arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow 43- SUY GẪM VỀ CÁC NỀN TRIẾT HỌC TRONG TAM GIÁO NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN - Lê Thương
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
43- SUY GẪM VỀ CÁC NỀN TRIẾT HỌC TRONG TAM GIÁO NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN - Lê Thương PDF Print E-mail

SUY GẪM VỀ CÁC NỀN TRIẾT HỌC
TRONG TAM GIÁO NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN

       Xét theo niên lịch, ta thấy khoảng năm, sáu trăm năm trước lịch Cơ Đốc, hai khoảng đại lục Trung Hoa và Ấn Độ đã đồng thời phát triển ba hệ thống Phật, Khổng, Lão, thường được gọi là Tam Giáo (hay Tam Giáo Đồng Nguyên). Trong ba học phái này, tương đối Lão Giáo ít ảnh hưởng nhất, còn học thuyết của Phật và Khổng đã ảnh hưởng sâu đậm đến trí não và đời sống của người Á Đông.

       Đứng trên phương diện nghiên cứu các nền triết học của Tam Giáo, thiết tưởng nên cần nhấn mạnh    đến Phật học hơn vì lý do giản dị rằng Phật Giáo đã phát triển đươc một nền triết học hoàn bị và trọn vẹn hơn cả. Những kinh và luận của nhà Phật là cả một kho tàng triết học bao la trong khi bên Lão Giáo kinh sách chỉ vỏn vẹn trong cuốn Đạo Đức Kinh và một vài cuốn của Trang Tử, còn bên Khổng học, môn học về Bản Thể Luận chỉ thu tóm trong cuốn Kinh Dịch và ít được đem ra truyền dạy, phải chờ cho tới thời nhà Tống các nho sĩ mới đem bộ sách đó ra nghiên cứu và bàn luận cho thêm rõ nghĩa.
       Về Lão Giáo, người sáng lập ra  học thuyết nầy là Lão Tử, tên Đam, sinh khoảng năm 604 trước Tây lịch, làm quan Quản thủ thư viện dưới thời nhà Chu. Trong suốt thời gian làm quan, Ngài không hề viết sách vở gì để truyền bá tư tưởng mình trong dân gian mà chỉ đem truyền dạy cho một số học trò ít ỏi. Sử chép rằng khi nhà Chu hết trị vì thiên hạ, Lão Tử bèn bỏ việc quan và đi sang lãnh thổ Tây Tạng. Khi đến biên thùy, viên quan trấn biên ải nhận ra Lão Tử, vì vốn hâm mộ tiếng từ lâu nên cố giữ họ Lão lại xin truyền Đạo cho mình. Ngài ưng chịu ở lại đó một thời gian, viết xong bộ Đạo Đức Kinh, giao bản thảo cho viên quan trấn ải rồi leo lên lưng trâu tiếp tục cuộc hành trình về phía Tây Tạng, từ đó không ai được biết gì về Lão Tử nữa.

        Học thuyết của họ Lão điểm màu bi quan của một kẻ sống giữa thời ly loạn. Học thuyết nầy hầu như dành cho một số người hết sức ít ỏi có một trình độ kiến thức siêu việt lấy đó làm phương châm tu luyện và quan niệm xuất xử. Tư tưởng của Lão Giáo là một phần yếm thế muốn coi cuộc nhân sinh trước mắt như một điều “cực chẳng đã” của thân phận con người. Theo họ Lão, uyên nguyên của mọi sự vật trong cõi đời nầy là một thực tại thuần nhất, vô hình, vô ảnh. Lão Tử gọi thứ bản thể tuyệt đối đó là Đạo. Cũng như nhà Phật sau nầy xướng nên thuyết không dùng văn tự, Lão Tử cho rằng bản chất của Đạo không thể nào diễn tả bằng ngôn ngữ của thứ nhận thức thông thường được. Quan niệm của Ngài là “đạo khả đạo phi thường đạo” (đạo mà có thể đem ra bàn được thì không phải là đạo). Ý họ Lão  muốn nói thực tại tuyệt đối nằm trong một lãnh vực, một kích độ khác hẳn lãnh vực nhận thức thông thường của người đời, và sự thức giác bản thể tuyệt đối không phải do sự thức giác thông thường của ngũ quan mà là do sự trầm tư mặc tưởng, trong đó con người phóng nội tâm của mình để thăm dò và thể nghiệm bản thể tuyệt đối.

