arrow
Trang Nhà arrow  Văn arrow Văn arrow 43- NGHI ÁN LỆ CHÍ VIÊN - Văn Bá
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
43- NGHI ÁN LỆ CHÍ VIÊN - Văn Bá PDF Print E-mail

NGHI ÁN LỆ CHÍ VIÊN

Năm 1980, UNESCO làm lễ truy niệm 600 năm sinh nhật của Nguyễn Trãi một danh nhân Việt Nam. Học giả uyên thâm, yêu nước chân thành, tận tụy với quốc dân, ông lại là nhà mưu lược đại tài, nhà ngoại giao lỗi lạc, nhà văn ưu tú, tiên phong dùng chữ nôm để làm thơ. Ông được đứng chung với các vĩ nhân thế giới từng tranh đấu cho nòi gíông, hòa bình và nhân loại.
   Bị tru di tam tộc oan ức vì âm mưu thâm độc của gian thần, ông đựơc tẩy oan 22 năm sau, và hậu thế tôn thờ ông như một bực công thần.

Thân thế và sự nghiệp Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi (1380-1442) sinh năm 1380 ở Thăng Long tại nhà ông ngoại là quan tư đồ Trần Nguyên Đán.
   Thân Sinh Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, gốc làng Nhị Khê tỉnh Hà Đông, thời nho sinh nổi tiếng văn hay chữ tốt, được quan tư đồ Trần Nguyên Đán mời dạy cho trưởng nữ Trần Thị Thái.  Ứng Long dan díu với Thái, Thái có mang.  Ứng Long sợ bỏ trốn. Trần Nguyên Đán gọi về tha tội và gả con cho. Sau  Ứng Long đỗ Bảng Nhãn (1374) nhưng vì lỗi xưa thượng hoàng Trần Nghệ Tông không bổ quan, phải về Nhị Khê sống nghề dạy học.
   Lên năm tuổi Nguyễn Trãi theo ông ngoại hưu trí về Côn Sơn, được ông chăm nom dạy dỗ. Năm năm sau ông ngoại qua đời Nguyễn Trãi về với cha tại làng Nhị Khê để tiếp tục kinh sử cùng ba em trai.
   Lúc bấy giờ cơ nghiệp nhà Trần xiêu đổ. Năm 1400 Phụ Chính Lê Quí Ly truất phế vua Trần Thiếu Đế, mới ba tuổi, rồi tự xưng làm vua, niên hiệu là Hồ Quí Ly.
   Khi nhà Hồ mở khoa thi Thái Học Sinh đầu tiên, Nguyễn Trãi vừa đúng hai mươi tuổi thi đỗ, được bổ chức chánh chưởng đài ngự sử. Năm 1402  Ứng Long đổi tên là Phi Khanh được nhà Hồ phong chức Hàn Lâm Học Sĩ.
   Năm 1407 quân Minh mượn cớ phù Trần diệt Hồ, để xâm chiếm Viêt Nam.
   Hồ Quí Ly bị thua. Cuối tháng sáu năm 1407 giặc Minh bắt được cha con Hồ Quí Ly và một số quan tướng trong đó có Phi Khanh, cha Nguyễn Trãi giải về Kim Lăng.
   Nguyễn Trãi theo cha đến biên giới Việt Hoa, rồi tuán lời cha trở về nước lo trả thù nhà rửa nhục nước.
   Năm 1417 Lê Lợi khởi nghiã, Nguyễn Trãi cùng em họ là Trần Nguyên Hãn vào Lam Sơn xin gia nhâp đoàn giải phóng.
   Trần Nguyên Hãn dâng kiếm báu của nội tổ Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi dâng « Bình Ngô sách ». Chủ trương đánh vào lòng người. Lê Lợi khen hay, dùng Nguyễn Trãi làm Hàn Lâm thừa chỉ lo việc thảo văn thư, chiếu  hịch, tham dự bộ tham mưu và dùng Trần Nguyên Hãn làm quan võ.
   Năm 1428, kháng chiến toàn thắng Nguyễn Trãi được phong tước Quan Phục Hầu, Trần Nguyên Hãn được thăng tả tướng.
   Nhưng rồi đến lúc chim đã hết thì cung nỏ bỏ đi, muôn thú không còn thì chó săn bị ăn thịt, giặc tan hết thì công thần cũng chết.
   Trần Nguyên Hãn bị vua Lê Lợi ra lịnh tự tử, ông nhảy xuóng sông mà thác. Nguyễn Trãi bị giam một thời gian rồi được tha ra, về Côn Sơn ẩn dật.
   Năm 1433, Lê Lợi mất, Lê Thái Tông lên nối ngôi lúc mới 11 tuổi. Nguyễn Trãi được gọi ra làm phụ chính, nhưng ít lâu nhận thấy nịnh thần gièm xiểm, triều đình rối loạn, ông trở về Côn Sơn.
   Trong khi Nguyễn Trãi về Côn Sơn, Thị Lộ nàng hầu của Nguyễn Trãi, người rất am tường kinh sử, được phong « Lễ nghi Học sĩ », lưu lại tại kinh thành để dạy cung nữ và giảng sách cho vua, được vua ngày đêm kề cận tin dùng.
