arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow 43- HÀNH HƯƠNG TỨ ÐẠI DANH SƠN - Nguyễn Thị Xuân-Nga
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
43- HÀNH HƯƠNG TỨ ÐẠI DANH SƠN - Nguyễn Thị Xuân-Nga PDF Print E-mail

HÀNH HƯƠNG TỨ ÐẠI DANH SƠN


Ngày mồng 6 tháng 9-2007, chùa Giác-Hoàng đã tổ chức chuyến hành hương Trung Quốc  để viếng thăm bốn ngọn núi danh tiếng tại đây là: Ngũ Ðài Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn và Phổ Ðà Sơn. Cuộc hành trình kéo dài 18  ngày.  Chuyến đi này ngoài tôi và chị Ngà, còn có con trai tôi là Trường Giang cùng đi nên chị em chúng tôi rất yên tâm về vấn đề sức khỏe vì con tôi là Bác-sĩ Y-khoa.
 Ngày 6 - 9  2007  phái đoàn cùng anh Phú, khởi hành từ phi-trường Dulles ở Washington DC. Sau hơn 13 giờ bay thì tới Bắc-Kinh và được anh Diên hướng dẫn viên đón . Phái đoàn ngụ tại khách-sạn Traders Hotel Beijing hai đêm..
Ngày mồng 8 tháng 9 chúng tôi  bắt đầu đi thăm thành phố.

QUẢNG TRƯỜNG THIÊN AN MÔN -
Quảng Trường Thiên An Môn rộng nhất thế giới, 400,000 km  Ðó là  một khu rất rộng lớn, được lát đá xanh nhẵn bóng và sạch sẽ.  Khi vừa bước tới khu vực này tôi cảm thấy bồi-hồi thương cảm khi nghĩ đến tại đây đã xẩy ra cuộc biểu-tình của hàng ngàn sinh viên và họ đã bị xe tăng đàn áp, chết một cách tức tưởi!  Quảng Trường Thiên An Môn rộng mênh-mông, có thể chứa cả triệu người, du khách  đi nườm nượp, có chỗ chen-chúc nhau.  Thiên An Môn có tường sắt vây quanh, được sơn màu vàng nhạt. và có trạm lính gác. Phái đoàn, kẻ đứng người ngồi chụp chung tấm hình để kỷ-niệm tại đây.  Trung Quốc có 1 tỷ 300 triệu dân.

TỬ CẤM THÀNH -
Cố Cung Tử Cấm Thành là một cung điện đồ-sộ, chiếm một diện tích rộng lớn, nơi mà các vua đời Minh và đời Thanh ngự-trị từ năm 1368 đến 1911 mà bây giờ gọi là “The Palace Museum”. Toàn thể cung điện được bao bọc bởi những bức tường thành bằng đá đỏ, cao và  dầy, xây rất kiên-cố.   Trong thành rất nhiều cung điện được xây liên tiếp nhau, và mỗi điện lại được ngăn cách bởi những bức tường bằng đá trắng, điêu khắc tỉ-mỉ và thật đẹp.và có cửa ra vào gọi là môn, như Nguyệt hoa môn, Ðào nghĩa môn,Ninh quang tả môn,Tĩnh quang môn, Long phúc môn, Tăng thụy môn, Thiên hòa môn, Nhân thọ môn…  Chặng kiểm-soát vé ở cửa mang tên là Thị môn.  Lối vào này lại chia ra làm Trung môn, Tả môn, hữu môn là lối đi riêng cho vua và quan văn, quan võ.  Toàn thể cung điện có tất cả là 9,999 phòng, không kể lớn hay nhỏ, cứ 4 cây cột gọi là một phòng.  Người ta giả dụ rằng nếu một đứa trẻ mới sinh ra được đem vào đó cho ngủ mỗi đêm ở một phòng , sau khi ngủ hết số phòng trong đó thì đứa trẻ đã trở thành một thanh niên 27 tuổi.  Theo người Trung hoa thì con số 9 là  số tốt nhất nên hai bên lối đi để vào trong Ðiện Thái Hòa được ngăn bởi bức tường làm nổi hình 9 con rồng trắng tức là cửu long, tượng trưng cho uy quyền của vua. Do đó có những danh từ như Cửu Môn, Cửu Ðài, Cửu Phẩm…Tất cả các cung đều có mái cong lợp ngói.,có các hình thù hoa, lá hoặc con vật, đặc biệt là rất nhiều hình rồng, phượng; các cửa ra vào đều sơn màu đỏ.  Toàn thể các điện đều có nhiều màu sắc rực-rỡ.  Trung Chính Nhân Hòa là nơi vua ngự trong đó có ngai vàng.  .Ðiện Thái Hòa là chỗ cho vua và các quan hội họp hàng ngày. để bàn việc nước..  Phía sau điện Thái Hòa là Tam Cung Lục Viện tức nơi ở của Hoàng Hậu cùng các Cung Phi và Cung Tần Mỹ Nữ.  Lại có Dưỡng Tâm Ðiện là nơi Hoàng hâu và các Cung phi tới nghỉ ngơi.  Ở bên bờ tường của các điện đều đặt vô số những vạc bằng đồng rất lớn, nặng cả ngàn cân, được chứa nước để dùng chữa cháy trong trường hợp cung điện xẩy ra hỏa-hoạn;  tổng cộng có tất cả 306 vạc đồng.  Ở phía sau có vườn Thượng Uyển là nơi vua và hoàng hậu dạo chơi để ngắm hoa những lúc trời đẹp..  Trong vườn có những cây đại cổ thụ đã sống cả ngàn năm. Những cây này gốc có hình thù rất lạ, phình to ra và thân cây không có vỏ, họ đã rào chung quanh cây để bảo vệ.  Trong vườn có những ngọn giả sơn, hình thù rất lạ.  và cũng còn có bẩy phiến đá lớn gọi là Thất Hiền, tượng trưng cho bẩy người hiền.  Lại có công viên gọi là Cung Viên Hoàng Gia Cảnh Sơn.  Các cung điện có cái một từng có cái tới ba bốn tầng lầu và có lan can nữa..  Trong thành cũng có Lễ Nhân Trạm là nơi tiếp đãi các Sứ Thần của các nước chư hầu đem phẩm vật đến để cống hiến.  Các điện đều được xây cất trên phần đất cao nên muốn vào đó đều phải leo những bưc bằng đá, thường thường là ba khúc mỗi khúc 9 bực.

