arrow
Trang Nhà arrow  Biên Khảo arrow Biên Khảo arrow 43- THEO VẾT CHÂN CỦA NỮ THẦN THI CA SAPHO - Hồ Trưòng An
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
43- THEO VẾT CHÂN CỦA NỮ THẦN THI CA SAPHO - Hồ Trưòng An PDF Print E-mail

THEO VẾT CHÂN CỦA NỮ THẦN THI CA SAPHO

Natalie Clifford Barney sanh tại Dayton (tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ) vốn xuất thân từ gia đình giàu sang trải qua nhiều thế hệ. Cha là Albert Clifford Barney vốn thừa kế sản nghiệp kỹ nghệ làm vật liệu cho ngành hỏa xa thiết lộ nổi tiếng khắp vùng. Mẹ là Alice Pike vốn đẹp cao sang thanh thoát lại có tâm hồn nghệ sĩ, giỏi về môn hội họa, nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ ở Thủ  Đô Hoa-thạnh-đốn, Luân-đôn và Ba-lê . Bà thường đưa hai cô gái cưng của mình qua viếng Paris và ở đó trong khoảng thời gian khá lâu để tiếp xúc với các giới tai to mặt bự, giới văn nghệ sĩ Âu Châu lẫn các danh nhân danh sĩ từ khắp hoàn vũ đổ về. Trên Natalie còn có người chị gái là Laura Clifford Barney. Nathalie đẹp, thọ hưởng ở cha mẹ màu tóc hoàng kim óng ánh mà danh kỹ Liane de Pougy tặng cho cô ta cái xước hiệu là Moonbeam (Rayon de Lune/ tia sáng của trăng). Nathalie có nền giáo dục hoàn bị. Cô yêu tiếng Pháp cùng xứ sở và nền văn minh Pháp nên gia tâm học tiếng Pháp đến mức độ tuyệt hảo toàn bích. Năm 1886 tới năm 1889, cô sang Pháp ở nội trú  trường tư thục danh tiếng Les Ruches tại thành phố Fontainebleau. Ở chung đụng với các thiếu nữ kiều diễm thuộc con dòng cháu giống, cô nhận thấy rõ rệt cái khuynh hướng tình cảm lẫn tình dục của mình: yêu kẻ đồng phái tính. Năm 1889, cô lại trở qua Âu Châu, gặp thiếu nữ giới trưởng giả là Eva Palmer và cô đã hưởng được khoảng thời gian tình ái say đắm tuyệt vời với cô nàng  Eva này. Năm 1899, cô định cư luôn ở Paris, để hưởng thú tự do tình dục và xã hội thời thượng trong văn giới. Natalie mua một ngôi nhà có lầu gác ở 20 đường Jacob để tiếp đãi văn nghệ sĩ. Nơi đó cũng là chỗ tụ họp các cô ''lết'', cô ''bi'' trong những cuộc tế lễ nữ thần thi ca Sapho mà cô mệnh danh là Temple de l'Amitié (Đền Thờ Tình Bằng Hữu).
      Mối tình say đắm đầu tiên của Natalie Clifford Barney là danh kỹ Liane de Pougy. Cô giốc tiền túi hằng ngày để  mua hoa tặng Liane de Pougy. Liane cám ơn qua những bức thư du dương tha thiết:
      ''Hai vòng bánh xe lăn, một tiếng nghiến rít trên cát, này đây cô em Natty của tôi đã đi , thế là hết, em mang theo cái hình ảnh tóc vàng xinh đẹp của tôi. Và người ta vào nhà tôi, giao lại cho tôi những bông hoa tặng của em, đó là những đóa hồng trắng trinh, những đóa hồng đỏ thắm, những hoa tử la lan (pensées), hoa thanh thúy (bleuets), nhưng  hoa thủy tiên và hoa lưu ly thảo lại  nhiều hơn''.
      ''Kẻ si tình tôi, ấy là em đấy! Và em lại buồn bã, nhưng ngày mai em sẽ trở lại và chúng ta sẽ cùng đi dạo, xa khuất hẳn nghe em, trong một góc nào đó của kinh thành  Paris''.
     ' 'Tôi cảm thấy xa tất cả, tất cả. Natty ơi, em có yêu tôi không? Ta phải chịu u sầu suốt ngày th? sáu khi trời giăng mưa. Cô em Natty bé bỏng của tôi, những gì tôi làm có thể được dùng vào việc gì đây? Hãy cho tôi can đảm, hãy vuốt ve linh hồn chết héo của tôi, hãy để tôi ngủ thật lâu, phải, thật lâu, Natty nhé, và hãy đánh thức vào tháng năm xuyên qua khung trời nắng ấm...''.
