arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow 42- BƯỚC LẠ ĐƯỜNG QUÊ/ NHÀ XƯA, PHỐ CŨ ...- Nguyễn Thị Ngọc Dung
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
42- BƯỚC LẠ ĐƯỜNG QUÊ/ NHÀ XƯA, PHỐ CŨ ...- Nguyễn Thị Ngọc Dung PDF Print E-mail

BƯỚC LẠ ĐƯỜNG QUÊ

LỜI TÁC GIẢ:  Thưa quý độc giả, trước khi theo dõi thiên bút ký này, xin quý vị thứ lỗi cho sự dài dòng của tác giả qua hành trình về Việt Nam lần đầu tiên sau 33 năm xa Sài Gòn, 50 năm xa Hà Nội.   Biết bao chuyện để viết, biết bao kinh nghiệm muốn chia sẻ cùng quý vị.  BƯỚC LẠ ĐƯỜNG QUÊ của Nguyễn Thị Ngọc Dung sẽ được đăng nhiều kỳ trên Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm.   Xin mời quý vị theo dõi.  Thành thật cảm ơn quý vị. NTND

NHÀ XƯA, PHỐ CŨ, NGƯỜI ĐÂU TÁ!

Hà Nội, 7 Tháng 12, Năm 2004 - Sau cuộc du lịch Sapa ba ngày, hôm nay phái đoàn chúng tôi nghỉ xả hơi, chỉ đi chơi quanh Thành Phố Hà Nội.  Song Hà đi với Hương, cô em họ, mua mấy thứ mà chúng tôi mê điên đảo, ô mai cam thảo, ô mai khế, cốm vòng khô và vài thứ kỷ niệm.  Cô bạn của Hà đi thăm bà con thân thuộc.  Tôi đi thăm hai bà bạn học cũ.

8 giờ sáng,  Nhiên người em trai họ đã chở vợ tới để đưa Song Hà và Phước lang thang phố phường.  Còn Nhiên sẽ là tài xế xe ôm đưa tôi đi thăm phố cũ, nhà xưa rồi đến nhà Diệp ăn trưa.  Thấy các bạn tôi ngồi xe ôm phom phom, tôi cũng thử liều một phen.  Tài xế là ông em, sợ gì.  Chỉ sợ khói bụi và xe khác quệt vào chân cẳng mà thôi.
Tôi đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai cô em Hà cho mượn.  Hôm nay tôi lại mặc blue jeans, áo nỉ màu hoa cà, jacket màu xanh.  Tôi mang giầy đế bằng nên gọn gàng nhảy như đàn ông lên yên sau xe của Nhiên.  Hai chân hai bên yên cho chắc ăn.  Với tình trạng xe hai bánh như mắc cửi ở Việt Nam, không còn hình ảnh những tà áo dài tha thướt, hai chân khép nép đằng sau người tình trai trẻ.  Các bà các cô mặc áo dài bây giờ cũng túm hai vạt áo trước bụng và ngồi dạng hai chân yên sau xe ôm, không còn vẻ nên thơ mỹ thuật nữa!  Nhiên biết bà chị Việt kiều nhát nên chạy xe cẩn thận, không nhanh lắm.  Tôi cũng đỡ đau tim. 
Ông em chở tôi đến nhà vợ chồng Hùng cho biết.  Hùng là em trai của Nhiên. Tôi được mời ăn bún với đậu phụ nướng, rau kinh giới chấm mắm tôm của một hàng gánh rong ngoài vỉa hè trước cửa.  Tôi đã ăn bánh mì, uống cà phê tại khách sạn, nhưng từ chối thế nào cũng không được nên đành nhận lời, ngại ngùng nếm một chút món quà sáng đó.
Thật sự là đặc biệt vì từ xa Hà Nội năm lên 14 chưa hề biết yêu, tôi không đụng tới món đậu phụ nướng kia.  Nếu tôi cứ liều ăn thẳng thừng thì chắc là ngon miệng.  Nhưng tôi chỉ giả vờ chấm bún, đậu không chạm vào mắm tôm và nói không biết ăn rau kinh giới nên món bún đậu nhạt nhẽo,  lạnh ngắt chẳng có vị gì.  Cẩn tắc vô ưu, tôi sợ ăn bậy, mắc phải cái chứng đau gan thì tội cho chồng con.  