THIÊN ÐÀN -
Thiên Ðàn được thiết lập vào Ðời Minh, năm 1420 trên một diện tích rộng 2 vạn 730 ngàn thước vuông , làm bằng gỗ đem từ Nepal sang, hình tròn, mái có ba lớp , lợp ngói màu xanh đận, chung quanh viền đỏ.  Khoảng cách giữa các mái là những phiến gỗ màu xanh lam, khắc hình hoa lá rất tinh-vi. Màu sắc được pha trộn rất hài hòa. Bên trong gọi là Kỳ Liên Ðiện là nơi mà vua và các quan đến đó để tế lễ mỗi năm ba kỳ là: Tiết Tiêu Ngưu vào mùa Xuân, Tiết Ðoan Ngọ vào  mùa Hè, và tiết Ðông Chí vào mùa Ðông.  Trước kỳ tế lễ ba ngày, vua phải tới đó ở để giữ trong sạch và ăn chay.  Mục đích của việc tế lễ là cầu cho quốc thái dân an và có khi cầu đảo tức là cầu cho trời mưa khi bị hạn hán.  Thiên Ðàn được vây quanh bởi ba lớp hàng rào chắc chắn bằng đá trắng , từ thấp lên đến cao, cách đều nhau 9 bực. hàng rào cũng được chia ra từng khúc , mỗi khúc có 9 miếng.  Có nhiều lối đi vào điện bằng những bực thang bằng đá xanh.  Toàn thể đều có tam cấp, mỗi cấp có 9 bực thang.  Ðiện này kiến trúc theo hình tròn , không có xà ngang, chỉ có các cột để chống đỡ..  Trong điện có 4 cột gỗ lớn nhất, sơn son thiếp vàng, tượng trưng cho bốn mùa; Xuân, Hạ, Thu, Ðông.  Phía ngoài có 12 cột đỏ nhỏ hơn, tượng trưng cho 12 tháng trong năm.  Phía ngoài lại có 12 cột nữa tương trưng cho 12 tiết trong một ngày.  12 cộng với 12 là 24, tượng trưng cho 24 tiết trong năm. Cộng thêm 4 cột nhỏ ở bên trên thành 28, tượng trưng cho chùm sao Nhị Thập Bát Tú.  Thêm 8 cột nhỏ nữa cộng lại là 36, tượng trưng cho 36 vị tiên cang.  Còn một cột nhỏ nữa ở trên đỉnh là cột chống Trời, tượng chưng cho sức mạnh của vị Thiên-Tử. Cứ nhìn cách kiến trúc các cung điện của người Trung-Hoa cả gần ngàn năm về trước thì chúng ta cũng phải thán phục là họ có trí thông minh và khéo léo,thành phần xây dựng đều có ý nghĩa.

CUNG ÐIỆN MÙA HÈ -
 Buổi chiều hôm đó phái đoàn đi thăm Di Hòa Viên tức là Cung Ðiện Mùa Hè, rộng 270 hecta, là  nơi mà  bà Từ Hy Thái-Hậu thường dến đấy nghỉ ngơi trong những tháng Hè.  Năm 1860-1900 tám nước đánh vào Trung-Quốc, Di-Hòa Viên bị phá hủy, chỉ còn cái nền.  Năm 1903, Từ Hy Thái Hậu, lấy số tiền xây trường Hải-quân để xây Di Hòa viên.  Ở đây có một cái hồ nhân tạo rộng mênh-mông.  Trong hồ có một khúc được thả sen.  Tuy lúc đó đã vào Thu rồi  mà giữa những lá xen thật lớn màu xanh, thỉnh thoảng được điểm thêm những bông hoa sen to màu hồng thật dễ thương. Bà Từ Hy thích câu cá nhưng lại không muốn ngồi trên thuyền chòng chành do đó  bà ta cho xây một căn nhà bằng đá xanh, hai tầng lầu, hình cái thuyền ngay trên hồ để bà ngồi trên đó câu cá.. Ở Cung Ðiện Mùa Hè này trồng nhiều cây cối và hoa, nhất là trồng nhiều cây hoa .  Ði dọc theo hành lang, 728m du khách được xem cung điện mùa Xuân, mùa Hạ mùa thu và mùa Ðông.  Một cây cầu bằng đá trắng , hình vòng cung có 17 nhịp rất vững chắc bắc ngang từ bờ đến một đảo  nhỏ ở giữa hồ.  Bà Từ Hy Thái Hậu cho xây một cái lầu cao để ngồi ngắm trăng gọi là Vọng Nguyệt Ðài.   Nơi đây có chùa để ngày rằm và mồng một đến thắp hương.

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH -
Ngày chủ nhật mồng 9 tháng 9 phái đoàn lên xe buýt, đi dọc theo quốc lộ 80 để tới Vạn Lý Trường Thành.  Trung-Quốc có xa lộ rất rộng , đường nhẵn-nhụi, được chia ra thành nhiều ‘lane.” Trên đường đi xe buýt đã dừng lại ở một xưởng làm ngọc thạch. 
  Xe buýt chạy qua chỗ có con đường xe lửa xuyên lục-địa.  Con đường này đi từ Hà-Nội sang tới Trung-Quốc rồi qua nước Nga và tới tận thành phố Paris của nước Pháp.    Vạn Lý Trường Thành được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên., sau khi vua Tần Thủy Hoàng thôn tính được nhiều nước lân cận.  Thành chiếm một diện-tích thật rộng lớn  tới  một vạn sáu trăm ngàn dậm., đưọc xây dựng trên những ngọn núi cao chót-vót, hình uốn éo như con rồng lượn. Thành được xây bằng những viên gạch thẻ già, rất kiên-cố, cao 7.8 m, dầy 6.5 m và rộng 5.8m. Cứ 500 thước lại xây một lô cốt cao hơn thành để làm chỗ canh gác, đóng quân, có hầm để chứa khí-giới và lương-thực.  Trên mỗi lô-cốt đều có đài phóng hỏa là nơi quân lính dừng đốt lửa lên để báo hiệu khi thấy quân địch tới.  Từ thấp lên cao có tất cả là năm lô-cốt.  Lô-cốt thứ năm ở trên đỉnh một ngọn núi cao nhất.  Lối đi hẹp mà người đông nên chen chúc nhau.
Lúc 17 giờ rưỡi chiều phái đoàn được chở ra phi-trường để đáp máy bay Hainan Airline đi Thái Nguyên.và ngụ tại khách-sạn Eden International Hotel.

