arrow
Trang Nhà arrow  Biên Khảo arrow Biên Khảo arrow 43- CÔ KIỀU VỚI PHẠM QUỲNH - Phạm Thị Nhung
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
43- CÔ KIỀU VỚI PHẠM QUỲNH - Phạm Thị Nhung PDF Print E-mail

Kiều Với Phạm Quỳnh
(Kỳ 2)

THAY LỜI GIỚI THIỆU
***
Trước tình cảnh gia vong quốc phá,
Cố nâng cao văn hoá cho dân.
Nam Phong phổ biến xa gần:
Bảo tồn quốc túy, chuyên cần tiếng ta.
Vì giúp nước cứu nhà hoạn nạn
Kiều với Quỳnh dầy dạn như nhau,
Đào tơ, quân tử, nát nhàu,
Giấy hoen, hồn giữ một màu trung trinh.

(Bình Huyên)

2.3. Những Tháng Năm Làm Báo Nam-Phong (1917-1932)
2.3.1 Lý Do Thành Lập Báo Nam-Phong Năm 1917 phủ Toàn-Quyền Pháp, qua đại diện Louis-Marty, đề nghị Phạm Quỳnh đứng ra lập một tờ báo quốc văn làm cơ quan tuyên truyền tin tức trong nước.
   "Mục đích chính trị cấp thời (là) phục vụ cho việc chiến thắng của Pháp trong trận giặc bấy giờ … Marty cũng nhắm một mục đích lâu dài hơn, là đem cái hay cái đẹp của văn minh Pháp tuyên truyền ra dân chúng dưới khẩu hiệu "khai hoá", gây một cơ sở vững chắc là cơ sở tinh thần cho cuộc bảo hộ."

   Trước đề nghị ấy, Phạm Quỳnh nghĩ gì? Nói một cách khác, đâu là những lý do chính yếu khiến Phạm Quỳnh chấp nhận đứng ra thành lập Nam-Phong Tạp-Chí?
Qua bài phỏng vấn của Đào Hùng trên báo Phụ-Nữ Tân-Văn, Sài Gòn ngày 18-6-1931, Phạm Quỳnh cho biết: "Tôi sở dĩ nhận mở báo Nam-Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu. Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn." (Tài liệu Phạm Thế Ngũ, Lịch Sử Văn Học Việt Nam, q.III, Phạm-Thế xb 1965, in lần thứ 3, Phạm Ngũ Lão 1972)
Và qua một số bài của Phạm Quỳnh đăng rải rác trên Nam-Phong, ta dần dần phanh phui thêm được những lý do khác đã đưa ông tới quyết định chấp nhận hợp tác với Pháp thành lập tờ báo Việt ngữ này.
Thật thế, trong hoàn cảnh quốc phá gia vong bấy giờ, Phạm Quỳnh nhận thấy, Pháp không chỉ đánh bại ta bằng vũ lực, mà còn đang tấn công ta trên mặt trận văn hoá và giáo dục. Cái học cũ nay mai được bãi bỏ, cái học mới mỗi ngày một tràn lấn, các tư tưởng văn hoá tây phương đang được Pháp chủ tâm truyền bá sâu rộng trong đại chúng. Vẫn hay cái học mới ấy, những tư tưởng cấp tiến và thực tiễn của tây phương ấy, bấy giờ rất cần thiết cho ta trên đường văn minh tiến bộ để theo kịp người; các nhà ái quốc chẳng đã nhận thấy như thế nên nhất trí cổ võ, truyên truyền đó sao ? Nhưng ta cần phải hiểu rằng, chính nó cũng đang phá hoại tận gốc rễ ý thức hệ của dân tộc ta, đang làm xáo trộn xã hội ta.
Theo Phạm Quỳnh, nếu "đồng nhân" không được đưa đường, chỉ nẻo, thì sẽ dễ dàng đi vào cao trào duy tân một cách hấp tấp, vô ý thức, dần dần sẽ đi đến tình trạng bị "tiêu hồn", "mất gốc", "tây hoá", đúng theo sở ý của thực dân Pháp. Đó mới thập phần nguy hại, vì "xưa kia có mất nước, song hồn hãy còn, mà hồn còn thời nước không đến nỗi mất hẳn, nay có khác là nước mất mà hồn cũng thoi thóp thời nguy hiểm biết dường nào!"
Nhìn thấy trước mắt cả một "xã hội sốc nổi" giao thời Âu Á, cựu tân, bày ra lắm trò lố lăng, "thương phong hoá, bại cương thường", Phạm Quỳnh không khỏi rùng mình. Ông thầm nhủ:"Vận mệnh là vận mệnh chung cả một nước, mỗi người tất có một phần trong cái vận mệnh ấy…Mỗi người phải tuỳ theo sức, ghé vai mà gánh vác." Riêng ông, "Đường học mới được thiệp-liệp đôi chút, nền nếp xưa chưa đến nỗi sao lãng hẳn, tưởng cũng có một phần việc nhỏ trong cái công lớn lao tô-bồi cho tổ quốc buổi ấy”. Phần việc nhỏ đó chính là "đem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời, tìm phương pháp giải quyết cho thoả đáng…chi  bảo cho đồng nhân biết". Theo Phạm Quỳnh, "nghĩa vụ đó đủ cao thượng, đủ xứng đáng cho kẻ trí thức nước ta tận tụy mà làm cho trọn." (Thơ Cho Bạn, 1919, Thượng-Chi Văn Tập, IV).

