arrow
Trang Nhà arrow  Biên Khảo arrow Biên Khảo arrow 43- NGUYỄN BỈNH KHIÊM - Nguyễn Ngọc Bích
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
43- NGUYỄN BỈNH KHIÊM - Nguyễn Ngọc Bích PDF Print E-mail

NGUYỄN BỈNH KHIÊM
 

Một trong những thiếu sót lớn của văn-học-sử Việt-nam, như ta biết cho đến gần đây, là tính-cách độc-chiều (one-dimensionality) trong việc xử lý tâm-hồn cũng như tư-tưởng của các tác-giả cổ-điển của ta.  Nếu cách xử lý này có thể biện-hộ được ít nhiều trong trường-hợp những tác-giả như các thiền-sư đời Lý mà đa-phần chỉ còn lưu lại một hai bài kệ thì càng về sau, càng gần ta hơn, cách làm việc này xem ra có phần tắc trách nếu không muốn nói là làm biếng hay cẩu thả, không chấp nhận được.  Một tác-giả như Nguyễn Du (1765-1820), riêng chỉ thơ chữ Hán thôi cũng đã để lại tới ba tập tổng-cộng 250 bài, viết trong 28 năm, với nhiều bài có ghi đầy đủ những tình-tiết nào dẫn đến việc nhà thơ làm ra những bài thơ đó.
Trường-hợp Nguyễn Trãi (1380-1442), sống trước Nguyễn Du gần 400 năm, cũng đã để lại cho ta khoảng 340 bài thơ, cả Hán (105 bài) lẫn Nôm (254 bài, trong đó có lẫn một số bài của người khác), một gia-tài không nhỏ.  Cách đây ít lâu, tôi đã cố gắng đi tìm ra những bài mà ta có thể xác-định được niên-đại sáng-tác, để thử phân-tích xem tư-duy của Ức Trai (bút-hiệu của Nguyễn Trãi) có đổi thay qua khoảng bốn chục năm trong đời của ông không.2  Trong bài này, tôi sẽ cố gắng làm một việc tương-tự với thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Sinh năm 1491, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống qua mấy chục năm thật nhiễu nhương sau khi vua Lê Hiến-tông băng hà (1504), với Lê Túc-tông chỉ làm vua được có sáu tháng, Lê Uy Mục lên làm vua nổi tiếng tàn ác (đến nỗi bị dân gọi là Quỷ-vương), đến Lê Tương Dực nổi lên giết Uy Mục chiếm ngôi mà Tương Dực cũng không khá gì hơn Uy Mục (nên bị gọi là Vua Lợn), rồi đến hai vua Chiêu-tông (1516-24) và Cung Hoàng (1524-27)3 thì bất lực, thành thử khi Mạc Đăng Dung lên chiếm ngôi vua, dựng nên nhà Mạc thì không ít người cho đó là một sự giải thoát chứ không phải là tiếm vua (như lịch-sử sau này đã được viết lại bởi các sử-gia thời Lê Trung-hưng).
Cũng vì thời thế nhiễu nhương thế nên Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ biết vùi đầu vào cái học, để cuối cùng đến năm 1535, ông mới đi thi ở tuổi 44 và đỗ Trạng.4  Đến lúc này thì cái học của ông đã vượt xa cái học thường-tình của các sĩ-phu, chỉ nhắm thuộc làu Tứ Thư Ngũ Kinh để thi đỗ ra làm quan.  Ông đi vào Dịch-học và lý-số, để có thể tiên-đoán được bước đi của lịch-sử, dùng cái học thâm sâu và uyên bác của mình để có thể gỡ đất nước ra khỏi chiến-tranh, giúp cho nhà Mạc tồn tại thêm gần 100 năm nữa khi lui về Cao-bằng, giúp cho nhà Trịnh đời đời làm chúa thờ vua Lê, và giúp cho nhà Nguyễn ở Đàng Trong thực-hiện cuộc Nam-tiến (rồi Tây-tiến) đến những biên-giới cực-Nam của đất nước ta ngày nay và tồn tại đến năm 1945.
Ông là một ông quan cương trực nên khi, để giải-quyết vấn-đề tham-nhũng dưới thời Mạc Phúc Hải (trị vì 1540-46), ông đề nghị giết 18 vị quan lộng quyền mà không được nghe theo, ông đã cáo bệnh từ quan ở tuổi 52, sau có 8 năm ra tham-dự chính-quyền.5
Từ đó cho đến khi mất vào tuổi 94 (1585), ông ở ẩn, dạy học nhưng vẫn được trọng-vọng bởi các đời vua (nhà Mạc) cho đến hai dòng Chúa, Trịnh (Kiểm) và Nguyễn (Hoàng), đáng được ghi nhận như người độc-nhất vô nhị trong lịch-sử VN có khả-năng “nhất ngôn khả dĩ hưng bang,”6 một lời có thể làm hưng vượng cả một nước.