NGŨ ÐÀI SƠN -
Ngày 10 tháng 9 phái đoàn đi Ngũ Ðài Sơn bằng xe buýt có khoảng cách là 250km.   Ngũ Ðài Sơn, nơi Ðức Văn Thù Sư Lợi hành đạo.  Tỉnh Thái Nguyên nằm ở lưu vực song Hoàng-Hà, ba phía núi non bao bọc, có nhiều than đá, khí hậu mát-mẻ.   Ngũ Ðài Sơn là nơi danh lam thắng cảnh bậc nhất, đỉnh bằng phẳng thoai-thoải, gồm 5 ngọn núi có độ cao từ 2,700m đến 3,058m, một ngọn ở phía Bắc, một ở phía Nam, một ở phía Đông, một ở phía Tây và một ngọn ở chính giữa.  Ngọn núi ở phía Bắc cao nhất   Ðường đi có nhiều chỗ đang được sửa chữa nên bị sóc. Thời nhà Ðường có hơn 300 ngôi chùa và có tới 3 ngàn vị sư tu ở đây.  Ðời Ðường Vũ Tông hai lần chùa bị đốt phá.  Ðến đời Tống Nguyên Thanh, dần dần được khôi phục lại có 104 ngôi.  Ðến cuối đời Thanh tổng cộng có 122 ngôi.  Ngày nay chỉ còn hơn 50 ngôi chùa mà thôi..   Sở dĩ có tên là Ngũ Ðài Sơn vì ở đó có năm ngọn núi mà đỉnh phẳng tựa như cái đài vậy.  Một Cái cổng thật lớn đề chữ Phúc Tướng Thiên Nhiên dẫn vào Ngũ Ðài Sơn..  Khi đến nơi thì mọi người được ngồi xe cáp để lên đến đỉnh Ðại Văn Thù Ðiện cao 3000m.
Sau khi rời khỏi xe cáp, chúng tôi phải đi bộ một quãng để đến chùa chính của Ngũ Ðài Sơn là Ðại Hiển Thông Tự.  Phái đoàn được Hòa-Thượng hướng dẫn  làm lễ tại Ðại Văn Thù Ðiện.  Trong điện có tượng Ðức Văn Thù mạ vàng, tứ diện, mặt quay tứ phía để có nhìn được khắp mọi phương và có rất nhiều tay xòe ra chung quanh. Từ Ðại Lầu Ðỉnh phải đi 108 bực để xuống phía dưới.  Ngồi trên xe cáp nhìn xuống phía dưới thấy cây cối rậm-rạp xanh tốt, nhà cửa và những ngôi chùa chiếm một diện tích 43,700m2, cạnh khu nhà cửa và chùa chiền, sừng-sững một cái tháp hình tròn bằng đá trắng muốt, phía đáy có cái đai màu lam điểm màu đỏ và trên nóc tháp có một cái lọng , chóp nhọn, chung quanh có những dải pha trộn hai màu vàng và lam, tua vàng ,màu nhã và đẹp mắt.. Ở Ngũ Ðài Sơn có một ngôi chùa của Tây-Tạng  lớn nhất,.  Có những bực đá để dẫn vào chùa, có hai con sư-tử bằng đá trắng ngồi chầu.  Cửa vào hình vòng cung, trạm hoa lá màu trắng.  Chùa được lợp mái ngói vàng, tường được xây bằng đá xám, chắc chắn, có lầu.  Bên trong thì bàn thờ và tượng đều có màu sắc rất rực-rỡ.  Chùa có một vật giống như khúc cây lớn màu vàng nhạt trên đó có khắc những chữ Tây Tạng và những hình tượng, đặt trên cái trục quay.  Ai muốn cầu điều gì thì vừa cầu vừa xoay quanh trục. Chùa cũng còn có một bức tường đá lớn, cao khoảng 10m, ở hai mặt bức tường cũng được khắc chữ và hình tượng, đó cũng là chỗ để cầu nguyện.   Phái đoàn ngụ tại khách-sạn Wufeng Hotel ở ngay chân núi.
Sáng ngày 11 tháng 9, phái đoàn rời khách sạn, đi xe buýt trở lại Thái-Nguyên. Và sau đó ra phi trường để đi Thành-Ðô.  Thành Ðô thuộc tỉnh Tứ-Xuyên, thành phố sản xuất, vải, tơ lụa.  Dân cư ở đây sống nhàn hạ cho nên có rất nhiều “Tea House” ( Nhà Trà) là chỗ cho người dân đến đó ăn, bánh uống trà.  Ở Thành Ðô thường có bệnh phong thấp do đó người dân thường ăn cay để chống bệnh.nên  món ăn nào cũng đều có ớt.   Tối đó phái đoàn ngụ tại Enjoyable Stars Hotel.