   Năm 1442, vua Lê Thái Tông, vừa đúng 20 tuổi, đi duyệt binh ở Chí Linh, có Thị Lộ theo hầu. Lúc về nghỉ đêm ở trại vải gần Côn Sơn. Nửa đêm, nhà vua băng hà một cách đột ngột. Thị Lộ bị cáo là đã giết vua, bị án tử hình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.
   Từ xưa các nhà sử học đều cho là vua Lê Thái Tông vì quá ái án với Thị Lộ tại Lệ Chi Viên từ trần vì «Thượng mã phong». Lúc bấy giờ nhà vua mới đúng hai mươi tuổi, Thị Lộ ba mươi.
   Chứng « thượng mã phong » chết trên bụng người phụ nữ trong lúc làm tình, do nhiều cảm xúc gây ra bởi người phụ nữ quá đẹp, quá trẻ, mới lạ. Giây thần kinh giao cảm của người đán ông xúc động quá sức, tim đâp quá mạnh quá nhanh, rồi bị liệt ngừng đập.
   Thị Lộ theo hầu vua Lê Thái Tông từ lúc vua mới mười một tuổi, giảng sách cho vua, và có lẽ là người đầu tiên chỉ dẫn nhà vua làm tình.
   Tại Lệ Chi Viên lúc bấy giờ Thị Lộ chẳng còn mới lạ gì đối với vua Lê Thái Tông. Bà dã quá thì, không còn cái đẹp mơn mởn đào tơ của thiếu nữ đôi tám xuân xanh. Nhà vua dầu ái ân suốt đêm với Thị Lộ, chứng « thưọng mã phong » không thể xảy ra được.
   Chúng ta hãy xem lại việc nầy từ đầu.
   Vua Lê Thái Tông có người vợ đầu tiên là Dương Thị Bi, được phong Hoàng Hậu, sanh ra hoàng tử Nghi Dân được giữ ngôi Đông Cung thái tử. Ít lâu sau Dương Thị Bi và Nghi Dân bị truất phế.
   Người vợ thứ nhì của Lê Thái Tông là Nguyễn Thị Anh, được phong Hoàng Hậu và đứa con bà, Hoàng tử Bang Cơ được lập Đông Cung thái tử. Cùng lúc ấy thứ phi Ngô Thị Ngọc Dao con thái úy Ngô Từ có thai. Điều sai lầm lớn của bà là khoe khấp nơi chiêm bao thấy Ngọc Hoàng sai một vị tiên xuống đầu thai vào bụng mình.
   Lẽ dĩ nhiên Thị Anh sợ rằng một khi bà Ngọc Dao sanh quí tử sẽ chiếm ngôi thái tử của Bang Cơ, nên vu Ngọc Dao ngoại tình và dùng bùa ngải mê hoặc vua. Nguyễn Trãi, Thị Lộ đem Ngọc Dao giấu ở chùa Huy Vân. Vài tháng sau Ngọc Dao sanh ra một trai đặt tên là Tư Thành (vua Lê Thánh Tông sau nầy).
Để tránh khỏi Thị Anh mưu hại, Nguyễn Trãi, Thị Lộ đưa hai mẹ con bà Ngọc Dao ra An Bang (Quảng Ninh). Từ đấy Thị Anh thâm thù Nguyễn Trãi, Thị Lộ.
   Thị Anh là người nhiều tham vọng, muốn đặt con mình là thái tử Bang Cơ lên ngôi Hoàng Thượng, sớm chừng nào hay chừng ấy, và bà sẽ nắm quyền nhiếp chánh. Ngôi Hoàng Hậu và thái tử rất mong manh. Nếu nhà vua gặp người thứ phi nào đẹp và  khôn  khéo hơn bà, thì bà sẽ bị truất phế như Dương Thị Bi, và luôn cả thái tử Bang Cơ.
   Tham vọng và hiểm sâu như Thị Anh thì không hành động sát nhơn nào  mà bà từ thoái. Muốn đạt mục đích thì vua Lê Thái Tông phải bị hy sinh. Bà mượn tay hai thái giám hầu cận ám sát vua và sau đó bà cho thủ tiêu hai thái giám. Thế là ổn.
   Về truyền thuyết rắn báo oán bà Thị Anh đã tìm ra được mưu thâm quỉ quyệt. Bắt Thị Lộ đóng cũi giải về kinh. Về đến nơi mở cũi ra chỉ thấy con rắn mãng xà. Vậy thì tiền thân Thị Lộ là mãng xà tinh. Thế là đủ bằng chứng rồi.
   Giả thuyết nầy chúng tôi được đọc trong bài báo của bác sĩ Dương Tấn Tươi đăng trong tuần báo « Mới », xuất bản tại Saigon khoảng năm 1952.
   Từ trước đến giờ các văn gia khi viết về Nguyễn Trãi, Thị Lộ, đều cho rằng Thị Lộ bị tra tấn cực kỳ dã man đã thú nhận hết tội lỗ. Với mưu mô thâm dôc của Thị Anh, thì chứng cớ đã rõ ràng, cần chi phải tra tấn. 
   Thảm kịch Nguyễn Trãi-Thị Lộ chúng tôi đã viết lại trong vở lệ chi viên nghi án.