      Trong thời gian dan díu với Liane de Pougy, Natalie Clifford Barney vào năm 1990 cho xuất bản tác phẩm đầu tay của mình. Đó là thi tập ''Quelques Portraits - Sonnets de Femmes'' (Vài Chân Dung-Thi Phẩm Của Nữ Lưu). Trong bài Tựa, Natalie giải thích rằng mình viết tác phẩm này bằng tiếng Pháp, bởi vì đó là thứ ngôn ngữ độc nhất làm cho cô trầm tư một cách thi vị. Cô cũng tin tưởng rằng tâm hồn cô là nấm mồ của các thi sĩ Pháp. Và cô kết luận rằng: ''Sau hết, không có gì làm cho quí ngài phải ngạc nhiên về tôi: Tôi là một phụ nữ Hoa Kỳ''.
*
*    *
       Natalie Clifford Barney không thể giữ mãi Liane de Pougy làm người tình muôn thuở của mình vì Liane cần phải hành nghề buôn hương bán phấn mới có bạc tiền ăn xài huy hoắc. Đã là kỵ nữ, người đẹp Caroline Otéro tuyên bố một câu ngon ơ: ''Tiền bạc đâu thể đến với cô gái điếm ban đêm ngủ một mình!''. Nữ sĩ xinh đẹp Natalie Clifford Barney tuy giàu sụ, nhưng cũng chỉ thừa kế của cải phụ ấm, đâu bằng những kỹ nghệ gia tiền rừng bạc biển, đâu bằng các nhà quý tộc và các lãnh chúa có ruộng đất bao la thu hoạch hoa lợi hằng năm cả núi bạc đụn vàng. Vả lại dan díu với Natalie Clifford Barney mà phải chơi trò đánh chập chõa đêm này sang đêm nọ, Liane de Pougy vốn là mụ ''bi'' đâm ra thèm thú xỏ kim. Cho nên Liane phải trở về cuộc đời bán dạng thuyền quyên như cũ. Tới tuổi 41, nàng kết hôn với ông hoàng Lỗ-ma-ní với t?ớc hiệu quý tộc Comte de Ghika, nhỏ hơn nàng 15 tuổi.
      Rồi đó, Natalie Clifford Barney gặp Renée Vivien, một cô thiếu nữ Anh mới bước vào làng văn chương nữ giới nước Pháp. Nữ sĩ ''lết'' Lucie Delarue Madrus miêu tả cô ta như sau:
     ''Đó là một thiếu nữ tóc vàng, trẻ trung, vai xuôi, mắt nâu, phục sức không theo thời trang thanh lịch, dáng dấp thật là dân  Anh. Giọng nói cô ta mềm nhão, nhưng đúng là giọng dân Anh (...). tuy nhiên có một điều là ở cô ta, chúng ta không thể quên: đôi mí mắt mỏng, chĩu nặng  và đôi rèm mi đen lánh. Người ta có thể bảo rằng cái đặc sắc của cô ta chỉ hiển lộ khi cô ta hạ cặp mắt nhìn xuống...''
      Marcelle Tinayre**, một nữ sĩ ''lết'' khác khi Renée Vivien vừa tới Paris liền viết:
      ''Renée Vivien xuất hiện dưới mắt tôi là một thiếu nữ xứ Anh, cao ráo, kiều nhược, tóc màu hạt dẻ lợt vẫn còn giữ ánh phản chiếu óng vàng gần như mờ nhạt của màu tóc vào tuổi ấu thơ. Đôi mắt u tối, một cái miệng nhỏ xanh xao, một cái cằm thật dầy, một giọng nói dịu nhẹ, thánh thót. Cô ta mặc chiếc áo màu hoàng hôn xám, có in hoa, với sợi giây nịt kết hoa hồng trắng, hoa trở nên óng bạc trong ánh sáng và trở nên màu lục trong bóng tối. Trên mái tóc chải phồng lớn chiếc nón bằng thứ lụa the lóng lánh sắc hoàng kim, có giắt lông chim đen''.
       Marcelle Tinayre là bạn thân của Renée Vivien, nhưng không có sách vở nào nói cô ta đã từng đánh chập chõa với nhà thơ nữ kiều nhược kia không? Ngày đưa đám Renée, Marcelle cũng có đi dự và cùng với Bá tước phu nhân Hélène de Zuylen và em gái của Renée là Antoinette Alston phải tốn nhiều nước mắt.
       Renée Vivien rất ngưỡng mộ sắc đẹp quý phái và tài hội họa  của bà Alice Pike Barney, mẹ của Natalie Barney. Bà ta đích thân vẽ chân dung của các cô bạn gái của Natalie treo đầy phòng khách của cô ái nữ của mình. Renée Vivien  đã ca tụng người trung niên mỹ phụ ấy như sau:
Sự huyền bí chập chờn trên nhan sắc sát nhân của người
Chẳng có chút lạnh lẽo của bầu trời quê hương chúng tôi
Và đôi mắt người, nơi đó giấc mộng phương Đông rũ rượi
Giống như tìm kiếm hoài hoài Tổ Quốc xa xăm.
