arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH - Hoàng Thi Thơ
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH - Hoàng Thi Thơ PDF Print E-mail

                 

                          Bấm vào đây để nghe: Quang Trung Đại Phá Quân Thanh

                         Nhạc & lời: Hoàng Thi Thơ    Trình bày: Đoàn Du Ca Việt Nam (trước 1975)

                   

                   

                   

               Trích VIỆT NAM SỬ LƯỢC của Trần Trọng Kim - ấn hành năm 1920

                 (Bấm vào đây để xem toàn bộ: Việt Nam Sử Lược - pdf của Viện Việt Học - California USA )

CHƯƠNG XI - Nhà Nguyễn Tây Sơn
1. Nhà Nguyễn Tây Sơn dấy nghiệp
2. Vua Quang Trung
3. Tôn Sĩ Nghị đem quân sang Việt Nam
4. Vua Quang Trung đại phá quân nhà Thanh
5. Vua Quang Trung cầu phong
6. Vua Chiêu Thống nhà Lê bị nhục bên Tàu
7. Đức độ vua Quang Trung
8. Chính Trị của vua Quang Trung
9. Quan Chế
10. Việc Dinh Điền
11. Việc Học Hành
12. Việc làm chùa chiền
13. Việc định đánh Tàu
14. Vua Quang Trung mất
15. Vua Cảnh Thịnh

1. Nhà Nguyễn Tây Sơn Dấy Nghiệp. Những người làm quốc
sử nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và
ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai
là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân,
dựng nghiệp ở đất trung nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là
làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng
vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, bà là những người ngoại chủng
vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều.
Vậy nay lấy những lẽ ấy mà xét xem nên cho nhà Nguyễn Tây Sơn
làm chính thống hay ngụy triều, để cho hợp lẽ công bằng và cho xứng cái
danh hiệu những người anh hùng đã qua.
Nguyên nước ta là nước quân chủ, lấy cái nghĩa vua tôi làm trọng
hơn cả, thế mà từ khi nhà Lê trung hưng lên trở về sau, họ Nguyễn hùng cứ
phương Nam, họ Trịnh xưng chúa miền Bắc; trên tuy còn tôn vua nhưng mà
quyền về cả nhà chúa. Trong nước ta đã có vua lại có chúa, làm thành ra
trong Nam thì có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy, ở ngoài Bắc thì
có kiêu binh làm loạn, giết hại quan đại thần, vua chúa phải nhún mình mà
chiều đãi, đình thần phải khoanh tay mà chịu một bề, ấy lại là một lúc đại
loạn vậy.
Lúc ấy anh em Nguyễn Nhạc là người dân mặc áo vải, dấy binh ở ấp
Tây Sơn, chống nhau với chúa Nguyễn để lập nghiệp ở đất Quy Nhơn. Tuy
rằng đối với họ Nguyễn là cừu địch, nhưng mà đối với nước Nam, thì chẳng
qua cũng là một người anh hùng lập thân trong lúc biến loạn đó mà thôi.
Còn như Nguyễn Huệ là vua Thái Tổ nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước
giúp anh bốn lần vào Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm
beo của Tiêm La, chỉ còn được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại
ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh; tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng.
Ấy là đã có sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa vậy.
Nhưng vì vua nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có
tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau mà
chuyên quyền, đến nỗi thành ra tán loạn. Dẫu thế mặc lòng, khi Nguyễn
Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, không nỡ dứt nhà Lê, đặt Giám Quốc để giữ tông
miếu tiền triều; như thế thì cách ở với nhà Lê không lấy gì làm bạc.
Sau vua Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cầu bên
Tàu, vua nhà Thanh nhân lấy dịp ấy mượn tiến cứu nhà Lê, để lấy nước
Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo như
tờ mật dụ của vua nhà Thanh thì nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn,
nhưng kỳ thật đã vào tay người Tàu rồi.
Vậy nước đã mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi
Hoàng Đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính, đem quân ra
đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải
bỏ cả ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng sĩ nhà
Thanh thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công nào lẫm
liệt như vậy.
Vả đánh đuổi người Tàu đi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà
trái đạo? Há lại chẳng hơn nhà Lý, nhà Trần nhân lúc ấu quân, nữ chúa, mà
làm sự thoán đoạt hay sao? Vậy thì lấy lẽ gì mà gọi là ngụy? Huống chi sau
vua nhà Thanh cũng công nhận cho ông Nguyễn Huệ làm vua nước Nam, và
lại sai sứ sang phong cho ông làm An Nam Quốc vương theo như lệ các triều
trước, như thế thì nhà Nguyễn Tây Sơn mở nước có khác gì nhà Đinh và nhà
Lê không?
Tuy rằng chẳng được bao lâu nhà Nguyễn Tây Sơn sinh ra nội loạn,
vua Thế Tổ Cao Hoàng nhà Nguyễn lại thu phục được cơ nghiệp cũ mà nhất
thống cả nam bắc lại làm một, nhưng việc thành bại hưng vong là mệnh trời,
vả lại khi hai người anh hùng đuổi một con hươu, tất là người nọ gọi người
kia là cừu địch. Vậy lấy lẽ tôn bản triều mà xét thì nhà Nguyễn Tây Sơn là
ngụy, mà lấy công lý mà suy thì vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một ông
vua cùng đứng ngang vai với vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Thái Tổ, mà nhà
Nguyễn Tây Sơn cũng là một nhà chính thống như nhà Đinh và nhà Lê vậy.