Uyên nguyên đã là Đạo, còn cứu cánh của cuộc đời cùng phép xuất xử của con người thì Lão Tử quan niệm rằng cứu cánh đời sống con người là phải trở về Đạo, thực hiện sự hòa đồng giữa tiểu ngã con người và đại ngã vũ trụ. Sinh hoạt của con người không phải đi sâu vào ngoại giới, chú trọng sự tổ chức cuộc nhân sinh trước mắt. Lão Tử đã đề xướng nên một thuyết gọi là thuyết “Vô Vi” để làm phương châm tu luyện cho người đời. Thuyết “Vô Vi” nầy không phải áp dụng vào việc tổ chức nhân sinh xã hội mà chỉ nhằm mục đích tu luyện tư tưởng và tâm linh phần nội tâm của con người tương tự như một tấm gương hoặc mặt nước đại dương, nếu vẩn bụi hay gợn sóng nhấp nhô tất nhiên không thể nào phản chiếu một cách trung thực và trọn vẹn hình ảnh của mặt trời. Nội tâm con người cũng thế, muốn phản chiếu được bản thể tuyệt đối và đạt tới trạng thái Đạo thì cần phải bình thản, phẳng lặng. Đối với thế nhân, mỗi một hành động, mỗi tư tưởng, mỗi tình tự đều làm gợn sóng trong nội tâm và che lấp hình ảnh hoặc trạng thái thực tại tuyệt đối của Đạo. Tóm lại, thuyết “Vô Vi” của Lão Giáo cốt dạy người đời tu luyện nội tâm lúc nào cũng giữ được trạng thái bình thản, phẳng lặng. Làm mà không coi như mình làm để tránh cái chấp của người làm với đối tượng việc làm, tránh sự cách biệt giữa ngã và vô ngã, suy tư hay cảm xúc mà không để vướng bận với cái chấp về suy tư và xúc cảm. Đó là triết lý mà Lão Tử đã nêu lên để hướng dẫn người đời tu luyện bản thân mình.

        Về phương diện mật giáo hay mật truyền, Lão Tử hoặc các môn đệ có lẽ có truyền dạy những phương pháp để đào luyện thể chất cùng tâm tư. Thực hành như thế, người tu Đạo sẽ dần dần đạt được trạng thái Đạo trong người, sẽ hòa đồng được với đại ngã và tiêu diệt hết mọi phiền não. Tuy nhiên, nói đúng ra, Lão Giáo nhiều khi có tính cách nghiêm ngặt của một thực nghiệm chủ nghĩa, và luân lý của đạo Lão nêu ra không phải là một thứ luân lý cho thường nhân, nó chỉ là cái luân lý dành cho một thiểu số tu luyện siêu việt, có một quan niệm Thiện, Ác khác với thông thường.

        Còn về Khổng Giáo, hay Nho Giáo do Đức Khổng Phu Tử khai sáng. Khổng Tử sinh vào tháng 10 năm Canh Tuất, tức năm 551 trước Tây lịch kỷ nguyên, là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu. Khổng Tử người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, phủ Duyện Châu, tỉnh Sơn Đông bên Trung Hoa. Ngài gốc người nước Tống, còn dòng dõi ba đời sang sống ở nước Lỗ.
        Tuy được tiếng học rộng, uyên bác nhưng vua nước Lỗ vẫn không dùng Khổng Tử, phải đợi đến năm thứ 19 đời vua Kinh Vương nhà Chu mới được vua nước Lỗ dời ra làm quan với chức Trung đô tễ, lúc ấy Khổng Tử đã 51 tuối. Một năm sau được phong lên chức Đại tư khấu. Giữ chức Đại tư khấu được bốn năm, vua nước Lỗ lại phong Ngài lên chức Nhiếp tướng sự (tức là chức Hình bộ thượng thư), coi về chính trị trong nước nhờ thế mà nước Lỗ lúc bấy giờ rất thịnh trị. Về sau vua nước Lỗ ham mê tửu sắc không chăm lo việc triều chính nên Ngài buồn chán rồi từ chức và bỏ đi chu du khắp thiên hạ từ nước Vệ đến nước Tần, nước Khuông, nước Tống, nước Thái, nước Diệp... cốt đem cái đạo của mình ra giúp đời.