Natalie đối với Renée qua hai tính chất: khi thì như một tình lang, khi thì như một tình nương, nghiêm khắc như thái tử Hamlet và xanh xao như tiểu thơ
Ophélia trong vở bi kịch ''Hamlet'' của Shakespeare. Cho nên Renée Vivien cảm hứng qua bài thơ:
Người đi qua, trong ánh chớp của cơn điên tuyệt đẹp
Cũng như Nàng tặng những bài hát và những bông hoa  
Cũng như Chàng, dưới niềm kiêu hãnh tước đoạt những cơn đau
đớn của người
Dù rằng cái nhìn chăm chú của người lờ đi.
*
Mỉm cười đi, hỡi cô tình nương tóc vàng, hãy mơ mộng đi, hỡi anh
tình lang tối tăm
Và xác thân người với niềm hăng hái lạnh lẽo của một ngọn nến
  Con tim bất an của em bối rối khi em thấy
Vầng trán người trầm tư như trán  ông hoàng và đôi mắt người xanh thẳm như mắt cô trinh nữ
Khi thì Kẻ Này, khi thì Người Khác.
     Vốn có tánh bay bướm, Nathalie dan díu với nhiều cô nữ sĩ ''lết''khác nên Renée Vivien, có lần mua súng toan giết Olive Custance. Cô nàng Bướm Ngọc này đã từng gợi hứng cho Renée Vivien nhưng câu thơ như sau:
      Đôi mắt em màu lục biếc như bình minh và xanh như sương mù
      Không gặp gỡ đôi mắt đen huyền bối rối  của tôi
      Bởi niềm đau khổ của tôi ấp yêu em một cách hòa điệu
      Ôi bông huệ trinh khiết, ôi sắc trắng nõn của mây và của bọt biển!
      Sau đó, nhắm không thể ăn ở dài lâu với Natalie Clifford Barney nên Renée Vivien xin rút lui. Nàng sống chung với Nam tước phu nhân Hélène de Ruylen, dáng người mập mạp nên thời nhân  trong giới văn học nghệ thuật gọi bà ta là La Brioche  (ổ bánh mì ngọt phồng to).
      Sau khi hay tin Renée Vivien từ trần, Natalie Clifford Barney quá xúc động nên cô thức trắng năm canh. Cô có cảm đề bằng những câu thơ thấp thoáng bóng dáng tâm linh triết học như sau:                                                  
Và tôi gọi tên em từ hơi thở cuồng nhiệt và thuần khiết
Và tôi nghe gió đưa đến tôi như tiếng thì thào
Của giọng nói em: Quá Khứ có phải là Tương Lai chăng?  
     Rồi trong buổi viếng mộ Renée Vivien tại nghĩa trang Passy, Natalie có đề những câu thơ bằng tiếng Anh, xin được dịch qua bản dịch Pháp văn  như sau:    
Này đây cánh cửa mà nơi đó tôi bước ra
Ơi nhưng bông hường của tôi, những gai nhọn của tôi!
Quan trọng gì đâu thời xa xưa? Tôi say ngủ
Vừa chiêm bao những điều thần thánh.
*
   Này đây tâm hồn tôi hớn hở
  Vì nó lắng dịu và ngủ yên
Vì được tình yêu của Thần Chết
Tha thứ tội ác này: Cuộc Sống.
      Trong thời gian dan díu với Renée Vivien, Natalie Clifford Barney vi?t các quyển   ''Je Me Souviens'' (Tôi Nhớ Lại), ''Souvenirs Indiscrets'' (Những Kỷ Niệm Phơi Bày), ''Autobiographie'' (Tự Truyện), ''Cinq Petits Dialogues Grecs'' (Năm Cuộc Đối Thoại Hy-lạp Nhỏ)
*
* *
Vào thập niên 10, Natalie gặp một văn nhân quý tộc Remy de Gourmont trồng cây si. Ông ta tặng cho nàng cái xước hiệu Amazone ***. Remy de Gourmont vốn là ký giả, phê bình gia, tiểu thuyết gia, thi sĩ, nhà biên khảo, triết gia. Ông ta lại là nhà sáng lập tạp chí Le Mercure de France****(Giao Thương Của Nước Pháp). Vào thời trẻ, ông ta đẹp trai, thích náo động, bay bướm. Nhưng về già thì  ông ta héo tàn bởi bịnh tật, ít muốn tiếp xúc với thiên hạ, trừ văn nghệ sĩ và trừ những kẻ có liên quan với nghề nghiệp ông ta . Ông ta vẫn biết Natalie Clifford Barney thích ăn nằm với phụ nữ. Nhưng điều đó mà nhằm nhò chi đối với ông ta khi ông ta được tiếp xuc với cô nàng nữ sĩ gốc Hoa Kỳ có cái tinh thần cứng rắn của trang hảo hán trượng phu nhưng vẫn giữ một thân vóc kiều mị uyển chuyển của một mỹ nhân kia.
