arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow TIẾNG SÁO THẦN - NHẠC SĨ NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA - Biên soạn: Phan Anh Dũng
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
TIẾNG SÁO THẦN - NHẠC SĨ NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA - Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

Cách đây vài hôm, bạn Nguyễn Ngọc Châu ở Alexandria, Virginia gởi cho tôi nghe một bản nhạc nổi tiếng của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước qua tiếng sáo của Đoan Trang và do anh hòa âm. Tôi xúc động khi nghe lại bản Đêm Tàn Bến Ngự  trong một đêm thanh vắng cuối Thu. Tiếng sáo nghe thật buồn và sâu lắng với một kỹ thuật điêu luyện. Tôi nhớ mang máng Đoan Trang là trưởng nữ của cố Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Nghĩa, người được mệnh danh là “Tiếng Sáo Thần” trong làng âm nhạc Việt Nam trước 1975. Tôi nhớ nhất là bài Ông thổi sáo giả chim Phụng đang múa, thật tuyệt diệu. Khi qua định cư tại Hoa Kỳ, Ông và gia đình có đi trình diễn nhiều nơi, trong đó có Richmond, nơi tôi cư ngụ. Hôm ấỵ, Ông đại diện Cộng Đồng Việt Nam trình diễn với nhiều nhạc sĩ Á Châu nổi tiếng. Còn về Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước, tôi thích nhất bản Chiều với thể điệu tango nhẹ nhàng lời thật hay và một số các bài như Ngọc Lan, Bóng Chiều Xưa, Thuyền Mơ, Tiếng Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành ...  Vì Ông là phu quân của danh ca Minh Trang (mẹ của ca sĩ Quỳnh Giao) và tác giả của bài Đêm Tàn Bến Ngự nên tôi cứ ngỡ Ông là người sinh trưởng ở đất Thần Kinh!

Mời quý vị đọc bài viết về 2 Nhạc Sĩ tài ba Dương Thiệu Tước (bấm vào tên để vào trang riêng) và Nguyễn Đình Nghĩa và nghe lại vài bản nhạc của họ.

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia - 15 tháng 11, 2008)

                                                         Xin bấm vào tên để nghe:

                         Đêm Tàn Bến Ngự với tiếng sáo: Đoan Trang (hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu)  

                                                           

                      Bấm vào tên bài hát để nghe tiếng sáo huyền diệu của Nguyễn Đình Nghĩa:

         TÌNH CA (Phạm Duy)        CON THUYỀN KHÔNG BẾN (Đặng Thế Phong)         SUỐI MƠ (Văn Cao)

                       NHẠC SẦU TƯƠNG TƯ (Hoàng Trọng)       TIẾNG XƯA ( Dương Thiệu Tước)

                                               PHỤNG VŨ                LÝ NGỰA Ô

                         CELEBRE VALSE (Johannes Brahms)            SERENADE  (Enrico Toselli)

                Mời xem 2 đoạn phim Nguyễn Đình Nghĩa thổi sáo:     NĐN-01      NĐN-02

     Chương Trình Tác Giả Giai Thoại của VOVN-Houston vê Nguyên Đình Nghĩa

                                Phương Hoa & Duy Trác thưc hiên - 28 tháng 8, 2003

                         Tiểu Sử Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Nghĩa

                                       

Ông sinh năm 5 tháng 10 năm 1940. Thuở nhỏ học trường Tây Lycée Yersin, môn đồ Thiếu Lâm, lò ông Tư Cụng, lực sĩ điền kinh Á Châu thập niên 60 về môn nhảy cao, nhảy sào và đánh võ đài. Mặc dù được học trường Tây, ông yêu nhạc Việt Nam từ nhỏ, biết đến sáo từ một nghệ nhân người Tàu. Năm 1958-1960 đã nổi tiếng và mệnh danh là Tiếng Sáo Thần. Ông chuyên sử dụng động tiêu, sáo trúc, đàn bầu, đàn tranh, đàn T'rưng.

· Sáng tác 2 bài độc tấu sáo Phụng Vũ và Thần Triều.
· Thời trẻ sáng tác ca khúc cùng vợ là nhà văn Trịnh Thị Diệu Tân: Sương Khuya, Giọt Lệ Tình, Nỗi Buồn Thiếu Phụ ....
· Bài Phụng Vụ đoạt giải âm nhạc của Đại Hội Âm Nhạc của các đảo Á Châu năm 1963
· Dạy trường Quốc Gia Âm Nhạc và môn Quốc Nhạc trường Đại Học Vạn Hạnh
· Hoạt động trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và phụ trách nhiều chương trình thơ nhạc của các đài phát thanh
· Đại diện phái đoàn âm nhạc Việt Nam trình diễn tại các nước Á Châu và Âu Châu
· Singapore năm 1964, International Folk Music Asian Festival
· Thailand năm 1966, được Hoàng Gia Thái với lời mời của Hoàng Hậu Sarakit, trình diễn Palais Royal
· 1966, trình diễn tại Kulalam (Malaysia)
· 1969 tại Paris và trình diễn vòng quanh Pháp: Toulouse, Nice, Marseille, Bordeau, Pesencon, Lille, và Sweaden (Suisse)
· 1972 tại Phillipines - National House of the President Marcos
· 1972 đại diện Quốc Gia trình diễn tại Cambodia
· 1973 được Quốc Vương Lào mời trình diễn tại That Luong
· Sản xuất sáo trúc và sáo gỗ
· Sản xuất băng nhạc, băng sáo, cải lương
· Viết sách Tự Học Thổi Sáo, tái bản nhiều lần, dịch sách Tự Học Harmonica
· Đóng kịch phim: "Đời Võ Sĩ", "Đời Phóng Viên"
· Mở lớp dạy nhạc, đào tạo nhiều môn sinh
· Hợp tác với bác sĩ Đào Duy Anh thành lập ban nhạc Bách Việt
· Sau năm 1975 vì là thành phần miền Nam, Ông không được trình diễn, Ông chuyển sang nghiên cứu, lên vùng Cao tìm tòi các nhạc cụ dân tộc
· Cải tiến đàn T'rưng một cột hơi ra hai cột hơi, mở rộng từ 1 bát độ nguyên thủy thành 4 bát độ, đàn T'rưng bass, mở 3 âm vực, 3 bát độ
· Cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, có thể trình tấu nhạc cổ điển, note thăng giáng, đồng thời vẫn thổi được nhạc ngũ cung mà không mất âm sắc của cây sáo nguyên thủy
· Viết nhạc phim "Học Làm Tổ"
· Viết "Ngày Hội Lập Buông" cho cây đàn T'rưng cải tiến

Sang Mỹ tháng 7 năm 1984, giới truyền thông đã giới thiệu Ông trên NBC News, CBS News. Ký giả Mỹ Stella Dawson của Northern Virginia Sun ví Ông như Jean-Pierre Rampal (Nghệ Sĩ Độc Tấu Sáo người Pháp) của âm nhạc Việt Nam

Cùng gia đình biểu diễn và giảng dạy nhiều niên khoá học của Visual Arts Program thuộc Arlington County và Fairfax County Virginia. Trình diễn nhiều show trên đài số 26, 33, 50, 54

Nhận 4 giải thưởng của Maryland State Council dành riêng cho Nghệ Sĩ Cá Nhân Xuất Sắc năm 1994, 1998, 2000, 2002

Lập gia đình với nhà văn Trịnh Thị Diệu Tân, có 5 người con:
- Nguyễn Diệu Đoan Trang, sử dụng sáo, đàn T'rưng, đàn Tam Thập Lục, trống
- Nguyễn Diệu Nam Phương: sử dụng đàn bầu, đàn tranh
- Nguyễn Đình Nghị: sáo, guitar, bass
- Cặp sinh đôi Nguyễn Đình Chiến: trống, guitar & Nguyễn Đình Hoà: bass, guitar, đàn T'rưng, Cello

Cùng gia đình trình diễn tại hàng trăm hý viện trên nhiều tiểu bang tại Mỹ, Canada: Wolf Trap, Kennedy Center, Carnegie Hall, New York, Liberty of Congress tại Washington DC, International Folk Festival tại Glen Echo Park ....
Về sau Ông chuyển qua sáng tác nhạc Thiền: Cầu Vòng Ngũ Sắc, Hành Vân, Lời Của Một Giòng Sông (bài thiền của vua Lý Thái Tôn), Tiếng Kệ Bên Trời, Lời Hát Kệ

Đang nghiên cứu để làm lại đàn đá, đàn lửa đã thất truyền của người Vân Kiều.

Chuyển hướng nhạc Thiền, dự định làm CD Thiền và những bài nhạc Tiền Chiến, "Mozzart on Bamboo", "Christmas on Bamboo", Thánh Ca qua nhạc cụ Dân Tộc
Rất tiếc Ông bị đột quỵ ngay trên sân khấu American History of Nature Museum tại New York ngày 11 tháng 5 năm 2003. Ông ra đi ngày 22 tháng 12 năm 2005.