Hai bài thơ trước tuổi 40?

“Sinh chẳng gặp thuở Đường Ngu” 7

Tuy bài này không có niên-đại chắc chắn nhưng ta có thể đoán mà không sợ nhầm là nó được làm ra khi Nguyễn Bỉnh Khiêm hãy còn trong “thuở hàn vi.”   Do vậy mà ông còn có thể cười mình:

Sinh chẳng gặp thuở Đường Ngu
(Tức một ông vua hiền)
Lẩn thẩn liền nên mỗ đứa vu
(Mỗ đứa vu: ta chỉ là một anh không đâu)
Tạp nhạp tài hèn: cây núc nác
(Núc nác: loại cây gỗ xấu)
Lơ thơ nghề tiện: tổ bồ cu   
(Tiện: mọn. Tổ bồ cu: nhà làm bằng đồ tạp)

Và câu cuối (câu 8) nói: “Khéo thì khổ nhục, vụng phong lưu,” Khéo thì chỉ đi hầu người khác (khổ nhục) còn chuyện phong lưu thì vụng về, chẳng biết.

“Thánh bốn mươi tuổi chẳng còn ngờ” 8

Bài này ta biết chắc Nguyễn Bỉnh Khiêm làm năm ông 40, nghĩa là vào năm 1530, bởi ông so ông với Khổng-tử, mà ở đây ông gọi là “Thánh,” người đã từng tuyên-bố: “Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc” (“30 thì [ta] đứng một mình, 40 thì [cái biết vững vàng] không còn ngờ chi nữa”):
Thánh bốn mươi tuổi chẳng còn ngờ
Ta tuổi bốn mươi vẫn líu lo   
(Líu lo: như ta nói ngày nay, đía)
Đạo lý nẻo xa đen nữa mực
 (Đạo lý ở xa nên tối mù (đen) hơn mực)
Văn chương nghề cũ, xác như vờ!  
(Xác như vờ: nghèo xác xơ)
Hai câu cuối (7-8) nói đến một bệnh mà ông không chừa được:
Mắc một bệnh này, chừa chẳng khỏi: 
Đã thôi chén rượu, lại câu thơ!   
(Khi ngưng uống rượu thì lại làm thơ)

Như vậy, ta có thể khẳng-định được rằng khi trẻ, thậm chí đến cả tuổi 40, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn nhìn mình với một con mắt khôi hài, hay ít nhất cũng nhún mình, tự-trào, không mấy xem mình là quan-trọng.  Cái nét này, ta hình như không thấy có ở Nguyễn Trãi: ở Nguyễn Trãi nhún nhường thì có nhưng cười mình, tự-trào thì xem chừng như không có.  Nhưng ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông không những cười ông, đùa với ông, ông còn đùa cả với vợ ông như ta sẽ thấy trong một bài thơ ông làm để tặng “bà xã” ở tuổi chín muồi khoảng 60 (sẽ được trình bầy sau).