Sau nhà Hùng, Nhiên đưa tôi đến Trường Trưng Vương cũ ở đầu Đường Hai Bà Trưng, nay đã thành Trường Cao Đẳng Nghệ Thuật Hà Nội.  Trường sở vẫn được giữ nguyên, hàng rào sắt, cột gạch, nhưng tường được sơn vàng chóe. Hình như bây giờ người ta thích cái màu vàng và màu đỏ chói lọi ở khắp mọi nơi.  Những màu pastel  nhạt nhòa biến mất. Nhiên chụp cho tôi một cái hình đứng trước cửa Trường Trưng Vương cũ, nhưng có lá cờ khó chịu và một cái xe hơi chình ình che cổng trường nên tôi đã cắt bỏ những phần ngứa mắt đó đi, chỉ còn lại Ngọc Dung với một phần nhỏ mặt tiền của Trường Trưng Vương như trong cái hình trên trang giấy này.

                                     

Bây giờ đang là mùa Đông Hà Nội.  Thấp thoáng trong ký ức tôi thấy những tà áo lam đứng xếp hàng trong sân trường.  Các nữ sinh nghiêm chỉnh chào cờ, hát quốc ca và hiệu đoàn ca Trưng Nữ Vương của Giáo Sư Nhạc Sĩ Thẩm Oánh.  Ngày ấy, mùa đông chúng tôi mặc đồng phục màu lam bốn ngày.  Mùa xuân, mùa thu đồng phục trắng.  Ngày thứ sáu được mặc áo màu tự do. 

Tôi còn nhớ mùa đông cuối cùng ở Hà Nội, tôi được mẹ đưa ra Hàng Đào mua hàng lụa màu vàng may áo dài mặc Tết.  Ngày đầu tiên trở lại trường sau dịp nghỉ Tết, tôi hớn hở, súng sính trong cái áo màu vàng, rộng thùng thình đó, “chàng” Hà Dương Thị Quyên đã tuyên bố giữa sân trường, Ngọc Dung là “vợ” thứ bẩy của “hắn” sau sáu cô bạn thân của tôi.  Bây giờ chỉ còn Ngọc Diệp, Tuyết Anh, Việt Bảo ở Hà Nội.  Kim Dung ở Indonesia, Thu Hòa ở Canada.  Thái Lan, Hà Dương Thị Quyên ở California và Ngọc Dung đang ngồi viết những dòng bút ký này tại Virginia...

