arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow 42- BẰNG HỮU GẦN XA - Đỗ Phú
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
42- BẰNG HỮU GẦN XA - Đỗ Phú PDF Print E-mail

BẰNG HỮU GẦN XA

Buổỉ ra mắt sách của văn sĩ Huy Trâm tại Virginia được bạn bè, thân hữu đón nhận nồng nhiệt. Đứng xếp hàng chờ đến lượt mình nhận sách, thấy anh mập mạp hơn xưa đôi chút, điềm đạm hơn, già đi do sự tàn phá của thời gian gồm 7 năm cải tạo. Nếu không được biết trước, tôi có lẽ không nhận ra anh.  Cũng như cách đây khoảng 4,5 nãm, khi một diễn giả được giới thiệu là ông Lê Hữu Mục, tôi ngạc nhiên sao mình không nhận ra anh Mục, một người bạn mà trước năm 1975, tôi thỉnh thoảng lại chơi và đã đôi lần ăn Tết với gia đình anh chị. Khi anh bước xuống bục, tôi chạy lại tự giới thiệu tên, sau một thoáng suy tư, anh ôm chầm lấy tôi và nói: trời ơi, mừng quá được gập lại anh tại đây. Đã lâu lắm rồi nhỉ?  Đúng anh ạ, gần 30 năm không gập nhau rồi, anh em mình đều mắc bệnh lão hóa nên nhìn nhau phải hồi lâu mới nhận ra nhau. Sau đó, anh kéo tôi đến ngồi cùng bàn anh để ôn lại vài chuyện xưa.
Khi đến lượt tôi nhận sách, chị Ngọc Dung, văn thi sĩ, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ văn học nghệ thuật Cỏ Thơm, giúp anh Huy Trâm giới thiệu và ghi tên thân hữu trên sách, anh Huy Trâm chỉ cần ký tên,  để các thân hữu khỏi phải  xếp hàng chờ đợi quá lâu. Hơn nữa chị Dung quen biết hầu hết các bạn hữu vùng Hoa Thinh Đốn. Khi đến lượt tôi, anh Huy Trâm ngẩng lên nhìn, rồi như đang suy tư tìm lục trong trí nhớ xem tôi là ai, anh đã quen và gập tôi ở đâu ngày trước. Anh ký tên tặng sách xong lại ngẩng đầu lên lần nữa nhìn tôi. Để giúp anh mau nhớ lại, tôi nói vội một câu hơi thừa vì anh đã nhìn thấy tên tôi trên trang sách do chị Dung ghi, tôi Phú đây anh Tam, Tam là tên thật của anh. Ồ nhớ chứ, anh đáp. Làm sao quên.

Sau khi Ls Tiến giới thiệu sách của Huy Trâm, anh có đôi lời về anh, cuộc sống của anh ở hải ngoại từ 18 nãm qua, hoàn cảnh nào đã giúp anh sáng tác thêm được nhiều nhạc phẩm và tác phẩm văn học.

Mỗi giai đoạn lịch sử anh trải qua là một đoạn đường cũng quen thuộc với tôi, nhất là thời trước tháng tư năm 1975. Tôi không nhớ là đã quen anh ở đâu, vào dip nào, nhýng chắc chắn không phải qua tư cách một đồng nghiệp, phải rồi có l lần anh tổ chức l buổi ca nhạc kiểu hát cho nhau nghe giữa các thân hữu, anh mời tôi đến dự, anh giới thiệu tôi với các bạn văn nghệ của anh như thể tôi cũng thuộc nòi nghệ sĩ dù tôi xin cải chính tôi chỉ là người đến để vỗ tay cho anh, nhưng chẳng ai nghe tôi. Có lẽ lúc đó tôi đang làm chủ bút của tờ Pháp Luật của Luật sư đoàn Sài Gòn,  tờ báo nghiên cứu Luật Pháp, khô khan và chỉ có số độc giả giới hạn trong ngành Luật mà thôi. Và một vài bạn đôi lần thấy tôi đứng bên các nghệ sĩ như KC, TTH, HC nên đã nghĩ tôi cũng gần hay là có máu văn nghệ, nên nể tôi luôn.  Một lần vui nữa là lúc anh ra mắt l CD, anh cũng mời tôi và tôi đã có mặt làm chức năng của mình là vỗ tay nồng nhiệt, mỗi khi ca sĩ hát xong một ca khúc của anh. Thời gian đã làm cho tôi quên tên những bài hát do anh viết, nhưng điều mà tôi biết chắc là anh viết nhạc khá hay, và có hồn đã bắt đầu có nhiều người biết tên.