        Khi Khổng Tử mất, học trò thương khóc thảm thiết, ai cũng để tâm tang ba năm (tâm tang là thầm kín để tang trong lòng chứ không mặc tang phục). Ngài mất, mộ được chôn ở Khổng Lâm, cách huyện
Khúc Phụ thuộc tỉnh Sơn Đông khoảng hai dặm. Có đến hơn 100 học trò làm nhà ở gần mộ của Ngài cho đến hết tang. Riêng thầy Tử Cống ở bên cạnh mộ Đức Khổng Tử đến sáu năm. Môn đệ của Khổng Tử thì nhiều, trong số đó có 72 người nổi tiếng tài giỏi, đạo đức, tinh thông lục nghệ mà người đời thường gọi là “Thất thập nhị hiền”. Trong số 72 người nầy có người nổi tiếng về đức hạnh như thầy Nhan Uyên, thầy Nhan Hồi, thầy Mẫn Tử Khiên, thầy Nghiễm Bá Ngưu, thầy Trọng Cung; có người nổi tiếng về đường chính sự như thầy Nhiễm Hữu, thầy Quí Lộ; có người nổi tiếng về đường văn học như thầy Tễ Ngã, thầy Tử Du, thầy Tử Cống, thầy Tử Hạ...
        Cái đạo của thánh hiền ngày xưa được Khổng Tử ghi chép trong các sách Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc. Ngoài ra, Ngài còn biên soạn bộ sách Xuân Thu để gởi gấm nhân sinh quan của mình về chính trị, xã hội. Sách của Khổng Tử soạn ra có tất cả là sáu bộ, thường được gọi là Lục Kinh. Sau khi Khổng Tử mất, những sách ấy cũng bị thất lạc nhiều. 

       Về Khổng Học, như nhiều người đã rõ,  thường vụ vào sự quy định một nền luân lý thực tiễn cho sự sinh hoạt xã hội hơn là sự thiết lập một hệ thống triết học nhận thức hoặc một tôn giáo. Cuốn Kinh Dịch chỉ được san định trong lúc tuổi già của Khổng Tử để làm căn bản triết học cho một đạo sống thực tiễn. Khổng Tử cũng cho rằng uyên nguyên của vạn vật là do một thực tại tuyệt đối có những tính chất tương tự như Đạo của Lão Tử. Thực tại tuyệt đối đó được mệnh danh là Thái Cực. Nhưng trong cái trạng thái im lìm và thuần nhất của nó, Thái Cực thực ra đã chứa sẵn bên trong hai nguyên động lực tương sinh tương khắc gọi là Lưỡng Nghi, tức âm và dương. Hai nguyên tắc âm và dương đó tương khắc lẫn nhau để tiếp tục phân hóa thành tứ tượng. Rồi cứ như thế mà lần lượt phân hóa mãi thành muôn vàn hiện tượng của vũ trụ nầy. Đó là quan niệm của Khổng Học về cách thức và lịch trình hiện tượng hóa mà nhiều người gọi là dịch hóa, và về vấn đề nầy ta phải nhận rằng Khổng Học đã giải thích rõ ràng hơn Lão Giáo. Đi sâu hơn nữa, cuốn Kinh Dịch đã dần dần kết tập sự chuyển hóa của âm dương thành 64 quẻ mà mỗi quẻ tượng trưng cho một trạng thái tương quan giữa trời, đất và con người.
        Quan niệm nhận thức của họ Khổng thực ra cũng không khác biệt chi với quan niệm của họ Lão vì cả hai đều công nhận một thực tại tuyệt đối, và lý tưởng của họ Khổng cũng là sự hòa đồng giữa tiểu ngã con người với đại ngã vũ trụ. Cho nên Khổng Học có nêu lên thuyết “ Thiên Nhân tương dữ” làm quan niệm căn bản. Nhân lý cũng chỉ là một sự phản ảnh của thiên lý. Có một điều khác với Lão Tử là Khổng Tử thường chú trọng đến vấn đề muốn chiếu rọi quan niệm về thiên lý của mình vào cuộc sống nhân sinh thực tiễn để quy định thành một nền luân lý, một phương pháp xuất xử chi phối đời sống.