Tôi chụp mấy hình trước cửa trường cũ mà tôi đã qua năm đệ thất và đệ lục trước khi di cư, đất nước chia đôi năm 1954.  Tôi quay máy hình qua bên kia đường chụp Trường Petit Lycée cũ mà nay đã trở thành Trường Trần Phú. Từ địa điểm này, Nhiên chở tôi qua Viện Bác Cổ rồi theo đường bờ đê bên Sông Hồng đi về hướng Yên Phụ.  Khi trông thấy Cầu Long Biên, tôi mới biết sắp tới dốc Đường Chùa Hòe Nhai.  Nhưng Nhiên cho xe chạy thẳng đến dốc Hàng Than mới rẽ xuống.   Từ đây Nhiên đi chậm lại để tôi nhận diện các địa điểm quen thuộc cũ:  Nhà bán bánh cốm  Nguyên  Ninh vẫn còn đó, bên tay trái.  Cách vài nhà đến Chùa Hòe Nhai.  Trước năm 1954, tuy nhà gia đình tôi ở bên cạnh chùa nhưng chỉ có một lần tôi lân la vào sân chùa với cô bạn Ngọc Diệp trong phố nhân một ngày Lễ Phật Đản...
Tôi không còn nhận ra nhà nào ngày xưa là tư gia của cựu Thủ Tướng Ngô Thúc Địch, thân sinh Thúy Ái, Bích Vân, và cũng là ông nội của Nhà Văn Ngô Tằng Giao và chị em Giáng Tiêu, Nguyệt Hằng.  Tôi học cùng Trường Tiểu Học Thanh Quan, và Trung Học Trưng Vương với hai tiểu thư họ Ngô.  Đến bây giờ tôi vẫn còn hình dung được hai cô bé Giáng Tiêu và Nguyệt Hằng mặc áo bồng vai nhẩy dây trên vỉa hè trước cổng nhà.  Có vài lần cô bé Ngọc Dung bắt gặp những “ánh nhìn trộm” từ cặp mắt sáng, mày rậm của một “cậu bé” môi đỏ, nhà gần đấy... 
Nhiên ngừng lại cho tôi chụp hình chùa Hòe Nhai.  Tường gạch, mái cong cổng chùa vẫn được giữ nguyên. 
“Chùa rất cổ, được xây cất từ thời Lý Thái Tông, ông vua hay nằm mơ thấy Phật. Sau mỗi giấc mơ, một ngôi chùa lại được xây lên, trong số đó có chùa Hòe Nhai. Sở dĩ chùa có tên đó vì được xây trên con đường mang cùng tên. Tương truyền rằng thời nhà Lý, vua đã bắt triều thần mỗi người phải trồng một cây hòe trước cửa nhà từ hoàng thành ra đến Đông Bộ Đầu tức Bến Đông. Vì thế, con đường mang tên Hòe Nhai.  Hòe là một loại cây lớn, tàn lá rộng, hoa mầu vàng, quả dẹp và dài, hạt làm vị thuốc. Trong chùa còn nhiều bia đá. Một bia cổ nhất đã ghi rõ vị trí chùa ở Phường Hòe Nhai tại Đông Bộ Đầu, nơi Quân Nhà Trần lần thứ nhất đã chiến thắng đánh đuổi quân Mông Cổ về Tầu, giải phóng Kinh Thành Thăng Long, 21 tháng Giêng, năm 1258...”

                              

Dừng lại ngã năm Hàng Than, Hòe Nhai, Nguyễn Công Trứ, tôi hình dung thấy nhà sách Đông Phương nơi tôi vẫn mua sách vở bút mực học trò, bây giờ là tiệm tạp hóa lụp xụp tối tăm. Trái lại Nhà của gia đình Ngọc Diệp bên kia đường, bây giờ trông sáng sủa lịch sự hơn.   Đối diện là nhà Báo Thời Sự cao mấy từng đồ sộ nay là Khách Sạn Bắc Việt quét vôi trắng xóa trông cũng mát mắt.  Ba địa điểm này ở ba góc đường nên tôi nhìn ra được.
Qua Khách Sạn Bắc Việt, vào Đường Hòe Nhai, tôi hồi hộp  đi về hướng đường đê, vì căn nhà gia đình tôi cư ngụ từ năm 1947 đến năm 1954 ở giữa phố.  Con đường ngắn ngủn, nhỏ hẹp không một hàng quán cửa tiệm vậy mà ngày xưa đã có những “cậu bé” mới lớn, sơ-mi ca-rô, xanh vàng đỏ lượn xe đạp qua lại nhà chúng tôi.   Có chàng hàng xóm lắng nghe tiếng học bài ê a, tiếng hát lanh lảnh của cô bé Ngọc Dung từ trên cửa sổ lầu cao. “Thủ phạm” đã thổ lộ sau này như vậy.  Nếu biết có người nghe trộm, chắc cô bé đã mắc cỡ, đã tịt tiếng ngay từ hồi đó rồi, đâu còn giọng hát đến ngày nay.
Tôi vui mừng khi thấy căn nhà cũ và ba căn bên cạnh trước kia có hai tầng nay  được xây lên ba, bốn tầng và được trùng tu, sơn phết lại sáng sủa sạch sẽ.  Cái balcony cũ kỹ ngày xưa nơi ông bô chúng tôi vẫn thòng dây với cái rổ xuống đường mua lốc bể (bánh cuốn), hay xôi lạp xưởng nóng ban đêm, nay đã được xây cất lại xinh xắn đẹp đẽ.   Căn nhà bên tay trái nơi gia đình chú thím tôi ở bây giờ là một quán cà-phê. 
Trên vỉa hè ngày xưa chị em chúng tôi tôi chơi truyền, chơi lò cò, nhảy dây,  không có một bóng cây nào trừ cây si trước cửa đền trên dốc,  nay mọc lên cây me, cây sấu.  Những người thân của chúng tôi ở trong hai ngôi nhà đó, bà nội, cha, mẹ, anh Khánh, chị Kim, chú thím Hai Hương... đã không còn nữa.  Tôi ngăn chặn một tiếng thở dài...