NGA- MI- SƠN.
Ngày 12 tháng 9 đi Nga-Mi-Sơn bằng xe buýt.  Nga Mi Sơn là đạo tràng của Ðức Vă-Thù..
Khi đến chân núi Nga-Mi , phải dùng xe buýt địa phương để đến chỗ xe cáp vì xe buýt thường lớn quá không leo nổi núi. Ðường lên núi hẹp nhưng tài xế  thạo nên  phóng nhanh và tránh nhau rất giỏi. Suốt dọc đường đi thấy có treo nhiếu  đèn lồng màu đỏ chót.  Ngồi trong xe cáp nhìn ra ngoài thấy những cây thông xanh mọc xít nhau rậm-rạp trên sườn núi và có chỗ vách núi nhẵn nhụi, đứng thẳng-tắp.  Tất cả cảnh vật được bao phủ bởi một lớp sương mù dầy đặc  trở nên mờ ảo thật đẹp, tưởng như cảnh Tiên.  Sau khi ra khỏi xe cáp còn phải đi bộ 7,8 trăm bực mới tới chùa Vạn Niên tức ngôi chùa đã có từ 10 ngàn năm.  Mái chùa lợp ngói già hình vẩy ốc và bị rêu bám thành màu đen tối.  Con đường đi toàn là những bực bằng đá, hẹp,thỉnh thoảng có rêu bám, nhưng đôi khi cũng gặp một vài chỗ bực được ghép lại bởi nhiều phiến đá trắng nhẵn bóng, rộng cả thước.    Rồi tới  Di-Lac Bảo Ðiện, thờ Ðức Di-lạc.  Ðiện này  có hai tầng lầu, mái ngói cong, màu xám nhưng chắc cũng lâu năm nên bị rêu xanh bám đầy.  Từ Di-lặc Bảo Ðiện dẫn đến Thánh Cảnh Phổ Hiền nơi  thờ Ðức Phổ-Hiền.là một con đường tráng xi-măng, hai bên có một dẫy tượng voi bằng đá trắng 6 ngà, được đặt trên những bệ đá trắng .  Trong điện, trên một bệ thờ cao đặt một con voi bằng đá trắng rất lớn , có 6 cái ngà.  Voi mang những đai rất đẹp, trên lưng voi là một toà sen vàng, Ðức Phổ Hiền đầu đội vương miện vàng, áo toàn vàng, tay ngài cầm cái xích trượng và ngồi trên tòa sen đó.  Chung quanh tường của điện, có rất nhiều bệ, trên đó đặt 3 ngàn  tượng Phật có tượng lớn bằng người, còn phần lớn chỉ cao chừng mấy chục phân.  Tất cả các tượng đều bằng đồng đỏ, đầu tượng sơn đen. Phía ngoài cửa điện, người ta để một cái lư hương bằng đá, hình chữ nhật, dài khoảng 2m, ngang 1m.và một cái giá sắt, đã bị han rỉ, có nhiều từng, trên đó hàng mấy chục ngọn nến rất to, đang cháy.  Trên lư hương cũng có toàn những cây hương lớn, tỏa khói mù-mịt.  Trên núi Nga Mi, con đường đi qua gặp nhiều cái cổng lớn, mái cong có gắn những con rồng, con phượng trắng như Sơn Thủy Hữu Tình, Thanh Hương Tiên Cảnh… .Trên núi lại có một phiến đá rất cao khắc chữ Ðệ Nhất Sơn màu trắng, chung quanh toàn là trúc cao vút xanh già.  Trên những vách núi cao, họ cũng khắc các chữ như Nga Mi Sơn, Vĩnh Hằng Ðệ Nhất Sơn.  Từ đây đi xuống Bạch Long Ðộng, cách xa khoảng mấy cây số.  Vì lúc lên đã phải leo tới 7,8 trăm bực rồi nên mọi người đều thấm mệt, do đó  một số phải thuê cáng để xuống..  Cáng là một cái ghế bằng tre rất thô sơ.   Khi họ khiêng thì ghế dập rình nên thanh tre ở phía lưng dựa đập vào xương bàn tọa làm đau điếng.  Xuống dốc cao mà họ cứ đi phăng phăng., nếu mà họ vấp ngã thì mình sẽ bị văng ra ngoài. Trước cửa Bạch Long Ðiện có một lư hương bằng đồng dài mấy thước, chung quanh được khắc hình hoa lá rất mỹ-thuật..
Sau khi lễ ở Bạch Long Ðộng ra, hai mẹ con dắt nhau đi bộ, nhờ thế mà tôi đã được ngắm cảnh suối và thác thật đẹp.  Có lúc gặp những thác lớn, nước đổ xuống ào ào tung bọt trắng xóa tỏa hơi nước ra mát rượi.  Có lúc lại thấy mấy cái thác nhỏ nước chẩy rì-rào, vui tai. Dọc đường đi gặp một con suối nước trong vắt.  Có lúc gặp một khoảng đất trống rộng để cho người đi bộ nghỉ chân.  Ở đó họ bầy bán trà, măng, nấm hương, mộc nhĩ, cũng bán cả thức ăn.  Những cái nấm to như cái bát múc canh.  Trên đường đi xuống qua một cây cầu đá trắng , chắc chắn,khá dài, bắc qua một con suối lớn, rồi lại gặp một cái cầu treo bắc qua một cái suối nhỏ.  Mặt cầu làm bằng những miếng gỗ nhỏ ghép với nhau,  thành cầu gồm có một thanh sắt lớn để vịn và nhiều những sợi xích sắt nối nhau chẩy thõng xuống.  Bước trên cầu thì thấy lắc lư khó đi nên cứ phải vịn vào thành cầu, thế mà mấy người đàn bà Dân Tộc Thiểu Số đeo gù nặng sau lưng nhưng họ đi nhanh thoăn-thoắt  mà chẳng cần phải vịn gì cả.  Ði bộ tuy hơi mệt nhưng lại cảm thấy lòng lâng lâng, vui thích.
Tiếp tục đi nữa thì tới chùa Bảo Quốc Tự.  Bây giờ trời bắt đầu mưa lâm tâm rồi mỗi lúc một nặng hạt nhưng  cũng phải tiếp tục lội mưa gió mà đi, giầy và ống quần bị ướt sũng.  Rồi tới Kim Lâu là lầu để chuông vàng, lầu trống,  tới Thất Phật Bảo Ðiện, trong thờ bẩy vị Phật giát vàng .  Phía sau chùa Bảo Quốc, có thờ tượng Quán Thế Âm cao lớn, áo vàng, cải hoa lá rất rực-rỡ..  Phía trước tượng Quán Thế Âm, có tượng  thờ Ðức Di Ðà ở giữa, một bên là Ðức Quán Thế Âm một bên là Ðức Phổ Hiền.  Có chỗ thờ Thất Phật thế Tôn như Quá Khứ Tỳ Bà Nghi, Thích Ca Mâu Ni Hàm, Tỳ Xá Phù…  Các tượng đều cởi trần chỉ mặc quần và quanh lưng quấn miếng mạ vàng.  Tượng nào miệng  cũng  cũng rộng và mắt thì trợn to. Phái đoàn tới ngụ tại khách sạn Emeishan Hotel.