       (Tiểu Sử trích trong webiste: www.nguyendinhnghia.net - xin mời vào website này để xem chi tiết)

               

                

                   

                

                       

                                 

             

Ðã tắt vỡ..
Tiếng Sáo Quê Hương

Bài viết lần thứ nhất, năm 1993, sau khi ra khỏi nước, gặp lại bằng hữu khắp thế giới sau một buổi biển dâu đáng sợ với tâm cảnh vừa bùi ngùi, vừa xót thương. Thương Bạn và thương thân bởi cuộc sống quá đổi ác độc mà hình như không mấy ai tránh khỏi phần thua đau, mất mát.
Chín năm sau, 2002, viết lại lần hai, từ lần hội ngộ với Thầy, Cô, các Bạn cũ ngày nhỏ ở Trường Phan Châu Trinh Ðà Nẵng, nhân dịp kỷ niệm 50 năm trường thành lập. Năm-mươi năm, nửa thế kỷ, không ai có thể nghĩ ra (cho dù trí tưởng tượng phong phú đến đâu) cảnh gặp mặt nơi một thành phố gọi là Garden Grove, Quận Orange trên đất Mỹ, với thầy, cô phần lớn khi đứng trên bục giảng chỉ là những người trẻ tuổi chưa tới ba mươi, với những học trò mới vừa đủ tuổi 12, số tuổi ấn định tối thiểu cho bậc trung học. Nay thầy đã trắng tóc như một khối bông đơm tỏa, và học trò với tiếng nói khẻ, chậm của người chịu quá nhiều nỗi tàn nhẫn phôi pha.
Và viết lại hôm nay, cuối năm 2005, lần thứ ba, cũng là lần cuối. Bởi Bạn Chúng Ta-Nguyễn Ðình Nghĩa, Cây Sáo số Một của Việt Nam; Khôi Nguyên Nghệ Sĩ Trình Tấu Xuất Sắc Liên Hoan Nghệ Thuật Âm Nhạc Thế Giới-Tiểu Bang Maryland (1994, 1996,1998, 2000, và 2002) đã đi về cõi vĩnh hằng như tiếng sáo vô cùng của Bạn.. 

Bạn tôi nếu mới gặp lần đầu, ta có thể nghĩ đấy là gã tay chơi, kẻ sống theo lề lối, sinh hoạt sôi nổi bề mặt. Cũng có thể đúng như thế, một phần do bạn vốn môn đồ võ phái Thiếu Lâm, vô địch điền kinh học sinh, khuôn mặt sắc nét tươi vui đều đặn. Bạn cũng có thể trở nên một tay hào hoa ăn chơi không âu lo với cung cách quen thuộc của “dân học trường Tây”, gia đình có tài sản lớn.  Nhưng, đời bạn đã không theo con đường dễ dàng thuận lợi đó. Bạn chọn ngã chông chênh, nguy biến hơn, cũng là lối đi rực rỡ, huyền hoặc của cuộc nhân sinh - Ðường của Người-Yêu-Người với cách thế, điều kiện đặc thù để diễn đạt tình yêu ấy-Nghệ Thuật. Và bạn đã chọn hướng nghệ thuật hàng đầu: Âm Nhạc với âm sắc kỳ ảo riêng biệt của thế giới âm thanh.

Bạn tôi là một cô gái tội nghiệp trong số những thiếu nữ hẩm hiu bất hạnh.  Bạn không có nét quyến rũ, lộng lẫy dù đang lúc thanh xuân khởi sắc. Bạn chỉ là một vóc dáng nhỏ bé linh hoạt, tóc nâu nhạt và đôi mắt luôn sáng ánh ngạc nhiên.. Loáng lạ lẫm của tâm hồn đơn giản, trung hậu trước những điều dữ dội, đe dọa từ cuộc sống.  Bạn mất cha từ tấm bé nên gia đình đã là một điều phiền muộn u uẩn. Và lớp học, nơi bạn hằng ngày nôn nao đi về, đôi khi cũng gây nên đớn đau:“..Tân không có quần áo mới! Tân mặc quần.. cháo lòng!” Gã bạn nhỏ cùng lớp chỉ do nghịch ngợm vô tình nói lên câu ác độc. Bạn bật khóc,  lòng ghi sâu mối rúng động gớm ghê. Nỗi xót xa khi trái tim bị xúc phạm.  Trong đơn độc tủi hổ của tuổi lớn lên, bạn như con chim nhỏ giữa đám lá sũng nước. Bạn cảm thấy bị đe dọa và cần được che chở.

Hai bạn tôi yêu nhau từ một đêm trăng.
 
Gã thanh niên quả tình chỉ để ý đến người thiếu nữ như một phản ứng bù trừ.  Anh học trường của Bộ Giáo Dục Pháp từ bậc tiểu học nên quen lối giao tiếp phóng khoáng, văn minh; từ căn gác của gia đình, ngôi nhà lầu mặt tiền con đường lớn nhất thành phố, hằng ngày anh nhìn thấy cô gái từ xóm nhà nghèo đi ra. Xóm nhỏ phần lớn là nhà tranh quây quần quanh khu đường cát lỡ. Lối đi ngập cát xám, nhỏ vừa đủ hai xe đạp tránh nhau, chạy vướng vít dưới tàng cây sầu đông, vào mùa Hè thoáng hương thơm ngan ngát theo gió từ vịnh biển tỏa lan. Cô bé (khởi đầu câu chuyện, chỉ là cô bé gái vừa qua tuổi dậy thì) đã đi từ hẻm cát ra đến gốc cây đa, tiếp tục theo một con lộ khác lớn hơn, cũng là đường đất cát mà bộ hành chỉ xử dụng lối nhỏ hai bên, khoảng giữa mặt đường, cát gồ lên gò, đống. Ði hết đoạn đường cát, cô mới rẽ vào phố chính trải nhựa.
Một ngày, không nhớ rõ là bao giờ, người thanh niên thấy ra cô bé.. Sao “nó” có nét mặt chịu đựng tội nghiệp đến thế! Vẻ lặng lẽ cam phận này rất dễ nhận vì cô vốn có nét sắc sáng loáng tinh anh với sống mũi cao thẳng, da trắng và ánh mắt loáng xanh linh động. Bạn theo dõi bước chân của cô gái như thế từ lúc nào không rõ. Chỉ biết, Hè vừa qua, cô gái đã là một thiếu nữ hoàn hảo, nói lời tiếp xúc đầu tiên: “Thưa anh, em đã đậu trung học. Ðậu kỳ vừa rồi, đậu Bình Thứ”. Giọng nói trong trẻo, tự tin, chững chạc.
Hai bạn tôi tiếp xúc, quen biết sau ba năm nhìn thấy vào ngày Hè 1958, mùa sống động nồng nhiệt của tuổi trẻ và đất trời. Họ thường hẹn gặp nhau nơi vịnh biển trong rừng dương liễu; họ chọn khu rừng gần hồ nước, hướng về làng Thanh Bồ, nơi lau lách, đồng cỏ ngút ngàn, tiếp giáp rừng dương, bờ biển để thiên nhiên còn nguyên độ hoang sơ thuần nhã thích đáng, hòa hợp với tình yêu trong sáng, thắm thiết của họ. Ở đấy không bóng người, chỉ tiếng gió vi vu xao động qua tàng cây và hàng lau nghiêng ngã. Chuyến tàu hỏa chở hàng từ ga Chợ Hàn trở về gióng âm thanh xa vắng, thả lên trời vệt khói đen mỏng manh chỉ làm tăng thêm độ u tịch của cảnh sắc. Ðoàn xe đôi khi bị mất hút đâu đó sau ngàn lau.. Ở đây yên tĩnh quá anh há. Người con trai cười nhẹ, anh chỉ có nụ cười trẻ trung chân thật này. Biết nói thế nào bằng tiếng Việt, diễn tả thế nào cho đủ?! Quả thật âm thanh, ngôn ngữ có một khoảng trống không vận dụng được. Chưa vận dụng được. Anh bất lực để nói lên lời cụ thể. Anh cần một “cách thế, phương tiện” diễn đạt khác, đầy đủ, chính xác, và thắm thiết hơn.
Một mùa Hè, một năm đi qua. Nay lại đến mùa Hè thứ hai từ lúc thương mến.  Ngày Hè năm 1959, cô gái đột nhiên vắng mặt. Gọi là “đột nhiên” vì do phản ứng của mối liên hệ đang bình thường, đang thắm thiết, bỗng nhiên bị cắt đứt.  Người thiếu nữ phải theo đoàn học sinh cùng trường đi cắm trại vào dịp cuối năm. Cô vắng mặt từ sáng sớm, đến chiều người thanh niên động tâm. Chiều,  khoảng thời gian sau khi tan học, từ nắng sáng tiếp bóng đêm..  Không hẳn thế.  Thật sự chỉ là ngày hôm qua, chiều trước của buổi chiều ghê gớm này. Anh đạp xe ra vịnh biển, đếân nơi vùng lau lách quen thuộc.. Anh để chân trần di động trên bãi cỏ, gò cát, đi tới mép hồ, ngồi xuống, nhặt quả thông, khối cỏ tròn, tua tủa những cọng sắc như lông nhím.. Anh thả khối cỏ quay lông lốc theo triền dốc cát, đầu ngọn cỏ nhọn sắc đâm vào tay, hơi cỏ mát đầm đầm dưới chân, tiếng rì rào gió khua lá, mặt nước hồ hắt khối nắng vàng khô úa..  Hình như cảnh sắc đang sụp xuống tàn tạ, hấp hối, toàn khối đất trời đang đổi thay. Ðang chết. Chịu không nổi, anh trở lại thành phố. Phải đi tìm. Phải đi tìm..
 
