ nhưng ký một cái tên lạ hoắc nên có nói ra cũng chẳng ai biết cả. Có bài rất nổi tiếng đã do Thái Thanh, Elvis Phương, dàn nhạc đại hòa tấu trình bầy rồi cơ mà!

Vậy thầy trò tôi cũng tạm giống nhau đấy chứ!

Club du Jeudi": Quán phở!

Thay vì tìm cách nổi danh, “lăng xê” nhạc thì thầy tôi lại có cái thú lăng xê môn nấu phở. Thầy nói, trước đây nhà có tiệm ở khu Nhà Thờ Ba Chuông rồi nên thầy cũng học được đôi điều, đủ lập một cái “Club du Jeudi” trên vùng Virginia. Tiệm này không có bảng hiệu, không đăng quảng cáo, không tiếp khách thập phương mà chỉ dành cho thân hữu, mở ngày thứ Năm hàng tuần.

“Manager” là Văn Phụng. Bạn đến ăn tự động lấy bát lấy đũa, gắp bánh phở, gắp tái, chín, nạm, gầu, gân, chan nước dùng rồi kiếm chỗ ngồi xì xụp. Ăn bao nhiêu cũng được miễn là còn phở còn thịt. Ăn xong tự động rửa chén bát xong cho lên khay. Khỏi phải trả tiền nhưng ai cho bao nhiêu cũng không chê, để bỏ vào quỹ phở. Club này đã hoạt động liên tục nghe đâu cả chục năm rồi. Đến khi “Manager” Văn Phụng lên chuyến tàu chót, rồi Nhật Bằng đi chuyến kế thì Club dần dần ít khách. Không ế nhưng vắng bóng anh em lui tới. Thế nên bi chừ, thứ Năm không còn họp phở nữa. Cái Club này nghe nói là vui lắm. Cai tôi không ở trong nhóm này nên không biết rõ có những ai, chuyện gẫu có gì vui, có gì lạ?

Nhưng có cả nữ giới tham gia nhóm phở thứ Năm, như Kim Oanh, Châu Hà, bà “Tàu Hongkong” là bà Hoa. Quý vị xực phở xong có quyền “to go” đem về nhà, nếu còn thịt còn nước dùng. Bánh phở thì nhà nào cũng sẵn!

Tuy không biết nấu phở, không mở tiệm nhưng tôi cũng biết làm dăm món ăn quê hương, như: Bún thang, bún riêu, cà bung, cà chua nhồi thịt, thịt kho tàu, cá kho tộ, ốc hấp, bánh giò, bánh tôm, bánh “Rum cake”... Đó cũng là niềm vui trong khi thất nghiệp nằm mèo ở nhà.

Trong nhóm Kỷ Nguyên Mới, một số thành viên đã thưởng thức món Bánh Giò do tôi biểu diễn, làm tại nhà cô Lê thị Nhị. Ai cũng công nhận là... bổ tì bổ vị!

Nhiếp ảnh gia

Thứ sáu, thầy tôi nhiều tài lắm. Ngoài tài viết nhạc, chơi đàn, soạn hòa âm, làm CD, làm tập nhạc giáo khoa với Linh Phương, thầy còn có tài chụp hình.

Mục này thì tôi mù tịt, không dám có ý kiến.

Ở tuổi tôi mà đeo vai cái máy Canon, thêm ống kính, thêm các thứ lỉnh kỉnh phụ tùng nặng như chiếc cối đá đã thấy ngất ngư con tàu đi rồi. Huống chi thầy đã ngoài tám chục mà đi đâu cũng ôm mấy thứ đó thì nặng nề lắm lắm. Nhưng thầy thích thì cứ việc đeo máy. Bộ máy hình của thầy thuộc loại chuyên nghiệp, tối tân, nghe đâu trị giá sơ sơ cũng khoảng 3,000 đô la. Mỗi lần đi họp, đi ăn cưới, hội hè đình đám là thầy chụp cả chục cuộn phim. Phải công nhận là thầy có nhiều hình các bà các cô nom rất tự nhiên, rất ăn ảnh, rất bắt mắt. Rồi thầy phóng to ra, lồng khung vào nên nom lại càng thêm giá trị. Ai nhìn hình mình cũng phải xuýt xoa khen ầm lên rằng thầy đích thị là đại nhiếp ảnh gia!

