arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow ĐÊM TÀN BẾN NGỰ - NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
ĐÊM TÀN BẾN NGỰ - NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

Cách đây vài hôm, bạn Nguyễn Ngọc Châu ở Alexandria, Virginia gởi cho tôi nghe một bản nhạc nổi tiếng của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước qua tiếng sáo của Đoan Trang và do anh hòa âm. Tôi xúc động khi nghe lại bản Đêm Tàn Bến Ngự  trong một đêm thanh vắng cuối Thu. Tiếng sáo nghe thật buồn và sâu lắng với một kỹ thuật điêu luyện. Tôi nhớ mang máng Đoan Trang là trưởng nữ của cố Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Nghĩa, người được mệnh danh là “Tiếng Sáo Thần” trong làng âm nhạc Việt Nam trước 1975. Tôi nhớ nhất là bài Ông thổi sáo giả chim Phụng đang múa, thật tuyệt diệu. Khi qua định cư tại Hoa Kỳ, Ông và gia đình có đi trình diễn nhiều nơi, trong đó có Richmond, nơi tôi cư ngụ. Hôm ấy, Ông đại diện Cộng Đồng Việt Nam trình diễn với nhiều nhạc sĩ Á Châu nổi tiếng. Còn về Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước, tôi thích nhất bản Chiều với thể điệu tango nhẹ nhàng lời thật hay và một số các bài như Ngọc Lan, Bóng Chiều Xưa, Thuyền Mơ, Tiếng Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành ...  Vì Ông là phu quân của danh ca Minh Trang (mẹ của Ca sĩ Quỳnh Giao) và tác giả của bài Đêm Tàn Bến Ngự nên tôi cứ ngỡ Ông là người sinh trưởng ở đất Thần Kinh!

Mời quý vị đọc bài viết về 2 Nhạc Sĩ tài ba Dương Thiệu Tước và Nguyễn Đình Nghĩa (bấm vào tên để vào trang riêng) và nghe lại vài bản nhạc của họ.

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia - 15 tháng 11, 2008)

                             Bấm vào tên người trình bày để nghe Đêm Tàn Bến Ngự:

                       Tiếng sáo: Đoan Trang (hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu)       Tiếng hát: Ánh Tuyết         

Đêm Tàn Bến Ngự - Dương Thiệu Tước

Lời 1:

Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng
Nhớ chăng non nước Hương Bình!
Có những ngày xanh,
Lưu luyến bao tình,
Vương mối tơ mành!

Hàng cây soi bóng nước Hương,
Thuyền xa đậu bến Tiêu Tương
Lưu luyến thay phút say hương dịu buồn.
Nhưng thoảng nghe khúc ca Nam Bình sầu than!
Như nức nở khóc duyên bẽ bàng!
Thấp thoáng trăng mờ,
Ai than ai thở đời vui chi trong sương gió.
Ai nhớ thương ai!
Đây lúc đêm tàn, tình đã lạt phai.

Thuyền ơi đưa ta tới đâu ?
Tìm trăng, trăng khuất đã lâu,
Sương xuống trên bến cô liêu, thêm sầu.
Bèo nước gió mây đêm ngắn tình dài.
Có ai nhớ, ai nơi giang đầu.

Lời 2:

Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng.
Bến xưa non nước Hương Bình
Những phút tàn canh
Vương vấn bao tình,
Ai rứt sao đành.

Thuyền mơ trong khúc Nam Ai,
Đàn khuya trên sông ngân dài.
Ai luyến ai tiếc khúc ca Tần Hoài!
Ôi! vẳng nghe tiếng ai âm thầm trầm ngân
Như nhắn nhủ mối duyên thờ ơ,
Sông nước lững lờ,
Ai mong ai chờ đời vui chi trong sương gió.
Đây phút cô đơn
Ai oán cung đàn sầu vọng trần gian.

Thuyền ơi, đưa ta tới đâu!
Hồn thơ vương vấn canh thâu,
Thương tiếc chi phút bên nhau thêm sầu.
Bao kiếp giang hồ ly biệt thường tình.
Có ai nhớ ai nơi Hương Bình.  

  

     Vài dòng về cố Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước (1915-2005)

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh ngày 14.01.1915. Quê ông ở làng Vân Đình, quận Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Xuất thân từ một giòng họ khoa bảng. Ông là cháu nội cụ Dương Khuê (1836-1898). Cụ đỗ Tiến Sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn. Cụ cũng là một nhà thơ có tiếng trong văn học Việt Nam. Thân phụ ông là cụ Dương Tự Nhu làm Bố Chánh tỉnh Hưng Yên. Mang máu nghệ sĩ trong người, ông chọn con đường âm nhạc ngay từ lúc ấu thơ. Có cái may là cụ Dương Tự Nhu là người trọng văn học, không coi âm nhạc là "xướng ca vô loại", nên ông đã được khuyến khích học nhạc từ lúc còn nhỏ. Cụ Nhu mua cho ông đàn Nguyệt lúc ông 7 tuổi. Ngoài đàn Nguyệt ông còn học thêm đàn Tranh tại các bậc thầy miền Trung. Đến lúc 14 tuổi, ông bắt đầu chú ý đến nhạc Tây Phương và chuyển qua học đàn dương cầm với một thầy người Pháp. Lúc 16 tuổi ông học thêm lục huyền cầm (tây ban cầm), nhạc cụ sở trường của ông. Sau này ông trở thành một cây đàn guitar có hạng tại Việt Nam và đồng thời là giáo sư tại Viện Quốc Gia Âm Nhạc Việt Nam dạy đàn này cho vô số các nhạc sĩ của thế hệ sau. Ngoài tây ban cầm ông còn tự học thêm đàn Hạ Uy Di. Cũng như ông, các nhạc sĩ Việt Nam cùng thời đều tự học, mua sách của Pháp về rồi tự học hay học hỏi lẫn nhau. Họ đều không có cơ hội theo học tại trường âm nhạc nào.

Mặc dù học nhạc, kỹ thuật sáng tác nhạc Tây Phương, nhưng các tác phẩm của ông vẫn đượm hồn dân tộc, đúng như báo Thời Nay lúc đó kêu gọi. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý: "Theo tôi, tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền“.