Trong lúc kết bạn tâm giao, Natalie Clifford Barney quyết kéo Remy de Gourmont thỉnh thoảng ra khỏi cái thế giới bút mực và cái thế giới thời thượng từ bến tàu Voltaire, đến hai tiệm cà-phê Flore và Aux Deux Magot và đến bàn giấy ông ta để ông ta tiếp xúc với đời sống, với thiên nhiên. Cô ta lôi ông ra khỏi tháp ngà ẩn cư , rồi dùng ô-tô đưa ông đi dạo rừng Boulogne dập dìu tài tử giai nhân, để ông ta ngắm ánh trăng lóng lánh trên hồ. Cô tặng cho ông bạn trí thức kia nào là  bưu ảnh, giấy Nhật Bản cho ông viết thư, cái tráp nhỏ đan bằng cói và nhất là  hoa. Đặc biệt nhất là cây đèn tọa đăng để ông ta thắp trên án thư, để ông ta đọc sách hay viết lách.
Remy gửi thường trực cho Natalie Clifford Barney những bức thư từ tháng giêng dương  lịch năm 1912 đến tháng 10 dương lịch năm 1913 đăng lần lượt trên tạp chí Le Mercure de France.  Đó là những bức thư sau này được gọi là  ''Lettres Intimes A  L'Amazone'' ( Những Bức Thư Thân Mật Gửi Cô Nàng Amazone).
Đệ nhất Thế Chiến bùng nổ. Natalie không chạy trốn qua Hoa Kỳ. Cô ta cương quyết ở lại nước Pháp và cho rằng Remy cần cô ta. Nhưng cô ta không có dịp thăm viếng Remy Gourmont khi ông ta nằm tại bịnh viện Boucicault và ông ta từ trần vào ngày 27/09/1915. Natalie xin với người em của Remy là Jean de Gourmont trả lại cây đèn tọa đăng mà cô ta đã tặng cho Remy. Và tại biệt thất của mình, đêm đêm cô ta thắp đèn lên hoài niệm một văn nhân tuy kết bạn với mình chưa được bao năm nhưng mối thâm giao vô cùng nồng thắm.
Trong thời gian dan díu với Renée Vivien và trong thời kỳ làm bạn Remy de Gourmont, Natalie Clifford Barney tằng tịu với  và vài phụ nữ  nữ khác, chẳng hạn: Nữ Công tước Elizabeth de Gramont, nữ sĩ Lucie Delarue Madrus, Dolly Wilde (cháu gái của văn hào Oscar Wilde)... Vốn là con gái của Công Tước Duc de Gramont và Quận Chúa Beauveau-Craon, Elisabeth de Gramont sinh năm 1875, lớn hơn Natalie một tuổi. Bà kết hôn với Công Tước Philippert de Clermont-Tonnerre vào năm 1896 và ly dị vào năm 1920. Kết quả cuộc hôn nhân kéo dài 24 năm là hai cô con gái Diane và Beatrix. Khi viết lách, bà không lấy tước hiệu quý tộc của chồng làm bút danh mà lấy tước hiệu quý tộc của mình là Elisabeth de Gramont. Bạn bè thân của bà gọi bà là Lily. Bà ham mê đọc sách gần như cuồng tín. Kiến thức của bà rộng mênh mông. Sắc diện bà rực ánh hồng tuơi, mắt bà xanh như thúy ngọc nhưng có ánh phản chiếu màu bích ngọc. Các anh bà đùa: ''Lily có cặp mắt con sò''. Bức chân dung của bà do nữ danh họa ''lết'' Romaine Brooks vẽ  được in trên nhiều báo chí và nhất là trong sách vở  của văn nghệ sĩ đương thời. Bà viết  quyển hồi ký dầy cộm  tựa đề là ''Souvenirs du monde'' (Kỷ Niệm của Thế Giới) gồm 4 quyển: '' Au Temps Des Équipages'' (Vào Thời Gian Của Các Hành Đoàn), ''Les Maronniers en Fleur' (Cây Ma-rông Nở Hoa), ''Clair de Lune et Taxi-auto'' (Ánh Trăng và Xe Tắc-xi), ''La Troisième Heurre'' (Giờ Thứ Ba). Tất cả đều do nhà xuất bản Grasset chăm lo. Bà còn viết một quyển về văn hào Proust, tài liệu không được bao nhiêu, nhưng kỷ niệm giao du giữa văn hào và bà thì khá nhiều. Bà ăn xài hào phóng, giao du với các văn nghệ sĩ nổi danh đương thời, từ Maurice Barrès cho đến Anatole France. Trong nhóm dân mondaine kia, bà gặp  ông Rappoport. Đó là một chánh trị gia dùng đủ mọi điêu ngôn xảo