Đứng cạnh Ls Sinh, tôi hỏi anh, cậu có biết Tam, Tam là tên của văn sĩ Huy Trâm, từ ngày trước không? Anh Sinh trả lời, trước 75, tôi và Tam ăn nhậu với nhau thường xuyên. Chúng tôi có nhiều chuyện để nói cho nhau nghe lắm. Khi xuống cạnh chỗ chúng tôi đứng, anh Tam nói, lâu quá rồi mới gặp nhau, tôi ở gần các anh D, chi T (là anh chị họ bên nhà tôi), các anh chi ấy đã ra đi rồi. Anh nói để chứng tỏ anh còn nhớ đến tôi, giọng anh khác ngày xưa, trầm buồn, và chậm rãi. Qua anh tôi nhớ đến các bạn cũ, đồng nghiệp, nhiều người hơn tôi cả Giáp nhưng vì trong ngành nên cho phép tôi coi như đồng nghiệp. Những vị niên trưởng, chánh thẩm và hội thẩm thường coi tôi là bạn là các cụ ĐVH, NVH, NHT,VTTẦ các Ls NHP, TVT, NVC, NNS, VVQ... các Gs BSH, NHC... nhiều vị đã ra đi về miền vĩnh hằng.  Một vài bạn trẻ vì vắn số cũng theo các cụ ra đi, các bạn tôi kể ra không hết, đi trước hạn kỳ, oan nghiệt, tức tưởi do tai họa của Cộng Sản áp đặt trên đất nước ta.  Anh Tam đã gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm cũ, về các bậc niên trưởng, đàn anh, bạn hữu, cụ NMN, thân sinh anh Tam một lần nhờ thư ký mời tôi lên văn phòng gập cụ. Cụ NMN là hội thẩm thâm niên của Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, hồi đó ai được quen cụ là điều hãnh diện. Cụ gọi tôi nói rằng cụ thấy tôi là một thành viên trẻ nhất trong Hội Đồng luật sư, lại được các Ls yêu mến và tín nhiệm, cụ rất vui mừng mà nhắc tôi rằng cụ và tôi không phải là xa lạ đâu đấy. Ông thân sinh ra cụ và ông nội bên chị là chỗ thân tình ở vùng Hoàng Xá, Hưng Yên, hồi đó các cụ thường qua lại thăm hỏi nhau. Nên bất cứ lúc nào tôi có dip đi ngang văn phòng cụ thì cứ tự tiện ghé chơi, nói chuyện.  Sau này ra hải ngoại được tin cụ đã mất trong trại cải tạo, tôi đã không khỏi không lặng người thương tiếc.
Tôi đã nghe nhiều chuyện đau buồn xẩy đến cho các bạn tôi, từ chính các nạn nhân hay nhân chứng kể lại, và chính bản thân tôi cũng là một thuyền nhân nhiều may mắn nên thấu hiểu nhau dễ dàng, nhiều câu chuyện có vẻ riêng tư nhưng thật ra nó ảnh hưởng tới nhiều người và gần như là chuyện chung do thời cuộc gây ra. Nhiều lúc tôi muốn ghi lại ít nét về những bạn cũ, những gì mà họ đã trải qua đều là một kinh nghiệm hay bài học chung cho nhiều người nhưng trí nhớ của tôi không còn sắc bén như xưa để cho tôi thực hiện điều tôi ao ước. Tôi được may mắn là đã có rất nhiều bạn, nhờ bạn thúc đẩy tôi mới học lên cao học, nhờ bạn mà tôi luôn luôn có việc làm tốt, giầu về bạn sang vì vợ, điều này qủa thật đúng với tôi. Mỗi người bạn đều mang lại cho tôi một cái gì đó, tôi học được ở họ cách cư xử, giao tế, nói chuyện, hay nói khác đi là cách ăn ở. Người xưa nói Ộdụng nhân như dụng mộcỢ, đại ý người ta như các bộ phận của một cây, ai cũng có gía trị và hữu dụng cả nếu ta biết nó. Lá có gía trị của lá, hoa có gía trị cuả hoa, hoa lá có thể ăn hay dùng làm thuốc, khi lá úa rụng che mặt đất không cho cỏ mọc và rữa ra làm thành chất bón cho đất và nuôi cây, tái tục một chu kỳ mới cho đời sống của cây cỏ, cành và thân cây có gía trị của gỗ, mang lại muôn vàn lợi ích và nâng cao giá trị đời sống cho con người.  Bạn tôi, như đã nói thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, tuổi tác cũng khác nhau, vì tôi đã làm nhiều ngành nghề từ năm 15 tuổi. Với hoàn cảnh khá đặc biệt của đất nước chiến tranh, giông tố phũ phàng triền miên, chế độ này lên chế độ khác xuống đổi thay xoành xoạch nên mỗi người là một nhân chứng hay nạn nhân, đều có chuyện đáng kể lại cho nhau nghe và làm tư liệu cho những người sinh sau không có hoặc không bao giờ cảm nhận được nó.