       Đạo làm người của nhà nho thường được thu gọn trong chín chữ “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Hai chữ “tu thân” ở đây chỉ bao hàm ý nghĩa thông thường là giữ gìn thể chất cùng tâm linh cho thanh bạch để sẵn sàng bước vào con đường “tề gia” và “trị quốc”. Hai chữ đó không có ý nghĩa mật truyền của sự tu luyện như Lão Giáo, vì sự tu luyện của họ Lão là cả một công phu phản tỉnh nội tâm để đạt tới trạng thái im lìm, thuần nhất, mầu nhiệm của thực tại tuyệt đối. Cũng cần ghi rõ thêm rằng, theo sách truyền lại, Khổng Tử có một đôi lần tỏ ý hết sức thán phục quan niệm của họ Lão, và đã từng ví Lão Tử như một con rồng còn ẩn mình.

       Người đệ tử được Khổng Tử khen ngợi nhất là Nhan Hồi mà Nham Hồi lại là một người không hề có “trị quốc”, “bình thiên hạ” chi cả. Thầy Nhan Hồi chỉ sống trong một ngõ hẻm lầy lội với một giỏ cơm, một bầu nước nhưng đặc điểm của thầy là đạt tới trạng thái “tọa vong”. “Tọa vong” có nghĩa là ngồi mà quên được, cũng như Lão Giáo gọi là nhập đạo và nhà Phật gọi là thiền hay nhập đại định. Nói tóm lại, mặc dù trên quan niệm nhận thức về bản thể sự vật, Khổng Học không có nhiều điểm dị biệt với Lão Giáo, song dụng tâm của Khổng Tử là muốn phục vụ ngay cuộc nhân sinh trước mắt và xây dựng lại nền xã hội loạn ly của thời Xuân Thu vì thế mà ảnh hưởng của Khổng Học sâu dày gấp bội ảnh hưởng của Lão Giáo.

       Riêng về Phật Giáo, khi khoảng lục địa Trung Hoa nhìn thấy sự phôi thai của Khổng Học thì khoảng đại lục Ấn Độ cũng biến thành xứ sở của một nền triết học hết sức quản triệt, đó là Phật Giáo.
Đứng trên phương diện nhận thức, Phật Giáo đã đem lại một quan niệm thật hoàn bị và trọn vẹn trên các lãnh vực khác hẳn với Khổng Học và Lão Học.

       Phải nói rõ rằng sự xây dựng nền triết học Phật Giáo không phải hoàn toàn do công trình riêng của Đức Thích Ca mà do công phu san định của hàng trăm triết gia thuộc hàng chục tông phái nhà Phật. Thật ra, trong suốt thời gian sinh tiền, Đức Phật chỉ thuyết pháp nhiều nhất về Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên mà hai đề tài nầy thuộc phần giáo lý để tu luyện hơn là triết học nhận thức, có lẽ chỉ đem mật truyền rồi về sau hàng trăm đệ tử thuộc các tông phái mới đem hoằng dương thành thiên kinh, vạn quyển.

       Kinh sách đã bao la như vậy, các tông phái cũng nhiều, như nhiều người đã rõ, trước khi Phật Giáo ra đời, nền Ấn Độ Giáo đã khá thịnh hành trong cõi đại lục Ấn Độ. Nền tôn giáo nầy đã lấy những cuốn sách cổ học Vedas để làm thánh kinh. Loại trừ một số tín ngưỡng nhiều phức tạp, những nghi lễ thờ phụng rắc rối để cúng vái cả một hệ thống thần linh, Ấn Độ Giáo tuy nhiên cũng đã bao hàm một vài quan niệm triết học rất sâu sắc mà sau này nhà Phật cũng phải thu nhận.