   Sau hết, Phạm Quỳnh còn có một mục đích tối thiết nữa là dùng tờ báo làm phương tiện vận động, xây dựng văn hoá dân tộc, nhằm phát huy chủ nghĩa quốc gia, và gây lấy tinh thần tự lập cho quốc dân để mong có ngày giải phóng cho dân tộc:"Ta phải tìm cách gây lấy một nền tảng văn hoá riêng, tham bác cả hai tinh thần Âu Á…chính là một sự yếu cần cho lẽ sinh tồn…phải biết rằng dân tộc ta muốn tìm đường giải phóng, tìm đường tự lập, duy có cách đó mới mong kiến hiệu được…Xin quốc dân ta nhơ ùcho rằng cứ tình thế nước ta ngày nay, vận động về đường chính trị không bằng vận động về đường văn hoá…" (Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây, Nam Phong số 84, 1924).
Tóm lại, theo Phạm Quỳnh, "cái vốn chung của một nước chính là gồm những công phu rêng của mỗi người" (Nghĩa Vụ Là Gì, 1917). Như thế không nhất thiết đánh giặc, hoạt động cách mạng mới là yêu nước, mà làm văn hoá có lợicho dân tộc, giúp "cho quốc hồn được tỉnh táo, cho quốc vận được sáng sủa" cũng là yêu nước!
“Nhưng muốn hoạt động thì phải có phương tiện”. Ngày nay mọi sinh hoạt của ta đều bị chính quyền bảo hộ kiểm soát gắt gao, hoạt động cách mạng văn hoá ôn hoà như nhóm Đông-kinh Nghĩa-thục cũng bị Pháp bóp chết. “Vả lại, làm văn hoá không phải là một công tác ngắn hạn, nó đòi hỏi ta nhiều cố gắng và sự liên tục lâu dài. Nay tự dưng Pháp trao vào tay ta cái phương tiện cần có ấy để hoạt động, nó lại là cái bóng cho ta núp, sao ta không nắm lấy, lợi dụng nó để phục vụ cho cái lý tưởng hướng dẫn đại chúng và tài bồi cho nền văn hoá nước nhà?!”
Cái chí đã đặt ở việc nước như vậy nên Phạm Quỳnh biết "lấy việc thịnh suy nước nhà làm trọng hơn sự lợi hại cho mình"(Thư Cho Bạn). Thế là Phạm Quỳnh quyết định chấp nhận thành lập Nam-Phong Tạp-Chí, không quản ngại hợp tác với Pháp, dẫu rằng người sáng lập và bảo trợ cho tờ Nam-Phong lại là Louis-Marty, Trưởng toà Chính trị phủ Toàn quyền!
Phạm Quỳnh tự nghĩ ,“Nếu mình đem hết cả tâm hồn, sức lực ra làm việc, thung dung mà tựu được cái nghĩa cả kia, thì rồi cũng có ngày tấm lòng son của mình đối với quốc gia dân tộc sẽ được quốc dân và sách sử xoi xét thấu.”
Khi bắt tay vào việc thực hiện tạp chí Nam-Phong, Phạm Quỳnh đã phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp và tế nhị.
Về thực tế, đây là một tờ báo của người Pháp lập ra, họ nhắm vào một mục đích rõ rệt là muốn dùng tờ báo, một cơ quan ngôn luận, để phục vụ cho quyền lợi chính trị của họ. Nhưng Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút (về phần Việt ngữ) cùng những người cộng tác với tờ báo Nam-Phong có phải họ chỉ biết nhắm mắt phục vụ cho chủ trương ấy không?
   Tất nhiên là không! Thật vậy, ngay trên bìa báo, nếu ta để ý nhận xét một chút, ta sẽ thấy có biết bao sự lủng củng ở bên trong; từ đó ta có thể đoán được là đã có sự tranh chấp gay go giữa người Pháp/người Việt, nói rõ hơn,  giữa Louis-Marty/Phạm Quỳnh. Nhưng cuối cùng mọi chuyện đã được dàn xếp, đôi bên đều phải chấp nhận nhau vì cùng muốn lợi dụng nhau để tờ báo được ra đời.
Này nhé, nơi trang nhất bìa báo, bên trên hàng chữ tên báo NAM-PHONG được in lớn và đậm nét, là mấy hàng chữ nhỏ viết bằng chữ Pháp:
L'Information Francaise
La France Devant Le Monde – Son Rôle Dans La Guerre Des Nations
   Dưới hai chữ Nam-Phong cũng có mộät hàng chữ nhỏ:
Văn Học – Khoa Học – Tạp Chí
   Dưới nữa, phía tay phải, ghi một câu danh ngôn của Tổng thống Mỹ Roosevelt bằng cả chữ Việt và chữ Pháp: «Có đồng đẳng mới bình đẳng được.», «Il n’y a que ceux qui sont des égaux qui sont égaux».
   Và cuối bìa báo, in hình con gà trống Gaulois nổi bật trước một hình triện tròn, giữa hai vòng  là ba chữ: Liberté-Eùgalité-Fraternité, biểu tượng và tiêu ngữ của Pháp quốc(xem phóng ảnh đính kèm trang sau).
Giở qua bià báo trang hai, trong phần ghi mục đích báo Nam-Phong, ta đọc được những dòng chữ:
   "Mục đích của báo Nam-Phong là thể hiện cái chủ nghĩa khai hoá của Nhà-nước, biên tập những bài bằng quốc văn, hán văn, pháp văn, để giúp sự mở mang trí thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An-nam, truyền bá các khoa học của Thái-tây, nhất là học thuật, tư tưởng Đại-Pháp, bảo tồn cái quốc tuý của nước Việt Nam ta…Báo Nam-Phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An-nam."