LẠC SƠN ÐẠI PHẬT. 
Ngày 13-09-07 Phái đoàn rời Nga-Mi Sơn để tới Lạc Sơn, chiêm bái Ðại tượng Phật..  Từ chân núi Nga Mi đi về phía Ðông cách 30km là một thị trấn nhỏ tên là Lạc-Sơn., nơi đây tụ hội của ba giòng sông là Mân Giang, Thanh Y Giang và Nại Ðộ Hà., tạo nên một vùng nước xoáy, tầu bè qua lại bị đắm rất nhiều.  Hòa Thượng cho biết vào đời nhà Ðường 712, ngày nọ có một vị tu-sĩ tên là Hải Thông đi qua thấy tầu bè đi lại nguy hiểm , ngài muốn nhờ uy lực của Phật, lựa một ngọn núi đá nhìn ra sông để tạc tượng rồi quyên góp tiền bạc để làm.  Vị quan viên trông coi ở địa hạt đó thấy Ngài có tiền đòi chia chác.  Ngài không chịu và nói;”Ðây là tiền của bá tánh quyên góp,tôi không thể đưa cho ông.” Ngài lại nói thêm rằng “nếu cái gì của riêng tôi thì tôi không tiếc.”..Thấy thế vị quan nọ đòi xin ngài đôi mắt, nào ngờ ngài móc ngay mắt ra.  Thế là vị quan đó sợ quá bỏ trốn.  Việc xây dựng đến cuối đời Ngài vẫn chưa xong.  Các vị trụ trì  sau Ngài tiếp tục làm, mãi đến năm 803 mới hoàn tất, cả thẩy là 90 năm.  Tượng Phật ngồi cao 71m,dựa vào núi Long Vân, mặt nhìn ra sông, mắt dài 3.3m, tai dài 7m,vai rộng 24m,  bàn chân có thể 100 người đứng vừa trên đó. Ðó là tượng Phật Di-Lạc lớn nhất thế giới.  Sau khi tượng Phật  hoàn thành thì thuyền bè qua lại không bị đắm nữa.  Trải qua bao thế kỷ mà tượng Phật không hề hấn gì, có chăng là đầu, vai và  tay của Ngài đã bị rêu phủ xanh rì... Chùa Linh-bảo ở núi Long Vân có tượng thờ Ngài Hải-Thông.  Nhờ có Ðại Tượng Phật mà Lạc Sơn ngày nay trở nên phồn thịnh, là Trung tâm bảo tồn văn hóa vùng Nga-Mi , đã thu hút biết bao du khách.  Phái đoàn chia làm hai nhóm, ai đi bộ leo lên núi Long Vân vừa đi vừa về mất 2 giờ đồng hồ, đi theo chiền núi và sẽ được sờ vào bàn chân Phật  Còn nhóm thứ hai đi trên tầu để tới chỗ dòng nước xoáy và tầu sẽ dừng lại ngay trước tượng Phật để chụp hình. Do đó có thể quan sát được toàn diện từ tượng Phật và con đường lên núi ngoằn ngoèo,người đi thật đông đúc.  .Ðứng trên boong tầu cũng được nhìn thấy giòng sông bị chia đôi một bên nước đục, một bên trong rất rõ-rệt.   Khi tầu chạy tới chỗ nước xoáy cũng còn thấy bị lắc mạnh.  Người ta có câu rằng:
Lên Nga-Mi đảnh lễ Phổ-Hiền,
Xuống Lạc-Sơn, tham bái Di Lạc.

CỬU HOA SƠN.
.Ngày 14-9 phái đoàn lại phải rời khách sạn để đi Nam-Kinh. Suốt cuộc hành trình 18 ngày mà ở tới 13 khách sạn cho nên rất vất vả về vấn đề đổi chỗ. Phái đoàn ngụ tại khách sạn Dongya Hotel ở ngay chân núi.  Hoà Thượng thuyết giảng rằng: “Cửu Hoa Sơn thuộc tỉnh An-Huy, cách Vũ Hồ khoảng 160km về phía Tây Nam, gồm 9 ngọn núi mà ngọn cao nhất là Thập Phương Phong, cao 1941m.  Từ thời Tây Tấn 317-420, Cửu Hoa Sơn đã nổi tiếng là núi non đẹp, có một ngôi cổ am do một nhà sư Ấn Ðộ tên là Bôi Ðộ xây năm 401.  Khoảng 7,8 năm trước thời Lý-Bạch, có một vị Hoàng-tử Triều Tiên( nay là Ðại-Hàn) tên là Kim Kiều Giác, nghe danh Huyền Quang ở Trung-Quốc nên quyết tâm đến xứ này để tu học.  Năm 730, thời Ðường Minh Hoàng và Dương Quý Phi , nghe nói Cửu Hoa Sơn , Ngài tới đó thấy một cổ am bị bỏ hoang không người chăm sóc nên đến gặp vị chủ của Cửu Hoa thời đó là Mẫn Công rồi tung áo cà sa xin một miếng đất để xây tự viện.  Sau đó con của Mẫn Công cũng xuất gia trước, ông bố xuất gia sau.  Khoảng 7,8 trăm năm sau, đời nhà Minh  có một vị cao tăng tên là Vô Hà,  đến Cửu Hoa đảnh lễ Ðức Ðịa Tạng, thấy chùa triền hoang phế, tăng-sĩ lưu-lạc,Cửu Hoa không người trông nom, nên ở lại.   Ngài Vô Hà ẩn tu 100 năm, đói ăn rễ cây, khát uống nước suối.  Ngài chích máu chép bộ kinh Hoa-Nghiêm.   Sau ba năm ngài viên tịch người ta khám-phá ra nhục thân của Ngài vẫn còn nguyên nên thờ ở Bách Tuế Cung.  Ngài thọ 126 tuổi.   Người ta cho rằng Vô Hà chính là hóa thân của Kim Kiều Giác.  Trong Tứ Ðại Danh Sơn, Cửu Hoa Sơn được phục hồi sớm nhất, có 56 ngôi chùa và 1,300 cổ vật gồm kinh sách, thư pháp, họa đồ…” Trên đường đi đến Cửu Hoa Sơn thường gặp những thửa ruộng nhỏ giống như ở miền Bắc việt-Nam., có chỗ họ đốt gốc rạ.  Nhà cửa được xây cất trên sườn núi.  Dẫy phố Cửu Hoa cao 600m trên mặt biển.  