LỆ CHI VIÊN NGHI ÁN
Thảm Kịch 9 hồi

Nhân vật: Nguyễn Phi Khanh
                  Nguyễn Trãi
                  Trần Nguyên Hãn
                  Thị Lộ                      
                  Lê Lợi
                  Lê Lai
                  Phạm Văn Xảo
                  Lê Thái Tông      
                  Tạ Thanh
                  Lương Dật
                  Đinh Liệt
                  Trịnh Khả    
                  Quân nhân Tàu

HỒI  I
Tại Ải Nam Quan

Nguyễn Phi Khanh
Nguyễn Trãi
Quân nhân Tàu

Nguyễn Phi Khanh: Trãi con ơi, nước Việt Nam ta ngày nay có sự biến loạn như vầy, nỗi quốc gia nghĩ càng đau dạ, cảnh gia đình tan tác phân ly. Con đã đưa cha đến  đây là vì phụ tử tình thâm, cha rất cảm động. Nhưng cha đã già rồi, con cứ coi cha như đã chết ở quê người. Con trở về lo cho vận nước, đánh đuổi quân tham tàn, dành độc lập tự do cho nước nhà, cứu sanh linh ra khỏi cái ách đô hộ bạo ngược của quân  Minh, thì dầu cha ở dưới suối vàng cũng mãn nguyện.
Quân nhân Tàu: Mau mau, đi lên mau.
Nguyễn Trãi : Con không đành để cha đi một mình sang đất khách, lúc đau ốm lấy ai săn sóc. Xin cha cho con theo hầu cha, phụng dưỡng cha để đền đáp ơn sinh thành dưỡng dục.
Nguyễn Phi Khanh : Con ơi ! Nợ nước nặng hơn tình nhà. Quân Minh đang giầy đạp giang sơn. Bốn phương khói lưả tưng bừng. Biết bao thảm họa xương rừng máu sông. Mỗi ngày qua là thêm tang tóc cho dân Việt, không thể trì huởn được.
   Chim khôn tìm cây lành mà đậu, người khôn tìm chân chúa mà thờ. Con là người thông minh, học rộng, nên tìm chân chúa để rửa nhục cho quốc thể và trả thù cha. Đó là chứng minh lòng hiếu thảo của con.
Quân nhân Tàu : Mau, mau, đi lên mau.
Nguyễn Trãi : Xin trời phật che chở cha nơi đất khách.
Quân nhân Tàu : Đi mau lên, đi mau lên.
Nguyễn Phi Khanh : Con đừng bịn rịn làm chi. Hãy về lo cho vận nước. Cha đi đây.
Nguyễn Trãi : Quân độc ác, tham tàn, đem cha đi đất khách quê người. Ta nguyền không đội trời chung với chúng bây.
Nhìn cha lần bước dậm khôi
Lệ con tầm tã tuôn rơi không ngừng

HỒI  II
Tại Trại Lam Sơn
Bình định Vương Lê Lợi
Tướng Lê Lai
Tướng Phạm Văn Xảo
Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn.

Cảnh Một
Phạm Văn Xảo (đi vào thưa) : Bẩm chúa công, có hai tráng sĩ, tôn thất nhà Trần, xin vào yết kiến.
Lê Lợi : Được, cho hai tráng sĩ vào.

Cảnh Hai
Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi (đi vô).

Trần Nguyên Hãn : Trần Nguyên Hãn, cháu nội quan tư đồ Trần Nguyên Đán , đến xin dâng gươm báu họ Trần, lưu truyền từ cố tổ Trần Quang Khải cho chúa công và xin đứợc gia nhập đoàn giải phóng Lam Sơn.
Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi, chánh chưởng đài ngự sử, con quan Hàn Lâm học sĩ Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại quan tư đồ Trần Nguyên Đán, đến xin dâng chúa công « Bình Ngô sách » và xin được gia nhập đoàn giải phóng Lam Sơn.
Lê Lợi : Từ ngày dựng cờ khởi nghiã, thế giặc rất hăng, mà nhân tài rất hiếm, lác đác như lá mùa thu ; tuấn kiệt như sao buổi sáng. Bôn tẩu thiếu kẻ đở đần, tính mưu dưới trướng hiếm người bàn bạc. Trông người tài, người càng vắng ngắt, vẫn mịt mờ như trông ra biển.
   Dẫu rằng ta có hai tướng tài : Phạm Văn Xảo và Lê Lai trợ giúp, nhưng khôi phục cơ đồ nước Việt là một công trình lớn lao, vài con én không làm nên mùa xuân. Được hai tráng sĩ đến giúp, thật là lòng trời còn tựa nước Việt Nam. Ta nghe tiếng hai tráng sĩ từ lâu, hôm nay được gặp mặt thật rất hân hoan. Ta được hai tráng sĩ giúp cho, thì chẳng khác năo Lưu Bị được gặp Phục Long « Khổng Minh » và Phụng sồ « Bàng Thống » (1)
   Tráng sĩ Tràn Nguyên Hãn sẽ cúng hai tướng Lê Lai và Phạm Văn Xảo coi về võ bị. Tráng sĩ Nguyễn Trãi sẽ giúp ta ở tham mưu.
   Chúng ta rút gươm ra cùng thề với trời đất.   
 (1) Phục Long, Phụng Sồ, được một trong hai người ấy, thì lo gì chẳng yên thiên hạ.      
  (Tam Quốc chí).
Lê Lợi, Lê Lai, Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi  (đồng ca) :
Ta tráng sĩ hề gặp thời loạn lạc
Múa kiếm vung gươm hề ta vẫy vùng,
Ngang dọc non sông, mặc tình thao túng,
Lũ giặc kia, thề chẳng đội trời chung.
Lao khổ gian nam, thề không nao núng
Dân Việt từ xưa, nòi giống anh hùng.
Diệt lủ hung đồ đuổi quân cường bạo,
Quyết tâm phục quốc chẳng nề gian truân.
Trời đã trao ta thi hành nhiệm vụ,
Nếm mật nằm gai phải vượt đến cùng,
Một lòng chung sức giải thoát non sông.