Các nhà phê bình nhạc cho rằng ý nghĩ này đã được thể hiện rõ trong các tác phẩm Tiếng Xưa  và Đêm Tàn Bến Ngự . Theo các nhà khoa học nghiên cứu âm nhạc thì bài Đêm Tàn Bến Ngự được viết dựa theo các điệu Nam Bình, Nam Ai nổi bật cá tính của Huế. Những sáng tác khác của ông trong những năm cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950 phải kể Kiếp Hoa, Áng Mây Chiều, Nhạc Ngày Xanh, Dưới Nắng Hồng, Xuân Mới, Thiếu Niên Xuân Khúc Ca, Thuyền Mơ, Đêm Tàn Bến Ngự ...

Theo Phùng Quốc Thụy nhận xét, Dương Thiệu Tước "là người có dáng vẻ rụt rè ít nói, không ưa sự phô trương ầm ỹ, nhưng lại là người sốt sắng nhất trong việc xây dựng, cổ động, phổ biến nền tân nhạc mọi hình thành, với mọi hình thức: sáng tác, biểu diễn, xuất bản, đào tạo, lý luận, phê bình“. Ông cũng viết các bài tham khảo cho tập san VIỆT NHẠC. Ông thành lập Hội KHUYẾN NHẠC cùng với nhạc sĩ Thẩm Oánh để cổ động và phổ biến nền Tân Nhạc Việt Nam. Cũng cùng với Thẩm Oánh ông thành lập ban nhạc đặt tên là MYOSOTIS (Hoa Lưu Ly). Ban nhạc thường chỉ chơi tại nhà riêng, rất ít khi trình diễn nơi công cộng.

Năm 19 tuổi, ông lập gia đình với bà Lương Thị Thuần và có được 3 gái và 2 trai.

Năm 1940, lúc đó ông 25 tuổi, ông mở cửa hiệu bán và sửa chữa đàn tại 57 Hàng Gai, Hà Nội. Cửa hàng sau đó phải đóng vì chiến tranh. Những sáng tác của Dương Thiệu Tước trong thời điểm này phải kể Ngọc Lan, Chiều, Bóng Chiều Xưa....

Năm 1954 lúc đất nước chia đôi, ông vào Sài Gòn sinh sống. Tại đây, ông thành hôn với Bà Minh Trang, xướng ngôn viên và ca sĩ của Đài Pháp Á. Ông và Bà Minh Trang có thêm 4 gái và 1 trai. Từ giữa thập niên 60 qua thập niên 70 trở đi ông bớt sáng tác. Tác phẩm có tiếng phải kể lúc này là Ơn Nghĩa Sinh Thành.

Tại Sài Gòn, ông làm Chủ Sự phòng văn nghệ tại Đài Phát Thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy Tây Ban cầm tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Đã cả chục năm trôi qua nhưng vẫn ấp ủ ý nguyện hội nhập cá tính và hồn Việt Nam vào tân nhạc, ông cho ra đời một chương trình có tên là CỔ KIM HÒA ĐIỆU, phát thanh thường xuyên tại đài Phát Thanh Sài Gòn những năm cuối thập niên 1950. Trong chương trình này ông xử dụng cả hai nhạc cụ Tây Phương và cổ truyền Việt Nam để trình diễn tân nhạc Việt.

Biến cố 30.04.1975 đánh dấu một khúc quanh trọng đại trong sự nghiệp của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Các tác phẩm của ông bị coi là nhạc lãng mạn, ủy mị nên bị cấm phổ biến, không ai được trình diễn nhạc của ông. Ông cũng ngưng dậy học tai trường Quốc Gia Âm Nhạc. Ít lâu sau đó Bà Minh Trang cùng con cái sang Hoa Kỳ. Ông ở lại Sài Gòn. Bà Lương Thị Thuần, năm 1979 đã qua CHLB Đức đoàn tụ với gia đình người con trai cả của bà.

Đầu thập niên 1980 ông về chung sống với Bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh, nguyên là một học trò của ông lúc bà theo học đàn guitar tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Năm 1983, ông có thêm một con trai với bà Nga.

Ngày 01.08.1995: ông đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 80 tuổi. 

              (Từ bài viết của Phạm Ký ghi chép và điều chỉnh theo các tài liệu thu thập khác)

                 

                                  

                   Thủ Bút của Dương Thiệu Tước ( viết cho thi sĩ Cao Tiêu)

                                           

        Bấm vào tên bản nhạc để nghe thêm những bản nhạc hay của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước:

              THUYỀN MƠ - Quỳnh Giao       ÁNG MÂY CHIỀU - Mai Hương     NGỌC LAN - Hồng Nhung

  ƠN NGHĨA SINH THÀNH - Hương Lan   BẠN CÙNG TÔI - Duy Trác & Quỳnh Giao   HỘI HOA ĐĂNG - Quỳnh Giao    

        BÓNG CHIỀU XƯA (lời: Minh Trang) - Thanh Lan    TIẾNG XƯA - Hà Thanh       KIẾP HOA - Khánh Ly

  CHIỀU (thơ: Hồ Dzếnh) - Cảnh Hàn     BẾN XUÂN XANH  - Quỳnh Giao     KHÚC NHẠC DƯỚI TRĂNG - Mai Hương

         ĐÊM NGẮN TÌNH DÀI - Thái Thanh     ĐÊM TÀN BẾN NGỰ - Thanh Thúy      ÔI QUÊ XƯA - Kim Tước

               BUỒN XA VẮNG  - Mai Hương &  Ban Tiếng Tơ Đồng      ƯỚC HẸN CHIỀU THU - Ánh Tuyết

        VƯỜN XUÂN THẮM TƯƠI - Mai Hương      XUÂN TƯƠI - Elvis Phương      DƯỚI TRĂNG - Quỳnh Giao

   MƠ TIÊN - Quỳnh Giao  CÁNH BẰNG LƯỚT GIÓ - Mai Hương  TRỜI XANH THẮM (lời: Văn Chung) - Quỳnh Giao