                          

Với mãn nguyện đã được nhìn lại con đường, góc phố của thời tóc thề, tóc bím,  tôi lại nhảy lên ngồi đằng sau xe Nhiên đi qua Hàng Đẫy đón Bích Vân.  Bà bạn tôi đã về hưu dạy học, ở với con gái trên căn gác trong một chung cư.  Vân  đã xếp sẵn các thức nấu ăn trưa và tay xách, nách mang, đem ra một xe ôm khác đang chờ ngoài đường.  Nhiên chở tôi theo sau họ về hướng Thanh Xuân.  Tôi lại đi qua Làng Mọc Thượng Đình, nơi gia đình tôi  có biệt thự và ở vài năm trước khi tản cư vì chiến tranh Pháp – Việt Minh năm 1946.
Hẻm đi vào nhà Diệp sạch sẽ và khá rộng, xe hơi nhỏ có thể đi vào được.  Hai xe ôm ngừng lại trước một cổng sắt có giàn hoa bông giấy đỏ và ti-gôn hồng.  Bích Vân cho tài xế xe ôm trở về.  Nhiên muốn tôi hẹn giờ trở lại đón, nhưng Diệp đã nói sẽ có xe ôm tin cẩn, quen trong xóm đưa tôi và Vân về.
Chủ nhà đon đả ra đón khách ngay.  Qua sân gạch chúng tôi đi vào phòng khách.  Căn nhà giáp vách hàng xóm và có lầu.  Phòng khách xinh xắn,  ấm cúng. Diệp ở với vợ chồng người con trai và hai cháu nội.  Ngày thường nên con cháu đi làm, đi học cả.  Diệp rót trà mời khách, ý tứ điệu bộ đúng là dân Hà Nội xưa.  Không ai bảo ai, ba chúng tôi cùng quàng khăn voan quanh cổ, cái mode Hà Nội cũ vẫn còn.  Hơi lạnh một chút là các nàng đem khăn quàng ra để làm dáng như đeo nữ trang, và vì sợ cái thân liễu yếu sẽ ho hen, khổ sở lắm!
Vân ngả hết đồ nghề ra sửa soạn nấu nướng.  Vân lọc cua đồng đã giã sẵn, có cả gạch cua để chưng riêng.  Rau riếp, rau muống chẻ, rau thơm, rau mùi, tía tô kinh giới, đã được nhặt và rửa ở nhà, nhưng Vân vẫn muốn tôi tin tưởng nên đem đến nhà Diệp nàng mới ngâm thuốc tím cho tôi trông thấy.  Bạn bè quý nhau thế đấy.  Tôi rưng rưng xúc động thật sự. 
Diệp đem nồi, chảo, bếp dầu ra sân cho Vân nấu riêu, chiên đậu.  Mấy hôm trước, Diệp nhất định tranh phần mời chúng tôi ăn chả cá.  Hôm nay đến phiên Vân mời tôi ăn trưa nên nàng lo lấy đủ mọi thứ. 
Cũng không muốn bạn Việt kiều e ngại, Vân bỏ mắm tôm vào nồi riêu đun sôi luôn.  Riêu cua, gạch cua nổi lềnh bềnh.  Đậu rán nở phồng, reo sèo sèo trong chảo nóng.  Mùi thơm bay khắp sân, bắt thèm, đói bụng.  Tương Cự Đà thứ thiệt tự gốc được đổ ra chén.  Bún tươi còn ấm nóng được đơm ra tô chiết yêu Bát Tràng.  Đũa mun khảm xà cừ cổ kính, muỗng đồ gốm xanh trắng thanh bạch.  Chúng tôi ngồi ăn trên ba cái ghế nhựa thấp tại bàn salon phòng khách nhìn ra cảnh vườn êm đềm thơ mộng, đóng khung với những cây chuối xanh tàu lá, cây đu đủ chi chít quả non, cây khế cành lá trĩu nặng trái mọng vàng ưng.   Hoa thì có cây quỳnh cành dao, lan, huệ, nhài, ti-gôn, bông giấy... Một cái sân nhà thật lý tưởng đối với Việt kiều hải ngoại ở những vùng mùa đông băng tuyết giá lạnh như tôi. 
Tôi ăn rau, ăn riêu bằng thích, không nề hà sợ sệt một thứ vi trùng bệnh tật nào.  Hơn ba mươi năm từ khi rời Sài Gòn, tôi không được ăn món bún riêu nào đặc biệt hương vị quê hương như thế. 
Chúng tôi tâm sự đủ thứ chuyện gia đình, bạn bè xưa nay, sinh hoạt hiện tại của mỗi người.  Tôi tiếc rằng Diệp và Vân không sử dụng computer để chúng tôi liên lạc dễ dàng thường xuyên hơn.  Tuy nhiên người con trai của Diệp có computer trong nhà.  Nên thỉnh thoảng sau này tôi viết thư thăm hai bạn qua email con trai Diệp.
Vân cho tôi xem và gửi lại mấy tấm ảnh xa xưa, từ thời Trời Đất Nổi Cơn Gió Bụi, sau Hiệp Định Geneva ký ngày 20 tháng 7 năm 1954.  Việt Nam bị chia đôi Nam Bắc thành hai phần thù nghịch. 