       Tới khoảng thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, nền Ấn Độ Giáo đã xây dựng thành một chế độ tôn giáo được chỉ đạo bởi một đẳng cấp đạo sĩ (Brahmans), song vì lễ nghi ngày một thêm phiền toái, nghiêm ngặt quá vụ về hình thức, các giáo điều ngày một thêm cứng nhắc và sự phân chia đẳng cấp ngày một thêm rõ rệt, cách biệt nên vào thời đó, một phong trào cải cách được đề xướng và người cầm đầu phong trào nầy là Đức Thích Ca Mâu Ni.

      Các sử liệu đều chép lại rằng Đức Thích Ca vốn là Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha), dù sinh trưởng vào một địa vị tột bực cao trọng, mặc dù có vợ và một con, Tất Đạt Đa vẫn trưởng thành trong môi trường đó với một tâm tư hết sức u uất, khắc khoải. Nhiều lần Thái tử đi dạo chơi nơi các cửa thành và mỗi lần như thế đều gặp hoặc một đứa bé, hoặc một cụ già lụ khụ yếu đuối hay một người tàn tật, một người ăn mày rách rưới, một xác chết v...v... Trước những cảnh đó, Thái tử dần dần giác ngộ rằng đời là vô thường, là một bể khổ, và con người không thể tránh được sinh, lão, bệnh, tử vì thề Đạt Đa rắp tâm phát nguyện quy y để trở thành người tu sĩ.

       Rồi một đêm kia rời bỏ gia đình, vợ con,  rời bỏ cung điện nguy nga, lâu đài tráng lệ, Thái tử ra đi tìm đạo giúp đời. Trong khoảng bảy năm trường cùng với năm người bạn đồng hành nữa, Thái tử đã thí nghiệm hết các phương pháp tu luyện của các tông phái đương thời. Phải nói rằng các phương pháp đó đều cực kỳ khổ hạnh, cốt diệt trừ những chấp về thể xác và đó chỉ là những bước đầu trong đạo thiền nhà Phật sau nầy. Tuy nhiên, sau bảy năm trời tu luyện, Thái tử vẫn thấy không làm tiêu tan nổi những khắc khoải trong lòng. Bỏ năm người bạn đồng hành lại chốn cũ, một mình bèn đi thẳng vào rừng sâu tới ngồi dưới gốc cây bồ đề phát thệ nhập đại định. Đến một ngày kia, lời thệ nguyện thấy thành tựu, Thích Ca bèn trở về chốn cũ, hợp lại năm người bạn xưa vẫn còn tu khổ hạnh, lên diễn đàn trong một khu rừng gần thành phố Benares ( Ngày nay được đổi tên là thành phố Varanasi, ở miền đông bắc Ấn Độ) để thuyết giảng giáo lý nhà Phật.