 

                 Bấm vào tên tác giả để nghe các Chương Trình Phát Thanh về Dương Thiệu Tước:

                        Bích Huyền-01 - VOA   Bích Huyền-02      Bích Huyền-03 

                                          Thụy Khuê - RFI (2005)   Y Sa - VNCR (2008)    

                                       Thy Nga-01 RFA (2005)   Thy Nga-02 RFA (2005)  

                                                            Hoài Nam - SBS Úc Châu  

                               

    Ca Sĩ Quỳnh Giao viết về bản nhạc "Bến Xuân Xanh"
        (trích trong bài viết "Xuân Ca Ngày Cũ - Từ La Hối đến Nguyễn Hiền" của Quỳnh Giao - 13.02.2008)

                                                    Quỳnh Giao 

" Một bậc sư trong nghệ thuật dung hợp cái rất Tây và rất Ðông trong tân nhạc là Dương Thiệu Tước. Ông vua của tiết điệu bán cổ điển Tây phương trong nhạc Việt đã cống hiến cho chúng ta bản luân vũ được coi là hay nhất của Việt Nam, ca khúc “Bến Xuân Xanh”.

Dương Thiệu Tước sáng tác “Bến Xuân Xanh” rất công phu. Tác phẩm dài tổng cộng 180 trường canh (gấp ba một bài luân vũ trung bình có 64 trường canh, như “Thu Vàng” của Cung Tiến) và được viết bằng âm giai “Do trưởng”, loại âm giai được coi là “sáng”. (Xin có đôi lời về nhạc thuật ở đây: giới sáng tác nhạc cho âm giai “Ré giáng trưởng” và “La giáng trưởng” là âm giai “dịu” nhất. Âm giai “Sol thứ” và “Si thứ” là âm giai “buồn” nhất. Âm giai “Do trưởng” và “Fa trưởng” là âm giai “sáng” nhất)

Vì thế, “Bến Xuân Xanh” đòi hòi ca sĩ phải trình bày đúng âm giai nguyên thủy. Khi nghe một người trình bày không đúng “ton” (thí dụ người hát không lên được những nốt cao nhất của bài hát, phải hạ xuống một hay hai “cung”) thì ông hơi hơi buồn. Ðoạn biến khúc của “Bến Xuân Xanh” được Dương Thiệu Tước chuyển sang âm giai “La giáng trưởng” trở nên êm dịu lạ thường trước khi về lại cung “Do trưởng” trong sáng.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước còn soạn phần nhạc mở đầu (introduction) và kết thúc (Coda) thật vi vút, du dương. Lời ca trong “Bến Xuân Xanh” tràn đầy thơ, nhạc, hoa, nắng, gió và sóng nước: toàn những biểu tượng lung linh rực rỡ của Mùa Xuân. Khi Dương Thiệu Tước vừa tạ thế ở trong nước, trong dịp tưởng niệm ông ở hải ngoại, 12 năm về trước, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi đã nhắc tới bản luân vũ này với lòng khâm phục. Không thua kém gì các nhạc khúc về sông nước nổi tiếng của Tây phương!

Ngoài “Bến Xuân Xanh” độc đáo nói trên, Dương Thiệu Tước có soạn ba bài khác về Mùa Xuân, là “Vui Xuân”, “Vườn Xuân Thắm Tươi”, và “Tìm Xuân”. Nhưng chỉ cần viết một “Bến Xuân Xanh” thôi, Dương Thiệu Tước đã xứng đáng với một chỗ đứng sáng chói trong nền tân nhạc Việt Nam ..."

           Bấm vào đây để nghe Nghiêm Phú Phi nói về Dương Thiệu Tước

              Phạm Duy viết về Dương Thiệu Tước

                                            Phạm Duy

Trích trong Hồi Ký Phạm Duy - Chương 12 (bấm vào để xem toàn chương):

" ... tôi hay tới một tiệm bán đàn ngay cạnh nơi tôi sửa radio ở phố Hàng Gai để ngắm nghiá các thứ đàn và để nhìn nhạc sĩ chủ nhân đang dạy học trò đánh đàn guitare hawaienne ngay sau quầy hàng. Đó là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Anh nhạc sĩ trẻ trung và đẹp trai này chưa bằng lòng với bộ mặt tròn trĩnh, trắng trẻo của mình nên thỉnh thoảng còn đánh phấn và bôi son nữa. Các cô gái Hà Nội rất mê chàng nhạc sĩ công tử bột và dòng dõi của Dương Khuê này.

Lúc đó Dương Thiệu Tước đã nổi danh ở Hà Nội là người đánh đàn ghi ta hạ uy di rất giỏi. Cùng với Thẩm Oánh, Vũ Khánh, anh thành lập một ban nhạc lấy tên là MYOSOTIS (Hoa Lưu Ly). Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ngoài những bài nhạc cải cách ra, Dương Thiệu Tước còn sáng tác những bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d'Aimer (Thú Yêu Đương), Souvenance (Hồi Niệm),Ton Doux Sourire (Nụ Cười Êm Ái Của Em). Lời ca của những bài này là do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh) soạn ra, lẽ dĩ nhiên bằng tiếng Pháp.

Thấy Nguyễn Văn Tuyên tung hoành như vậy, cùng với Dương Thiệu Tước, các nhạc sĩ trẻ của Hà Nội lúc đó là Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên... bèn tung ra những nhạc phẩm hoàn toàn Việt Nam mà họ đã soạn trước khi Nguyễn Văn Tuyên ra Bắc nhưng họ hãy còn e dè chưa dám đem ra trước công chúng. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, tôi đã được hát những bài như Hồ Xuân của Thẩm Oánh, Tâm Hồn Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước, Bóng Ai Qua Thềm của Văn Chung... "

Trích trong "Nhạc Sử Việt Nam - Tân Nhạc, Những Năm Đầu" của Phạm Duy:

Dương Thiệu Tước mới thật sự là người có nhiều sáng kiến trong thời gian khởi sự xây dựng một nền âm nhạc mới mẻ này. Ngay từ khi mọi người còn phải vay mượn nhạc điệu tây phương để soạn lời ca tiếng việt và gọi nó là ''bài ta theo điệu tây'' thì ông lại soạn những bài mà tôi dám gọi là ''bài tây theo điệu ta''.