                               

Một hình tôi tặng Vân ngày 10 tháng 8, năm 1954, 5 ngày trước khi theo gia đình di cư vào Sài Gòn.  Vài tấm hình tôi chụp tại Đà Lạt năm 1956 và gửi cho Vân qua đường bưu điện của Ủy Hội Quốc Tế. Một tấm ảnh mang hình chàng trai trẻ tuấn tú đề tặng “Bích Vân, người em gái, Hà Nội ngày 12 tháng 7 năm 1954.”  Người đó đã trở thành đề tài Phượng Vẫn Nở Bên Trời Hà Nội của Nguyễn Thị Ngọc Dung sau này.  Cho đến bây giờ Bích Vân vẫn không nhận nhân vật đó là mối tình đầu.  Nàng nói, một người khác còn bô trai hơn nữa cơ!  Cái thuở 15, 16 má hồng, mũi thanh, mắt to, mi dài, môi mọng, nàng đẹp mộng mị thì... “có quyền” chọn một chàng bảnh bao như  Robert Taylor trong phim La Valse Dans L’Ombre, hay Gene Kelly trong Les Trois Mousquetaires mà chúng tôi được xem và mê man từ thuở ấy ở Hà Nội. 
Ngoài ra, Vân cũng đưa tặng tôi  mấy bài thơ cũ trong đó có một bài thơ dài tâm sự lầm lẫn lấy phải người chồng đeo gông đau khổ, có cũng như không, cuối cùng phải chia tay.  Một bài thơ khác Vân viết về mối tình đầu yêu tha thiết nhưng rồi phải xa nhau buồn thiết tha. Xin chép ra đây một bài thơ đó của Nàng: 

HOA XUÂN
“Đã bảo rằng em thích độc thân
Mà lòng riêng vẫn thấy bâng khuâng
Ô hay lạ quá, làm sao thế!
Rõ ghét ông trời đến oái oăm...”