Thầy có lệ, ai lấy hình nhỏ, trả 1 tì 1 cái. Lớn hơn, thêm khung thì tính giá riêng, nhưng phải gọi là “giá văn nghệ” chứ thầy không buôn bán, thương mại gì cả. Nhưng phần đông bạn bè khi xem xong hình, mải mê quá rồi ra về mà quên mất cái mục trả tiền phim, tiền rửa hình cho thầy. Nhưng thầy tôi vẫn im lặng, không nói năng, đả động gì đến tiền nong sốt cả. Thầy biết nhưng cứ coi như đó là chuyện nhỏ! Tôi đoán là hàng tháng thầy bỏ ra cả trăm đô la vào việc mua phim, mua pin, mua khung, rửa hình, chạy đi chạy lại tiệm rửa hình, lái xe, chi tiêu linh tinh và mất ngày giờ để phục vụ nghệ thuật và phục vụ bạn bè!

Có lẽ vì thế mà bạn bè thương yêu thầy hơn vì thầy dễ tính!

Tính thầy lại rất cẩn thận, mỗi tấm hình lớn hay nhỏ do thầy đạo diễn đều được thầy dùng bút màu bạc, màu vàng óng ánh đề thêm chữ “Photo Túc” ở góc ảnh như để nhắc nhở người coi rằng ta đây chính là tác giả vậy! Chưa hết, mặt sau tấm hình còn có cái “ê-ti-két” nhỏ xíu ghi địa chỉ của thầy. Có lẽ đây là một cách khiêm tốn để nhắc nhở đừng có ai quên trả tiền cho tôi đấy nhá! Những cái tỉ mỉ, lắt nhắt ấy đều là cá tính và đặc tính của thầy tôi cả đó ạ!

Thầy vẫn giữ vững lập trường: Chơi nhạc, chụp hình là cái thú rong chơi, còn chuyện tiền bạc là chuyện không đáng kể! Nên đến giờ thầy càng ngày càng nghèo thêm!

Tuy coi vẻ dễ dãi, lơ mơ như thế nhưng thầy có một cái ít ai sánh kịp: Ấy là mấy cái tủ đựng albums hình lớn nhỏ, mấy tủ chứa cả vài ngàn bản nhạc từ trước thập niên 1950, nhiều bản là nguyên bản với bút tích của tác giả cùng thư từ giao dịch.

                        

Thầy tôi vốn là Quản Thủ Thư Viện ở Bộ Quốc Phòng nên sắp xếp hình ảnh, bản nhạc đâu ra đó. Cần đến là có ngay chứ không cần lục lọi mất công. Phải nói là công phu nữa. Như tìm bản nhạc theo vần đã đành mà không có thì tìm theo tên tác giả cũng có sưu tập đầy đủ. “Cát-sét” thì cả tủ. CD bây giờ cũng đầy tủ đầy ngăn rồi.

Nhờ thế, khi nào tôi cần tài liệu viết nhạc theo một đề tài nào, tôi chỉ việc kiếm vần có tên đó là ra. Như loạt bài viết về những nét đẹp trong tân nhạc chẳng hạn.

Thầy ở nhà chính phủ, tân trang lịch sự đình huỳnh. Đồ đạc phần đông là nhạc cụ, nhạc phẩm. Trong phòng ngủ vừa là chỗ thu thanh, có đến 3, 4 cây đàn piano, “ki-bo”. Máy móc thu âm cũng dăm chiếc. Còn trong “closet” thì nào là “accordéon”, “ghi-ta”, trống lớn trống nhỏ, thùng giây điện, loa lỉnh kỉnh. Nhưng đóng “closet” lại thì nom bên ngoài rất gọn gàng. Ngoài phòng khách có mấy chiếc kệ cao chứa đầy “album” hình ảnh và bản nhạc, ngăn nào cũng nặng trĩu. Thầy che mỗi kệ bằng một màn vải màu mỏng, nom rất tinh tươm.