Trước cái gọi là "biến cố tháng ba 1938" gây ra bởi Nguyễn văn Tuyên, Dương Thiệu Tước đã là người đánh đàn guitare hawaienne rất giỏi, chủ nhân của một cửa tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội và có mở cả lớp dạy đàn nữa. Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ông đã sáng tác mấy bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d'aimer (Thú Yêu Ðương), Souvenance (Hồi Niệm), Ton Doux Sourire (Nụ Cười Êm Ái Của Em)... Lời ca của những bài này là do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh ) soạn, dĩ nhiên là bằng Pháp ngữ.

Có lẽ vì ông tự coi như đã nắm được nhạc pháp soạn nhạc Tây Phương, cho nên ông đã tuyên bố, khi được phỏng vấn về cách soạn nhạc Việt Nam : "Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây Phương'' (báo Việt Nhạc số 5, ngày 16 tháng 10, 1948). Do đó, ngay trong năm 1938, ông đã cho in ra những ca khúc như Tâm Hồn Anh Tìm Em, Một Ngày Mà Thôi, Bên Cây Lục Huyền Cầm, Dập Dìu Ong Bướm... Bây giờ, nghĩa là 50 năm sau khi Tân Nhạc thành hình, trong hoàn cảnh ở xa đất nước và rất thiếu thốn tài liệu, tôi cũng cố gắng sưu tập những bản nhạc đầu tay của Dương Thiệu Tước để nghiên cứu những ca khúc đầu tiên của Tân Nhạc. Và tôi khám phá ra rằng : Tuy nhạc sĩ họ Dương không câu nệ trong việc soạn ca khúc Việt Nam với âm giai Tây Phương, nhưng trong những ca khúc tuyệt vời mà ông viết trong thời kỳ thử thách của nhạc cải cách, đa số các nét nhạc đều là nhạc ngũ cung Việt Nam. Ví dụ bài Tâm Hồn Anh Tìm Em mà hồi đó ai cũng đều biết :

Tâm hồn anh tìm em
Theo lần sang lầu Thúy
Dưới trăng ngà sao huyền
Lòng anh giá băng
Trong bóng sương mờ...

Rõ ràng nét nhạc của đoạn này nằm trong ngũ cung Sol La Do Ré Mi (thuần túy). Dương Thiệu Tước thật tình muốn dùng nhạc pháp Tây Phương để soạn nhạc Việt mới, nhưng ông bị nhạc ngũ cung Việt Nam trói ông lại. Sau này, trong một nhạc phẩm bất hủ của ông là bài Trỡi Xanh Thẳm, chỉ có đoạn sau là được soạn theo âm giai thất cung Tây Phương, đoạn đầu hoàn toàn là nhạc ngũ cung Việt Nam thuần túy :

Còn đâu như lúc xưa
Ngày đôi chúng ta còn thơ
So phím tơ bên thềm
Anh hoà theo lời em
Ngàn lời ca êm ái
Khiến anh đắm say hoài
Và giờ đây em thấy
Muôn ngàn lời không phai
Còn đâu như lúc xưa
Ngày đôi chúng ta còn thơ
Anh nắn cung đàn
Còn em thì biệt tăm...

Không còn nghi ngờ gì nữa, hai nhạc sĩ tiền phong trong phong trào Âm Nhạc Cải Cách là Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước đều dung hòa cả hai âm giai ngũ cung á đông và âm giai thất cung tây phương. Bởi vì họ đều có học thức trong cả hai loại nhạc cổ truyền Việt Nam và nhạc cổ điển tây phương cho nên khi họ sáng tác thì nét nhạc mà họ học được từ lâu, đã tự nhiên tuôn ra từ tâm thức. Qua bài Trời Xanh Thẳm, tôi thấy trong tiến trình thất cung, giai điệu Dương Thiệu Tước có nét nhạc đẹp hơn Thẩm Oánh, vì không còn là nét nhạc "âm chuỗi " (arpège) nữa. Ðoạn đầu của bài Trời Xanh Thẳm là ba mệnh đề nhạc ngũ cung, mô phỏng (imitation) nhau để tạo cho ta một không khí xa xưa, khi chúng ta còn thơ, anh so phím, nắn cung đàn để dâng ngàn lời ca êm ái, rồi thì... em biệt tăm ! Ðoạn sau là nhạc dùng âm giai thất cung, giai điệu hơi giống nét nhạc của Chopin hay Schumann, kéo ta về ngày hôm nay, cũng vẫn còn buồn bã như ngày hôm xưa :

Hôm nay Ðông đã trôi qua
Hôm nay Xuân đến với hoa
Thấy nắng Xuân êm đềm
Mà chẳng thấy am tìm đến
Bên sông anh đứng trông trời
Bao la mây xanh tuyệt vời
Nắn nót mấy cung đàn
Lòng thấy như nát tan...

Ðoạn này có những chuyển cung (modulation) khá cổ điển, rất hợp lý, rất quyến rũ vì nét nhạc không có những "quãng" (intervalles) quá xa, quá trúc trắc mà là những nét nhạc có bán cung mềm dịu. Cấu phong của ca khúc cũng rất là cổ điển : từ đoạn A qua B, rồi kết thúc bằng A...