Thế rồi ngày tháng cứ trôi qua
Em vẫn ngây thơ, đẹp nhất nhà
Làm khóc bao người theo ấp mộng
Bướm kia chẳng sánh được cùng hoa.

Em nhớ hôm xưa lúc buổi chiều
Ngày xuân sắp đến đẹp bao nhiêu
Em lên nhà chú và em gặp
Chàng ấy!  Chị ơi!  Rất đáng yêu...

Lúng túng hai người chào hỏi nhau
Vài lời vơ vẩn,  mấy đôi câu
Môi cười, mắt đắm, say từng nhịp
Tưởng chẳng bao giờ dứt được đâu?

Chú em đi tự bao giờ đấy
Em cứ quay đi chẳng hỏi han
Cũng bởi thời gian trong lúc ấy
Là dành riêng để nói cùng chàng...

Trời mưa, đã muộn, em ra về
Nhưng đến vệ đường ngưng bánh xe
Chàng nói, em cười và lại hẹn
Lòng em náo nức, thật vui ghê.

Mồng hai chàng đến nhà em
Đem theo cả những nỗi niềm ước mơ
Mồng ba Tết chẳng ai ngờ
Đi xem triển lãm rồi về rong chơi
Mồng bốn Tết đến nơi rồi.
“Thiên diễm tình”  sử là nơi hẹn hò.

Từ đấy chị ơi!  Hai đứa yêu
Tưởng như sấm sét chẳng làm siêu
Thế gian không biết vui hơn nữa
Giấc mộng đầu xuân thắm đẹp nhiều!

Song, phút êm đềm chẳng được lâu
Tự nhiên bão táp tận đâu đâu
Nổi lên phá vỡ tình yêu ấy
Hạnh phúc hôm xưa đổ gãy cầu.

Xa cách nhau rồi vẫn nhớ thương
Mắt sầu em đẫm lệ tơ vương
Chị ơi! Em khóc bao ngày tháng
Lỡ bước chân đi lạc nẻo đường.

Hôm nay, em đã lớn khôn rồi
Nhưng chuyện năm xưa vẫn chẳng nguôi
Em vẫn còn yêu và vẫn nhớ
Con người năm ấy mãi không thôi!

NGUYỄN BÍCH VÂN
(Hà Nội, 1959)

Bích Vân thích viết truyện và làm thơ từ năm lớp nhất Trường Thanh Quan. Tôi đã được nàng tặng truyện, tặng thơ rất nhiều. Thơ truyện đã ếm vào cuộc đời. Nhà nàng ở Phố Sinh Từ, gần một tiệm sách, mà nàng là con mọt của nơi lui tới nhiều văn nhân thi sĩ ấy. Tâm hồn đầy văn thơ lãng mạn, nhìn những quý vị đó như thần tượng.  Hình ảnh nào đã lọt mắt xanh thì ở lại và ngự trị con tim nàng suốt cuộc đời.