Tác gỉả kể đến nỗi buồn khi mất người bạn đời, sau bao nhiêu nãm làm việc vất vả nuôi con, lúc các con vừa trưởng thành là lúc vợ chồng có thể nghỉ ngơi, an vui tuổi gìa, thì chị ra đi. Tôi tính an ủi anh vài câu nhưng không nói ra lời. Anh đã đưa tôi trở lại một qúa khứ nhiều kỷ niệm buồn hơn vui, mà nhiều bạn tôi cũng như tôi đã phải trải qua.
Cách đây ít năm tôi nhận lời tổ chức một buổi ra mắt sách cho một người bạn ở xa, một việc làm bất thường vì nể bạn đã dầy công viết  một cuốn biên khảo hết sức công phu. Khi mãn tiệc trà, một chị đến bên tôi hỏi: anh còn nhớ em không?  Phản ứng tự nhiên là tôi trả lời nhớ chứ, thật ra tôi cũng nhận được ngay chị là bạn cũ nhưng tôi phải suy nghĩ lục tìm tên, và xem hình dáng này ở đâu đó trong trí óc. Ồ chi Hà, tôi mừng rỡ trả lời. Lại thời gian quái ác đã lão hóa con người và làm teo não bộ của tôi. Chị H là vợ của Xuân, anh bạn hiền và sống hồn nhiên, lúc nào cũng như để mặc cho đời đưa đẩy. X được cha me cho đi học ở Pháp, sau gần l0 năm du học trở về, anh chỉ có một tấm bằng mà anh không hề nói tới nhưng các bạn anh đều hiểu ngầm đó là bằng ăn chơi, nhẩy đầm và nói tiếng Pháp như Tây. Kiểu ăn chơi của X là ăn chơi sang, có chừng mực chứ không trụy lạc, trác táng. Anh được nhiều trường tư mời dạy học môn Pháp ngữ. Tiền anh kiếm không nhiều nhưng đủ để anh sống rủng rỉnh, phong lưu. Tôi gập X khi tôi tới trường dạy thay cho bạn tôi vài giờ, từ trong phòng giáo sư, chúng tôi quen nhau, rồi thân nhau.