Bài Trời Xanh Thẳm sẽ còn được hát mãi trong những thập niên sau vì nó đã là bản nhạc tình, nghiêng nhiều về "nhạc tình đôi lứa", không còn là thứ nhạc tình chỉ có ''than mây khóc gió'' mà thôi.Ðặc biệt hơn nữa, nhạc tình của Dương Thiệu Tước luôn luôn là mối tình của những nhạc sĩ, của nghệ sĩ. Có ''so phím tơ, có nắn cung đàn'' và sau này cũng vẫn có ''tơ chùng phím loan'' trong một bản nhạc tuyệt vời của ông là bản Ngọc Lan. Nhạc Dương Thiệu Tước, theo tôi, là loại nhạc tình tứ, nhưng cũng rất sang trọng. Ðó là những ca khúc tình ái thốt lên từ con tim của một nghệ sĩ dòng dõi nhà quan.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây một ca khúc nữa của ông cũng dùng hai ngũ cung Do Re Fa Sol La và Sol La Do Re Mi, bài Vừng Trăng Sáng mà nhiều ca sĩ đã hát trong những năm 44-45. Giống như những tác phẩm của Thẩm Oánh, Dzoãn Mẫn hay Văn Chung, bài này cũng vẫn nói đến chuyện yêu nhau bên hồ, dưới trăng, trong chiều thu :

Kìa vừng trăng sáng
Chiếu in trên hồ
Dưới làn trăng nước
Sóng lan nhấp nhô
Mặt hồ rung rinh
Dưới khung trời tím
Có anh cùng em
Chúng ta vui hoà
Trong một chiều thu
Ðắm say dưới trăng...

Nhóm MYOSOTIS qui tụ được nhiều nhạc sĩ nhưng về mặt sáng tác thì trong bốn năm đầu, từ 1938 cho tới 1942 là lúc Tân Nhạc đã có thêm một xu hướng mới -- xu hướng nhạc hùng -- chỉ có hai người đầu đàn là Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh là có nhiều sáng tác, bài nào cũng buồn man mác (không trữ tình thì cũng lãng mạn) và đều có giá trị, không những là giá trị khai phá mà còn phải được coi như đã hoàn mỹ và sẽ phải bất tử.

Nhưng sở dĩ nhạc của hai ông Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước (cũng như của các nhạc sĩ trẻ trong nhóm TRICEA mà tôi sẽ đả động tới trong những chương sau) được mọi người biết tới trong giai đoạn đầu này, đó cũng là nhờ ở sự tích cực của một người, tuy không có nhiều sáng tác nhưng đã có công kết hợp các nhóm để tổ chức các buổi trình diễn nhạc mới. Ðó là nhạc sĩ Lê Ngọc Huỳnh, tác giả bản Trên Ðường Hưng Quốc, vốn là người anh của quân nhạc trưởng tương lai Lê Như Khôi. Lúc Tân nhạc mới ra đời, chưa có những giọng ca lớn để truyền bá bài bản mới, sự phổ biến dựa vào việc ấn hành các bản nhạc hoặc dựa vào các buổi trình diễn của những ban nhạc tài tử trong đó, ban nhạc Orchestre Amateur do Lê Ngọc Huỳnh kết hợp một số đông các nhạc sĩ trong nhóm để thành lập, là ban nhạc quan trọng nhất.

Trong những năm đầu của Tân Nhạc, tác phẩm của nhóm MYOSOTIS rất là nhiều, nhưng không lưu truyền cho tới về sau, trừ một số bài nào đó, ngẫu nhiên được một giọng ca lớn nào đó, ví dụ giọng Thái Thanh hay Kim Tước, hát lại trong những thập niên sau. Ðó cũng là một điều đáng tiếc, vì xét ra những bản nhạc đầu mùa của hai vị tiền phong Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh... có một hương vị rất trinh trắng, phản ảnh một thời rất êm ả của chúng ta, trước khi những cơn cuồng phong kéo tới, liên tiếp trong bốn, năm chục năm trời. Nếu cần phải biết rõ hơn về tác giả để hiểu biết và yêu mến tác phẩm hơn, tôi thấy trong hai vị sáng lập ra nhóm MYOSOTIS, Thẩm Oánh đã đạo mạo thì sẽ đạo mạo suốt đời, còn Dương Thiệu Tước thì có một đời tình khá chuyển động. Sau 1975, với tuổi hạc đã khá cao, ông còn kết duyên với một thiếu nữ rất trẻ và ''lão bạn'' này vẫn ''sinh châu'' như thương. Mới hay, nhạc sĩ là hạng người thuộc nòi tình... cho tới hơi thở cuối cùng.

Quay về với sự tìm hiểu trong giai đoạn thành lập của Tân Nhạc này, ta thấy sau một thời gian ngắn, nhóm MYOSOTIS không còn là một nhóm thuần nhất nữa. Các thành viên sẽ chia tay nhau, mỗi người đi theo hành trình riêng của mình. Nếu như sau này Thẩm Oánh còn sáng tác thêm những bài mới thuộc nhiều loại khác nhau, thì Dương Thiệu Tước ít khi chịu rời khỏi lĩnh vực nhạc tình tứ và cao sang đặc biệt của ông. Về sau, khi nhạc dân ca được coi như phản ảnh đúng tâm hồn của dân tộc, Dương Thiệu Tước quay hẳn về nhạc ngũ cung để cống hiến cho ta những bài hát bất hủ như Tiếng Xưa, Ðêm Tàn Bến Ngự ... Rồi cũng trong ý muốn dung hoà cả hai hệ thống âm nhạc Việt, Âu, tại mấy Ðài Phát Thanh ở Saigon, ông chủ trương hình thức ''cổ kim hoà điệu'' nghĩa là hoà tấu những bản nhạc mới với đàn tranh Việt Nam cùng hoà điệu với giàn nhạc Tây Phương.

Từ 1946 cho tới 1953, nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước được xuất bản rất mạnh mẽ vì quanh ông không có ai là địch thủ cả. Hầu hết các nhạc sĩ trẻ và có tài đã rời bỏ thành thị đi kháng chiến... Dương Thiệu Tước và một số nhạc sĩ khác như Ðoàn Chuẩn, Từ Linh ở lại Hà Nội và soạn ra khá nhiều bản nhạc tình. Rồi ông vào Saigon làm việc tại các Ðài Phát Thanh Pháp Á, Ðài Phát Thanh Quốc Gia rồi làm giáo sư dạy nhạc tại Nhạc Viện Saigon cho tới khi ông mất vào năm 1996, khi ông 83 tuổi.