- Ông biết học trò trường Phan Châu Trinh đi cắm trại ở đâu không? Người bạn anh, vốn huynh trưởng một đoàn Hướng Ðạo tuy biết rõ tất cả địa điểm cắm trại của vùng núi đồi, thôn dã quanh thị xã, nhưng không trả lời liền, người nầy nhìn vào nét mặt thê lương ủ dột của bạn.. Ông làm sao thế? Không có gì, tôi muốn biết họ đi cắm trại ở đâu. Cần lắm.
Cuối cùng, cả hai đến chân đồi Mỹ Thị lúc ngày hết, và trăng đã lên.
Giải đồi dương liễu loang loáng, hiện ra mới mẻ theo từng khoảng khắc dưới trăng. Những chùm lá cây dương óng màu sáng bạc xôn xao chuyển động, xô đẩy đùa trăng đi như liếp sóng. Ta có cảm giác như những lượn sóng bạc đầu đâu từ ngoài trùng dương xa xôi sau khi chạm đến bờ đã tràn qua giải cát, theo trăng lên đồi, tiếp ngọn cây, xô liếp sóng lá cồn lên không gian xanh sáng.. Nhưng sóng lá thông theo gió đi tiếp lộ trình, chuyển xuống chân đồi, nơi ngôi làng nhỏ và giòng sông.. khua động mặt nước làm trôi những giải đường trăng thiêm thiếp tan vào bờ lau, in hình khối núi Non Nước chìm chìm im lặng.
Trên sóng nước, giữa giòng trăng, từ con đò len lỏi trong hàng lau sậy.. Bạn tôi đưa ống sáo lên môi. Anh dùng nguồn thanh âm của tre trúc thay tiếng lời.  Những nội dung mà ngôn ngữ bình thường hạn hẹp không nói được. Từ trên đồi cao, mấy trăm học sinh ngồi dậy. Họ đồng im lặng nghe giữa hơi gió cuốn lá, sóng trăng miên man thanh âm chuyển động kỳ ảo - Giọng thanh tiêu ca ngợi, tỏ tình. Người thiếu nữ bật khóc. Cô nhận ra âm động của người thương mến đến cùng cô theo tiếng tre trúc. Bóng lá thông khi gió thổi lệch làm lộ rõ ngấn nước mắt trên má long lanh. Và, Nguyễn Ðình Nghĩa cùng Trịnh Diệu Tân đã nuôi dưỡng, vượt sống, hiện thực tình yêu hằng suốt hơn bốn-mươi năm. Từ đêm Hè không hề mất độ sáng và âm thanh tiếng sáo vĩnh viễn màu trăng.
Thế nên, cần gì phải cậy đến điển tích, sự việc người xưa, chuyện thần thoại.. Những Trương Lương, Trương Chi, Orphée để diễn đạt, biểu hiện sức mạnh kỳ diệu của tình yêu, âm nhạc. Ðêm trăng mùa Hè 1959 nơi đồi Mỹ Thị đã không chỉ của riêng Nguyễn Ðình Nghĩa và Trịnh Diệu Tân mà đã là cảnh sắc, thanh âm, giòng rung động, sức sống của tất cả lớp tuổi trẻ ngày ấy. Tuổi trẻ chỉ có một lần trong đời mà ba mươi, bốn mươi năm sau ở chốn cuối trời, nơi xứ lạ hoặc còn trong vùng đất nước tang thương.. Những người thầy tóc bạc, hoặc những cô, thầy trẻ tuổi ngày ấy như những người anh, người chị.. Và những học trò nay với mái tóc trắng xám của người già, hoặc những kẻ không còn, mất dấu trong chiến tranh.. Những nét sắc tưởng chừng như “không thật, bất biến” của những người chỉ một lần nhận ra trong một buổi học nào đó, nhưng ở lại mãi cùng trí nhớ mấy mươi năm sau từ ánh mắt, mái tóc.. Tất cả bạn của trường xưa, nơi Phan Châu Trinh Ðà Nẵng. Tất cả đồng một lần xanh ngắt sống lại, một lần linh động phơi phới, khi nhớ lại, sống cùng vô vàn tiếng sáo đêm Hè 1959, nơi thôn Mỹ Thị sáng giòng trăng - Linh diệu và mầu nhiệm biết bao: Hôm ấy, 2002  “ Thấy lại nơi đây - Ðất Mỹ”

Và quả thật, một mình tôi sẽ không đủ sức đi hết đoạn đường khó nhọc từ mấy mươi năm qua, trong lửa đạn nếu không được sức nâng thường trực bền bỉ, cụ thể từ bằng hữu. Và cuối cùng, từng phút giây đương cự nơi ngục tối. Tôi biết sống cùng Ai nếu không với những Người Bạn? Mỗi người bạn hiện hữu rõ từng 
chi tiết, nét mặt, tiếng lời. Sự thiết thân mầu nhiệm này có thật. Nên từ bóng tối, cảnh chết. Tôi đã phục sinh.
              Con đâu? Bạn đâu? Phương Nam đâu?
             Ðêm đã qua lâu, bóng tối sâu
             Còn chút hơi tàn hong nhịp thở
             Nhớ Người ghìm tiếng thét chìm đau
Tôi “viết” những giòng nầy trên đầu ngón tay, giữa vũng tối dầy kín, suốt tám năm.

Nguyễn Ðình Nghĩa không chỉ vận động giòng âm hưởng từ ống trúc để bày tỏ tình yêu. Anh hiện thực, hữu hiệu hóa khối năng lực thanh âm kia thành phẩm lượng vật chất để nuôi dưỡng, duy trì, khai triển tình yêu kia trong đời sống.  Anh cùng Người Yêu kết hợp từ tiếng sáo đêm trăng, bỏ Ðà Nẵng vào Sài Gòn những ngày đầu thập niên 60. Cả hai vào Sài Gòn với tay trắng. Tay trắng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng- Chỉ với cây sáo Trúc và Tình Yêu. Nhưng chuyện thần tiên của Nghĩa -Tân được hiện thực hóa ở Sài Gòn với đại nạn chiến tranh, trong căn nhà bốn thước bề ngang, hai-mươi thước dọc nơi hẻm nhỏ đường Phan Văn Trị, Nancy. Nguyễn Ðình Nghĩa dựng nên thế giới thanh âm tre trúc ầm vang giòng xe luôn náo động của hai con đường lớn nhất Sài Gòn - Chợ Lớn: Trần Hưng Ðạo và Cộng Hòa, hòa nhịp với tiếng gõ xe mì, xe hủ tiếu âm động của dãy thùng hứng nước từ đầu hẻm và tất nhiên, chuỗi rầm rì liên tục mệt nhọc của nhà máy đèn Chợ Quán. Trong hẻm lao động  náo loạn đó, Nguyễn Ðình Nghĩa đã hoàn thành “tác phẩm” lớn của đời mình - Nuôi dưỡng vợ và ba con từng ngày bằng tiếng sáo. Diệu Tân thành người khoa bảng, và các con khôn lớn trưởng thành. Chuyện thần thoại có kết thúc rất cổ điển và trung hậu: Nguyễn Ðình Nghĩa là “Cây Sáo Số Một” của Việt Nam, của miền Nam.“Có một thằng cha bên Tàu, và một cha nữa bên Tây, hai cha này thổi hay hơn moa!” Nghĩa đã nói với tôi như thế hơn hai-mươi năm trước. Tôi nhìn quanh căn nhà lổng chổng đồ đạc , chiếc xe đạp treo trên tường, tấm bảng đen đầy bụi phấn, đống áo quần dơ, sô nước, và Diệu Tân lấm lem khói bếp..”Ông nên “nhường”cho hai cha ấy đi; sống thế này mà “thổi” được như ông là Thánh.” Ít khi nào lời nói đùa mang độ thật đến như thế.  Nguyễn Ðình Nghĩa lúc ấy, “Cây Sáo Số Một” của Việt Nam, gã Orphée tân thời chỉ một chiếc quần xà-lỏn trên mình. Nóng từ mái tôn hắt xuống như đang trong lò bánh mì. Hỏi ai có thể “thổi” hay hơn bạn được. Chỉ cho tên một người khác đi, trước đây hoặc bây giờ.