ngữ để lôi kéo bà vào vòng tin tưởng rằng chủ nghĩa Cộng Sản sẽ đem lại cho nhân loại một thế giới mới. Thích thú trước cam ngôn mỹ từ của Rappoport,  bà  bị lọt vào tròng của nhà chính trị say mê chủ thuyết Mác & Lê kia. Sau Đệ nhất Thế Chiến, bà sang viếng Nga hai lần, rồi chẳng hiểu bà có sáng mắt sáng lòng với cái chủ nghĩa bánh vẽ kia không, nhưng bà không ưa màu đỏ. Mỗi khi có nhóm diễn hành ngoài đường phố, thoáng thấy màu cờ đỏ là bà sa sầm nét mặt. Bà nổi tiếng là nhà ngoại giao tài ba đã từng hòa giải cuộc hờn giận giữa Bá Tước  Robert  de Montesquiou (thi sĩ, tác giả thi tập nổi tiếng ''Hortensia Bleu''/ Hoa Dương Tú Cầu Xanh) và văn hào Marcel Proust, tác giả bộ trường giang tiểu thuyết ''A la Recherche du Temps Perdu'' (Đi Tìm Thời Gian Đã Mất) khi cả hai ông ''gai'' nầy tranh cãi thiếu điều cắn xé  với nhau.
      Lucie Delarue Madrus là một phụ nữ đẹp không thua Natalie Clifford Barney. Nàng đã từng được Đại Úy Pétain (sau này nhào qua lãnh vực chánh trị leo lên đến chức Thống Chế) cầu hôn, nhưng song thân bà từ chối. Khi chưa chồng, nàng ốm yếu, nhất là yếu phổi. Khi Bác sĩ Madrus cưới nàng về thì vào đêm tân hôn, ông khám phá ra vợ mình chớm bị bịnh lao, mình còn da bọc xương. Ông săn sóc nàng cho tới khi lành bịnh, mình mẩy đầy đặn. Nàng cạo nhổ lông măng để có một tấm thân trắng ngồn ngộn như bột và mịn mát như lụa, như xa-teng.
       Lucie Delarue Madrus được Bá Tước Robert de Montesquiou lăng xê vào trong các buổi hội họp văn chương. Số là ông ta ghét cay ghét đắng người em họ nổi tiếng về thơ là Bá Tước Phu Nhân Anna de Noailles (vốn là Quận Chúa Brancovan, tác giả thi tập nổi tiếng '' L'Ombre des Jours'' (Bóng Tối Của Những Ngày). Mụ em này hay đỏng đảnh phách lối với ông. Cho nên ông muốn đem Lucie Delarue Madrus làm khắc tinh  của mụ, cốt để làm hào quang mụ phai úa chút ít. Ai ngờ sự thành công của Lucie Delarue Madrus dù không lấn át nổi Anna de Noailles, nhưng nổi tiếng lừng lẫy trong giới văn chương phụ nữ đương thời.
     Lucie Delarue Madrus cầm lòng không đậu trước cái đẹp sắc sảo và trước cái duyên dáng thâm trầm của Natalie Clifford Barney. Cho nên trong thi tập ''Nos Secrètes Amours''**** (Những Mối Tình Bí Ẩn Của Chúng Tôi), Lucie hạ bút đề thơ như sau:
Những sợi tóc em còn mãi trong đáy thẳm của cái nhìn của tôi
Cũng như kỷ niệm của ánh trăng
Và tôi yêu dấu cái đốm quái chướng ấy
Nó trải nhẹ khắp nơi và chiếu sáng lại trong buổi chiều.
     Riêng người đẹp tóc hung Eva Palmer và nữ thi sĩ Renée Vivien cũng thèm muốn ăn nằm với Lucie Deladrue Madrus.
Lucie Delarue Madrus là  một nữ sĩ có trên 70 tác phẩm vừa thơ, vừa truyện ngắn, truyện dài, tiểu sử, biên khảo, phê bình. Đó là không kể những bài vở như những câu chuyện kể, những bài phê bình về văn chương và âm nhạc,  những bài
tường thuật về những chuyến du lịch đăng trên báo chí. Về tiểu thuyết, Lucie đã cho xuất bản những cuốn tiêu biểu như sau: ''Marie, fille-mère'' (Marie, Cô Gái Mẹ), ''L'Ange et le Perverse'' (Thiên Thần và Thói Xấu), ''Une Femme d'Âge Mur'' (Người Đàn Bà Luống Tuổi''... Còn về thơ, nàng đã có những thi tập tiêu biểu, đại khái như sau:  ''A  Maman'' (Gửi Về Mẹ),  ''Mort et Printemps'' ( Cái
Chết Và Mùa Xuân)... Tiếc thay tên tuổi nàng dần dà bị mai một trong bóng tối
quá khứ một cách bất công.