Nói chung là nhà thầy chỗ nào cũng che cũng đậy cũng đầy những thứ cần dùng hoặc chẳng cần gì cả. Ai thiếu gì cứ hỏi, thấy có là cứ việc xin, không thắc mắc!

Trong bếp thì nào mấy chai ruợu Tây, mấy chai nước mắm, mấy lọ dưa hành củ kiệu, vài ba đĩa xôi, đĩa đậu, đĩa thịt kho tàu. Nếu ta tình cờ mở ngăn kép, thể nào cũng thấy vài con dán bò khập khễnh.

Hồi thầy dọn nhà để tân trang, lỡ tay mở vội ngăn kéo làm một con dán bự gãy chân phải. Đã mang đến bệnh viên cấp cứu, bó bột cho lành rồi. Bây giờ con dán bự đó đã đi lại bình thường, thoải mái!

Giang sơn của thầy, gia tài của thầy không nhiều nhưng cũng đủ chơi. Thầy cũng có những ước mơ nhưng lại hơi ngoài tầm tay với. Nhưng thầy bảo cứ tiếp tục cũng có lúc chộp được. Thầy là người lúc nào cũng yêu cuộc sống và nuôi hy vọng!

Thầy lại rất cẩn thận nữa chứ! Có lần thầy dặn con: Khi nào bố đi theo Văn Phụng, Nhật Bằng thì con trao lại tủ nhạc cho chú Phúc. Để chú ấy có tài liệu viết về âm nhạc.

Tôi nói với cháu:

- Cháu ạ! Tủ nhạc ấy đồ sộ quá, nặng quá! Thôi thì, khi nào bố đi thì chú cũng đi theo bố luôn cho tiện việc sổ sách. Cháu trao tủ nhạc cho ai thì trao...

Cháu nhìn tôi, ngỡ ngàng không biết đối đáp ra sao.

Thầy có một cái tật chưa chữa được là: Chuyện cần làm, chuyện quan trọng thì để đó, đi làm chuyện khác vớ vẩn. Thành ra nhiều tháng trả trễ tiền nhà, thầy bị phạt mấy chục đô la mà vẫn chứng nào tật ấy chưa chừa.

Tôi dặn thầy: Khi nào giấy tờ về tiền bạc tới thì lập tức thanh toán ngay cho yên chí, khỏi bị phạt. Thầy cười, bảo sẽ làm. Nhưng câu hứa ở “thời vị lai”khó mà tin được!

Thứ bảy trời trong!

Thứ bảy: đến đây thì tôi phải đổi đề tài một chút xíu để nói đến cái độc đáo của thầy tôi. Độc đáo là ở như chỗ, thứ Bảy là thầy tôi dành ngày này, dậy từ sáng sớm, nếu trời quang mây tạnh là thầy tôi rời nhà từ sáng sớm khoảng 8 giờ, một mình lên xe hơi, lái quanh mấy khu phố trong vùng gần nhà để mua “garage sale”. Đây là cái thú cuối tuần không thể bỏ. Một mình thầy cũng đi, hai mình cũng tốt.