Những dòng chữ này còn được đăng đi đăng lại không ngừng trên nhiều số báo Nam-Phong kế tiếp.
Như thế, chủ đích của chính quyền bảo hộ đã được phơi bầy "chình ình" ngay từ những số  ra mắt của Nam-Phong tạp chí rồi.
 - Chủ đích cấp thời là lo việc tuyên truyền cho sự thắng lợi của Pháp trong cuộc Âu-chiến hiện tại.
 - Chủ đích thứ hai là thực hiện chính sách khai hoá, gieo rắc văn minh Thái-tây, mà Toàn-quyền Albert-Sarraut đã đề ra.
   Còn về phiá người Việt, trên bìa báo đó đã nói lên được những gì?
- Câu danh ngôn của Tổng thống Mỹ Roosevelt "Có đồng đẳng mới bình đẳng được", Phạm Quỳnh coi đó là một châm ngôn nhắc nhở ông nhắm hoạt động của mình vào việc phổ thông giáo dục, nâng cao dân trí cho bằng người, để mong sớm đưa dân tộc đến ngày tự do. (Phạm Quỳnh trong Độc Thư Tạp Ký còn chép:"Trong kinh Coran của đạo Hồi có lời tuyên ngôn:"Trong bọn tôi tớ nhà ngươi, có kẻ nào biết làm đơn xin giải phóng thì ngươi xét có xứng đáng nên giải phóng cho nó". Hết thảy quyền tự do ở đời không phải kẻ làm chủ làm thày muốn hay không muốn cho mà được…Nói rằng biết làm đơn xin thì sẽ xét cho, nghĩa là trước hết phải biết đọc biết viết đã, phải cố gắng cho tới cái địa vị làm người tự do, biết trách nhiệm…biết bổn phận của mình, bấy giờ chí mình đã quyết thì quyền tự do của mình còn ai lấy được nữa." (Georges Deherme, T.C.V.T. II)