                Bấm vào đây để nghe Phạm Duy nói về Nhạc Dương Thiệu Tước

                                         Ca Sĩ Quỳnh Giao nhắc về 
           "Chương Trình Ký âm pháp và Nhạc lý phổ thông" của Dương Thiệu Tước

Cũng như trường hợp của Mai Hương, Duy Quang, Thái Hiền, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan... và của người viết bài này, Duy Trác đã đi vào âm nhạc theo bước chân gia đình, như một sự tiếp nối tự nhiên, không có tuyển lựa hay khám phá bất ngờ gì.

Dương Thiệu Tước lập tức mời Duy Trác cộng tác cùng chương trình “Ký âm pháp và Nhạc lý phổ thông”, được ông lập ra để thính giả có cơ hội cảm nhận và thưởng thức những ca khúc mới. Ca sĩ phải xướng âm ca khúc, tức là đọc nốt nhạc, trước khi hát vào lời.

Ðây là sự hướng dẫn cần thiết mà ta lãng quên dần cho thính giả đời nay.

Chương trình được phát thanh vào mỗi sáng Chủ Nhật, và được thâu thanh trực tiếp. Thời đó, việc thâu thanh trực tiếp đòi hỏi người trình bày phải “trình diễn” chỉ bằng tiếng hát, nên họ phải vững về nhạc lý, có khả năng lập tức xướng âm bài hát hoặc bài tập mà không có cơ hội hát đi hát lại. Duy Trác đã bước vào nghệ thuật qua con đường khó như vậy.

Toàn ban của chương trình chỉ có ba giọng, nữ ca sĩ Minh Trang (thân mẫu của Quỳnh Giao) là giọng nữ, Duy Trác là giọng nam, và thứ ba là giọng... nít, do nhi đồng nhóc tì Ðoan Trang đảm nhiệm (tám năm sau mới đổi tên thành Quỳnh Giao khi thay mẹ xuất hiện với người lớn!)

Trong ban tam ca này, Minh Trang và Duy Trác “minh diễn” cho thính giả những bài mê ly êm ái, như “Phút say hương”, “Hoa Xuân”, hoặc “Hướng về Hà Nội”. Còn nhi đồng Ðoan Trang thì được chí chóe xướng âm cho các em bé chắc cũng chẳng nhỏ hơn mình là bao nghe những bài của thiếu nhi như “Chim chích chòe”, “Thằng cuội”, “Quãng đường mai”...

                                 Mời quý vị đọc bài viết của Quỳnh Giao (pdf)

            Vầng Trăng Bến Ngự - Lê Hoàng Long - 09/2002

" Trong lòng tôi, cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là bậc lão tiền bối rất đáng tôn kính. Ông sinh năm 1915 (tuổi Giáp Dần) người làng Vân Đình, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông, là cháu nội cụ Dương Khuê, một thi hào khoa bảng, có tên trong văn học sử Việt Nam (Việt Nam Văn Học Sử Yêú cuả Giáo sư Dương Quảng Hàm, xuất bản tại Hà Nội vào thập niên 30).

Ông hơn tôi ngót hai chục tuổi, lẽ ra tôi phải xưng hô chú cháu, nhưng ông chủ trương văn nghệ sĩ không tính tuổi, nên tôi được phép gọi ông bằng anh.

Trong làng Nhạc Việt, ông là một trong số vài nhạc sĩ đi tiên phong mở đầu cho sáng tác Tân Nhạc. Vào thập niên 30, dân ta chỉ thuộc và hát những bài hát Pháp như: C'est à Capri, En passant par la Lorraine, J'ai deux amours, Madelon... qua những đĩa hát, chạy bằng kim và lên giây cót, với giọng ca của nam danh ca TINO ROSSI. Còn nhạc Việt, được gọi là nhạc cải cách, chưa có bài nào hay, phổ biến quá hạn chế nên ít được ưa chuộng và thịnh hành. Vào những năm ấy, môt bài nhạc được in ra mỗi lần chừng vài trăm bản, bày bán ở Hà Nội còn ở các tỉnh thì thấy rất ít, có tỉnh không có bày bán nữa . Thời khai sơn phá thạch này, ngoài Dương Thiệu Tước, ta cũng chỉ thấy vẻn vẹn có mấy nhạc sĩ như Thẩm Oánh, Văn Chung, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Xuân Khoát ... Tuy nhiên, với Dương Thiệu Tước, lúc ấy người ta chỉ được biết ông là chủ một tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội ; chứ người biết ông là một nhạc sĩ sáng tác thì quá ít ỏi ! Lúc ấy, ông đã có vợ và hai con. Hai cô con gái lớn của ông, thời ấy đã là những đoá hoa hương sắc của Hà Thành, được rất nhiều người biết đến. Dưới chế độ phong kiến và Pháp thuộc, dân ta nặng đầu óc khoa bảng nên khi kén chồng cho con, đa số các cụ vẫn chủ trương phi cao đẳng bất thành phu phụ, giới văn nghệ sĩ bị coi thường vì thế giới lao động nghệ thuật bị người đời coi bằng nửa con mắt. Dù biết rõ như vậy nhưng số nhạc sĩ tiền phong vẫn kiên trì, không hề nản chí, đó thật là một điều rất đáng ca ngợi !

Ngày xưa, Vua Lê Thánh Tôn trọng văn học, thích thơ phú nên đã lập ra văn đàn nhị thập bát tú. Đến Dương Thiệu Tước cũng theo gương tiền nhân, đứng ra quy tụ anh em nhạc sĩ tiền phong để cùng tự học rồi sáng tác. Ông đứng ra lo việc in ấn và phát hành. Sau đó ông cùng với nhạc sĩ Thẩm Oánh tiến hành một phong trào khuyến nhạc để rồi về sau có được hội khuyến nhạc tại Hà Nội ."