Thầy lái xe thì “gùng gợn” lắm. Cuối tuần đường vắng, thầy lái thoải mái giữa đường. Xe nào bóp còi thì thầy nhường, lái về bên phải đúng luật giao thông. Nhiều khi đèn xanh, đèn đỏ không chừng, thầy mãi nhìn bảng “Sale” nên vượt quá lố. Cảnh sát không bắt được thì an toàn xa lộ, “thank you very much”! Bằng không thì thầy lãnh cái giấy phạt vài chục đôn xanh cũng coi như: của Mỹ, trả Mỹ chứ có mất đi đâu? Quan niệm đứng đắn như thế nên thầy rất bình tĩnh trước pháp luật. Mấy lần thầy lái xe chẳng dè vượt đèn đỏ. Máy chụp hình, gửi giấy phạt về nhà. Thầy vui vẻ ký “check” nạp tòa, thanh toán sòng phẳng, không théc méc. Tiền Mỹ trả Mỹ í mà!

Thầy đi một vòng trong khu, thể nào cũng có vài nhà bán đồ “sale”. Thầy tạt xe vào lề, đi coi khắp lượt. Thứ thầy cần là những khung hình lớn nhỏ, hễ trả giá xong xuôi là thầy khuân hết lên xe. Có khi mua cái đàn guitare 7 tiền xanh, có khi mua chiếc điện thoại không giây mới toanh chưa mở, chỉ có 6 đôn. Có khi vớ được cái khoan điện tốt nguyên: 1 tì! Có khi khuân về chiếc máy đá banh rất mới 5 đô la. Thầy lại ngồi “bắn” banh, chơi một mình thay vì giữ để dành làm quà cho cháu.

Máy móc gì về điện tử, điện ảnh thì thầy khoán trắng cho họa sĩ Trần Thanh Hoàng ở gần nhà chạy ù qua lắp ráp, còn những chuyện linh tinh thì thầy giao cho tôi, phong cho cái chức “Kỹ sư mò”!

Suốt tuần, thầy đợi đến thứ Bảy để đi “garage sale”, không thể bỏ được. Không nghiện nhưng cũng gọi được là... ghiền!

Mà quả nhiên, tôi cũng lây cái bệnh ấy. Tôi muốn có một cái khoan điện nên đi theo thầy thử một bữa. Chưa mua được nhưng la cà coi đồ cũng thấy thú. Bởi tự nhiên mình thấy một món nào đó mình đang cần hoặc rất thích mà bán với giá gần như cho không thì thử hỏi còn gì thú cho bằng? Nên cứ tiếp tục theo thầy thì thể nào một ngày nào đó cũng mua được dăm thứ ưng ý, rẻ rề!

Lần rồi, tôi mua được cặp tạ tập tay 2lbs: 1 tì! Cặp loa ráp computer: 2 tì!

Vào những ngày thường, buổi sáng khoảng 7-8 giờ, thầy ngồi chờ họa sĩ Hoàng ở gần bên, đánh xe sang đón thầy lại La Madeleine ở đường 7, kiếm hai ly cà phê, vài lát bánh mì, mấy hũ nhỏ đựng bơ, mứt rồi bưng ra ngoài hành lang, ngồi nhâm nhi cà phê, vừa tán gẫu chuyện đời, ôn cố tri tân, cà kê dê ngỗng, vừa chia cho đàn chim nhỏ chút bánh mì, vừa nhìn trời nhìn đất, nhìn ông đi qua bà đi lại. Khoảng 9 giờ hơn, thầy trò lại trở về. Thỉnh thoảng tôi cũng tham gia mạn đàm, cà phê cà pháo cho vui đời nghệ sĩ!

Cứ bận rộn như thế suốt tuần, ngày nào cũng có người ghé thăm cho thùng Ensure, cho cái bánh chưng, cho dăm cái croissant, nhờ sang dùm mấy chiếc CD, DVD, viết lại dùm một hai bản nhạc, hẹn chụp hình đám cưới, mời tham dự hội già, rủ rê đi Eden ăn bún bò Huế, bánh cuốn, bún chả...

Cuối tuần thì có bạn già là bà Hoa, có vợ chồng cháu Tiến Đạt lại nhà chuẩn bị làm bánh xèo, bún măng vịt, bánh canh giò heo rồi quây quần lại xì xụp đến chiều tà mới tan hàng. Cần chuyện gì về di trú, bảo lãnh, dịch thuật, thông hành, mua vé máy bay thì thầy nhờ cậy hội viên “Club du Jeudi”: Anh Huỳnh Thanh Phương ra tay là gạo xay ra... bột!