      Bác sĩ Madrus, chồng của Lucie Delarue Madrus có lần thổ lộ với Natalie Clifford Barney là muốn có một đứa con với cô ta, và đề nghị cô ta cùng sống với vợ chồng ông theo kiểu bộ ba (ménage à trois) nhưng Natalie dảy đành đạch không ưng. Riêng cái đàn ông tính rực rỡ của ông càng làm cho Renée Vivien thêm tởm thêm ghét.
      Natalie Clifford Barney còn dung dăng dung dẻ với với nữ sĩ Yvonne Vernon, tức là Nữ bá tước Sabini được mệnh danh là ''người đẹp tóc hoàng kim'' (la beauté blonde). Nữ sĩ quý tộc nầy ưa du lịch xứ Trung Hoa và xứ Nhật Bản, viết sách về hai xứ này để giới thiệu khách du lịch ưa mơ tới miền Viễn Đông. Yvonne Vernon biến căn appartment của mình thành ra một thiên đường Đông phương. Nhà thơ Paul Leclercq mô tả thiên ???ng ấy như sau:
        '' ... một căn phòng nhỏ huyền bí được căng những thứ lụa xưa (...), nơi đó mùi trầm hương thấm sâu khứu giác trộn lẫn mùi trà xanh, và có trải những chiếc chiếu Trung Hoa trên thảm''.
      Bày biện trang hoàng theo kiểu Viễn Đông này về sau được Renée Vivien nối gót. Yvonne Vernon nghiện ngập bạch phiến, về sau chết vào năm 1918, bởi tiêm nhiều bạch phiến. Nhà văn Paul Morand thường lui tới với Yvonne Vernon và để lại cho chúng ta bức phác thảo về cảnh chích choác của Yvonne Vernon trong quyển  '' Journal  d'Un Attaché d'Ambassade'' ( Nhật Ký Của Người Tùy Viên Sứ Quán):
      ''Yvonne lụi sâu ống tiêm vào lưng run rẩy như mũi tên cắm vào mông con sư tử cái vùng Suse  ( bút giả chú thích: thuộc đại lục nước Ý); một mẩu thuốc lá ở ngậm xéo ở góc môi, nàng dạo trong appartment, mẩu bông gòn cầm trong tay''.
       Trong quyển  ''Une Femme m'Apparut'' (Một Người Đàn Bà Xuất Hiện Đến Tôi) trong kỳ tái bản, Renée Vivien tả Yvonne Vernon huy hoàng hơn, vẻ vang hơn: ''Nàng thiếu nữ có  nụ cười gợi thèm của người đàn bà si tình''.
      Yvonne Vernon đi viếng Nhật, viếng Trung Hoa và Thổ-nhĩ-kỳ trước Renée Vivien. Nàng ngợi ca Mytilène một eo biển gần đảo Lesbos. Nơi đây, các cô ''lết'' cũng đến chiêm bái Nữ thần Thi ca Sapho cũng như ở tại Lesbos. Yvonne có óc quan sát tinh nhuệ trong công việc mô tả không kém nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội của văn chương chúng ta:
      ''Mytilène có cái hình thức uốn cong và căng thẳng như cây thụ cầm bập bềnh trên sóng. Những mũi nhô ra đẫm ánh trăng dường như bọc vảy. Không khí no bứ mùi hương vanille, và biển bằng phẳng như in  những vệt nhiễu khúc khuỷu, những vệt ấy giống như những vết móng tay vẽ trên một khối hồng ngọc''. 
        Yvonne Vernon có hai quyển du ký để Jean-Paul  Goujon viết về Renée Vivien. Đó là ''Terre de Lumière'' (Đất Ánh Sáng do Ollendorf xuất bản (1902) và quyển di cảo Chine-Japon- Stamboul phải đợi tới 1920 mới được Tolmer xuất bản. Nàng thích trang hoàng chỗ ở theo kiểu Viễn Đông đã đành, mà còn thích phục sức theo gái Đông Phương Á  Châu. Xin cùng đọc những giòng ghi chú của Paul Morand vào tháng chạp dương lịch năm 1916 :
      ''Tối hôm qua, ghé qua nhà Yvonne Sibini. Nàng ăn mặc theo gái An Nam, quần áo bằng lụa đen bóng, cổ đeo xâu trân châu; tóc nàng chải ngược ra sau, nàng quá xanh xao, quá thay đổi''.