30 tháng 4, 1975 , cùng lần với Miền Nam, . Nghĩa và Diệu Tân trở lại miền Trung sau hai mươi-lăm năm. Khác với lần di chuyển vào Nam ngày trước, chuyến đi của can đảm tuổi trẻ và lãng mạn tình yêu, hôm nay, hai người có khối nặng của ba con . ”Nghĩa và gia đình không về lại Ðà Nẵng. Anh đưa vợ và ba con đi xa hơn. Nơi hẻo lánh, vùng núi miền Trung.

Và chuyện thần thoại được thực hiện lần thứ hai. Cái khó không bó được cái khôn với điều kiện chúng ta phải khôn. Sự cùng khổ đôi khi không là tai họa nếu chúng ta có sức vượt qua cùng khổ. Ở miền núi, tiếp xúc với những người sắc tộc Bahnar, H’mông, Rhadé.. Nghĩa dần khám phá ra khối lượng nhạc khí độc đáo, kỳ ảo của ho. Với cây đàn T’rưng, nhạc khí gỏ khởi sự chỉ vỏn vẹn năm ống tre, đầu mắc vào cột, một người ngồi giữ giây, một người gõ. Người Bahnar (Vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi chạy qua Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc xuống Bình Long, Nam bộ) vận dụng được một cung năm ngũ âm đơn giản, để dùng trong việc liên lạc, mời gọi họp bạn hoặc các buổi tế lễ như hạ trâu, cưới xin, mở cửa mã.
Năm 1978, có mặt trong buổi liên hoan âm nhạc đồng bào sắc tộc Việt Nam tại Nha Trang, Nghĩa nẩy ra ý nghĩ khi nghe đàn T’rưng cải tiến - Ðàn T’rưng cải tiến thành cung Mi trưởng, có đầy đủ một hợp âm bát độ. Nghĩa so sánh: ”Nếu chỉ với một ống sáo nhỏ bé anh đã tạo nên hằng hà âm giai, âm sắc biến hóa kỳ ảo.. Thì huống gì đây những năm ống tre, cũng từ tre, trúc mà ra thôi”. Anh gọt không phải hằng chục, hằng trăm, hàng ngàn, mà hằng chục ngàn ống tre.. Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu - Ðể buồng hơi (chambre à air) tạo nên âm thanh tuyệt đối thuần túy - Một cung cộng hưởng tối đa. Căn nhà của anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày với từng ống tre được gọt theo mỗi 1/5, 1/10 milimetre một. Năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 56 ống có khả năng tiết tấu năm bát độ.  Ngoài ra, Nghĩa phải cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé,  nhạc sĩ này đã tìm ra một “gam vô tình” cũng có thể gọi là “gam mềm” sau khi gắn vào thêm hai ống. Chiếc đàn 56 ống vớI những ống T’rung Bass hoàn chỉnh vớI 2 cột hơi. Bộ Trưởng Văn Hóa , Lưu Hữu Phước công nhận sáng kiến và tài năng của Nghĩa, cũng một phần, đây là điều đáng hãnh diện của người Miền Nam sau khi  nhac si Hà NộI đã sáng chế nên cây gõ hai đầu; cây gõ nguyên thủy chỉ một đầu.
Nguyễn Ðình Nghĩa được chính phủ  - Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chấp nhận  –  Quả tình tôi rất thấm hiểu , khi nhìn thấy được hàng hàng người nối đuôi nhau vào xem và tranh mua những họa phẩm của : Nguyễn Trung, Ðỗ Quang Em, Ðằng Giao, Phạm Cung, Nguyễn Hải Chí (Chóe)... Tranh của cụ Nguyễn Gia Trí đã là một “Tài Sản Quốc Gia”. Tranh và những họa sĩ đã một thời bị khinh miệt, vất bỏ .

Nguyễn Ðình Nghĩa là một xứng đáng nhất.

Nhưng chuyện thần kỳ của Nguyễn Ðình Nghĩa không dừng lại ở đấy, tại Việt Nam. Bạn đến Canada năm 1984; tháng Giêng 1987 nhân dịp Tết Âm Lịch  Nam, bạn xuất hiện ở Phòng Hòa Tấu Ðại Học Toronto, và liên tục trình diễn qua các cơ sở văn hóa, giáo dục vùng Ðông-Bắc nước Mỹ. Nhưng nay, bạn không đứng trên sân khấu một mình, sau lưng và hai bên bây giờ đã có toàn thể khối lực hỗ trợ: Những Ðoan Trang, Nam Phương, Nguyễn Ðình Nghị và tiếp theo, Nguyễn Ðình Hòa và Chiến. Ðây không còn là những đứa bé trèo lên vai, bám lên cổ bạn ở hai-mươi năm trước, mà đã là người thiếu nữ Việt Nam làm sống động âm thanh khắc khoải gờn gợn của Ðộc Huyền (Nam Phương); người dựng lại khối âm thanh rực rỡ của Thập Lục (Ðoan Trang) và những cây guitar điện, giàng trống với Nghị, Hòa, Chiến. Tất cả đã hòa nhịp cùng2 chiếc đàn đồ sộ 56 ống của Nghĩa để hiện thực nên điều - Âm nhạc, nhạc khí cổ truyền Dân Tộc Việt Nam là một thế giới kỳ diệu do từ nội dung sâu lắng, phong cách, kỹ thuật trình diễn điêu luyện tế vi. 
Buổi trình diễn ngày 2 tháng 6 năm 1994 tại Thính Ðường Carnegie Ðại học Kỹ Thuật New York là một xác chứng về câu chuyện có vẻ không thực của một gia đình tên gọi Nguyễn Ðình Nghĩa. Vì sau gần trăm năm thành lập, phòng hòa âm ấy chỉ dành riêng để các bậc thầy trình diễn về các bậc thầy.. Những Beethoven, Mozart, Wagner..

Nhưng nguồn sống động làm phấn khởi, thúc dục tôi viết nên bài này không phải là giải thưởng của Thống Ðốc Tiểu Bang Maryland về “Nghệ Sĩ Ðộc Tấu Xuất Sắc” năm 1994 mà Nghĩa vừa nhận được hôm 12 tháng 6, tại Baltimore (và tiếp những năm sau, 1998, 2002). Có một điều gì cao quý và sâu xa hơn. Ðấy là dự định mà tôi tin chắc bạn sẽ thực hiện được - Làm sống lại Beethoven, Tchaikovsky, Debussy..  Bằng lửa. Với lửa - Nghĩa là bạn sẽ tái cấu trúc, hoàn chỉnh lại cây “Ðàn Lửa” của người Vân Kiều (Vùng núi Bạch Mã, Cầu Hai, Thừa Thiên), một loại đàn đã bị thất truyền và không người có khả năng khôi phục. Lửa sẽ được đốt lên (tất nhiên từ một hệ thống lò ga thay vì lửa trại, lửa rừng), chuyền hơi nóng qua những ống tre lớn (do Nghĩa đã nắm được cấu trúc từng tế bào tre, trúc).. Và những hợp tấu khúc lớn của các bậc thầy sẽ được dựng nên, bừng dậy như ánh lửa chập chùng hằng cháy sáng từ ngày khai sinh sự sống trần gian.

Nhưng cuối cùng, cũng không hẳn như thế. Chẳng phải vì tài hoa đặc dị của bạn mà tôi viết nên lời. Tôi cảm động vì một điều đơn giản. Về một điều rất đơn giản, tầm thường.