  - Và trong đoạn văn nói về mục đích báo Nam-Phong, Phạm Quỳnh ngoài quyết tâm "giúp sự mở mang trí thức", còn chủ trương "Giữ gìn đạo đức trong quốc dân – bảo tồn cái quốc tuý của người Việt Nam – tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An-nam."
Rõ ràng đây chỉ là một vài vấn đề văn hoá của người bản xứ, chẳng dính gì đến chính trị cả, nên cuối cùng Louis-Marty chấp nhận được .
Sau này, càng có dịp đọc những bài luận thuyết của Phạm Quỳnh liên quan đến vấn đề quốc văn, quốc học, quốc túy, ta càng hiểu được cái thâm trầm, cái ý nhị của họ Phạm muốn gửi gấm qua mấy câu đơn sơ đó. Phạm Quỳnh muốn nhắn cho độc giả ông biết rằng, ông sẽ dùng chúng như một chiến thuật để "bẻ gãy",  để "vô hiệu hoá" cái dã tâm của thực dân muốn truyền bá văn minh tư tưởng học thuật Pháp, chẳng phải vì lý tưởng khai hoá "nhân đạo" gì, mà thực ra cốt đưa dân ta đến chỗ bị "đồng hoá" để đời đời làm nô lệ cho họ.
Lại nữa, chính những chi tiết xác định tờ Nam-Phong là của chính quyền Pháp, như vừa được trình bày ở trên, cũng như ở nơi trang nhất bìa báo (từ số 23 trở đi), phần giới thiệu những người sáng lập tờ Nam-Phong, giữa tên Phạm Quỳnh (Chủ bút phần quốc ngữ) và Nguyễn Bá Trác ( chủ bút phần chữ Nho) là tên Louis-Mart với cả danh phận "Trưởng toà Chánh trị ở phủ Toàn quyền". Là Phạm Quỳnh muốn "lưu ý" độc giả rằng: Đã là báo của chính quyền bảo hộ, thì tất nhiên họ đòi hỏi phải nói đến những cái hay cái đẹp của dân tộc họ, khen-lao những việc làm của chính họ. Phạm Quỳnh mong đồng bào hiểu và thông cảm cho tình cảnh éo le của ông, mà đừng chấp nhất đến những lời nịnh nọt, tán tụng Pháp trong đó làm chi.
Phạm Quỳnh, một trí thức thông minh, tài hoa, đã phải bôi tro trát trấu ra hợp tác công khai với chính quyền bảo hộ, phải để chính ngòi bút của mình cùng vài ngòi bút khác của Nam-Phong viết một số bài "nịnh tây", hay nói như một số dư luận chống đối bây giờ là "hót tây", làm "bồi tây", hay tệ hơn nữa, là phải "đánh đĩ ngòi bút" để phục vụ cho quan thầy bảo hộ, cũng chỉ vì muốn mua chuộc cảm tình, lấy lòng tin của họ cho mình được yên thân lo việc phù thế giáo, cho mình được yên thân hoạt động văn hoá phụng sự dân tộc. Dầu đã được trang bị bằng những lý lẽ cao thượng thế nào chăng nữa, Phạm Quỳnh vẫn không khỏi có nhiều lúc đau lòng, thương thân, nỗi niềm không thể bày tỏ cùng ai. Cuối cùng ông đã tìm thấy ở cô Kiều một nguồn an ủi : một người bạn tâm sự, một người đồng cảnh ngộ!
Như chúng ta đã biết, cô Kiều, trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, là một thiếu nữ thông minh, tài hoa, diễm lệ tuyệt vời. Cô đã có một mối tình tha thiết với chàng Kim Trọng; chỉ vì gặp cảnh gia biến, cô phải bán mình cho Mã-Giám-Sinh, một khách phương xa, để lấy tiền hối lộ cứu cha, và giữ được vẹn toàn cho gia đình:
Thà rằng liều một thân con
Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.