Ngày 15-9 đi bộ đến chỗ đỗ của xe buýt địa phương để đến Hóa Thành Tự là ngôi chùa chính của Cửu Hoa Sơn,  Ðường đi leo dốc quanh-co.  Các chùa ở Cửu Hoa Sơn,được kiến trúc rất đẹp đẽ và hùng tràng  hơn Nga Mi Sơn.  Hóa Thành Tự có hai tầng lầu, mái cong lợp ngói màu gạch và phía trên có gắn hình những con rồng trông đẹp mắt.  Mặt tiền của chùa có một lư huơng bằng đồng rất lớn, khắc chữ nổi, Hóa Thành Cổ Tự.,cao chót vót tới mãi từng lầu.. Ở đây chỗ để thắp nến khá to lại có mái hai lớp màu vàng, chung quanh cũng sơn màu vàng.  Trong điện, phía trước có bệ thờ cao màu đỏ, có các hình vẽ màu vàng chói;  trên đó có tượng đức Ðịa Tạng.bằng đồng rất lớn.  ở phía sau chùa có tượng Ðức Quán Thế Âm rất lớn, mình mặc áo màu xanh lơ.  Ngoài ra còn nhiều những tượng nhỏ ở chung quanh như tượng ông quan, tượng người dân, tượng hộ pháp…Cửu Hoa Sơn  là đạo tràng của Ðịa Tạng Bồ Tát.  Hòa Thượng đã giải thích:”Ðịa tức là đất.  Ðất tượng trưng cho sự an nhiên, bất động.  Ðức Ðịa Tạng được xem là vị cứu độ cho những ai bị rơi vào địa ngục, vào những nơi tăm tối cho nên Ngài còn được gọi là U Minh Giáo Chủ.”.  Từ Hóa Thành Tự được dùng xe cáp để tới Bách Tuế Cung. Xe cáp này có thể chứa được hơn 50 người, kéo thẳng lên như đi thang máy.  Bách Tuế Cung còn gọi là Vạn-Niên Tự, cao hai tầng lầu, nơi thờ nhục thân của Ngài Vô Hà.  Bách Tuế Cung cao hai tầng lầu,cũng có mái cong lợp ngói màu xám, tường màu vàng, cột màu đỏ, các xà ngang đều khắc hình nổi, người và hoa lá rất tỉ-mỉ.  .Các cánh cửa cũng đều khắc hoa lá pha lẫn hai màu xám và mận thật nhã...Trong điện có thờ tượng của Ðức Ðịa Tạng đứng giữa , một bên là Mẫn Công, ăn mặc theo kiểu quan, một bên là con Mẫn Công, mặc áo cà-sa  Tất cả các tượng đều được mạ vàng, sáng chói,  Phía ngoài cửa có hai con sư tử trắng ngồi chầu.   Bên cạnh Bách Tuế Cung là Ngũ Bách A La Hán Ðường, nơi thờ 500 vị La Hán.. Ngũ Bách A La Hán Ðường có hình vuông vức, chắc chắn có hai tầng lầu khang trang, các cửa sổ của tầng lầu pha hai màu gạch và xám thật nhã-.. Cổng vào hình vòng cung, chung quanh viền xám, đắp nổi hình hoa lá màu trắng.  Tường màu hồng nhạt, mái ngói cong đỏ ba lớp, trên có gắn hình các con rồng trắng thật đẹp.  Lối vào có nhiều bực bằng đá trắng, hai bên có hai con voi đá cũng màu trắng, đứng chầu trên bục đá cao.  Tới đây còn phải đi thêm 7, 8 trăm bực nữa.  Lúc này đã thấm mệt nên nhiều người phải thuê cáng, giá  gần 200 Yuan.  Dọc theo đường đi có nhiều chùa ở rải-rác và ngoài những cây thông còn có những cây trúc rất đẹp.  Tiếp tục đi thì tới Bảo Tàng Viện  trưng bầy các cổ vật như bát, đĩa, ấm cổ rất đẹp, nhiều tượng Phật, có cái chuông đồng nặng tới một ngàn tấn.và có cả giầy,dép và mũ  của Ngài Ðịa Tạng.  Lại tới chỗ có dấu chân Phật rất lớn.  Từ đây phải đi thêm 84 bực để lên tới Kim Ðỉnh là chỗ cao nhất của Cửu Hoa Sơn..  Con đường đi rất dốc, những bực toàn bằng đá xanh trên mặt làm sần sùi nên không sợ trơn nhưng đi cũng  khá vất vả.   ,Mỗi khi bước  đều  phải vịn vào cái thành chắn và gò người xuống.  Có lúc đi qua những vách núi cheo-leo, nhìn xuống phía dưới thấy sâu thăm-thẳm.  Trên đường đi khi gần tới nơi, ở hai bên bờ tường chắn, có dây sắt lớn, treo khít nhau hàng ngàn những ống khóa đã bị han rỉ, trên đó có viết tên.  Ðó là ống khóa của những đôi nam nữ, họ dẫn nhau đến đây thề bồi với nhau, sau đó viết tên chung trên ống khóa, rồi mắc ống khóa vào thanh sắt và vứt chìa khóa đi.. Họ làm như vậy  với hy-vọng là sẽ được sống bên nhau mãi, mãi.. Ở trên Kim Ðỉnh có mộtphiến đá nhẵn, phẳng, có thể leo lên được.  Trên phiến đá này cũng có nhiều cọc sắt chăng dây xích để treo khóa.   Ở Kim Ðỉnh có Ðại Hùng Bảo Ðiện cao 43m, bên trong thờ nhục thân của các vị Bồ Tát.  Ở đây có một cái trống lớn lớn, đường kính khoảng 2m..  Thiên Ðài Tự có các cột và xà ngang đều bằng đá xám, các cửa cũng toàn màu xám có khắc những cảnh vật, màu rực rỡ.  Từ Kim Ðỉnh nhìn xuống thấy có nhiều mỏm đá nhẵn nhụi, trên đỉnh mọc một cây thông xanh ngắt.trông như cái dù.  Ở Cửu Hoa Sơn thông mọc rậm-rạp, thành nhiều hình thù như có một chỗ cây mọc trông giống hình Phật đang nằm, rõ cả mặt  mũi và  lông mày  nữa. Ở Kim Ðài có chỗ thờ Thập Nhị Diêm Vương, phía ngoài có ba cái lư hương đồng cao ngất, có nhiều từng, chung quanh treo rất nhiều chuông nhỏ..Từ Kim-Ðỉnh  phải đi 128 bực để xuống chỗ xe cáp.  Trên đường đi gặp một người đàn ông đang mang đá lên.  Trên lưng ông ta đeo một tảng đá lớn dùng để sửa bực.  Vì quá nặng nên ông ta cứ khòm lưng xuống, trông thật tội nghiệp.  Sau đó lại gặp một người đàn ông khác đang gò cổ gánh lên hai túi ny-lông lớn đựng đầy cát..  Những người gánh lên núi còn mang theo một cái gậy có móc để khi nào muốn đỗ nghỉ thì họ móc cái gậy vào đòn gánh rồi chống xuống đất, thế là cái gậy đỡ thúng nặng còn đòn gánh vẫn ở trên vai.  Mọi người được xe cáp đưa xuống khoảng lưng chừng núi để xem cây phượng hoàng tùng, đại cổ thụ đã sống 1,500 năm hình dáng giống con chim phượng hoàng .