Đỗ Trạng và ngành lý-số

Năm 1535, ở tuổi 44, Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng-nguyên trong kỳ thi hội thứ hai được tổ-chức dưới thời nhà Mạc (Mạc Đăng Doanh), lần đó lấy 27 người. Ông đỗ đầu.  Biến-cố này liệu có làm cho tính-cách thơ của ông đổi khác đi không?  Ta hãy xét tiếp.
Đỗ Trạng, ông được vời vào làm quan trong triều nhưng hình như cũng không mấy được cất nhắc.  Tác-giả Đông Phong trong Bọc trứng viết: “Ông ra làm quan với nhà Mạc, được cử làm Đông Các Hiệu Thư, một chức quan nhỏ, rồi lên chức Lại Bộ Tả Thị Lang kiêm Đông Các Đại Học Sĩ, cũng chỉ là quan thế yếu quyền nhỏ, bậc Tam phẩm, không là Tể Tướng hay Thừa Tướng, Nhất phẩm hay Nhị phẩm.”10  Chức Đông Các Đại Học Sĩ cũng là chức được vua Gia Long phong cho Nguyễn Du sau này sau khi ông làm Tri huyện Phù-dung (1802) rồi thăng Tri phủ Thường Tín, xong được cử đi đón sứ nhà Thanh, trước khi ông được thăng chức Cai bạ (cũng tương-tự như chức Tỉnh-trưởng ngày nay) Quảng-bình (1809).  Như vậy, xem ra trong quan-trường, Nguyễn Bỉnh Khiêm quả đã không được trọng-dụng.  Tầm quan-trọng của ông nằm ở chỗ khác, ở khả-năng lý-số của ông, một khả-năng xuất chúng mà có thể là do người mẹ ông truyền lại một phần.11  Chính khả-năng này đã đưa các vua chúa đến tìm, đến thỉnh ý ông trong những thời-điểm nghiêm trọng trong đời họ.
Song nhờ có đức lớn, ông đã không dùng cái biết nơi ông để tìm cái lợi cho mình mà vẫn giúp cho dân tránh được chiến-tranh và giúp cho:
1/  Nhà Mạc kéo dài được triều-đại thêm ba đời nữa sau khi đã mất Thăng-long vào tay Trịnh Kiểm và vua Lê (Năm 1592, Trạng đã trọng tuổi và lâm trọng-bệnh, Mạc Mậu Hợp sai con đến thăm và vấn kế tương-lai, cụ nói: “Cao-bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế,” Cao-bằng tuy nhỏ nhưng cũng có thể kéo dài được vài đời.)12

2/  Nhà Lê trung-hưng được gần 200 năm (từ 1592 đến 1788) dù như phải chịu sự kềm kẹp của các chúa Trịnh.  (Khi thấy vua Lê Trang-tông không có con, Trịnh Kiểm muốn nhân cơ-hội truất-phế nhà Lê để xưng vương, song còn e ngại lòng dân Bắc-hà nên bí-mật cử người đến hỏi ý-kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm.  Cụ quay mặt vào bảo người nhà như một lời đáp gián-tiếp: “Năm ngoái mất mùa, thóc giống không tốt, đi tìm giống cũ mà gieo mạ.”  Rồi cụ lại sai tiểu-đồng ra quét sân chùa, dâng hương mà nói: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản.”  Hiểu ý, Trịnh Kiểm phải cho người đi đón Lê Duy Bang ở Thanh-hoá về để lập lên làm vua.  Sau đó, còn nhiều lần các chúa Trịnh cũng tính tiếm ngôi vua nhưng nhớ lời cụ dặn, lại thôi, nhất là câu: “Lê tồn, Trịnh tại.  Lê bại, Trịnh vong.”  Quả như thế, vì khi Lê Chiêu Thống mất ngôi thì nhà Trịnh cũng suy vong theo.)13

3/  Nhà Nguyễn lập nghiệp được ở Đàng Trong từ năm 1558 đến 1945, nghĩa là gần 400 năm, với lời khuyên “Hoành-sơn nhất đái, vạn đại dung thân,” Hoành-sơn một dải có thể dung thân được muôn đời.  Tuy 400 năm chưa phải là muôn đời song câu nói của cụ Trạng quả là linh thiêng.14

Những bài thơ có thể tìm ra niên-đại ở tuổi già

Như đã nói ở trên, ông cáo bệnh về hưu ở tuổi 52 sau tám năm ra làm quan.  Phần bất mãn vì không được vua nghe cũng có song cũng rất có thể ông thích chữ Nhàn như trong bài:
Được thua thấy đã ít nhiều phen,15
Để rẻ công danh đổi lấy nhàn.
Am Bạch-vân rồi nhàn hứng, 
(Rồi: rỗi rãi, nghỉ ngơi)
Dặm hồng-trần vắng ngại chen.
(Hồng-trần: bụi hồng, tức thế-gian)
 