Đêå rồi bị họ Mã lừa mà phải đầy đoạ trong kiếp gái lầu xanh.
   Những đêm về sáng chợt tỉnh giấc, cô Kiều xiết bao tủi thương cho thân phận hiện tại của mình:
Mặt sao dầy gió dạn sương
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân.

Sống ở nơi đây, cô phải gượng sầu làm vui ; nhưng vui làm sao được, vì có ai hiểu mà san sẻ nỗi niềm tâm sự :
Vui là vui gượng kẻo mà
Ai tri âm đó, mặn mà với ai.

   Như thế, qua một cái nhìn đại cương, ta thấy quả đã có sự tương ứng, trùng hợp giữa Phạm Quỳnh và cô Kiều, từ giá trị nội tại, cảnh ngộ éo le đến tâm sự cô đơn. Từ đo,ù ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy trong bài "Cô Kiều với tôi", Phạm Quỳnh đã viết những câu như "Cô Kiều đối với tôi có cái thanh khí thâm trầm…có khi âm thầm não nuột như tiếng gọi xa xăm của một âm hồn "tri kỷ" từ chín suối đưa lên … tưởng như người ấy sống luôn bên mình". Và mới hiểu vì sao trong nhiều đoạn văn viết, bất cứ dưới đề mục nào, Phạm Quỳnh cũng thường xen vào một hai câu thơ Kiều, không chỉ để thêm "mặn mà", thêm "ý nhị", mà chính vì Phạm Quỳnh muốn cô Kiều luôn luôn hiện diện ở bên ông, để nâng đỡ và chia sớt với ông những nỗi vui, buồn trong cuộc đời.

***
Giúp dân bớt coi khinh quốc ngữ,
Lại hô hào dùng chữ văn nôm,
Tiếng người tra dịch sớm hôm,
Văn chương Âu, Á thâu gồm tinh hoa,
Tránh nói, viết đem pha tây ngữ,
Chuyển Pháp, Tàu thành chữ Việt Nam,
Quốc hồn đến tự quốc âm,
Duy trì chủng tộc trong tâm đồng bào.

(Bình Huyên)

2.3.2 Hoạt Động Văn Hoá – Gây Dựng Một Nền Học Mới
2.3.2.1 Đắp xây cơ sở và vun trồng cho văn quốc ngữ.
Sau 15 năm thành lập báo Nam-Phong, Phạm Quỳnh chủ nhiệm kiêm chủ bút, qua bài Quốc Học với Quốc Văn (NP số 164, tháng 7-1931), đã xác định rõ lập trường thờ chủ nghĩa quốc gia, bằng những hoạt động phụng sự cho văn hóa nước nhà bấy nay như sau: 

   "Báo Nam-Phong từ ngày ra đời đến giờ vẫn theo đuổi một mục đích: gây lấy một cái tản-văn để vừa làm cơ quan vừa làm cơ sở cho quốc học sau này ; vì chúng tôi vẫn đinh ninh rằng, không có quốc học thì không sao có độc lập về tinh thần được, không có độc lập về tinh thần thì không sao có được độc lập về chính trị được.
   "Ấy quốc văn nó quan hệ cho quốc học như vậy, quốc học quan hệ cho quốc vận như vậy", thế nên "Nhà văn muốn thờ nước thì không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước có một nền quốc văn xứng đáng.
Đó là cái chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy."