HOÀNG SƠN.
Ngày 16-9 phái đoàn đi Hoàng Sơn để ngắm cảnh đẹp.  Ðến chân núi Hoàng Sơn.mỗi người chỉ mang túi nhỏ đựng một bộ quần áo và đồ dùng cá nhân rồi đi xe buýt địa phương để đến chỗ xe cáp. Rời xe cáp đi bộ lên North Sea Hotel. Hoàng Sơn núi trùng trùng điệp điệp,toàn đá màu nâu, có hơn 80 đỉnh núi nhọn- hoắt.  Trên núi nhiều cây thông  và đá có hình thù kỳ lạ, có chỗ giống như hai ông tiên đang đánh cờ.  Có mỏm đá trông giống con khỉ đang ngồi,có cây lại giống như con quạ đang há mỏ chờ ăn, có cây một gốc hai ngọn chụm lại nên được gọi là “lovers’ pine.
  Sáng ngày 17-9 đi Hàng-Châu. Phái đoàn đi bộ khoảng 350 bực để xuống chỗ xe cáp. TạI đây rất đông người, chen-chúc nhau xếp thành  mấy hàng dài. Những người từ 70 tuổi trở lên thì có lối đi riêng để vào xe cáp, không cần phải xếp hàng.  Sau đó đi Hàng-Châu, ngụ tại  Wuyang Hotel.

CHÙA LINH ẨN.
 Ngày 18-9  đi thăm chùa Linh-Ẩn, lâu nhất Hàng châu. Lúc tới chùa thì trời mưa tầm-tã, mặc dầu vậy, cũng phải đội mưa mà đi ; người nào người nấy ướt sướt mướt.  Hòa Thượng thuyết giảng:”Chùa Linh-Ẩn là nơi Ngài Tế-Liên tu nhiều năm.  Chùa được xây từ năm 326, cuối đời  Ngũ Ðại, còn được gọi là Lâm Vân Tự.  Chùa có 1300 gian nhà, 1300 tu-sĩ, có 9 lầu, 18 các và 72 điện mà Thiên Vương Ðiện lớn nhất, rộng 7 gian, sâu 4 gian.  Phía trước điện có hai tảng đá lớn, có từ đới Bắc Tông, điêu khắc rất đẹp, dùng để trừ tà cầu phúc.  Thời gian Ngài Tế Liên tu ở đây, có vị giám hộ tên là Quảng Lượng.  Có một lần chùa bị cháy, Quảng Lượng đổ  cho Tế Liên làm cháy chùa, lên trình với Ngài Phương Trượng, bắt Tế Liên phải đi quyên góp 108 cây gỗ để sửa chùa.  Ngài Tế Liên dùng thần lực, sai thần linh lục giáp, lấy gỗ từ trên rừng, thả xuống sông, trôi theo dòng nước, tới chùa Linh-Ẩn  thì rẽ ngang, chui xuống giếng nước rồi trồi lên.  Ngài sai thần linh lục giáp vớt lên.  Khi mới vớt được 107 cây thì Ngài hỏi là đủ chưa?  Quảng Lượng nói là đủ rồi.  Ngài dùng thần thông bảo thần linh thôi không vớt nữa.  thế là còn một cây gỗ kẹt ở duới giếng...Sau đếm thấy còn thiếu một cây nhưng cây kẹt dưới giếng không tài nào lôi lên được.  Thế là Quảng Lượng phải tốn bao công sức và tiền của mới tìm được một cây giống như 107 cây.kia.  Trải qua ngàn năm, hiện nay ở giếng vẫn còn cây gỗ, người ta thắp một ngọn đèn ở dưới để du khách có thể nhìn được rõ.” Giang đã chụp được tấm hình trong giếng còn cây gỗ.
 Chùa chiếm một khoảng đất rộng, có cổng lớn để dẫn vào chùa.. Chung quanh cây cối um-tùm , có một cái tháp lớn, 9 tầng, 8 cạnh, trên khắc truyền thuyết xây dựng Phật, pháp.  Chính điện của chùa có tượng Ðức Phật Thích Ca bằng gỗ rất lớn, cao 19.6m,  hai bên có tượng Hộ Pháp, có 150 pho tượng nhỏ khác nhau  Có điện  thờ 500 vị La Hán  bằng đồng ,lớn hơn người mỗi vị đều có tư thế ngồi và vẻ mặt khác nhau.  Ở chùa cũng có điện thờ ngài Tế Liên bằng đồng, còn có tên là Tế Công, tượng ngài ngồi khòm, đắp cà sa, hở một bên vai, nét mặt ngài rất tươi như đang cười.  Ở chùa có Quan Âm Các, thờ Ðức Quán Thế Âm.  Ở đây còn có ngọn núi Phi Lai, theo truyền thuyết, núi này bay từ Ấn Ðộ sang.. 
Sau đó phái đoàn được đi du thuyền trên Tây Hồ để ngắm cảnh Hàng Châu.  Hồ rất lớn, bên bờ trồng nhiều cây liễu, rủ xuống trông rất nên thơ, có cây ngô đồng.  Có chỗ thả sen, những bông hoa to và trắng muốt.  Trên hồ có Ngoại Lầu là nơi dung làm chỗ họp cho các vị quốc khách.. Hồ này bị ô nhiễm nên cứ 30 ngày lại phải bơm để lọc.
Phái đoàn đi thăm vườn trà Long Tỉnh.  Vua Càn Long đã đến đó uống trà đun bằng nước giếng nên mới có tên là Long Tỉnh..  ở đây có đồi trồng trà xanh ngắt.  Trà Long Tỉnh là nổi tiếng tại Trung Quốc. Vì có bão nên kjhông đi Phổ Ðà Sơn  được mà phải đổi chuơng trình và đi Tô Châu và ngụ tại Aster House Hotel hai đêm.

CHÙA HÀN SƠN -
Lúc 8 giờ sáng ngày 19-9 đi thăm chùa Hàn Sơn thuộc tỉnh Tô-Châu. Lúc này trời vẫn mưa to. Phía trước chùa có nhiều bia đá khắc các bài thơ ‘Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế vịnh cảnh Hàn Sơn cùng các bài thơ của các vua, quan cùng các thi sĩ vịnh cảnh và họa bài thơ của Trương-Kế..Bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc như sau:
 Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
 Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
 Cô-Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự,
 Dạ bán chung thanh đáo khách thiền.
Bài dịch của Tản-Ðà:
 Trăng tà tiếng quạ kêu sương,
 Lửa chài câu bến sầu vương giấc hồ.
 Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn-Sơn.