      Vốn thích du lịch các xứ phương Đông, Yvonne Vernon mô tả xứ Thổ-nhĩ-kỳ vào năm 1907 như sau:
        ''Cái xứ sở mà nơi ấy còn giữ lại thú thưởng ngoạn  nước chảy xiết,  dáng vẻ  xanh biêng biếc, những hợp điệu màu sắc bỏng cháy, êm dịu và dữ dội đồng thời thú ngắm sự xa hoa đơn giản và thi vị do sự kết hợp của đá hoa cương và thú ngắm  vẻ hoa mỹ của nghệ thuật thủ bút hoặc là lấy ở một đoạn kinh Coran viết bằng chữ hoàng kim  để trang hoàng mộ bia và ở suối nước của đường phố, hoặc ở một quán xá hoàng gia, và còn  nét đường viền của một trong các thánh điện với men sứ rạng ngời lên tất cả vẻ  dịu dàng của biển cả qua những cái bóng phản chiếu của rong biển và  của lam ngọc nữa chi''.
*
    Mối tình lâu dài nhất của Natalie Clifford Barney là mối tình giữa nữ danh họa Romaine Brooks và cô ta. Họ gặp nhau vào năm 1912 hay vào năm 1915, không mụ nào nhớ rõ. Ả này tuyên bố trước Đệ nhất Thế Chiến. Cô kia tuyên bố là trong thời gian Đệ nhất Thế Chiến. Gặp ở đâu? Họ cũng quên nốt. Cả hai chỉ nhớ mang máng hình như trong buổi tiệc trà tại tư thất của Lady Anglesay và cũng có thể tại biệt thất huy hoàng của vương phi Lucien Murat. Mối tình này kéo dài nửa thế kỷ, trải qua hai cuộc thế chiến. Tuy dan díu với nhau, nhưng nhà ai ấy ở. Natalie Clifford Barney ở ???ng Jacob, còn Romaine Brooks ở đường Passy.
      Trong taùc phaạm ''Souvenirs Indiscrets''; Natalie Clifford Barney coù Đoaĩn trang taẽng:   
Gửi về Romaine, về người nghệ sĩ duy nhất và cô đơn
Mỗi kẻ trong những bức chân dung của nàng thú nhận niềm bí mật của nàng.
Cái nhìn của nàng là của thiên thần -- một thiên thần có cá tánh mạnh
Nhờ tình bạn của chúng tôi, nhờ những mối tình đầu của chúng tôi
Tôi thấy lại quá khứ bừng cháy lửa của tôi và sau đó nó rực rỡ  ánh sáng
     
Romaine Brooks từ nhỏ bị mẹ bỏ phế cho cô thợ giặt ủi ở New York và sau đó được người cô cho ở nội trú ăn học trước khi qua Âu Châu sum họp với mẹ. Mẹ cô chỉ thương yêu thằng em mắc bịnh thần kinh của cô thôi và tỏ ra nghiệt ngã đối với cô. Từ tuổi ấu thơ cô chịu cảnh bỏ rơi, nghèo đói, sợ hãi trước viễn ảnh tối đen. Cô tình nguyện trốn tránh trong thế giới màu sắc và hàng đống núi sách. Về phục sức, cô chọn ba thứ màu đen, xám  và trắng. Cô bỏ học hát và chọn môn hội họa. Năm 1902, mẹ cô qua đời, cô kết hôn với nghệ sĩ dương cầm John Ellingham Brooks, bị chồng chèn ép phải bị đẩy đến giải pháp ly dị. Để có tiền sanh nhai, cô vẽ chân dung cho các mệnh phụ phu nhân. Năm 1910, cô cho triễn lãm tranh lần đầu tiên của mình tại Durand-Ruel,gặt hái thành công rực rỡ. Báo Figaro nói về sự chổi dậy, cái đẹp nguyên thủy cùng những nét duyên dáng của họa phẩm cô. Báo Gil Blas cho rằng:
      '' ... Từ sau các bà Cecilia Beaux và Mary Cassat, cái tên Romaine Brooks là cái tên độc nhất của những tên kiều khách ở hải ngoại được tồn tại''.
     Thi sĩ Guillaume Apollinaire thì cho rằng:
      '' Nữ họa gia này vẽ một cách kín đáo, nhưng buồn bã, vâng, thật quá buồn bã!''.