Nói là ông thích nhàn chứ thật ra ít có ai năng nổ hơn ông trong tuổi già.  Theo Lịch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) của Phan Huy Chú thì Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại 10 quyển thơ (Bạch Vân am thi-tập) với khoảng 1000 bài chữ Hán và Bạch-vân quốc-ngữ-thi, 2 quyển, với khoảng 170 bài được xem là của ông.  Ngày nay, tuy một số đã mất, ta vẫn còn khoảng 500 bài thơ chữ Hán của ông để cho thấy một tổng-tác-phẩm đồ sộ mà Phan Huy Chú mô-tả là “đại để thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên…  Lời và ý nhẹ nhàng, nhàn nhã, có thể thấy được chí không thích làm quan.”16
Bất đãi đầu chương tiện giải trâm,17
Điền viên cựu ước hảo trùng tầm…
Chẳng đợi đưa tâu, cứ cổi trâm  
(Cổi trâm: tức bỏ quan mà về)
Ước cũ điền viên hãy vội tầm…

“Thửa nơi xuất xử, đâu là phải?” 18

Tuy nói thế song Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không hẳn là đã quyết-định về “cái rụp” không thương tiếc, như cách nói của ta ngày nay.  Trong đời ông, vấn-đề “xuất - xử” không phải là dễ: đối với người sĩ-phu ngày xưa, “xuất” là ra với đời, là trả một món nợ với xã-hội, đem cái tài của mình ra thi thố với người và giúp dân, giúp nước, giúp rập một ông vua; “xử” tức lui về ở ẩn, chỉ là chuyện bất đắc dĩ, như khi có giặc ngoại-xâm (trường-hợp Nguyễn Trãi ở Đông-quan khi nhà Minh sang xâm-chiếm nước ta) hoặc khi ta không được toại nguyện trong ước-vọng giúp nước, thương dân.  Chính vì thế mà hơn một lần, Nguyễn Bỉnh Khiêm ray rứt:
Vòi vọi xuân xanh nữa tên!
(Vùn vụt xuân đi nhanh hơn tên bắn!)
Thửa nơi xuất xử, đâu là phải?  
(Nay chỗ nào là phải, ra làm quan hay về?)
Ở ắt nên, về cũng ắt nên!   
 
“Ắt đà từng phụ lộc triều-quan”19

Bài này không rõ làm ra năm nào nhưng gần như chắc chắn là phải làm ra sau khi ông đã về hưu ở tuổi 52 (1542), vì nó mô-tả cảnh về “nhàn dưỡng tuổi tàn” của ông tuy vẫn còn nhớ đến ơn vua:

Ắt đã từng phụ lộc triều-quan,
(Ta đã quay lưng vào bổng lộc làm quan)
Lại được về nhàn dưỡng tuổi tàn!
Nước tuyết hâm trà dưới bếp;
Bút hoa điểm sách trên yên.
(Yên: bàn nhỏ, dưới có hộc đựng sách)
Nương song, ngày tiếc mùi hương lọt;
(Nương song: tựa cửa sổ. Tiếc: nhớ)
Nối chén, thêm âu bóng quế tan.
(Âu: lo. Bóng quế: bóng trăng)
Đến chốn nào vui chốn ấy,
Dầu ta tự tại, có ai han!
(Dầu: tuy. Có ai han: chẳng ai chất vấn)


Ngẫu thành thi (I) 20

Nhẫn nhiễm niên du lục thập cường,
Lão lai tự tiếu thái sơ cuồng…
chốc đà sáu chục năm thừa,
Cười ta càng tuổi, càng già ương ngang.
(Nguyễn Văn Bách dịch)
 
Bài này như vậy tối-thiểu là viết sau năm 1550, có thể là đôi ba năm.  Và ta vẫn lại thấy cái thói tự-trào của Nguyễn-ông ở đây.

“Ba đời Chúa” 21

Ba đời Chúa được phúc tình cờ:
Ơn nặng chưa từng báo tóc tơ… 
(Tóc tơ: mảy may)
Bài này sớm nhất là viết vào năm 1547 khi Mạc Phúc Nguyên lên làm vua (trị vì 1546-61), bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng dưới thời Mạc Đăng Doanh (trị vì 1530-40), phục-vụ tới năm 1542 là dưới thời Mạc Phúc Hải (trị vì 1541-46), sống qua triều Mạc Phúc Nguyên và sống đến hết đời Mạc Mậu Hợp (trị vì 1562-92) rồi mới mất 3 năm sau đó.  Do vậy ta có thể ngờ là bài thơ cũng được viết khoảng năm 1550, như bài thơ trên.
 