Cô Tô đài là chỗ đốt lửa lên khi có giẳc thì quân sĩ sẽ tới cứu nhưng vì muốn làm vui lòng Dương Quý Phi nên Ngô Phù Sai đã cho đốt lửa. lên.  Quân lính kéo đến thì mới biết là đốt lửa chơi thôi.  Về sau lúc có giặc thật, đốt lửa lên không ai đến cứu do đó bị mất nước. 
Chùa có một cái tháp cao hình vuông, nhiều từng,mái màu xanh lam, chung quanh có hàng hiên sơn màu hồng nhạt, cửa màu nâu đậm, đó là Phổ Minh Bảo Tháp.  Trong tháp thờ nhiều tượng Phật và Bồ Tát Quan Thế Âm. Tại đây có một tảng đá lớn gọi là Quan Âm Giáng,được khiêng từ Phổ Ðà Sơn về.  Hà Sơn Tự là chỗ cầu duyên, có những cột đỏ, ở trên cây và chung quanh chùa treo rất nhiều những sợi giây đỏ chót. Ði thăm Võng Sư Viên do ông quan đời vua Càn-Long làm ra sau khi về hưu để nghỉ ngơi.  Vườn có một hồ nhỏ thả sen, có giả sơn, có nhiều cây cối..  Trong vườn có nhiều lầu các, mỗi nơi có tên riêng như:  Trà sảnh, Thích Thiện Ðường, Thê Vân thất, Nguyệt đáo lai đình, Ðại giáo sảnh… Có chỗ tường được đắp nổi hình của một ông quan và hình những người dân .  Sau đó đi thăm Ðồi Hổ. Trong Ðồi Hổ  cây cối um-tùm,có suối nước, có một hòn đá bị xẻ sâu và dài gọi là đá thử kiếm.
Từ Ðồi Hổ đi bộ sang Vạn Viên Sơn Trang.  Trong vườn này có 10 ngàn loại cây khác nhau.  Ngoài những cây tùng, cây bách thật cao, cũng có rất nhiều cây được trồng trong các chậu bằng sành, bằng sứ, có cây chỉ cao độ một gang tay nhưng cũng có những cây cũng khá lớn, lá xum xuê, cao cả gần hai thước.  Ði qua một cái cổng cuốn, tường màu vàng thì thấy hai cái giếng nước.  Tương truyền rằng ngày xưa các Bà Hoàng-hậu đã lấy nước giếng này rửa thì sáng mắt lắm.  Tiếp tục đi sau khi lên nhiều bực bằng đá thì tới một cái tháp hình tròn  cao rất đẹp, nghiêng 15 độ.  Tháp màu xám, chung quanh khắc những hình nổi.  Phái đoàn cũng vào thăm một xưởng làm lụa lớn của Tô-Châu. 
Ngày 20-9 đi ngược trở lên để đến Ninh Ba và đỗ nghỉ tại thành phố Vô-Tích.  Tại đây có Thái Hồ lớn hơn Tây Hồ rất nhiều.  TạI Ninh Ba, ngụ tại Victori Hotel.

PHỔ ĐÀ SƠN -
Phái đoàn được xe buýt trở đến bến tầu để di “speedboat” sang  núi Phổ Ðà , là đạo tràng của Quan Thế Âm Bồ Tát. Tầu khá lớn chở được cả trăm người.   Phổ Ðà Sơn là một ngọn núi nổi lên trên một cái đảo nằm ở eo biển.  Sau đó đi xe buýt để đến khách sạn Putuo Hotel.  Trong phòng đợi của khách sạn có một cái bệ to, chung quanh màu đỏ, trên đó đặt tượng Phật Bà Quan Âm, nhiều tượng Phật và Bồ Tát, nhiều màu sắc khác nhau trông rực-rỡ.  Ở đây họ cũng làm một gốc tre, trong lòng đặt tượng Quan Thế Âm.  Tất cả có màu vàng giống như cây tre già, trông rất đẹp.
Ngày 21-9 bắt đầu đi thăm các chùa ở Phổ Ðà.  Vì chị Ngà đau nên hai mẹ con phải cắt phiên nhau để trông nom.  Buổi sáng tôi đi, buổi chiều thì đến lượt Giang.   Lối vào chùa có một cái cổng hình vòng cung ba lớp, tường màu vàng, mái cong bằng ngói xám, trên có gắn những chuông nhỏ và hình tượng màu vàng..  Chung quanh Phổ Ðà là 33km.   Các ngôi chùa ở Phổ Ðà rất nguy nga và rộng lớn.  Phổ Tế là ngôi chùa chính của Phổ Ðà, cao 33m, tường màu vàng, mái cong lợp ngói xám, trên mái gắn hình các thú vật như khỉ, sư tử, chó sói…Ở hành lang có treo 33 miếng đá tròn màu trắng , vàng pha hồng trông rất đặc biệt..  Phía bên trái là phiến đá khá to, điêu khắc những câu chuyện của Phật tổng cộng 60 bức tranh phỏng theo chứng tỏ người và động vật có giao cảm với nhau.  Ðiện chính là Viên Thông Bảo Ðiện bên trong thờ Ðức Quan Thế Âm và 33 vị hóa thân của Ngài. Buổi sáng đó tôi không được tới nhiều chùa.  Buổi chiều trời mưa tầm tã, Giang nói là đi cũng vất vả lắm nhưng được nhìn thấy vườn trúc tía, và được thăm rất nhiều nơi như Ðịa Tạng Ðiện, La Hán Ðường, Lục Thông Viên Minh, Thiện Vương Ðiện, Pháp Vũ Viên Tự, bất khả khứ Quan Âm Các, dấu chân Ðức Phật in trên đá và được chiêm ngưỡng tượng Ðức Quan Thế Âm bằng Ðồng khởi công từ 29-9-1997, hoàn thành ngày 29-9-1999.  Tượng nghiêng 15 độ,cao 18m, nặng 72 tấn, đài sen dưới chân cao 2m, đường kính 8m., bên trong có 97 miếng vàng , gồm 13 kí-lô, tổn phí là 33 triệuYuan. Tượng ở ngay bên bờ biển, tà áo tung bay theo thế đang nhẩy qua biển theo thế Quan Âm quá hải. Ở đảo có một cây cầu rất dài bắc qua eo biển. 
.Ngày 22-9 rời Phổ Ðà Sơn để đi Thượng Hải thăm Ngọc Phật Tự.  Chùa có  tượng Phật nằm, bằng ngọc trắng muốt.  Phái đoàn ngụ đêm tại Rainbow Hotel.
Ngày 23-9, một số lớn trở lại Hoa-Kỳ, một nhóm đi Tây Tạng và  Việt-Nam.
Chuyến hành hương này tuy khá mệt nhưng cũng rất thích thú vì đã được biết nhiều nơi và được Hòa-Thượng giảng cho những bài học rất quý giá.

New Jersey April 8-2008
Nguyễn Thị Xuân-Nga
   

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com