Ban Hợp ca hòa tấu bản.
«Bóng người núi Lam»
và tiếp theo hùng ca bản hành khúc:
« Một ra đi là không trở về »
Sử chép :
Sau 10 năm kháng chiến, vào sanh ra tử, Lê Lợi đã đuổi được quân Minh, khôi phục đất nước, lên ngôi tức vua Lê Thái Tổ.
 Nguyễn Trãi thảo bài «Bình Ngô đại cáo”  để bá cáo cho nhân dân biết.
 Lê Thái Tổ phong thưởng các tướng sĩ.

Hồi III
(Đoạn nầy viết theo «Bình Ngô đại cáo»)

Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn.

Lê Lợi :
Lam Sơn dấy nghiã
Chốn hoang dã nương mình
Ngắm non sông căm nỗi thế thù,
Thề sống chết cùng quân nghịch tặc.
Đau lòng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa,
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Nghiền ngẫm những pho thao lược đến cả quên ăn
Suy tính mưu toan ngày đêm không nghỉ.
Dựng cờ kháng địch, tụ tập bốn phương,
Mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào,
Khắp tướng sĩ một lòng phụ tử.
Thế giặc mạnh, ta yếu, mà ta địch nổi, vì ta đánh bất ngờ.
Quân địch nhiều, ta ít mà ta thắng luôn, vì ta dùng mai phục.
Đem đại nghiã để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Phạm Văn Xảo :
Trận Bồ Đằng, sấm vang sét dậy
Miền Trà Lân trúc chẻ  tro bay.
Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh,
Trần Trí, Sơn Thọ, mất viá chạy tan,
Phương Chính, Lý An, tìm đường chạy trốn.
Đánh Tây Kinh phá tan thế giặc,
Lấy Đông Đô thu lại cõi xưa,
Trận Ninh Kiều máu chảy thành sông,
Trận Tốt Động thây phơi đầy nội.
Trần Hiệp đã thiệt ùạng, Lý Lượng lại phơi thây
Vương Thông hết cấp lo lường, Mã Anh khôn đường cứu đỡ.
Vua Tuyên Đức nhà Minh hiếu chiến sai Liễu Thăng, Mộc Thạnh đem dầu chữa cháy.
Năm Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng từ Khâu Ôn tiến sang,
Tháng mười Mộc Thạnh tự Vân Nam kéo đến.
Ta phục binh giữ hiểm, đập gãy tiền phong,
Lại sai tướng sĩ chẹn ngang cắt ngăn lương đạo.
Ngày mười tám Liễu Thăng thua ở Chí Lăng
Ngày hai mươi Liễu Thăng bỏ thây ở Mã Yên,
Ngày hăm lăm Lương Minh trận vong,
Ngày hai mươi tám Lý Khánh kế cùng đành thắt cổ.
Trần Nguyên Hãn :
Lưỡi dao ta đang sắc, ngọn giáo giặc phải lùi.
Đánh trận đầu kình sấu nát thây
Đánh trận nữa chim muông tan tác.
Thôi Tụ phải quì phục tội.
Hoàng Phúc tự trói để ra hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường.
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà vở mật,
Quân Mộc Thạnh, tan nơi Cầu Trạm chạy để thoát thân.
Lãnh Câu máu đổ hòa giòng, nước sông rền rĩ.
Đan xá thây chồng chất núi, cỏ nội nhuộm hồng,
Cứu binh hai lộ kéo sang, vừa đến nơi đã cắm đầu chạy trốn.
Cường khấu các thành khiếp hãi, mau cởi giáp ra hàng.
Tướng giặc bắt về, chúng xin thương hại vẫy đuôi cầu sống.
Nguyễn Trãi :
Thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.
Bọn Mã Kỳ, Phương Chính được cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực.
Lũ Vương Thông, Mã Anh thì cho mấy ngàn ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi.
Chúng sợ chết xin hàng, ngỏ lòng thú phục.
Ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi.
Giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ đây vững bền.
Nền vạn thế xây nên chăn chắn,
Thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu.
Thế là nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng che chở, giúp đỡcho nước ta vậy.
Lê Lợi :
Đây là lúc phong thưởng cho các công thần.
Tham mưu Nguyễn Trãi từ nay là Quan Phục Hầu.
Tướng Trần Nguyên Hãn lên tả tướng quân,
Tướng Phạm Văn Xảo, vinh thăng Thái úy.
Nhưng than ôi ! Rất nhiều chiến sĩ bị hy sinh, đau đớn nhứt là tướng Lê Lai liều mình cứu cả chúng ta. Truyền cấp cho con cháu Lê Lai 100 mẫu ruộng để phụng thờ tổ tiên.
 
Dã sử khẩu truyền:

Nguyễn Trãi trong lúc nhàn rỗi về Côn Sơn tu bổ cơ nghiệp của ngoại tổ, truyền cho gia nhân đốn các lùm cây trong vườn để lập vườn hoa và ao sen. Công việc bắt đầu ngày hôm sau lúc 5 giờ sáng (giờ Hợi).