Ngày xưa, buổi rất lâu của hơn bốn-mươi năm trước, những ngày của thời gian trước 1954. Tôi lúc ấy là đứa trẻ con nhà nghèo thường hay nhặt những hạt, hột không tên, vô vị nào đó để lót lòng vào buổi, giờ xa bữa ăn vốn quá thiếu thốn.. Hạt cây quăn vị ngọt nhầy nhầy mủ trắng, hạt trái “mâm xôi” xám trắng trong trong. Và trong những lúc lẫn quẩn nơi bụi hoang, bãi cỏ để tìm kiếm loại “lương thực” tội nghiệp kia, giữa tiếng lá kiền kiền khô cuốn trong cỏ tranh, trên mặt đường đất đá lồi lõm vùng ngoại ô Ðà Nẵng.. Giữa tịch mịch của thanh âm nắng, gió, lá, cỏ kia tôi nghe vọng tiếng chim.. Tít.. tít.. tít.. tịt ..t..tịt..tịt.. Chim kêu tắt tắt, chậm chậm và lịm dần. Ðứa nhỏ không biết tên chim, nhưng lòng có ý nghĩ, Chim chắc cũng đang chịu phần tội nghiệp hẩm hiu. Cũng chưa thấy dáng chim lần nào. Năm 1993, nơi vườn Lái Thiêu, chung quanh căn lều nhỏ (đặt nên tên “Bằng Hữu Mai Trang” theo ý của hai “Ông Cả” Doãn Quốc Sỹ, và “Ông Ba” Như Phong), do tiền của bạn bè khắp nơi thương mến gởi về.. Tôi gắn bao thơ đề tên các bạn khắp bức tường gỗ, nơi bàn viết. Và giữa khoảng xanh dầy của tàng măng cụt, tôi trải chiếc chiếu ngủ dật dờ trên đám lá.. Nắng cuối năm vàng khô lạnh lạnh. Chẳng khá hơn tình cảnh của đứa bé bốn-mươi năm trước, và nghe lại tiếng chim..Tít..tít..tịt ..tịt ..tịt..
- Chim gì kêu buồn quá ông ơi, chịu không nổi! Tôi nói lên cùng Út Năng, ông bạn già chủ vườn tôi ở,
- Thì chim “mồ côi” mà cha,
- Mồ côi? Ai mồ côi?!
- Ông không nghe ra à... père...mère...frère.. tout est perdu.. Mất hết trơn như vậy, làm sao mà không kêu cho được..
- Ờ há.. vậy là con chim giống tôi. Hèn gì hồi nhỏ tôi đã nằm lặng ra mà nghe.
Và tôi đã nghĩ có mấy ai trong đời phải mất hết trơn đến tội như thế. Có ai trong đời hằng phải nhớ đến một tiếng chim. Nhưng không, trong những bài nhạc do Nghĩa soạn cho sáo, đàn có nhiều bài về chim.. Bài Phụng Vũ, Chim Loan, và bài Chim Boong Klé.
- Boong Klé là chim gì? Tôi hỏi bạn.
- Chim “mồ côi” đó mà. Ở Ðà Nẵng thuở nhỏ toa có nghe lần nào không,

Vâng, Nghĩa và Tân ạ.. Tôi đã nghe tiếng chim ấy, và tôi cũng đã đôi lần kêu với nó. Thật ra rất nhiều lần. Vẫn đang kêu cùng chim.
            Quê hương tôi có loài chim mồ côi
            Mẹ chết, mất cha, anh em phiêu tán
            Lắng âm tiếng hiểu dần nên nguồn cội
            Chim và Người cùng thấm khổ ÐAU thôi.

Và phải chăng do tiên kiến về một điều bất hạnh sẵn rình chờ, tôi luôn thấy rờn rợn có điều gì không thật, không bền mỗi khi thấy Bạn trình diễn cảnh tượng kỳ ão với cây đờn đồ sộ 56 ống tre, được đánh lên với tuyệt kỹ điêu luyện, hòa nhịp thanh âm Thập Lục, Ðàn Bầu của Ðoan Trang, Nam Phương; vọng động của trống phát ra từ Chiến, Hòa, và Tây-Anh Cầm của Nghị. Phải, tôi thấy có một điều gì bí mật, sâu xa hơn - Ngày 12 tháng 5, 2003 Bạn bị kích ngất ngay trên sàn trình diễn ở New York - Và Bạn đã, đang ở trên biên giới Sự Chết từ đó.. Ðau thương hơn cái chết. Ðáng sợ hơn cái chết.

Cuối cùng, cuối năm 2005, hôm nay, 22 tháng 12, hai tháng sau ngày Phạm Huấn đến lượt Nguyễn Ðình Nghĩa. Còn tiếng nói, chữ viết nào đủ cho Bạn – Với Mỗi Người Bạn.

Cali, Tháng 12, 2005.
Phan Nhật Nam

              Nguyễn đình Nghĩa: tiếng sáo đã hôn mê
                                                 Nguyễn Bá Trạc, VietMercury (2003)


"Tôi sinh hoạt âm nhạc ở Việt Nam chưa từng nghe ai thổi sáo hay như Nguyễn Đình Nghĩa. Anh là người thổi sáo hay nhất, kể cả đến bây giờ. Nghe Nghĩa thổi Phượng Vũ, hệt như xem một con chim bay múa trên trời," nhạc sĩ Phạm Duy, 83 tuổi, người kỳ cựu trong làng nhạc Việt Nam phát biểu khi hay tin Nguyễn Đình Nghĩa bị tai biến mạch máu não.

Tiếng sáo đã hôn mê.

Biến cố xẩy ra hôm 11 tháng Năm, 2003, trong lúc gia đình Nguyễn Đình Nghĩa trình diễn trên sân khấu của American History of Nature Museum, New York. Chương trình khai mạc lúc 11 giờ trưa với bài sáo "Lý Qua Đèo" của Nguyễn Đình Nghĩa. Con gái lớn, Đoan Trang đệm tam thập lục. Con gái thứ, Nam Phương đệm đàn tranh. Các con trai Nguyễn Đình Nghị đệm ghi ta, Nguyễn Đình Hòa đệm bass. Trong mục mở màn này, Đoan Trang, 40 tuổi, nhớ lại tiếng sáo của bố, 61 tuổi, dường như "có vẻ mệt, không tròn đầy như bình thường." Sau khi Nam Phương độc tấu "Hành Vân" bằng đàn bầu, Đoan Trang độc tấu bài "Trở Về Cao Nguyên" bằng đàn T'rưng, "thì nghe có tiếng xôn xao ở cánh gà." Đoan Trang nói lúc ấy nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa đã "trợn mắt té xỉu trong phòng nghỉ của đàn ông." Buổi trình diễn huỷ bỏ. Cây sáo đột quị vì stroke. Đoan Trang cho biết nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa "bị tiểu đường cả chục năm nay, trước khi trình diễn cũng đã chích insulin."

Tiếng sáo thần

Ở miền Nam Việt Nam, báo chí thời thập niên 1960 thường mệnh danh Nguyễn Đình Nghĩa là "Tiếng Sáo Thần." Nhạc sĩ Phạm Duy cũng ân cần nhắc nhở đến danh hiệu ấy khi nhớ lại những ngày "58-60, lúc tôi giới thiệu Nghĩa ra thổi ở quán Anh Vũ của kiến trúc sư Võ Đức Diên, đường Bùi Viện. Sau đó Nghĩa đã có mặt ở tất cả các ban ngâm thơ trên các đài phát thanh ... Người ta gọi Nghĩa là Tiếng Sáo Thần." Tại Mỹ, ký giả Stella Dawson cuả tờ Northern Virginia Sun so ông với Jean-Pierre Rampal - người Pháp, một trong vài người thổi sáo cổ điển hay nhất thế giới đương đại: "Nguyễn Đình Nghĩa là Jean-Pierre Rampal của âm nhạc truyền thống Việt Nam." Gia đình Nguyễn Đình Nghĩa đến Mỹ trong tháng 7, 1984. Sau những buổi trình diễn đầu tiên, rất mau chóng, giới truyền thông đã giới thiệu ông trên các đài truyền hình NBC News, CBS News... với phần phỏng vấn của các ký giả Connie Chung, Jack Reynolds. Miền Đông nước Mỹ nhìn nhận tài năng Nguyễn Đình Nghĩa qua bốn giải thưởng của Maryland State Council, dành riêng cho các nghệ sĩ cá nhân xuất sắc, vào những năm 1994, 1998, 2000 và 2002. Nguyễn Đình Nghĩa chuyên về sáo ngang, nhưng cũng sử dụng động tiêu (sáo dọc, ống lớn, nốt trầm), đàn bầu, đàn tranh và đàn T'rưng (một loại xylophone của vùng cao nguyên Việt Nam). Với cây sáo trúc nguyên thủy 6 lỗ, ông sáng tạo ra cây sáo 11 lỗ, rồi 16 lỗ, để có thể tấu được nhạc cổ điển, thổi được những nốt thăng giáng, đồng thời vẫn thổi ngũ cung mà không mất đi âm sắc của cây sáo trúc nguyên thủy. Ông cũng sáng tạo nên toàn bộ cây đàn T'rưng cải tiến: từ một cột hơi ra hai cột hơi, mở rộng từ một bát độ nguyên thuỷ của đàn T'rưng thành bốn bát độ, để trình tấu được các tấu khúc cổ điển tây phương và hiện đại. Những công trình ấy, Nguyễn Đình Nghĩa thực hiện trong thời gian kẹt lại Việt Nam sau biến cố 1975, với chín năm lặn lội đi lại trình diễn và nghiên cứu nhạc trên vùng cao nguyên. Về việc này, nhà văn Phan Nhật Nam, người bạn từ thơ ấu của Nguyễn Đình Nghĩa, ghi nhận rằng "anh đã gọt không phá hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, mà hàng chục ngàn ống tre... Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu... Căn nhà anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày, từng ống tre được gọt theo từng 1/5, 1/10 milimetre một... Vào năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T'rưng đồ sộ gồm 26 ống có khả năng tiết tấu bốn bát độ. Ngoài ra Nghĩa cũng cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé, nhạc sĩ này đã tìm ra một 'gam vô tình' cũng có thể gọi là 'gam mềm' sau khi gắn vào thêm hai ống, và chiếc đàn 29 ống đã hoàn chỉnh."