“Yêng nhủ mụ”22 (Tui biểu bà nghe)

Bài thơ “dạy vợ” này cũng không rõ làm năm nào nhưng ta có quyền ngờ là làm vào khoảng này khi cả Nguyễn Bỉnh Khiêm lẫn vợ ông đều đã lớn tuổi (một trong ba bà, nhưng có lẽ là bà cả, họ Dương, hiệu Từ Ý, khoảng 60?):

Vũng bởi hay ngăn vũng mới đầy!
Quen thân, yêng nhủ mụ lời này:
(Do quen thân, tui mới dám nói bà nghe) 
Trà sen, sáng đãi người đưa khát;
Rượu thánh, hôm mời khách uống say.
(Hôm: tối)
Lợi lộc mặc duyên, chăng ý chớ!
(Chăng ý chớ: đừng quan tâm hay chú ý)
Đôi co dầu thế, chớ cho hay!  
(Dù thế-gian có đôi co, chớ cho thế là hay)
Thế-gian có hỏi: “Lời ai nhủ?”
Mụ hãy rằng: “Lời khách dại ngây!”
 (Khách dại ngây: một người khờ dại)

Ba bài ở tuổi 70 hay gần đó (nghĩa là viết trước sau năm 1560)

Trung Tân quán ngụ hứng (VI)23

Niên tương thất thập vị huyền dư,
Trùng ức khê tuyền thuỷ trúc cư…
Tuổi gần bảy chục chưa về?
Bên nhà nhớ trúc, suối khe nước dào!
Luống thu vạt cúc ông Đào, 
(Ông Đào: tức Đào Tiềm)

Ngọa-long nằm khểnh trong lều Khổng Minh.
Nghiêng bên, nhớ gió trăng thanh;
Song mai mở sách, ngả mình ghế trơn.
Bệnh như tới muộn, chớ hờn!
Ý trời hậu đãi, biết còn phần ta.
(Nguyễn Văn Bách dịch)

Tự-thuật 24

Niên phương thất thập dĩ hưu quan,
Trùng trướng u thê mịch cố san.
Tân quán nhật cao miên vị khởi.
Thanh vân thanh tự Bạch Vân nhàn.
Tuổi vừa bảy chục đã hưu quan,
Vắng vẻ màn che, tìm cố-san.
Tân-quán, ngủ say nào biết muộn,
Thanh-vân thua hẳn Bạch Vân nhàn.
(Đinh Gia Khánh dịch)

Trung Tân quán ngụ hứng (XII)25

Sổ gian giang quán phủ giang tân,
Thuỷ quốc vi mang lưỡng ngạn phân…
Vài gian nhà lá tựa bên sông,
Thấp thoáng hai bên, giữa một dòng.
Gió lặng, buồm xuôi, trăng bên lạnh;
Trời quang, rồng hiện, núi mây hồng.
Xóm chài lửa rọi, chiều nghiêng bóng,
Chùa nội chuông rền, tiếng vẳng không.
Tính đốt tuổi già hơn bảy chục,
Xa vua đâu phải đã nguôi lòng?
(Bản dịch của Hoàng Việt Thi Văn Tuyển)

“Quá bảy mươi tư” (1565)

Xuân đán cảm tác 26

Hành niên thất thập tứ niên dư,
Hỉ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư…

Cảm tác ngày Tết 
Tuổi đời đã quá bảy mươi tư,
Mừng được về nhàn, thăm chốn xưa.
Năm mới, khắp xem tân vũ trụ,
Nhà nghèo, riêng sẵn cựu Thi Thư.
Tre hoang, hoa đẹp, ba xuân tốt;
Cửa sáng, trăng trong, nhà trống trơ.
Ai phải, ai sai, thôi chẳng nói!
Tự cười già nhác lại cuồng khờ.
(Đinh Gia Khánh dịch)

“Bảy tám mươi” 27 (1560-70)

Rất nhân sinh bảy tám mươi!
(Rất hiếm ai sống đến 70-80!)
Làm chi lảo đảo, nhọc lòng người?
(Lảo đảo: chạy ngược chạy xuôi)
Bạch Vân am vắng, chim kêu muộn;
Kim Tuyết dòng thanh, cá mát tươi.
(Kim Tuyết: sông Hàn nơi quê tác-giả)
Ưu ái một niềm hằng nhớ Chúa!
Công danh hai chữ đã nhường người.
Giàu lẫn khó, yên đòi phận:
Rất nhân sinh bảy tám mươi!