HỒI IV
Cảnh 1
Trại Côn Sơn

Nguyễn Trãi đang đọc sách, mệt thiu thiu ngủ, bỗng thấy một người đàn bà bước vô phòng.
Người thiếu phụ : Đội ơn tướng công, mẹ con thiếp lâu nay nương náu trên đất của tướng công. Ngày mai tướng công ra lệnh cho gia nhân phá các lùm cây, đó là quyền của tướng công, mẹ con thiếp sẽ tìm nơi khác nương náu, nhưng xin tướng công hoãn lại một ngày cho mẹ con thiếp đủ thì giờ dọn đi ...
   Nguyễn Trãi bừng mắt dậy, người thiếu phụ biến mất.

Cảnh 2
   Sáng hôm sau Nguyễn Trãi thức giấc vưà đúng ngọ.
Người quản gia (bước vô thưa) : Bẩm tướng công, gia nhân đã đốn sạch các lùm cây trong vườn.
Nguyễn Trãi : Có chi trở ngại không ?
Người quản gia : Bẩm tướng công, có một bầy rắn làm ổ trong lùm cây phiá Bắc. Gia nhân đã giết hết năm con, còn rắn mẹ chạy thoát nhưng bị chặt đứt đuôi.
Nguyễn Trãi : A !
(rồi đăm chiêu, không nói chi hết).

Cảnh 3
   Tối hôm sau Nguyễn Trãi đang ngồi đọc sách bỗng giật mình, một giọt máu từ trên mái nhà rơi xuống trang sách ngay chữ « tộc » và thấm qua ba trang sách.
Nhìn lên trần con rắn cụt đuôi đang bò trên kèo nhà.
   Nguyễn Trãi không phải là người tin dị đoan, nhưng ông cũng ái ngại.
Nguyễn Trãi : Ba trang sách là tam đúng vào chữ tộc là tam tộc. Ba thế hệ đẫm máu. Tại sao lại ba thế hệ ? Dầu ta có làm tội chi, thì tại sao con cháu phải chịu mang hậu quả ?

Cảnh 4
Người quản gia (bước vô thưa) : Trình tướng công, có nhà sư Vô Kỵ đến thăm.
Nguyễn Trãi : Mời Đại Đức vào.
 Nhà sư Vô Kỵ bước vô.
Nguyễn Trãi : Đại Đức đến vừa đúng lúc lắm. Tôi đang thắc mắc về một điềm quái gở. Hôm qua gia nhân dọn vườn đốn cây, có giết một bầy rắn. Rắn mẹ bị đứt đuôi chạy thoát.
   Vừa rồi tôi đang ngồi đọc sách thì một giọt máu trên trần nhà rơi xuống trúng vào chữ «tộc» và thấm qua ba trang sách. Nhìn lên kèo nhà, tôi thấy con rắn cụt đuôi đang thoát ra ngoài.
Nhà sư Vô Kỵ : Điều nầy thì cũng đáng cho ta suy nghĩ. Nhưng nếu ta đừng phạm ngũ giới của nhà Phật, thì có lẽ tránh được mọi gian khổ, tai nạn : sát, đạo, dâm, vọng, tửu, năm điều nhà Phật cấm, thì ta nên kiên. Nhứt là đừng đam mê tửu, sắc thì tránh được mọi phiền hà.
Nguyễn Trãi : Đạo Nho cũng có tứ đổ tường để răn người, tương tợ như thế :
Tửu, sắc, tài, khí, tứ đổ tường
Đa thiểu hiền ngu tại nội sương
Nhược hữu thế nhân khiêu đắc xuất
Tiện thị thần tiên nhất hữu phương.
Nhà sư Vô Kỵ : Thánh nhân cũng dạy như lời Phật. Tránh tửu sắc, thì tránh mọi phiền não. Lo chi những điềm quái gở ấy.
Nguyễn Trãi : Cám ơn Đại Đức.
Nhà sư Vô Kỵ : Ngày mai tôi lại lên đường, đi tá bà thế giới. Xin từ biệt ngài.
Nguyễn Trãi : Chúc Đại Đức lên đường được bình an vô sự.