Lời xác định này đã soi sáng cho lý tưởng phụng quốc bằng văn hoá của Phạm Quỳnh khi ông nhận lời thành lập  báo Nam-Phong. Thế nên, vừa có phương tiện trong tay, Phạm Quỳnh thảo ngay một kế hoạch hoạt động lâu dài để tiến tới việc xây dựng một nền quốc học trong tương lai, mà cấp vụ đầu tiên là phải gây lấy một nền quốc văn xứng đáng.
   Do đó, báo Nam-Phong ngay số ra mắt, Phạm Quỳnh đã đặt vấn đề xây dựng quốc văn làm mục tiêu chính của tờ báo :
   "Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, bước tiến hoá sau này mới có thể mong mỏi được. Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới thâu thái được các khoa học mới mà gây thành một nền học thích hợp với trình độ, mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình … Nói rút lại, quốc ngữ có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quốc dân ta mới không đến nỗi chung kiếp đi học mượn, viết nhờ như từ trước đến nay" (Văn Quốc Ngữ).

Để giải quyết vấn đề quốc văn "mới nở còn non nớt chưa đủ sức" buổi ấy, Phạm Quỳnh đã phải nỗ lực hoạt động trên nhiều lãnh vực.
Phạm Quỳnh cổ võ đồng bào tham gia chiến dịch gây dựng tài bồi cho văn quốc ngữ bằng cách viết văn, đọc văn.
Vì nhận thấy dân mình bấy giờ thường có thái độ "coi thường, coi khinh, thờ ơ " với văn quốc ngữ, vì lẽ: học dễ không đáng học – quá non nớt, yếu kém so với văn Tàu, văn Tây – vô tích sự vì không mưu sinh được, nên ông ra công kêu gọi bằng cách khơi động lương tâm và lòng ái quốc của họ.
Văn quốc ngữ nước ta ngày nay ví như đứa trẻ "đương buổi ấu trĩ này, phải có người chăm chút, phải có người trông nom, phải có người phù trì mà cũng phải có người tưởng lệ, thì mới mong ra khỏi tuần măng sữa, hết thời kỳ sài đẹn, mà đến tuổi lớn khôn mạnh mẽ."
Thế nên, ông khích lệ những nhà Tây học, cùng những nhà cựu học, hãy "viết văn quốc ngữ, đem sở học, sở trường của mình đóng góp công đức vào việc xây dựng tô bồi cho nó."

Không những kêu gọi người viết văn, Phạm Quỳnh còn kêu gọi cả người đọc quốc văn (để phấn khởi người viết văn), khi cho rằng, "ngày nay người nào chịu tập văn nôm là làm một việc công đức, người nào chịu xem văn nôm là làm một việc nghĩa vụ. Công đức ấy, nghĩa vụ ấy, người có lòng có dạ với nước, há lại chẳng nên vui vẻ mà làm ru? Chữ quốc ngữ chính là cái bè từ để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân…Xin đồng bào chớ lãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ. Tương lai nước ta chính ở đó." (Văn Quốc Ngữ, N.P. số 1, 1917)
Riêng phần mình, Phạm Quỳnh một lòng cung-cúc, tận tụy đắp xây cơ sở và vun trồng cho quốc văn. Trước hết bằng những bài biên dịch thiên về đường tư tưởng, nghị luận , vì theo Phạm Quỳnh, "lúc quốc văn mới nhúm thành…ta cần phải dịch sách người hơn là làm sách mới”
Sao vậy? Vì họ Phạm muốn nhắm vào những mục đích:
. Luyện cho câu văn quốc ngữ được "sắc sảo, mềm mại".
. Học lấy và truyền bá lối văn học vấn, văn nghị luận, thuyết lý mà ta chưa có.
. Sau nữa là có dịch, có đối chiếu với văn người mới biết mình thiếu tiếng gì mà phiên dịch, tân tạo những tiếng mới, bổ khuyết vào, cho quốc văn thêm phong phú.
Trong bài "Báo Nam-Phong Được Mười Tuổi" (N.P. số 119, 1927), nhóm biên tập cũng đã lưu ý về những điểm này như sau:
  "Về việc đoàn luyện quốc văn, chúng tôi nghiệm ra, vận văn của nước ta nhờ các tiền nhân tập luyện đã đến bậc tinh xảo lắm. Thi ca mà như truyện Kiều thì sánh với thế giới tưởng cũng không kém. Duy tản văn xưa nay hầu như chưa có, mà tản văn mới là văn nghị luận, văn thuyết lý. Vậy việc cần cấp là phải gây ra một lối tản văn thích dụng cho sự truyền bá tư tưởng ngày nay. Cái khuyết điểm thứ nhất của văn quốc ngữ là còn thiếu các danh từ để chỉ những sự vật cùng nghĩa lý mới. Bởi thế nên trong mấy năm chúng tôi hết sức tra cứu các sách Tây, sách Tàu mà nhặt lấy hoặc dịch ra những chữ cần dùng, 'phát hành' kể có hàng ngàn tiếng mới."