                                    Xin mời đọc tiếp bài viết Vầng Trăng Bến Ngự (pdf)

Nghệ Sĩ và Cuộc Đời: Minh Trang, tiếng hát của một thời -
Huy Phương

                                       Huy Phương

" Như một định mệnh, cô bé Nguyễn thị Ngọc Trâm chào đời ngày 18 tháng 8 năm 1921 tại một nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự, thành phố Huế. Hai mươi lăm năm sau, một khúc hát bất hủ mang tên "Đêm Tàn Bến Ngự" ra đời, được viết nên bởi một nhạc sĩ tài hoa, đã gắn liền với tên cô , ngày nay đã trở thành một danh ca mang tên Minh Trang. Tác giả bản nhạc đó là Dương Thiệu Tước, cũng là người chồng sau này của cô, cả hai đã tạo nên một gia đình âm nhạc và để lại cho thế gian những tình khúc bất tử.

Ở Huế vào cuối thế kỷ 19, người ta biết nhiều tới Mỹ Lương Công Chúa hay Bà Chúa Nhứt, là chị ruột của Vua Thành Thái. Bà là người giòng giõi nhưng không câu nệ, tính rất nghệ sĩ. Trong nhà bà Chúa có nuôi hẳn một ban hát tới mấy chục người và có riêng một ban ca Huế. Vị công chúa đóù là bà ngoại của ca sĩ Minh Trang, do đó khi lớn lên, vì thân phụ là cụ Nguyễn Hy nhiều khi phải đáo nhậm những nhiệm sở xa, bà Minh Trang có dịp được gần gũi với bên ngoại. Nhờ những âm thanh ca Huế thấm nhuần vào tâm hồn trong tuổi ấu thơ, mới bảy tám tuổi, bà đã thuộc những bài cổ nhạc, ca Huế như những khúc Nam Ai, Nam Bình, Kim Tiền, Lưu Thủy...Tuy nói giọng Quảng vì thân phụ bà là gốc người Quảng Ngãi, chất Huế trong người bà đã khiến cho bà hát bản "Đêm Tàn Bến Ngự" một cách dễ dàng như chính tác giả đã viết bài này ra để dành riêng cho cho bà, người ca sĩ, đó là Minh Trang ..."

                         Mời đọc tiếp bài viết "Minh Trang, tiếng hát của một thời" (pdf) 

                                                                

           Mời nghe danh ca Minh Trang hát ĐÊM TÀN BẾN NGỰ - trên Đài Phát Thanh Pháp Á năm 1950

Lê Văn Phúc viết về Dương Thiệu Tước (Trích "Niềm Vui Trong Tân Nhạc")

                                         

" ... Trong các nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước, có một bài mà người ta cứ bảo rằng thì là bài này Dương Thiệu Tước viết để riêng tặng Minh Trang. Đó là bài Ngọc Lan. Thầy có biết gì không?

-    Làm sao mà tôi ở trong ngõ hẻm này lại biết được chuyện tầy trời đến như thế nhỉ ! 

-    Thế thì em hỏi ai bi chừ?

-    Cậu vẫn hỏi chị Minh Trang thì bây giờ cậu lại nhấc phôn hỏi xem bà ấy giả nhời ra sao?

-    Vâng, để em hỏi nhá!
      (Quay tô lô phôn)

-    A-lô! A-lô! Thưa chị Minh trang đấy ạ! Vẫn Cai em đây. Em mí lị thầy Nguyễn Túc bàn đến bài Ngọc Lan thì nêu ra câu hỏi rằng: "Có phải bài này anh viết tặng chị không ạ?"

Đầu giây bên kia, chị Minh Trang cười mà đáp rằng:

-    Tôi cũng chả biết nữa! Chắc người ta thấy tên tôi là "Ngọc Trâm" thì đoán là bài "Ngọc Lan" của Dương Thiệu Tước viết tặng Ngọc Trâm chứ gì! Cai tôi ớ cổ ra, không biết nói năng, hỏi han gì thêm nữa. Nhưng cứ cho đó là câu trả lời lịch sự, khiêm nhường của chị Minh Trang mà đoán mò rằng bài này anh viết tặng chị. Bản "Ngọc Lan" thật thanh thoát, nhẹ nhàng, rất mực quý phái đáng yêu.

Ngọc Lan, dòng suối tơ vương,
mắt thu hồ dịu ánh vàng
Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng,
tà mây cánh phong, nắng thơm ngoài song
Nét thắm tô bóng chiều, giấc xuân yêu kiều, nền gấm cô liêu
Gió rung mờ suối biếc, ý thơ phiêu diêu
Ngón tơ mềm chờ phím ngân trùng, mạch tương lai láng
Dáng tiên nga, giấc mơ nghê thường lỡ làng
Ngọc Lan, trầm ngát thu hương,
bờ xanh bóng dương, phút giây chìm sương
Bông hoa đời ngàn xưa tới nay
Rung nhạc đó đây cho đời ngất ngây
Cho tơ trùng đàn hờ phím loan
Thê lương mây nước, sắt se cung đàn
Ôi tâm hồn nghệ sĩ chìm trong sương thắm
Nhớ phút khuê ly, hồn mê tuyết hoa Ngọc Lan
Mờ mờ trong mây khói, men nồng u ấp,
duyên hững hờ dần dần vương theo gió
Tơ lòng dâng bao cùng thương nhớ...

Thầy Nguyễn Túc:

-    Tôi nghe âm điệu bài này thật là sang trọng, quý phái, rõ ra người sáng tác là một nghệ sĩ tài hoa, tâm hồn phong phú, đa tình... Còn cậu có thấy gì không?

-    Phần em thì lại có cái nhìn khác thầy. Em để ý đến cách dùng chữ, đến ý tứ bóng bẩy du dương, đến ẩn ý và tình ý của người sáng tác. Chẳng hạn như mắt thu hồ dịu ánh vàng, tà mây cánh phong, nắng thơm ngoài song, gió rung mờ suối biếc, Ngọc Lan,giọng ướp men thơ,mắt êm làn lụa , nhớ phút khuê ly, hồn mê tuyết hoa Ngọc Lan...toàn là những chữ gợi hình, gợi ảnh, gợi sắc, gợi hương rất là mê ly, quyến rũ.

Cứ như em nghĩ thì từ đó suy ra, Dương Thiệu Tước phải rất là nặng lòng với loài hoa đáng quý, đáng yêu này mới có thể viết được một nhạc phẩm tuyệt vời đến như thế!