HỒI V
Trần Nguyên Hãn
 Nguyễn Trãi
 Thị Lộ (cô bán chiếu)
Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn đi dạo Hồ Tây.
Trần Nguyên Hãn : Chẳng mấy khi được nhàn rỗi, đi dạo Hồ Tây như thế nầy ! Gió mát, trăng thanh, phong cảnh hữu tình.
Cô bán chiếu : Hò ơ, chiếu Hồ Tây đã dầy lại ấm, nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu.
Chiếu nầy chẳng dể kiếm đâu, mua để gối đầu những lúc canh khuya. Chiếu nầy tự tay tôi dệt lấy, tôi đă chọn từng cọng lác sợi gai, biết bán cho ai, ai người xứng đáng ?
Bọn phàm phu tục tử, mua tôi không bán, thà tôi để tặng không cho bậc tài tử danh nhân, những người văn vật, những trang anh hùng.
Trần Nguyên Hãn : Cô bán chiếu nầy coi bộ đanh đá dữ a !
Nguyễn Trãi :
Ả ở đâu đi bán chiếu gon
Hỏi thăm chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân xanh nay được bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa được mấy con ?
Trần Nguyên Hãn : Đại huynh xổ bầy dê ra đó hả ?
Cô bán chiếu :
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
Việc chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân xanh nay được trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, có chi con.
Hoa còn phong kín nhị đào
Đợi người quân tử anh hào sẽ hay.
Nguyễn Trãi :
Trẻ trung đẹp đẻ như ai
Sao không tìm chốn khuê đài gởi thân ?
Cô bán chiếu :
Trông ông là bậc văn nhân
Liễu thơ xin gởi tấm thân cát đằng.
Nguyễn Trãi :
Lại đây xem lại cho gần
Phỏng còn tin được mươi phần cho chăng?
Trần Nguyên Hãn : Xin can đại huynh ! Bà cả ở nhà mà hay được thì chết cả đám đó, đại huynh ơi !
Cô bán chiếu đến gần Nguyễn Trãi cuối đầu thưa :
Nghìn trùng mong bóng tùng quân
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng.
Nguyễn Trãi :
Đào non mơn mởn trên cành
Mày ngài mắt phượng tánh danh là gì?
Đã thông chữ nghiã thế kia
Sao chi cực nhọc với nghề bán rong?
Cô bán chiếu :
Đội ơn chàng có thật lòng
Thiếp tên Thị Lộ vốn dòng nho gia
Thông huyên cưỡi hạc đã xa
Bán buôn độ nhựt cho qua tháng ngày.
Ngẫm duyên kỳ ngộ mà may,
Ông tơ Bà Nguyệt xe giây xích thằng.
Nguyễn Trãi :
Rồi ta sẽ tiến cử nàng
Vào trong nội điện dạy đàn cung phi.
Thị Lộ :
Theo chàng em sẽ cùng đi
Chân trời gốc bể mấy khi ngại ngùng.
Nguyễn Trãi :
Cùng nhau ta bước thong dong
Hai lòng như một.
Thị Lộ :
Một lòng như hai.
(Nguyễn Trãi cầm tay Thị Lộ).
Trần Nguyên Hãn : Đại huynh già mà còn chơi trống bỏi, thì có ngày thiệt thân đó, đại huynh ơi !

HỒI VI
Cảnh 1

Tại phòng khách, Nguyễn Trãi,Thị Lộ đang đọc sách, thì Trần Nguyên Hãn bước vô.
Trần Nguyên Hãn : Hiền huynh đã biết tin chưa ?
Nguyễn Trãi : Tin chi ?
Trần Nguyên Hãn : Phạm Văn Xảo vừa bị khai trừ.
Nguyễn Trãi : Vì lý do gì ?
Trần Nguyên Hãn : Dũng lược át cả chủ thì khốn thân, công lớn trùm cả đời là mất thưởng.
Thị Lộ : Còn nhiều lý do khác. Vua Lê là người cổ cao mũi nhọn, tướng giống Việt Vương Câu tiễn, hoạn nạn thì cùng chung lo, mà giàu sang thì không cùng hưởng.
Nguyễn Trãi : Chim đã hết, thì cung nỏ bỏ đi, giảo thỏ chẳng còn thì chó săn sẽ bị ăn thịt, giặc tan hết thì công thần cũng chết.
Trần Nguyên Hãn : Đệ xin từ quan, cáo lão qui điền về Sơn Tây quê nhà, để ẩn dật, kẻo sau nầy không còn lối thoát.
Nguyễn Trãi : Có lẽ ta cũng noi gương hiền đệ.
Trần Nguyên Hãn : Xin từ giã đại huynh, hiền tỷ. Tiểu đệ phải gấp rút lo thoát thân.
(Trần Nguyên Hãn đi ra).

Cảnh 2

Thị Lộ : Chú Hãn không thoát được đâu ! Y như lời chú nói vưà rồi : Dũng lược át cả chủ thì khốn thân, công lớn trùm cả đời là mất thưởng. Ngoài ra còn lý do chánh là chú ấy họ Trần. Vua quan nhà Minh chưa chịu sắc phong cho vua Lê, họ đang tìm một tôn thất nhà Trần, được dân chúng yêu chuộng đặt lên ngôi. Vua Lê thà thủ tiêu chú Hãn trước, chớ không để cho chú Hãn bị vua quan nhà Minh lợi dụng.
Nguyễn Trãi : Phần ta chưa quyết định ra sao.
Thị Lộ : Tướng công thì không việc gì. Tướng công là quan văn trói gà không chặt, thì ai sợ tướng công. Vả lại tướng công họ Nguyễn, thì vua quan nhà Minh không đến tìm tướng công để đặt lên ngai vàng.
Nguyễn Trãi : Nhưng giữa triều đình hỗn loạn như thế nầy, gian thần gièm pha, thiệt giả khó  phân, đục trong ai biết. Ta dù có lưu lại tại triều đình, thì cũng chẳng ích gì cho tổ quốc, chi bằng ta rút lui chờ một ngày mai tươi sáng. Ta về Côn Sơn ẩn dật, làm thi phú, còn có ích cho hậu thế hơn là lưu lại đây.
Thị Lộ : Nhưng thiếp chưa từng sống ở đồng quê. Thiếp ngại rằng không chịu nổi cuộc đời dân dã ở Côn Sơn.
Nguyễn Trãi : Nàng cứ ở lại đây, làm Lễ Nghi học sĩ dạy các cung nữ, cùng giàng sách cho thái tử.
Thị Lộ: Thiếp không nở rời Tướng công. Tướng công là ân nhân của thiếp. Nhờ Tướng công thiếp mới được bổ chức «Lễ Nghi học sĩ».
Tướng công về Côn Sơn thì ai hầu hạ săn sóc Tướng công ?
Nguyễn Trãi : Nàng đừng lo việc ấy. Ta có nhiều người thân tín ở Côn Sơn. Ngáy mai ta sẽ xin Hoàng Thượng đặc ân cho ta về quê dưỡng lão.
Sử chép :
Trần Nguyên Hãn trên đường về Sơn Tây được lệnh nhà vua bất tự sát. Uất ức ông nhảy xuống sông tự tử.
Nguyễn Trãi bị giam một thời gian rồi đứợc tha, về Côn Sơn ẩn dật.
Lê Thái Tổ (Lê Lợi) làm vua được sáu năm thì mất. Ây là năm Qúi Sưủ 1433. Ngài thọ 49 tuổi.
Vua Lê Thái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi. Thị Lộ bấy giờ là Lễ Nghi học sĩ dạy cung nữ và giảng sách cho vua, được vua ngày đêm kề cận tin dùng.
Nhờ có sự hướng dẫn của Thị Lộ  mà vua Thái Tông đã trị vì một cách khoan từ sáng suốt. Sử thần Vũ Quỳnh khen : Thị Lộ đã cảm hóa được Lê Thái Tông, thuyết phục vua chăm chỉ đèn sách, lại giúp vua nhiều ý kiến để sưả trị nước, trở thành một minh quân.
Tháng bảy năm Nhâm Tuắt 1442, vua Lê Thái Tông đúng 20 tuổi đi duyệt võ ở Chí Linh. Trong lúc ấy Thị Lộ được về Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi.
Lúc vua Lê Thái Tông về ngang Côn Sơn Thị Lộ được lệnh theo nhà vua về triều.
Ngày 9/7 xe giá Thái Tông đến Lệ Chi Viên, tục gọi là trại vải, ở làng Đại Lai huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, xe giá dừng lại đấy một đêm.
 