Những chữ mới này  đã được xuất hiện đều đặn trên mấy tờ "Tự Vựng" trong mỗi số Nam-Phong, được thích nghĩa rõ ràng, để giúp cho sự học trong nước và cho người làm văn khỏi dùng sai lầm. (Lê Thanh, trong bài "Ba người thợ cần mẫn: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Khắc Hiếu" đăng trên báo Tri Tân số 172 ngày 28-11-1941, viết "Trong một câu chuyện văn chương, ông Đào Duy Anh cho tôi biết rằng cái mục Tự Vựng đã giúp sự học của ông rất nhiều và có lẽ chính những trang giải nghĩa danh từ mới ấy là cái mầm những từ điển của ông…") Lâu dần chúng trở thành quen thuộc, thông dụng. Bao nhiêu chữ mới như : quan điểm, chủ nghĩa, xã hội, văn minh…đã thấy tái hiện trên sách báo, và làm công cụ diễn đạt tư tưởng cho người Việt chúng ta từ bấy lâu nay.

    Lại nữa, câu văn quốc ngữ chưa có kỷ luật gì nên Phạm Quỳnh đã nêu ra vấn đề văn pháp, và gợi ý các nhà tân cổ học viết văn quốc ngữ nên biết những ưu, khuyết điểm của mình, bổ túc cho nhau để tạo một lối riêng cho văn quốc ngữ:
 "Quốc văn ta đã chịu ảnh hưởng của chữ Hán trong mấy mươi đời, nay muốn gây dựng ra quốc văn phải nhân ảnh hưởng đó mà lợi dụng ra (những người chủ trương bỏ hết chữ nho cùng những lối văn nho đã dung hoà với quốc âm từ bao giờ đến giờ là nghĩ sai cả). Nay ta học tiếng Pháp nhiều, tất cũng phải chịu ảnh hưởng của Pháp văn"… "Người thuần cựu học thì có nhiều chữ dùng mà cách sắp đặt còn lộn xộn, không biết chấm câu theo lối mới, rất là quan hệ cho văn chương. Người thuần tân học thì thuộc phép đặt câu mà chữ dùng thường thiếu thốn, không đủ tiếng mà nói hết cái ý của mình."

Nay đem hai lối văn ấy mà "hoà lộn với nhau, lẫn cho nhau, nhờ đó mà không bao lâu quốc văn ta thành được, gồm cả tinh hoa của Âu Á "…Tuy "lấy Hán văn, Pháp văn làm mẫu " là cốt "theo thể thức hay, phương pháp khéo của người ", còn mình vẫn phải "cố giữ lấy tinh thần riêng của tiếng An-nam mình ", đến thế quốc văn mới gọi là hoàn toàn được (Văn Quốc Ngữ).
Bảo vệ tiếng Việt:
- Phạm Quỳnh hô hào chỉ nói ròng tiếng Việt.
  Thấy phái Tây học có thói quen "hễ nói chuyện gì cao xa một chút thời dùng tiếng tây ", hay "đương nói chuyện tiếng ta đem pha ít nhiều tiếng tây vào ", Phạm Quỳnh phàn nàn, lối nói chuyện đó không những "bác tạp khó nghe", mà "còn rất phương hại cho tiếng nói nước nhà, như vậy thời tiếng Việt Nam ta bao giờ mới thành văn được?"
Và theo họ Phạm, "chỉ nên nói tiếng nước mình, không những dùng để nói những câu chuyện thường, phải dùng để nói những chuyện cao xa nữa, dầu lúc đầu có không đủ tiếng dùng, hơi khó một chút, mà dùng mãi thành quen ". (Bàn về diễn thuyết, 1921, Thượng Chi Văn Tập II)