Sau bữa ăn đầy thân thiết mà chúng tôi cố tình muốn níu thời gian chậm lại ấy, chúng tôi vẫn phải chia tay.  Chắc chắn không thể có 40 năm sau gặp lại nhau nữa. Tuy nhiên chúng tôi vẫn quyến luyến hẹn tái ngộ thật gần. Cảm ơn hai bạn từ thuở bé thơ, Ngọc Diệp và Bích Vân, lại cho Ngọc Dung những kỷ niệm quý báu để bồi hồi ghi lại đây. Nếu có dịp Ngọc Dung sẽ trở về Hà Nội, chỉ để thăm bà con thân thuộc và các bạn mà thôi. 
Khi Diệp đưa tôi ra ngoài cổng, hai cái xe ôm đã chờ sẵn.  Hai tài xế trẻ bằng tuổi con cháu, mặt mũi sáng sủa, hiền lành, quần áo tươm tất.  Bà bạn rỉ tai tôi: ”Diệp đã trả tiền xe cho cả hai bạn rồi, cứ yên trí ngồi xe về khách sạn, không phải trả gì cả.  Hai cậu này cùng ở trong xóm mình.”  Tuy nhiên khi về tới khách sạn tôi vẫn đưa thêm tờ giấy 5000 ngàn đồng cho tài xế xe ôm.  Tuổi trẻ mà chịu khó làm nghề lương thiện, kiếm tiền học hành, nuôi thân, đỡ đần cha mẹ, hay nuôi gia đình riêng, cũng đáng khen ngợi. 

                                              

Về đến khách sạn tôi sang thăm phòng vợ chồng Hà-Phước.  Cô em gái khoe đã đi bộ ra tận Hàng Đường, Ngõ Gạch và mua được mấy ký lô cốm Vòng khô, ô mai cam thảo, ô mai khế, mấy bịch nặng ơi là nặng.  Nhân viên phi trường có thể nghĩ chúng tôi mang bom trong suitcase.   Hà cho tôi ăn một miếng bánh cốm Nguyên Ninh, nhưng có bao giờ tôi thích thứ bánh cốm sào nhân đậu xanh này đâu.  Tôi chỉ thích ăn và hít hà mùi cốm tươi thôi.  Chúng tôi không về Hà Nội vào mùa thu để ăn cốm tươi thì phải mua cốm Vòng khô đem về. 

Lần đầu tiên ở Mỹ, một người bạn quý tôi lắm mới cho tôi một chén cốm Vòng khô.  Bà bạn  bảo tôi rẩy nước âm ẩm lên cốm và xới đều rồi bỏ vào microway oven vài phút sẽ có cốm thơm dẻo ăn.   Tôi nghe lời bà bạn, cốm đã dính nhép với nhau như bánh cốm.   Khi có người cho tôi một ký lô cốm khô khác và dặn tôi cách một giờ rẩy nước lên cốm và xới đều lên một lần rồi đậy lại.  Tôi làm như thế mấy tiếng đồng hồ, cốm vẫn khô.  Tôi ủ cốm qua đêm. Cốm mềm và tơi, nhưng hôi quá, không ăn nổi.  Màu cốm vàng chứ không xanh.  Có lẽ cốm bị để lâu.   Tôi tiếc lắm nhưng phải đổ đi vì ăn cốm vào mùi cốm hôi ở trong miệng cả ngày.  Cô em Song Hà về Hà Nội lần thứ nhất đã nhờ các cô em họ đi kiếm cho bằng được thứ cốm Vòng khô, thơm ngon nhất hạng, bao nhiêu tiền cũng mua.  Hà đã đem về cho tôi hai ký.  Tôi thử làm một chén nhỏ, mỗi giờ một lần phun nước ấm có pha chút đường lên cốm và bới đều rồi ủ kín bằng khăn plastic. Tôi nhắc lại chỉ một chút đường thôi vì nước lã làm nhạt chất ngọt tự nhiên của cốm.  Cũng đừng cho cốm khô tắm qua vòi nước như có quý bà đã làm. Cốm vòng là món ăn thanh cảnh, xin quý vị nương tay và kiên nhẫn.  Và nếu muốn có cốm Vòng thực sự Miền Bắc thì đừng cho vị vanilla hay nước dừa như ù ý kiến của vài người quá “sành sỏi”.  Từ 6 giờ tối đến 12 giờ đêm, cốm đã thơm lắm nhưng chưa được mềm hẳn.  Tôi phun nước và bới cốm cho tơi một lần nữa, rồi ủ cốm tiếp tục qua đêm, sáng ra vừa mở bát cốm, hương cốm bay lên thơm ngào ngạt không khác cốm tôi được ăn tại Hà Nội trước 1954.  Cốm mềm tơi, và vẫn có màu cốm xanh.  Tôi nhắm mắt đưa chén cốm lên môi ôm hôn như một bảo vật đã mất từ lâu bây giờ mới tìm lại được.   Buổi sáng hôm đó tôi đã có một bữa điểm tâm tuyệt vời nhất trong đời.  Nếu quý vị nào theo hướng dẫn của Ngọc Dung và làm được món cốm Vòng hải ngoại và vừa ý thì tin về Tòa Soạn Cỏ Thơm cho Ngọc Dung biết để Ngọc Dung mừng.