HỒI VII
Cảnh một:

Tại Lệ Chi viên
Vua Lê Thái Tông
Thị Lộ
Hai viên thái giám.
Thái Tông: Ta dừng lại đây nghỉ một đêm, thật là tuyệt diệu. Trẩm chưa thấy  nơi nào phong cảnh hữu tình như đây.
Dọn tiệc rượu trong vườn để ta cùng Lễ Nghi học sĩ thưởng gió mát trăng thanh.
Thái giám: Xin tuân lịnh bệ ha.  Lúc nầy cuối mùa vải, nhưng tại Lê Chi viên vẫn còn một ít. Hạ thần sẽ chọn những chùm vải ngon dâng cho Hoàng Thượng thưởng thức.
Thái Tông quay sang Thị Lộ hỏi: Quan phụ chính Gián nghị đại phụ vẫn khỏe mạnh đấy chứ?
Thị Lộ: Tâu bệ hạ, quan Gián nghị đại phu vẫn khỏe mạnh, nhưng ngài không thiết đến việc triều chính nữa, chỉ khuây khoả trong thơ rượu.
Thái Tông : Lễ Nghi học sĩ, khanh hãy đọc cho ta nghe một vài bài thơ của quan phụ chính Gián nghị đại phu.
Thị Lộ : Xin tuân lịnh bệ hạ:
Am trúc hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến cõi yên hà ?
Bữa ăn dù chỉ có dưa muối
Aó mặc nài chi lọ gấm là
Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống hương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dưng dửng ca.
Thái Tông : Đúng là tâm sự của nhà ẩn sĩ xuất thé.
Thị Lộ : Gián nghị đại phu còn nhiều thơ luân lý đạo đức, như bài « kiên giận ».
Giận làm chi cho tổn khí hoà
Nào từng có ích, nhọc mình ta
Nẻo đưa khí huyết quên nhân nghĩa
Hoà mất nhân tâm, nát cửa nhà.
Mấy phút âm thầm dường tích lịch
Một cơn lừng lẫy tựa phong ba
Đến khi tỉnh mới ăn năn lại
Nhẫn cả xong, thì vạn sự qua.
Thái Tông: Hay Đấy! No mất ngon, giận mất khôn.
Thị Lộ rót rượu mời Thái Tông :
Mời bệ hạ nhấp chén Quỳnh Tương.
Thái Tông: Thơ hay thì phải thưởng thức với rượu nồng.  (Bưng chén rượu lên uống cạn)
Thị Lộ: Thiếp xin đọc bệ hạ nghe bài Giới Sắc:
Sắc là giặc đam làm chi
Thửa trọng còn phòng có thửa suy
Trụ mất quốc gia vì Đắt Kỉ
Ngô lià thiên hạ bởi Tây Thi
Bại tan gia thất đời thường thấy
Tổn hại tinh thần sự ích chi?
Phu phụ đạo thường chăng được chớ
Nối tông hòa phải một hai khi.
Thái Tông: Rót cho trẩm một chén rượu nữa. Hay lắm! Hay lắm ! Nhưng Gián nghị đại phu làm bài giới sắc để răn mình hay răn người? Nếu để răn mình thì có lẽ cũng hơi muộn.
Thị Lộ: Bệ hạ khe khắt quá với Gián nghị đại phu. Tâu bệ hạ bài hoa nhài của Gián nghị đại phu, làm thiếp lo ngại cho tương lai của thiếp.
Thái Tông : Bài thơ như thế nào ?
Thị Lộ :
Hồng nhan như những cánh hoa nhài
Một phen mưa gió sẽ tàn phai
Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận
Hồng nhan kia chớ cậy mình thay.
Hồng nhan bạc phận. Thiếp lo ngại cho thân phặn thiếp.
TháiTông: Trong triều, khanh không được hạnh phúc sao ?
Thị Lộ : Tâu bệ hạ, hiện giờ nhờ ơn bệ hạ chiếu cố thiếp rất yên lòng. Nhưng trong triều còn nhiều người ghen ghét thiếp. Một mai nhan sắc tàn phai, bệ hạ không còn chiếu cố đến thiếp nữa, thiếp sợ bệ hạ sẽ sa thải thiếp và nhũng người ghen ghét khai trừ thiếp.
Thái Tông : Ai ghen ghét khanh ?
Thị Lộ : Thiếp không dám vu cho ai hết.
Thái Tông: Khanh muốn nói Hoàng Hậu phải không?
Thị Lộ : Tâu bệ hạ, từ ngày thiếp đưa thứ phi Ngọc Dao và Hoàng Thân Tư Thành đi trốn ra An Bang, thì Hoàng Hậu càng thâm thù thiếp. Thứ phi Ngọc Dao là người đoan chánh, trung thành với bệ hạ, và hoàng thân Tư Thành chính là con bệ hạ. Nếu thiếp không cứu hai người ấy thì sau nầy bệ hạ sẽ mang tiếng là bất công và thất đức.
Thái Tông : Trẩm đã rỏ việc nầy và khen  khanh rất khéo léo xấp đặt mọi việc yên ổn. Trẩm sẽ luôn luôn bão vệ che chở cho  khanh, không ai dám động đến  khanh đâu.
Thôi khuya rồi, Lễ Nghi học sĩ hãy vào trong dọn giường màn cho trẩm nghỉ.