Tôi mời chi X về nhà dùng cơm tối và hàn huyên, vì chị và vợ chồng tôi có nhiều tâm sự để trút cho nhau nghe. Chi X kể : Sau tháng tưnãm 1975, chúng tôi bị kẹt lại, sự thực anh nhà tôi cũng không sốt sắng lắm trong việc tìm đường di tản, đi được thì càng tốt, mà có ở lại cũng không sao. Anh lý luận rằng CS cũng là người mình cả, ở đâu thì mình cũng phải làm việc để sống.  Khi người CS vào Sài Gòn, anh X không còn việc gì để làm, nghề dạy tiếng Pháp của anh ấy không nằm ở tiêu chuẩn nào, nó không đạt yêu cầu, không sản xuất, đó là chưa kể có thể bị kiểm điểm, đấu tố bất cứ lúc nào. May nhờ biết chơi đàn guitare, anh được làm tạm trong ban văn nghệ của cơ quan. Nhờ chút nghiệp dư mà gia đình thoát cảnh đi vùng kinh tế mớí. Mấy năm đầu sau ngày mất nước, chúng tôi còn có ít đồ dùng bán dần đi để mua gạo, mắn, mới đầu thì đồ trang hoàng nhà cửa, bàn ghế, tủ sau đến những đồ gia dụng nào còn mới hay dùng được là đưa ra chợ trời. Bố mẹ anh đã nghỉ hưu từ lâu, tháng đôi lần vẫn phải tiếp tế thức ăn.  Anh X trở nên ít nói vì thấy mình bất lực không kiếm ra tiền, cái đói càng ngày càng dài ra và triền miên. Biết anh không  than ngay cả vớí vợ con, vì nhà nước luôn hô hào cách mạng là đổi đời, và bây giờ đời đang đổi, chúng tôi phải nói theo những gì đám cán bộ nói, lúc nào cũng bị rình rập, theo rõi, sợ sệt đủ điều. Mọi người phải luôn tự kiểm và bá cáo về bọn người họ chỉ định. Cái đói, cái lo sợ bao trùm mọi nơi. (Ký gỉa Võ Long Triều đã tả cái đói mà CS gây ra, trong tập hồi ký của ông, cho những người mà họ nghi ngờ chống đối họ, thật ghê rợn, con vật đối xử với nhau cũng không thể nào hơn được). Nhà tôi đang từ một con người trắng trẻo, đậm đà nay đổi thành đen sạm, co ro, cỏ rả vì thiếu ăn, mặt mày hốc hác.

Thấy nhà tôi như vậy, tôi bàn tính vớí anh tìm đường vượt biên, đối vớí anh thì tôi muốn gì cũng được, anh nể tôi  nói tùy tôi. Thế là tôi âm thầm tìm mối vượt biên. Những tin tức về nhừng người ra đi dữ nhiều hơn lành. Tin hải tặc Thaí Lan hãm hiếp phụ nữ, một số bị bắt đi làm đĩ điếm cho bọn chúng, một số bị liệng xuống biển cho phi tang. Đàn ông thì bị đánh đập vất xuống biển sau khi lột hết vàng bạc, đồ dùng. Những chuyện hãm dâm đàn bà, con gái   cướp của, chấn lột, dìm tầu thuyền của người tị nạn để phi tang chứng, dã man không thể bút nào tả lại cho hết được. Số người chết trên đường vượt biên được dự trù lên đến trên 400.000 ngàn người. Có người đã nói phải tập trung bọn ngư dân Thái lại và dạy cho chúng biết làm người, họ sống với đầy thú tính. Vượt biên là đi vào vô định, đi vào cõi mù khơi, hai phần chết một phần sống. Nhưng ở lại thì tương lai quá mù mịt, chủ tâm của người CS là loại bỏ những người đã không theo họ và đầy ảỉ lớp người này cho đến chết. Chị H kể anh chị một cựu sĩ quan được gọi đi trình diện, họ loan báo chỉ cần mang theo 30 ngày lương thực, nên anh ấy và các bạn đều tin là sẽ được về sau 30 ngày học tập. Nhưng tất cả đã bị lừa, 30 ngày đã trở thành 3, 5 năm thậm chí như các bạn N, M, H, Q Ầ đã lê chân hết các trại tù đến 13 năm, lúc về chỉ còn bộ xương  cho vợ con săn sóc. Chị H nói tiếp sau hai năm tôi tìm được mối vượt biên. Phải bao khó khăn, vay mượn từ mọi nơi, bố mẹ, chú bác, anh em, vơ vét bán hết tất cả những gì có thể bán được luôn căn hộ mới đủ tìền đóng góp cho chủ tầu, X đã có lúc nản chí bảo tôi bỏ ý định vượt biên, nhưng vì chiều vợ nên cũng chỉ bàn vậy thôi. Nếu đi không thoát, không biết rồi ra vợ chồng con cái sẽ ra sao. Đến ngày khởi hành chúng tôi và hai cháu nhỏ, từ biệt bố mẹ trong u buồn. Cái buồn không làm sao tả ra được, lúc đó tôi và X cả hai đều không nói được, đầu óc nhưđã bị đóng băng, khô cằn không còn xuy nghĩ gì được.  Muốn nói một vài câu với cha mẹ mà chẳng biết nói gì. Đến ngày hẹn, chúng tôi xuống Cần Thơ gặp người hướng dẫn, đi một chặng lại nghỉ và ẩn naú để tránh công an, đến 3, 4 ngày mới đến điểm hẹn lên ghe máy ra khơi. Những ngày trên biển là những ngày cực kỳ lo sợ, thỉnh thoảng lại l trận mưa, sóng lớn gío to, con thuyền bị những lớp nước đổ ập lên tưởng như đưa con tầu nhỏ vào lòng biển nhưng rồi nó lại trồi lên, mọi người nằm như chết vì say sóng. Kể đến đây chị khóc, một hồi tưởng buồn thảm, chị tiếp: tại tôi, nếu tôi không thôi thúc anh ấy đi thì đâu anh ấy phải chết, tôi đã mất chồng con, mất tất cả, anh ạ.  Chiếc thuyền khi nhìn thấy bờ vừa lúc bị vỡ, chìm, tôi tỉnh dậy trong nhà thương không biết đã ngất đi bao nhiêu lâu, tỉnh dậy thì được biết chồng và các con tôi đã chết cả rồi. Anh ấy biết bơi, còn bơi giỏi đằng khác mà chết đuối, còn tôi không biết bơi lội mà lại sống. Chồng con tôi đã ra đi cùng với 70 người đồng hành xấu số. 