Chợ Tết Cộng Đồng Việt Nam năm đó, tôi đã hy sinh hương vị quý báu và làm được 20 đĩa nhỏ cốm Vòng cho Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương bán chợ Tết gây quỹ.  Phụ Nữ thì phải tỏ ra khéo léo, làm món đặc biệt chứ.  Lúc đó Nhạc Sĩ Nhật Bằng còn tại thế.  Anh mua mở hàng ngay một đĩa đầu tiên.  Nửa giờ ngoảnh đi quay  lại, tôi vẫn thấy Nhạc Sĩ ta vừa nhâm nhi cốm vừa gật gù như đắc ý.  Tôi nghĩ thầm:  “Anh này thấy cốm ít ăn dè xẻn chăng?“  Toi đi một vòng chợ, hồi lâu trở lại bàn các bạn Trưng Vương bán hàng, tôi vẫn thấy Nhật Bằng dựa cột với đĩa cốm mỏng dính trên tay.Tôi không khỏi ngạc nhiên:
- “Anh vẫn chưa ăn hết đĩa cốm hả?”
- “Đĩa này là đĩa thứ ba rồi.  Ngon quá! Như cốm Vòng tươi Hà Nội, ăn không biết chán!”
Tôi để dành cốm khô trong tủ lạnh nên cốm vẫn xanh thơm, không hôi vàng.  Tết năm sau đó, Hội Trưng Vương Hoa Thịnh Đốn lại yêu cầu tôi ủng hộ món cốm Vòng.  Tình Trưng Vương luôn luôn có trong tim nên tôi lại nhận lời làm.  Món này hết bay ngay.  Có người mua luôn năm đĩa mỏng teo.  Của hiếm, chia nhau ăn lấy hương lấy hoa thôi mà! Món cốm Vòng đã trở thành món cao lương mỹ vị tôi làm để mời khách quý thưởng thức.  Và, cũng vì quý độc giả Cỏ Thơm, Ngọc Dung đã viết hầu quý vị cách làm cốm Vòng khô, tạm để thưởng thức hương vị cổ truyền.  Bây giờ xin trở về buổi tối ngày 7 tháng 12 năm 2004 tại Hà Nội.

Phước, Hà và tôi được vợ chồng Điểm mời một bữa cơm tại một nhà hàng trên Đường Nguyễn Trãi với đông đủ anh chị em con cháu đến hơn hai chục người.  Tôi không nhớ hết tên. Trong số này có vợ chồng Điểm, con rể, con gái và hai cháu ngoại, tôi đã có dịp gặp lại năm sau tại Virginia, khi họ sang thăm Hoa Kỳ. 
Thưa quý vị đến đây vẫn chưa hết Bút Ký Bước lạ Đường Quê đâu. Tối nay về khách sạn chúng tôi lại sửa soạn cho cuộc hành trình ngày mai, 10 tháng 12, 2004 phái đoàn chúng tôi đi thăm viếng vùng Ninh Bình, Phát Diệm.  Xin phép quý vị chúng tôi phải đi ngủ sớm để lấy sức xông pha đường trường ngày hôm sau. 

NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
(Virginia)

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com