Trong những cuộc trình diễn tại Mỹ, bộ đàn T'rưng này thường có lúc xếp đến 52 ống.

Gia đình nghệ sĩ

Trước 1975, Nguyễn Đình Nghĩa thường trình diễn một mình một sáo. Nhưng sang đến Mỹ năm 1984, hình ảnh trình diễn của ông, là hình ảnh ấm cúng của một gia đình. Trên sân khấu, tiếng sáo của ông quyện vào giọng ngâm thơ cuả vợ, bà Trịnh Thị Diệu Tân, (yêu nhau từ thuở còn thơ dại, ăn ở với nhau hơn bốn thập niên qua) và các con gái: Nguyễn Diệu Đoan Trang (sinh năm 1963, sử dụng đàn T'rưng, đàn tam thập lục, trống đông phương, sáo), Nguyễn Diệu Nam Phương (sinh năm 1964, đàn bầu, đàn tranh), con trai Nguyễn Đình Nghị (sinh năm 1967, guitar), hai con trai song sinh: Chiến và Hòa, sinh ngày 1 tháng 10, 1975, năm tháng sau khi chiến tranh kết thúc. Nguyễn Đình Chiến chơi trống tây phương và guitar. Nguyễn Đình Hòa chơi bass. Gia đình nghệ sĩ này đã trình diễn tại hàng trăm hí viện nhiều tiểu bang Mỹ và Gia Nã Đại, trong đó có những hí viện mà các nghệ sĩ cảm thấy vinh dự khi xuất hiện, như Carnegie Hall (New York,) Kennedy Center, Constitution Hall, Smithsonian Institution, Library of Congress (Washington D.C.) Về những buổi trình diễn ấy, nhạc sĩ Phạm Duy nói Nguyễn Đình Nghĩa và gia đình ông "là những người có công đem được nhạc thật thuần túy của Việt Nam ra giới thiệu với đất nước Hoa Kỳ và rất được tán thưởng. Họ cũng dự phần vào việc phát huy nhạc dân tộc Việt Nam, nhất là nhạc cao nguyên" mà ông giải thích là một loại nhạc phong phú nhất trong các loại nhạc miền núi Việt Nam.

Ngày xưa, ngày nay

Là cựu học sinh Lyceé Yersin, cựu giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh, ông Nguyễn Đình Nghĩa từng hoạt động trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, và phụ trách nhiều chương trình thơ nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn. Nhớ lại những ngày xưa ấy, Phan Nhật Nam viết trong cuốn "Mùa Đông Giữ Lửa" (xuất bản tại Mỹ, 1997), kể lại Nguyễn Đình Nghĩa trong những năm ấu thơ ở Đà Nẵng, thời thập niên 50 "vốn là môn đồ Thiếu Lâm, vô địch điền kinh học sinh, nét mặt tươi vui đều đặn. Bạn có thể trở nên một tay hào hoa ăn chơi không âu lo với cung cách quen thuộc của dân học trường Tây, gia đình tài sản lớn. Nhưng đời bạn đã không theo con đường dễ dàng thuận lợi đó. Bạn chọn ngã chông chênh, nguy biến hơn... đó là Nghệ Thuật. Và bạn đã chọn hướng Nghệ Thuật hàng đầu là Âm Nhạc." Bài viết cuả Phan Nhật Nam kể lại mối tình của Nguyễn Đình Nghĩa với người bạn đời hơn bốn chục năm, bà Trịnh Thị Diệu Tân, bấy giờ là một nữ sinh trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng "một cô gái tội nghiệp trong số những thiếu nữ hẩm hiu bất hạnh. Bạn không có nét quyến rũ, lộng lẫy, dù đang lúc thanh xuân khởi sắc. Bạn chỉ là một vóc dáng nhỏ bé linh hoạt, đôi mắt luôn sáng ánh ngạc nhiên." Ánh mắt của người con gái nhà nghèo, mồ côi cha này luôn luôn có "loáng lạ lẫm của tâm hồn đơn giản trung hậu trước những điều dữ dội, đe dọa từ cuộc sống." Ngày hôm nay, người con gái, người đàn bà ấy, cũng vẫn đang bị đe dọa. Qua điện thoại, bà khóc và cũng giọng nói nhỏ nhẹ ấy nói "Tôi sợ quá." Trong lúc chồng đang hôn mê, bà phải trọ trong một khách sạn, ở một mình giữa thành phố New York, hàng ngày phải thuê taxi vào bệnh viện săn sóc chồng. Gia đình các con đều ở cả Maryland, chỉ lên thăm được cha vào cuối tuần. Gần hai chục năm ở Mỹ, bà Diệu Tân vẫn không có xe, không biết lái xe, và "không biết ký check," con gái Đoan Trang cho biết. Đoan Trang nói thêm bà mẹ đã 18 năm nay làm việc cho hãng chế tạo thực phẩm "Grant Gourmet," nhờ vậy mà ông Nghĩa cũng đang được sử dụng bảo hiểm y tế của bà. Nhưng trong tình trạng này, gia đình người nghệ sĩ đang gặp nhiều khó khăn. Tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa đã làm mê hoặc hàng triệu tâm hồn. Ở Mỹ, nó cũng đưa người Việt trở về với bầu trời cũ, với giòng sông Hàn, với thành phố xưa, cánh đồng lúa chín, những sóc Thượng Rhadé, Jarai, những ngày Hội Lập Buôn. Nhưng hôm nay, người thổi sáo đang hôn mê bất tỉnh đã hơn bẩy tuần lễ trong bệnh viện Lenox Hill, Manhattan. Cây sáo đang im tiếng, nhưng hy vọng chỉ tạm thời ngưng nghỉ.

Nguyễn Bá Trạc, VietMercury (2003)

      Nguyễn Đình Nghĩa: Tiếng Sáo Lên Trời  - Lê văn Phúc ghi   

Gục ngã trên sân khấu trình diễn!
Những ngày trong bệnh viện...
Tiếng sáo mê đắm lòng người!
Hỏi đời còn nhớ ta chăng?

Đối với giới văn nghệ sĩ, tôi là người ít có cơ hội gặp gỡ tiếp xúc nên ít được ai biết đến. Lại nữa, tôi chẳng có cái tài cán gì để thi thố cùng bàn dân thiên hạ thì làm sao có ai nhớ mặt nhớ tên?
Tôi rất mê các danh ca nghệ sĩ nên biết khá nhiều đến những tên tuổi lẫy lừng trong giới văn học nghệ thuật. Tất nhiên là tôi rất ái mộ các nhân tài!
Một trong những nhân tài , phải kể đến tiếng sáo Nguyễn đình Nghĩa.
Tôi phục sát đất về tài nghệ của chàng cũng như những đóng góp của cả một gia đình. Tôi cũng chưa bao giờ được dịp gặp mặt trò chuyện làm quen hay có được chút thân tình bằng hữu để làm vui đẹp cuộc đời.
Mới đây thôi, tôi được tin anh Nguyễn đình Nghĩa đang lâm trọng bệnh, hiện nằm trong bệnh viện, khu cấp cứu.
Tôi bỗng thấy thương anh, muốn cùng bạn bè đi thăm nên rủ hai nhà thơ Vương Đức Lệ và Hoàng Song Liêm đi cùng.
Chúng tôi nói chuyện với nhau xong, buông điện thoại là đón bạn lên xe đi Maryland vào một buổi trưa Thứ Bẩy cuối tháng Hai.
Địa điểm chúng tôi tìm đến chẳng lấy gì làm vui: Nơi ấy là một bệnh viện!
Anh Nguyễn đình Nghĩa đang nằm đó.
Chúng tôi được cháu gái lớn Đoan Trang chờ sẵn tại cửa chính, dẫn lên thang máy.
Chị Diệu Tân - vợ anh Nghĩa - đứng trước phòng.
Anh Nghĩa nằm chìm trong chăn nệm trắng của nhà thương, gối đầu hơi cao, tóc muối tiêu, da dẻ vẫn còn hồng hào, không nói được lời nào. Mắt anh mở, như nhìn vào cõi hư không. Một ống truyền dưỡng khí gắn vào cổ họng để thở. Tay chân anh mềm yếu, rũ liệt.
Theo chị Diệu Tần cho biết, anh nằm trong một Nursing home nhưng khi lâm trọng bệnh thì được gửi vào bệnh viện cứu cấp. Thoát khỏi tình trạng nguy nan, họ lại chở anh về Nursing home.
Theo nhân viên bệnh viện cho biết thì vài ngày nữa, anh sẽ rời bệnh viện...
Sức khỏe của anh không ổn định, nóng sốt bất thường, những móng tay khô lại như có máu bầm đen. Đôi chân nhỏ hẳn lại. Toàn thân bất động. Có lẽ vì máu bầm trong óc lan rộng đè lên mạch máu, không tan đi nên xẩy ra tình trạng này...
Chúng tôi không biết nói gì hơn là an ủi chị hãy bình tâm, lo ăn uống đầy đủ để có sức săn sóc người bệnh, cầu nguyện hàng ngày, đọc kinh Phật giảng. Và cầu mong một ngày nào đó anh hồi phục. Sự tận tâm lo lắng, chăm nom cho người chồng cũng là niềm an ủi vô cùng cho anh Nguyễn đình Nghĩa. Biết đâu nhờ tình thương yêu vô cùng ấy sẽ như một phép lạ để giúp anh mau lành bệnh!
Sau gần một tiếng đồng hồ trò chuyện thăm hỏi anh Nghĩa, chị Diệu Tân và vợ chồng cháu Đoan Trang, chúng tôi ra về, lòng đầy u buồn, thương sót một tài danh...