Cái đau buồn qúa lớn, qúa sức chịu đụng của một phụ nữ nhỏ bé, chị không còn kể tiếp và tôi cũng không muốn chị khơi lại cái kỷ niệm kinh hoàng ngoài sự tưởng tượng của con người. Chúng tôi an ủi chị mỗi người một số mệnh, định mệnh đã an bài cho mỗi người. Có một câu mà X hay nói khi gập khó khãn hay có việc gì gấp gáp, anh vẫn thủng thỉnh: "tout s'arranges".  Kệ nó, mọi sự sẽ đâu vào đó. Cuộc đổi đời của anh chị đâu còn: như đâu sẽ vào đó. Nó đưa anh chị X vào cõi phi lý mà tôi vẫn không lý giải được. Câu nói cửa miệng nhưỢ aên hiền ở lànhỢ không còn đúng nữa. Không hiểu tại sao người đức hạnh, ãn ở hiền lành không bao giờ hại ai, không làm phiền lòng ai như X lại chết yểu trong lúc tôi biết có bao nhiêu lưu manh, sống thác loạn chỉ làm gánh nặng cho cộng đồng, xã hội thì lại cứ sống dai, sống dài và nhởn nhơ, ãn trên ngồi trốc.

Bạn tôi đó đến rồi lại đi, đến đi mỗi người mỗi ngả, mỗi cách. Chị N từ Canada vừa cho hay anh nhà tôi vừa bị trượt chân ngã trong nhà, không đi lại được, không thấy thương tích trên đầu, mà đang lúc tỉnh lúc mê, Bs cho hay chắc không còn sống được bao lâu nữa . Anh là một người bạn thân mà tôi trân qúi và chúng tôi có với nhau rất nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi cầu nguyện cho anh mau bình phục.  Tôi đã có nhiều bạn qúi, hiền lành, đức độ, sống một cuộc đời đáng sống. Lâu lâu gặp nhau l lần, rồi lại chia tay.  Có đấy rồi lại mất, tôi suy tư đọc mấy vần thơ cuả thầy Thích Quảng Độ:

"Bao năm nghiền ngẫm nghĩa có không
đến nay tôi thấy vẫn chưa thông
vạn pháp vốn không, không hóa có
thâm tâm dù có, có thành không
Bồ đề phiền não không rồi có
Niết bàn sanh tử có lại không
chứng được nghĩa không, không có có
ngộ xong lý có, có không không
nghĩa có không
rất khó thông"

ĐỖ PHÚ

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com