     Nỗi buồn ấy được Natalie Clifford bôi xóa trong cuộc sống lứa đôi của cả hai, nhưng nó vẫn được Romaine Brooks thể hiện lên các họa phẩm chân dung mà cô ta vẽ thi sĩ kiêm điện ảnh gia Jean Cocteau và thi hào nước Ý Gabriele d'Annunzio. Ông thi hào này cũng đã có một thuở tằng tịu với nữ danh họa Mỹ kiều kia. Ông có cảm khái 4 câu thơ về cô  ta như sau:
Không có định mệnh nào chế ngự được em, không do sắt cũng không do lửa
Ơi, viên kim cương bí mật của trái tim thơ trinh em
Đứng sững giữa khung trời sẫm buồn và sóng bạc đầu
Em không sợ cú va chạm của đợt sóng thứ mười.
      Trong thời gian kết bạn chiếu chăn với Romaine Brooks, Natalie Clifford Barney vẫn tiếp tục sáng tác thêm các tác phẩm quan trọng như sau: ''Les Nouvelles Pensées de l'Amazone'' (Tư Tưởng Mới của  Cô Amazone) , ''Le Trait d'Union'' (Gạch Nối),''Traits et Portraits'' (Đ?ờng Nét và Chân Dung)... Trong cuốn tiểu sử viết về văn hào Marcel Proust, Georges D. Painter cho rằng Natalie Clifford Barney cùng Colette, Bá tước Phu nhân Anna de Noailles và Nữ Bá Tước Marthe Bibesco là 4 nhà văn lớn. Natalie khiêm tốn bảo nhà văn Jean Chalon, người đã viết cuốn tiểu sử của cô ta (cuốn '' Portrait d'Une Séductrice'' (Chân Dung Người Đàn Bà Quyến Rũ) như sau: '' Ông Painter đưa tôi lên tận mây xanh, nhưng từ trên đó tôi muốn rớt trở lại trần gian để hôn bạn đấy''.

*
       Renée Vivien ( tên thiệt là Pauline Tarn) làm một nữ sĩ có thể cùng Anna de Noailles, Natalie Clifford, Lucie Delarue Madrus xếp hàng đầu vào thời La Belle Epoque. Nàng là trưởng nữ của John Tarn, vốn giàu sang  vì kế nghiệp tiệm bán bàn ghế và đồ trang hoàng nhà cửa do phụ thân ông để lại . Mẹ của Renée Vivien là Mary Gillett Bennett vốn người Mỹ sinh ở Detroit (Michigan), nhưng thiên cư qua Honolulu  (Hawai) từ nhỏ. Bà này vốn lựu đạn, dâm đãng, ích kỷ, thích được thiên hạ ngưỡng mộ. Khi chồng bà còn sống, bà đã c?m sừng chồng rồi . Dưới Renée Vivien còn có cô em Harriet Antoinette Tarn mà người thân thuộc gọi là Toinette. Hai chị em mồ côi cha lúc Renée Vivien 9 tuổi. Gặp phải bà mẹ đàng điếm, tiêu xài hào phóng cho mình mà keo kiệt với con cái nên hai chị em thương yêu nhau lắm. Nhung Toinette thì nhu thuận. Còn cô chị thì ưa phản kháng nên bà mẹ thêm thù ghét. Tới khi gần tắt hơi, trên giường bịnh, Renée Vivien chỉ nói một câu độc nhất: ''Tôi nguyền rủa mẹ tôi''. Tuy nhiên trước đó, khi chưa nổi tiếng Renée Vivien có trước tác bài thơ '' A  Ma Mère Chérie'' (Gửi Mẹ Yêu) như sau:
Mẹ giống hoa soan trắng
Khi  tháng tư  mòn khuyết tưng bừng hoa nở,
Ôi bước chân mẹ nhẹ nhàng, êm ái
Thiên hạ sẽ bảo rằng êm như hoa rụng.
*
Đúng ra mẹ rất tươi trẻ như đó là chị của tôi
Lúc nào cũng óng vàng mái tóc, lúc nào cũng xinh đẹp
Mắt mẹ tươi cười một cách dịu dàng
Vẻ duyên dáng của mẹ  man mác buồn.
*
Đó là mẹ! Nàng tiên mắt xanh lơ
Rất dễ thương và tự hào bước qua
Nắng  chiếu trên tóc vàng của mẹ
Biến thành những sợi chỉ ánh sáng.
*
Dù có đau khổ lâu dài
Mẹ vẫn giữ mùa xuân vĩnh cữu
Trong nỗi sầu muộn, trong trái tim
Giữ mùa xuân vô tận
Trên vầng trán.
*
Mắt mẹ với bóng rợp mịn nhung
Mẹ thường an ủỉ và không hề nói gì cả
Và ta sẽ nhớ mãi
Cái đẹp của nụ cười mẹ.
*
Khi ta đau đớn bởi niềm bất hạnh sâu nặng
Mẹ là kẻ đến trước
Đặt tay mát dịu lên vầng trán của bạn
Như một thiên thần bạn  nguyện cầu.

(còn tiếp một kỳ)

HỒ TRƯỜNG AN (France)

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com