GỤC NGÃ TRONG KHI TRÌNH DIỄN

Ngày 11-05-2003, gia đình anh trình diễn tại Nữu Ước, trên sân khấu của American History of Nature Museum.
Chương trình khai mạc lúc 11 giờ trưa với bài Lý qua đèo qua tiếng sáo Nguyễn đình Nghĩa. Con gái lớn Đoan Trang đệm tam thập lục, con gái thứ Nam Phương đệm đàn tranh. Các con trai Nguyễn đình Nghị đệm ttay ban cầm, Nguyễn đình Hòa đệm bass.
Đoan Trang thấy tiếng sáo của bố dường như có vẻ mệt mỏi, không tròn, không được bình thường.
Sau khi Nam Phương độc tấu Hành vân bằng đàn bầu, Đoan trang độc tấu Trở về cao nguyên bằng đàn T'rưng thì nghe có tiếng xôn xao ở bên cánh gà.
Lúc ấy, nhạc sĩ Nguyễn đình Nghĩa đã té xỉu trong phòng nghỉ của nghệ sĩ.
Buổi trình diễn phải hủy bỏ.
Anh được đưa vào bệnh viện cấp cứu Lenoxill ở Nữu Ước và nằm đó suốt 9 tuần lễ, một nơi xô bồ, xa lạ, không thân nhân, không bằng hữu, lúc tỉnh lúc mê. Chị Nghĩa chầu trực bên anh suốt thời gian này, cũng như nửa mê nửa tỉnh. Mỗi lúc nắm bàn tay anh, thấy còn ấm, chị mới biết chính mình cũng còn đang sống!
Khi xe cứu thương chở anh về Nursing home ở Maryland, chị mới biết rằng anh đã trải qua những phút giây hãi hùng, nguy hiểm nhất.
Giữa đám khăn trắng xoá, anh mở mắt nhìn chị, chị mới chợt hiểu là phải đứng vững trong hoàn cảnh ngặt nghèo này để nâng đỡ, khuyến khích anh hồi phục...
Vài lần, nursing home đã chở anh vào bệnh viện vì căn bệnh tiểu đường lâu năm sinh biến chứng đã làm anh suy nhược nhiều, kháng thể yếu kém đi nên phải vào khu cấp cứu.
Anh vẫn còn hiểu biết nhưng phải nói bằng dấu. Mỗi khi hỏi, anh muốn trả lời Có thì làm dấu bằng cách chớp chớp đôi mắt. Trả lời Không thì anh ngọ nguậy ngón chân hay ngón tay.
Phương cách truyền thông cổ điển ấy, chưa có máy móc truyền thông hiện đại nào thay thế được!
Khi có bạn đến thăm, anh nhận biết được người đó.
Rồi anh khóc. Những giọt nước mắt chẩy dài trên gò má...
Một con người năng động, say mê nghệ thuật như thế, bây giờ nằm đó bất động.
Và trong anh bây giờ còn lại là nửa hồn thương đau, nửa đời đứt gánh!

ĐỜI NGHỆ SĨ

Nguyễn đình Nghĩa sinh năm 1940 tại Saigon. Thời trẻ, anh là một thể tháo gia, từng là lực sĩ điền kinh các môn nhẩy cao, nhẩy sào. Cựu học sinh trường trung học Yersin.
Anh là môn đồ của võ phái Thiếu Lâm, xuất thân từ lò Tư Cung.
Năm 20 tuổi, anh lập gia đình với chị Trịnh Diệu Tân. Một mối tình đầy thơ và mộng. Chị học luật khoa, cao học Vạn Hạnh, còn anh dấn thân vào bước đường âm nhạc.
Được Phạm Duy nâng đỡ và giới thiệu, anh làm ở phòng trà Anh Vũ, sau đó qua đài phát thanh cộng tác trong các chương trình thi ca như Tao Đàn của Đinh Hùng, Mây Tần của Kiên Giang, thi nhạc giao duyên của Duy Khánh, Vĩnh Phan, Hồ Điệp, Bửu Lộc, Ngô nhật Thanh v.v...
Rồi anh sang Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, trình diễn trên khắp bốn vùng chiến thuật. Anh cũng được đi trình diễn ở ngoại quốc trong các nhóm nghệ sĩ đại diện quốc gia, như tại Thái Lan, Mã Lai, Phi luật Tân, Pháp... Anh nghiên cứu một loại đàn của miền Thượng, tấu lên những khúc nhạc Tây phương. Chính vì lối trình diễn độc đáo này mà các nghệ sĩ ở hải ngoại để ý đến anh và thường xuyên mời anh cùng gia đình tham gia trong các buổi văn nghệ đặc biệt trên đất Mỹ.
Anh rất thành công với hai bài sáo tự sáng tác là Phượng vũ và Thần triều.
Và bài nhạc do anh viết, bản Đoạn trường khúc là một tâm khúc làm xúc động lòng người.
Anh chuyên về sáo ngang nhưng cũng xử dụng cả ống tiêu (sáo dọc, ống lớn, nốt trầm), đàn bầu, đàn tranh và đàn T'rưng. Với cây sáo nguyên thủy 6 lỗ, anh sáng tạo ra cây sáo 11 lỗ rồi 16 lỗ, hoàn chỉnh để loại nhạc cụ này có khả năng trình tấu các ca khúc ngoại quốc.
Anh còn viết nhiều nhạc phẩm khác, cũng như xuất bản cuốn dậy thổi sáo, tái bản cả chục lần. Anh dịch 2 tập Tự học khẩu cầm của Pháp. Và khi anh đóng phim Đời võ sĩ và Đời phóng viên thì tên tuổi của anh được báo chí nhắc đến nhiều.
Anh sản xuất băng nhạc, nhất là những băng có tiếng sáo trúc hoà điệu cùng các nhạc cụ khác. Đầu thập niên 1970, anh dậy Quốc Nhạc tại Viện Đại Học Vạn Hạnh.
Sau biến cố năm 1975, anh ít có cơ hội đi trình diễn nên dành thời giờ để nghiên cứu về nhạc cụ.
Như Phan Nhật nam là bạn từ thời thơ ấu với anh kể lại, cả khu nhà nhỏ bé của vợ chồng Nguyễn đình Nghĩa biến thành một rừng tre trúc.
Anh đã gọt hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn ống tre. Anh chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ những ống tre đắc ý nhất. Anh Nghĩa bỏ ra 10 năm để tạo những nhạc cụ cải tiến. Đó là sáo trúc 11 lỗ, tấu được tất cả nhạc thế giới. Năm 1981, anh hoàn tất chiếc đàn T'rưng đồ sộ gồm 27 ống, có khả năng tiết tấu 4 bát độ.
Với những nhạc cụ bằng trúc, bằng tre, gia đình anh đã trình tấu những nhạc khúc cổ điển tây phương và tấu khúc Trận mưa trong rừng nhiệt đới với âm thanh trầm bổng mới lạ đã khiến cho người ngoại quốc từø ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và họ hết sức thán phục.
Gia đình Nguyễn đình Nghĩa đến Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1984 và định cư tại tiểu bang Virginia.
Hồi còn ở trong nước, qua làn sóng điện và các buổi trình diễn, chúng ta đã được nghe tiếng sáo tuyệt vời của Nguyễn đình Nghĩa qua những chương trình văn nghệ.
Tại hải ngoại, sống xa quê hương, khi nghe tiếng sáo Nguyễn đình Nghĩa, chúng ta lại càng nhớ thương về nơi quê hương yêu dấu, hồi tưởng cả đến những khung cảnh cao nguyên núi rừng âm u bát ngát, có tiếng khèn vang trong đêm vắng, có tiếng đàn tiếng trống vang trong xứ Thượng miền Banmethuot, Pleiku, Kontum của các sắc dân Rhadé, Jarai, Sedang, Bahnar...