- Phạm Quỳnh phản đối chủ trương dùng tiếng Pháp thay tiếng Việt.
Trong nước bấy giờ có người đề xướng lấy tiếng Pháp thay thế tiếng An-nam làm tiếng nói phổ thông trong nước, sau lại được một số trí thức tân học nhất là trong Nam hưởng ứng, Phạm Quỳnh đã cực lực phản đối qua bài Chữ Pháp Có Dùng Làm Quốc Văn Được Không?(1918, T.C.V.T. VI)
   Người ta lấy cớ "tiếng An-nam ta nghèo ngặt, thiếu thốn không đủ dùng ",Phạm Quỳnh đã hết sức bênh vực nó mà cho rằng, đó "là một câu nói hàm hồ … vì không khi nào tiếng nói trong nước lại không theo kịp trình độ của quốc dân. Tiếng nói trong nước nghèo là trình độ quốc dân thấp, nếu trình độ cao hơn tất tiếng nói phải giầu thêm cho xứng đáng … Thử đem một câu ca dao ta mà dịch ra tiếng tây, một lời tục ngữ ta mà dịch ra tiếng tàu, chắc cũng không sao mà hết ý nghĩa được. Như vậy chữ Pháp, chữ Nho lại nghèo hơn tiếng ta hay sao?
 "Nay phần nhiều nói tiếng ta nghèo chỉ vì ta chưa có đủ những danh từ về cách trí, khoa học, kỹ nghệ… Người mình cứ nên gia công giải cứu cho thật thâm, và thứ nhất là phải có cái chí muốn đem những điều mình học được nói ra tiếng mình…khiến cho người không học cũng có thể hiểu được, mỗi người mỗi làm như vậy, thiếu chữ gì thì đặt chữ mới ra cho gọn ghẽ, hoặc mượn chữ ngoài cho tiện dùng, như vậy thì mấy nỗi tiếng An-nam lại chẳng được phong phú bằng nhiều tiếng nước khác hay sao ?"
   Huống chi "Quốc âm là tiếng nói tự nhiên đặc biệt của một giống người…Có nói bằng tiếng ấy mới tỏ được hết tâm tình…đã là đặc biệt chỉ riêng cho một giống người…thời tất biểu hiệu được tâm hồn của giống ấy…cho nên quốc âm tức là một biểu hiệu tự nhiên của quốc hồn ".
Như the,á "Tiếng nói là phần cốt yếu làm thành một nước… nước sống về tiếng nói, tiếng nói còn, nước sẽ không thể mất được…"
 … Coi như dân Ba-lan (Polonais), dân Tiệp Khắc (Tchèque) bên Âu-châu, tuy quốc thể không còn, người một giống làm tôi mấy nước, mà quốc âm vẫn giữ được, nên chủng tộc không đến nỗi mất, và nhờ cuộc chiến tranh này (1914-18) lại khôi phục được quyền độc lập, từ nay lại có tên trên bản đồ thế giới."

(Còn tiếp)

Gs Phạm Thị Nhung

Xin đón đọc kỳ tới :
- Phạm Quỳnh chống lại nghị định học vấn thi cử của Albert-Sarraut  như thế nào?
- Ông đưa dân tộc lên đường tiến bộ bằng cách nào?
- Ông gửi thư cứu quốc, Bàn về tinh thần lập quốc, ra sao?
- Phạm Quỳnh giúp bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc;
- Ca ngợi tiếng Việt và Văn Chương truyền khẩu;
- Phát hiện nghệ thuật Truyện Kiều;
- Khai Trí Tiến Đức Học Xá.

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com