“Đã ngoại tám mươi già” 28

Tuổi đã ngoại tám mươi già, 
(Tám mươi già: hơn 80)
Thoắt thoắt xem bằng bóng ngựa qua!
Mai bạc lạnh / quen nhiều tháng tuyết;
(Bạc: trắng)
Cúc vàng thơm / đổi mấy phen hoa.
Sang có phận / là ơn chúa;
Được làm người / bởi đức cha.
Am, quán ngày nhàn rồi mọi việc,
(Am, quán: Bạch-vân am, Trung-tân quán)
Dầu ta tự tại, mặc dầu ta!
(Dầu: thả cho. Mặc dầu: kệ cho)

Nguyễn Ngọc Bích
Đồng Xuân, 27 tháng 5, 2008

Chú thích:

1   Xem Mai Quốc Liên, chủ-biên, Nguyễn Du Toàn tập, Tập I (Thơ chữ Hán), Nhà xb Văn Học: Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1996.  Thanh Hiên thi tập bắt đầu vào năm 1786 và Bắc hành thi tập kết thúc vào năm 1814 khi Nguyễn Du đi sứ nhà Thanh về.
2   Xem Đào Duy Anh, chủ-biên, Nguyễn Trãi Toàn tập (In lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung),  Hà Nội: Nhà xb Khoa học xã hội, 1976.  Bài của chúng tôi, “Tâm-sự Nguyễn Trãi qua mấy bài thơ có thể tính ra niên-đại,” được đăng lần đầu ở Cỏ Thơm số 40 (Thu 2007), trang 4-11, và gần đây nhất được in lại trong Nhịp Sống số 13 (2008), trang 18-24.  Theo ức-đoán của chúng tôi thì thơ Nguyễn Trãi được viết từ khoảng ông 20 đến năm ông mất ở tuổi 62, nghĩa là trong vòng 40 năm hơn.
3   Đây là kể theo sự tóm lược của tác-giả Nguyễn Văn Nhiệm trong sách Đường vào Triết học Việt Nam, Đức-quốc: Phù Đổng, 2008, trang 196. 
4   Nguyễn Q. Thắng, Từ điển Tác gia Việt Nam, Sài Gòn: Nhà xb Văn Hoá, 1999, trang 715.
5   Lại Nguyên Ân, Từ điển Văn học Việt Nam, Nhà xb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, trang 351.
6   Đông Phong, Bọc trứng, Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2005, trang 42.
7   Những thơ được trích trong bài này chủ-yếu lấy từ sách Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Kiều Văn tuyển soạn, Nhà xb Đồng Nai, 2000.  Bài này nằm ở trang 58.
8   Như trên, trang 56.
9   Viện Sử học, Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Hà Nội: Nhà xb Khoa học xã hội, 1987, trang 289.
10   Đông Phong, sđd, trang 48.  Nguyễn Q. Thắng, sđd, trang 716, cho rằng ông lên đến chức Thượng-thư bộ Lại thì không chắc đã đúng dù như năm 1544, vua Mạc Phúc Hải có phong cho ông tước Trình Tuyền Hầu (ý nói ông có công khơi nguồn Lý-học như hai anh em Trình Di, Trình Hạo ở bên Tàu) rồi sau lại phong cho ông tước Trình Quốc Công.  Do vậy mà ông được biết trong lịch-sử nước ta dưới danh-hiệu là Trạng Trình.  
11   Tương-truyền ảnh-hưởng ông về mặt lý-số và tướng-pháp, là bà mẹ của ông.  Xem Phạm Đan Quế, Giai thoại và Sấm Trạng Trình, Nhà xb Văn Nghệ TP-HCM.  Lại có nguồn tin cho rằng khi ông học với Lương Đắc Bằng, ông thầy này đã trao cho ông quyền Thái Ất thần kinh nên ông trở nên rất tinh-thông về lý-số và tướng-số-học (theo Nguyễn Q. Thắng, sđd, trang 716).
12   Theo Đông Phong, sđd, trang 50.
13   Như trên, trang 43.
14   Như trên, trang 42-43 và 50.
15   Nguyễn Văn Nhiệm, sđd, trang 201.

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com