SÁNG TẠO NHẠC CỤ

Nhạc cao nguyên là loại nhạc phong phú nhất trong các loại nhạc miền núi Việt Nam.
Anh đã dầy công nghiên cứu, học hỏi, tìm hiểu cặn kẽ về âm nhạc của các sắc dân miền núi thuộc vùng cao nguyên Trung phần để tạo nên những thứ nhạc cụ đặc biệt mang âm hưởng và sắc thái của người thiểu số.
Và những hợp âm của Nguyễn đình Nghĩa đã cống hiến cho âm nhạc dân tộc được thêm phần khởi sắc trong kho tàng nhạc Việt.
Nguyễn đình Nghĩa cũng muốn hoàn tất cả những thứ đàn như Đàn cộng hưởng, Đàn đá, Đàn lửa.
Về Đàn đá, anh nói rằng tổ tiên chúng ta cách đây mấy ngàn năm đã chế ra đàn này. Đá dùng làm đàn phải là phún thạch lấy ở hỏa diệm sơn, từ 15,000 năm đến 20,000 năm. Khi còn ở Việt Nam, anh biết tại Hạ Uy Di có thứ đá đó.
Về Đàn lửa, anh từng dành thời giờ lên vùng cao nguyên nghiên cứu loại đàn của người thiểu số. Những chiếc ống tre treo ở độ cao thấp khác nhau trên lửa sẽ tạo ra những âm thanh và hợp âm. Không khí loãng ở những vùng cao độ, lửa đốt sẽ hút dưỡng khí tạo nên sự chuyển vận của lượng khí qua các ống tre và từ đó phát ra những âm thanh như những nốt nhạc.
Về cây sáo trúc, anh cho biết đã nghe đệ nhất tiêu sĩ của Pháp Pierre Rampai tại đại nhạc viện Hoa thịnh Đốn năm 1984 và anh thấy tiếng sáo của anh có 2 điểm đặc biệt hơn người:
- Anh thổi một nốt mà phát ra cùng một lúc hai âm ở hai độ khác nhau nhưng lại hoà với nhau.
- Và kỹ thuật tiếp hơi liện tục không phải ngưng nghỉ để lấy hơi.
Các con của anh đều thấm được cái hồn tài tử:
Đoan Trang - tốt nghiệp Quốc Gia Aâm Nhạc Saigon - hấp thụ được tiếng sáo của bố, điêu luyện các nhạc cụ như trống , đàn T'rưng, và nhất là tam thập lục tức loại đàn 36 giây, chuyên về hoà âm.
Nam Phương chuyên về đàn tranh và có ngón đàn bầu rất ngọt.
Con trai lớn Nguyễn đình Nghị xử dụng sáo mèo rất tình cảm.
Hai đứa em sinh đôi Nguyễn đình Hoà, Nguyễn đình Chiến giỏi về đàn T'rưng, mã phách, tây ban cầm và trống.

MỘT GIA ĐÌNH NGHỆ SĨ!

Để đào tạo được 5 người con trở thành 5 nghệ sĩ tài hoa như thế, Nguyễn đình Nghĩa phải là người cha làm việc hăng say, một ông thầy chăm chỉ kiên nhẫn, một người cha có kỷ luật nghiêm túc. Và trên hết, Nguyễn đình Nghĩa phải là người say mê nghệ thuật.
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến vai trò của người vợ, người mẹ cũng có tấm lòng yêu thích âm nhạc, nghệ thuật thì mới có được một gia đình dành cả cuộc đời cho lý tưởng như thế.
Được biết chị Trịnh Diệu Tân, vợ anh Nguyễn đình Nghĩa cũng là người làm thơ, viết văn với những truyện ngắn trong Mảnh Vụn và Một Đời Lang Thang.
Trong các buổi trình diễn tải hải ngoại, gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã khiến cho quan khách ngoại quốc phải sửng sốt, gây được sự ngạc nhiên thích thú khi nghe gia đình này xử dụng những thanh tre, ống trúc, và trống thay giây đàn và phím đàn để trình tấu những bản nhạc Tây phương như Serenade của Schubert và nhiều bản khác.
Gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã có mặt trong nhiều đại nhạc hội ở các viện âm nhạc cổ điển, âm nhạc đồng quê, các đại hí viện lớn, các trung tâm giáo dục, cộng đồng, các viện đại học...
Tói đâu, gia đình Nguyễn đình Nghĩa cũng gây được sự chú ý đặc biệt và được mọi giới tán thưởng nhiệt liệt cũng như ca ngợi về thành tích và tài năng của mọi người trong gia đình họ Nguyễn.
Lần trình diễn gần nhất là gia đình anh được mời tới Nữu Ước tại thính đường Carnegie Hall nhân ngày lễ ra trường của các sinh viên đại học kỹ thuật. Đây là thính đường nổi tếng và sang trọng hàng đầu ở Nữu Ước. Những nghệ sĩ trình diễn ở đây đều được chọn lựa kỹ lưỡng.
Điều đáng khích lệ với gia đình anh là khán giả hôm đó lên tới 2,000 người , hội trường không còn một chỗ trống!
Nguyễn đình Nghĩa đã nhận được những giải thưởng cao quý của Hội Đồng Các Nghệ Sĩ Trình Diễn Aâm Nhạc thuộc tiểu bang Maryland trong các năm 1994, 1998, 2000 và 2002!
Gia đình đã đi trình diễn nhiều nơi tại Hoa Kỳ trong các trường đại học, hội đoàn, hội chợ quốc tế.

GÓP MỘT BÀN TAY!

Khi anh lâm trọng bệnh, chị Diệu Tân đã phải xin nghỉ nơi chị làm việc 18 năm để dành trọn thời giờ săn sóc anh trong bệnh viện.
Có nhiều khi nhìn anh, chị chỉ mơ ước có được nhữõng ngày tháng cũ gia đình đầm ấm quây quần bên nhau trong bữa cơm chiều.
Chị thèm được nghe tiếng sáo mượt mà trầm bổng như ru hồn trong cõi mộng mơ. Tiếng sáo âm vang thanh thoát ấy, đang dần dần trút bỏ cung bậc chốn nhân gian để trong một giây phút phù du nào đó lặng lẽ ra đi, bay vút về trời!
Trước hoàn cảnh khó khăn và đầy nghiệt ngã ấy, một số anh chị em hằng yêu mến gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã bàn thảo với nhau để tổ chức một buổi văn nghệ vinh danh Nguyễn đình Nghĩa.
Địa điểm tổ chức là nhà hàng Saigon House vào ngày Thứù Bẩy 20 tháng 3-2004, hồi 7giơ30 tối.
Rất đông thân hữu, những người từng ái mộ danh tài của gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã hoan nghênh ý kiến trên và hứa tham dự cũng như cổ động để mời đồng hương góp mặt.
Từ bên Cali., Ý Lan đã tự nguyện lên DC để hát trong buổi trình diễn trên. Ý Lan còn hứa bán CD, dành một khoản tiền nữa để trợ giúp gia đình anh Nguyễn đình Nghĩa.
Đó là Đêm Ý Lan với chủ đề Tình nghệ sĩ!
Cùng với Ý Lan, các con của gia đình Nguyễn đình Nghĩa và các nghệ sĩ tại địa phương sẽ đóng góp trong chương trình đặc biệt này.
Ban tổ chức ước mong buổi trình diễn được bà con, bằng hữu, anh chị em tham dự với tấm lòng yêu thương, nhân ái.
Đó là niềm an ủi vô cùng đối với một gia đình đã dành cả cuộc đời phục vụ nghệ thuật và dâng hiến khối óc, trái tim cho âm nhạc.
Và đó cũng chính là cử chỉ để biểu lộ tấm lòng ưu ái đối với một gia đình nghệ sĩ đã tạo được danh thơm và làm vẻ vang dân Việt.

Lê văn Phúc
(Virginia 02-2004)

Tham khảo:

- Tuần báo LẼ PHẢI, Xuân 2004, bài của Tương Nghi.
- Bài của Phan Nhật Nam viết về gia đình Nguyễn đình Nghĩa
- Bài của Nguyễn Bá Trạc (Viet Mercury)
- Nói chuyện với chị Diệu Tân và cháu Đoan Trang trong bệnh viện.

               Xin gởi ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng:

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com