Như vậy, thầy không bao giờ ở không, tuy không sắp xếp chương trình mà lại rất tinh vi khoa học. Cuộc sống coi bộ phởn phơ, nhẹ nhõm, trôi qua ngày tháng vội...

Tạm kết:

Sơ qua vài nét rất đan thanh như thế, tôi có nhận xét về thầy như thế này:
- Sống tuổi già, ở riêng một nhà, không phiền hà con cháu.
- Cái nhà là nhà của ta, nhỏ to thây kệ (miễn có chỗ) chui ra chui vào.
- Vui với hoàn cảnh, vui với số phận, coi như định mệnh đã an bài.
- Không để cho thời giờ trống rỗng, lúc nào cũng tạo công việc làm cho qua ngày.
- Không lo nghĩ, không sợ sệt, không mơ ước chi xa, chỉ nhìn cuộc đời trước mặt và nhìn thật gần, trong tầm tay với.
- Thân tình là gia đình các con các cháu ở gần, thỉnh thoảng ghé chơi thăm nom, cho chút quà chút bánh, hỏi han ba điều bốn chuyện.
- Tình thân là một số bạn bè xa gần, qua điện thoại, qua sự hỏi han, ghé nhà, rủ ăn uống.
- Rong chơi với âm nhạc, với nhiếp ảnh, qua tiếng đàn và ống kính Nikon.
- Ai nhờ gì trong tầm tay cũng giúp mà không đòi hỏi điều kiện nào sốt cả!
- Chỉ để cho người nợ mình chứ mình chẳng nợ ai.
- Chuyện khen chê, đàm tiếu đều gác bên lề, đều bỏ ngoài tai.
- Đúng như cái tên của thầy: Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời... (Nguyễn) Túc!


Với tôi, từ khi lên vùng DC này được 6 năm, người bạn thân nhất chính là thầy.
Chơi với ông, tôi coi như ông anh lớn, như người bạn vong niên, có thể nói đủ mọi thứ chuyện tục thanh mà không ngại là mình nói năng bậy bạ, vô lễ, cà chớn...
Cũng không sợ ông già mách chuyện vì ông lãng tính, nói trước quên sau nên rất bảo đảm về phương diện phòng gian bảo mật!
Tóm lại, thầy tôi là một người dễ thương, hiền hòa, tử tế.
Sống ở trên xứ người lưu lạc này, được kết bạn với người như thế, kể cũng là hiếm có.
Xin cảm tạ Ơn Trên!
Xin cám ơn thành phố có thầy tôi: Nguyễn Túc!

Lê văn Phúc - 6/2006

              

                  Bấm vào tên người trình bày để nghe: MỘT NGÀY XA NHAU - Băng Tâm

                                                    

                                  

                                          Bấm vào tên để vào trang nhà của Nhạc Sĩ Linh Phương

                Bấm vào tên người trình bày để nghe 2 bản nhạc của Linh Phương trong CD VÁ ĐỜI ĐAU THƯƠNG:

     Yêu Trăng ( thơ: Hà Bỉnh Trung) - Thuy Long hát     Vá Đời Đau Thương (thơ: Thanh Hiền) - Hương Giang hát

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Nhạc Tuyển "Tình Yêu và Quê Hương" I và II - Đồng tác giả: Nguyễn Túc, Văn Phụng, Nhật Bằng, Đan Thọ

2. Những hình ảnh, CD và bản nhạc từ Nhạc Sĩ Nguyễn Túc, Linh Phương

3. Bài viết của Nhà Văn Lê Văn Phúc, Vương Quân (Nhà Thơ Vương Đức Lệ)

4. Các websites: www.khanhly.com/phoxua/ ...

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com