HỒI VIII
Cảnh 1

Giửa đêm khuya, Thị Lộ mặc quần áo ngủ, chạy ra ngoài hớt hãi kêu lớn:
Thái giám, thái giám, các thái giám đâu rồi?  Hoàng Thượng mệt nặng.
Không ai trả lời.
Thái giám, thái giám, Hoàng Thượng mệt nặng, đi tìm ngự y.
Không ai trả lời.
Trời ơi! Mấy ông thái giám đi đâu hết rồi! Biết làm sao đây?
Thái giám, thái giám, Hoàng Thượng mệt nặng.
Hai ông thái giám: Tạ Thanh, Lương Dật đi vào.
Tạ Thanh : Việc chi khẩn cấp ?
Thị Lộ : Hoàng Thượng mệt nặng.
Tạ Thanh bảo Lương Dật : Đi tìm ngự y, ta vào trong chầu Hoàng Thượng.
Lương Dật chạy ra ngoài, Tạ Thanh và Thị Lộ đi vô trong.

Cảnh 2
Tạ Thanh và Thị Lộ trở ra.
Lương Dật đi vô.
Tạ Thanh: Hoàng Thượng đã băng.
chỉ Thị Lộ
Chính nhà ngươi đã đầu độc Hoàng Thượng. Chiều hôm qua Hoàng Thượng vẫn khoẻ mạnh như thường, có lý nào băng hà một cách đột ngột như vậy?
Quay lại bảo Lương Dật.
Xấp đặt xe giá đưa di thể Hoàng Thượng về kinh. Không tiết lộ cho ai biết, và đóng cũi nhốt Thị Lộ dem về kinh thành tra khảo.

HỒI  IX

Tại Triều.
Tướng Đinh Liệt và Trịnh Khả đọc bản án:
Nguyễn Trãi âm mưu giết Hoàng Thượng, cho một yêu tinh đội lốt nguời đàn bà, lấy tên là Thị Lộ, vào cung để đầu độc vua. Các thái giám đóng cũi giải Thị Lộ về kinh. Về đến nơi nàng hiện nguyên hình là con rắn mãng xà.
Tội Nguyễn Trãi không còn chối cãi được nữa. Truyền cho tru di tam tộc.
Sử chép :
Mùa thu năm Nhâm Tuất 1442 ngày 12 tháng 8, thái tử Băng Cơ mới 2 tuổi lên ngôi, tức vua Lê Nhân Tông.
Thái Hậu Từ Tuyên, tức Nguyễn Thị Anh làm nhiếp chánh. Trịnh Khả làm phụ chánh.
Nhân Tông trị vì được 17 năm, thọ 19 tuổi.
Năm Kỷ Mão (1459), Hoàng Tử Nghi Dân giết Nhân Tông và Hoàng Thái Hậu, rồi tự xưng làm vua. Hoàng Tử Nghi Dân, Lạng Sơn Vương, trưởng tử của vua Thái Tông, trước đã làm Thái Tử, sau vì người mẹ Dương Thị Bi phải tội nên bị truất phế.
Các quan đại thần không phục giết Nghi Dân và rước người con thứ tư vua Thái Tông là Bình Nguyên Vương Tư Thành lên làm vua tức vua Lê Thánh Tông. Bình Nguyên Vương Tư Thành con của thứ phi Ngọc Dao, trước nhờ Thị Lộ đưa hai mẹ con trốn ra An Bang, tránh khỏi lưỡi gươm của Thái Hậu Từ Tuyên Nguyễn Thị Anh.
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, truy phong chức Đặc tiến Kim Tử Vĩnh Lộc đại phu tước Tán Trù bá và cho người con duy nhất trốn thoát nạn là Nguyễn Anh Vũ làm Tri Huyện, và cấp cho một trăm mẫu ruộng để lo việc thờ cúng. 

Vua Lê Thánh Tông thọ 56 tuổi, trị vì 38 năm, một trong những triều đại lâu dài và thịnh trị nhứt trong lịch sử Việt Nam.

VĂN BÁ (Paris)

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com