       Triết lý nhà Phật có đưa ra hai quan niệm, quan niệm thứ nhất là luân hồi, tức là quan niệm về cuộc hành trình của linh hồn từ thời vô thủy đến thời vô chung, tu luyện qua hằng hà vô số kiếp, trải qua muôn ngàn thể chất và hiện thân để đạt tới trạng thái thanh tịnh siêu thoát. Quan niệm thứ hai là tính chất đồng nhất của tiểu ngã con người (Athman) và đại ngã vũ trụ (Brahma). Nhà Phật quan niệm rằng đời là một bể khổ, từ kiếp nầy qua kiếp khác, nước mắt chúng sinh chứa đầy bốn bể. Con người bị khổ vì đứng trước những hiện tượng vô thường huyền ảo, mỗi một huyền ảo lại phát sinh ra một huyền ảo khác và cứ như thế cho đến vô cùng tận. Tất cả những cái ác, cái khổ trong con người đều do sự cách biệt phân tán, Sự ác lấy nguyên nhân ở chỗ thức giác con người (Tiểu ngã) tự nhận là mình khác biệt với Đại ngã và vũ trụ như một thực tại ở ngoài mình.Trái lại sự thiện là do ở chỗ cố vượt qua tất cả những gì cách biệt để tìm tới hòa đồng. Tự đem tâm hồn mình rời bỏ những cách biệt tương đối để biến vào sự hòa đồng tuyệt đối, rời bỏ sự thức giác đa nguyên để trở lại thể nghiệm đồng nhất, đó là lối siêu thoát cho con người. Nhưng làm thế nào để đạt tới trạng thái đó? Bằng cái chết chăng?. Cũng không phải vì dù có chết đi linh hồn cũng sẽ đầu thai thành một hiện thân khác, cao hơn hay thấp hơn trong tôn ti của tạo vật tùy theo cái nghiệp quả (karma) tốt hay xấu. Lối giải thoát là linh hồn cần tu luyện qua các đời kiếp để làm thanh sạch hết các nghiệp xấu. Lúc đó mới có thể đạt tới trạng thái Niết Bàn thanh tịnh được. Vì thế, Phật Giáo đã đề xướng những phương pháp thực hành như trầm tư mặc tưởng, thiền, cầu nguyện... để linh hồn có thể chóng về Đại ngã.

       Riêng luận về hiện tượng giới, nhà Phật cho rằng Chân Như vốn là cõi thường tịch toàn giác song trong thường tịch toàn giác vốn có sẵn cái vô minh. Vô minh là vọng niệm hốt nhiên có vọng niệm khởi ra là bởi vô minh. Bởi tại vô minh nên đang tịnh lại làm động, đang thuần nhất lại làm sai biệt. Vô minh sinh ra vọng niệm, đã có vọng niệm thành ra có sai biệt đối lập, có chủ quan khách quan, có tự ngã, có không thời gian và chính những sai biệt đối lập phát sinh ra vạn vật. Tuy nhiên, vạn vật không thể nào tồn tại ngoài Chân Như được. Chân Như tuy bị vô minh kích thích nên sinh ra diêu động, nhưng trong động vẫn có tịnh mà tịnh vẫn không rời động. Các triết gia nhà Phật thường ví Chân Như với vũ trụ hiện tượng như nước biển với sóng. Sóng không hẳn là nước nhưng cũng không lìa nước được. Nên sóng có thể coi như một thứ vọng niệm của nước biển bị diêu động.

       Phật Học cũng còn bàn đến Giải Thoát Luận, nhưng phần nầy thuộc về đức lý tôn giáo và phương pháp tu luyện cho con người có thể trở về với Niết Bàn tịnh tổ. Về vấn đề đức lý và phương pháp nầy, mỗi tông phái chủ trương một lối. Có phái chủ trương khổ hạnh (hạnh đầu đà) để tiêu diệt hết các chấp về thể xác. Có phái vụ về hành động để gây duyên lành tương trợ cho nội tâm. Trên đại thể, giải thoát luận của nhà Phật có đặt định những phương pháp tu luyện thể chất và tâm linh, cốt diệt trừ toàn bộ các chấp về thể xác, hết thảy các vọng niệm vô minh trong nội tâm, gội rửa hết các chấp tự ngã, biến nội tâm thành một tấm gương sạch bụi để trở lại trạng thái thường tịch, toàn giác và vạn năng.

       Tóm lại, xét cho kỹ các nền triết học trong Tam Giáo, nếu học thuyết của Lão dành cho một số người ít ỏi có một trình độ kiến thức siêu việt, hoặc học thuyết của Khổng thường chỉ vụ vào sự quy định một nền luân lý thực tiễn cho sự sinh hoạt xã hội thì học thuyết của nhà Phật lại rực rỡ muôn màu như những hạt kim cương lóng lánh trong lòng nhân thế, vượt hẳn lên trên Khổng Học cũng như Lão Học.

Mùa Phật Đản 2008 - Phật Lịch 2552
Lê Thương Thương (Lê Thương)
Richmond, Virginia

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com