***

Năm 1995, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước qua đời tại Saigon, hưởng thọ 81 tuổi.

Khi nhận được tin buồn này, phu nhân nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã tâm sự với một số văn nghệ sĩ ở bên Cali.:

"Nhà tôi là một người thích sống êm ả. Ông thích trầm tư trong cuộc sống nội tâm nhiều hơn là phô trương những công việc ông làm. Do dó, nhạc của ông tuy được rất nhiều người trình diễn, song hầu như khán giả ít người biết đến nhân dạng nhà tôi. Khi sáng tác, nhà tôi hoàn toàn vì yêu thích âm nhạc như là một lẽ sống, thành thử ông không sáng tác vì bất cứ mục đích nào, ngoại trừ lòng yêu âm nhạc"

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi đến phúng điếu đã viết:

"Anh đã sống một cuộc đời thầm lặng và muốn lãng quên cuộc đời bằng cách xa lìa mọi hệ lụy của cuộc sống này để cưu mang một tình riêng dù đời có hiểu hay không. Anh sống như vậy cũng có một mầu sắc riêng biệt của đời anh...."

 Nhà văn Hoàng Hải Thủy ghi lại một chút kỷ niệm khi còn ở Saigon, gặp Dương Thiệu Tước:

"Anh Tước và tôi cùng ở Saigon nhưng nhiều năm chúng tôi không gặp nhau. Mãi đến những tháng đầu năm 1990, một hôm tôi đi lãnh đồ ngoại quốc gởi về bố thí ở bưu điện Bình Thạnh. Đang ngồi chờ được gọi tên, tôi nhìn thấy một ông đi tới... Ông này cũng đến lãnh đồ. Tôi thấy ông ta quen quen nhưng chưa nhận ra ngay. Ông ta nhận ra tôi là ai trước. Ông đi đến, đưa ngón tay ra chỉ tôi, miệng mỉm cười, ý cười cũng ánh lên trong mắt ông. Tôi đứng lên bắt tay ông và tôi cười nói:

- Anh Tước...

Anh Dương Thiệu Tước trông vẫn còn phong độ lắm. Tôi thấy những người trẻ mà thể xác đẹp đẽ chẳng có gì đáng tự hào. Trẻ thường là đẹp. Trẻ mà xấu thì chỉ có nước đi ăn mày. Nhưng già mà đẹp mới hay, mới hơn người, mới hiếm có, và mới đáng quý. Già mà còn đẹp như anh Dương Thiệu Tước mới thật là bảnh. Không những anh Tước chỉ cao tuổi mà trông còn đẹp đẽ hơn người mà thôi, anh còn là một nhà nghệ sĩ bậc thầy có số đào huê tươi thắm mặn nồng. Chị Minh Trang và các con anh đều đi được cả, chỉ mình anh - tôi nghĩ vậy - ở lại thành Hồ..."

5 năm sau (1995), Dương Thiệu Tước từ trần.

Một chi tiết ít người biết rõ về Dương Thiệu Tước: Chúng ta chỉ biết ông là người sáng tác nhiều nhạc phẩm giá trị nhưng ít ai biết Dương Thiệu Tước còn là giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, dậy môn tây ban cầm và đã đào tạo được một số đệ tử thành danh, có người hiện cư ngụ tại hải ngoại, như nhạc sĩ Đỗ Đình Phương ..."

                Mời quý vị đọc bài viết về Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước của nhà văn Lê Văn Phúc (pdf)

                                  

" Sinh tại miền Bắc, Dương Thiệu Tước là tác giả ca khúc thuộc loại tiêu biểu nhất về Huế là bài Ðêm Tàn Bến Ngự. Ông cũng viết bài Tiếng Xưa là ca khúc đã hòa chung nhiều hình tượng cổ điển của Ðường thi trong làn điệu của cổ nhạc miền Nam! Hãy nghe “cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương và phím loan vương tình” trên sóng nước Cửu Long. Bất ngờ lắm, rực rỡ tựa Áng Mây Chiều, một tuyệt tác khác của ông."

                                          Mời đọc tiếp bài viết của Quỳnh Giao (pdf)

" ... Tôi nghe lại một số nhạc phẩm nổi tiếng, đã được nhiều ca sĩ hát, nhưng với một phong cách trình diễn khác. Bóng Chiều Xưa được gương mặt trẻ Bảo Châu thể hiện một cách phóng khóang, mơ màng, làm cho ca khúc này trở nên lãng mạn và quyến rũ hơn. Tiếng hát của Quỳnh Giao với Tiếng Xưa - chủ đề của đêm nhạc- đã đưa tôi về không gian hòai niệm của miền quê Nam Bộ mộc mạc. Tiếng mõ đều đều trong phần hòa âm làm cho chúng ta nhớ lại âm vang của một câu vọng cổ trong một buổi chiều lục tỉnh. Sự tinh tế của Quỳnh Giao là ở chỗ chị hát một số từ trong bài bằng giọng Nam. Chị bắt đầu bài hát nhẹ nhàng như tâm sự, rồi kết thúc bằng giọng hát vút cao "…ai đó tri âm hững hờ…", đã làm chạnh lòng những người mới xa xứ như tôi."

                                           Mời đọc tiếp bài viết của Đoàn Hưng (pdf)


Tài liệu tham khảo:

1. Một số hình ảnh và bài viết từ: Phạm Duy, Quỳnh Giao, Lê Văn Phúc, Phạm Kỳ, Huy Phương, Lê Hoàng Phong, Đoàn Hưng ...

2. Các websites: www.dactrung.net, www.khanhly.net/phoxua/, http://vi.wikipedia.org/, www.saigonline.com/phamduy/

3. Chương trình Câu Chuyện Thơ Nhạc của Bích Huyền (VOA - Voice of America), Chương trình Âm Nhạc Cuối Tuần của Thy Nga (RFI - Radio Free Asia), Chương trình Văn Học Nghệ Thuật của Thụy Khuê (RFI - Radio France Internationale), Chương trình Văn Học Nghệ Thuật của Y Sa (VNCR).

                   Xin gởi ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com