2. Vua Quang Trung (1788-1792). Ông Nguyễn Huệ (sau đổi
tên là Nguyễn Quang Bình) là một người có sức khỏe tuyệt trần, lại có mưu
trí quyền biến, mẹo mực như thần, khởi binh ở đất Tây Sơn (thuộc huyện An
Khê, Bình Định) giúp anh là Nguyễn Nhạc lập nên nghiệp lớn, được phong
làm Bắc Bình Vương, đóng đô ở đất Phú Xuân.
Năm mậu thân (1788) quân nhà Thanh mượn tiếng sang cứu nhà
Lê, chiếm giữ thành Thăng Long, có ý muốn lấy đất An Nam, Bắc Bình
Vương lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Quang Trung, rồi đem binh đi
đánh giặc.

3. Tôn Sĩ Nghị Đem Quân Sang An Nam. Nguyên vua Chiêu
Thống đã mấy lần toan sự khôi phục, nhưng không được, phải nương náu ở
đất Lạng Giang; còn bà Hoàng Thái Hậu thì đem hoàng tử sang Long Châu
kêu van với quan Tàu, xin binh cứu viện. Bấy giờ quan tổng đốc Lưỡng
Quảng là Tôn Sĩ Nghị dâng biểu tâu với vua Càn Long nhà Thanh, đại lược
nói rằng: "Họ Lê là cống thần nước Tàu, nay bị giặc lấy mất nước, mẹ và vợ
Tự quân sang cầu cứu, tình cũng nên thương. Vả nước Nam vốn là đất cũ
của nước Tàu, nếu sau khi cứu được nhà Lê, và lại lấy được đất An Nam,
thực là lợi cả đôi đường."
Vua Càn Long nghe lời tâu ấy sai Tôn Sĩ Nghị khởi quân bốn tỉnh
Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam, đem sang đánh Tây Sơn.
Tôn Sĩ Nghị chia quân ra làm 3 đạo, sai quan tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý
Châu đem một đạo sang mạn Tuyên Quang, sai Sầm Nghi Đống là tri phủ
Điền Châu đem một đạo sang mạn Cao Bằng. Sĩ Nghị cùng với đề đốc là
Hứa Thế Hanh đem một đạo sang mạn Lạng Sơn, hẹn ngày tiến binh sang
đánh An Nam.
Tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở ở Thăng Long được tin quân Tàu đã
sang, sợ thế yếu đánh không nổi, bèn rút quân thủy bộ về đóng giữ từ núi
Tam Điệp ra đến bờ bể, rồi sai người về Phú Xuân cáo cấp.
Tôn Sĩ Nghị kéo quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh), vua Chiêu Thống ra
chào mừng rồi theo quân Tàu về Thăng Long. Sĩ Nghị đóng đồn ở giữa bãi,
về mé nam sông Nhị Ha, bắc cầu phao ở giữa sông để tiện đi lại, và chia
quân ra giữ các mặt.
Ngày hôm sau, Sĩ Nghị là lễ tuyên đọc tờ sắc của vua nhà Thanh
phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.
Vua Chiêu Thống tuy đã thụ phong, nhưng các tờ văn thư đều phải
đề niên hiệu Càn Long. Mỗi khi buổi chầu xong rồi, lại đến dinh Sĩ Nghị để
chầu chực việc cơ mật quân quốc. Vua cưỡi ngựa đi với độ mười người lính
hầu mà thôi. Sĩ Nghị thì ngạo nghễ, tự đắc, ý tứ xử với vua rất là khinh bạc;
có khi vua Chiêu Thống lại hầu, không cho vào yết kiến, chỉ sai một người
đứng dưới gác chiêng truyền ra rằng: không có việc quân quốc gì, xin ngày
hãy về cung nghỉ.
Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: "Nước Nam ta từ khi có đế
vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà
phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng Đốc, thế
thì có khác gì đã là nội thuộc rồi không?"
Vua và triều thần bấy giờ việc gì cũng trông cậy vào Tôn Sĩ Nghị;
ngày đêm chỉ lo việc báo ân báo oán, giết hại những người trước đã đi theo
Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị thì càng ngày càng kiêu ngạo thêm, coi việc binh làm
thường, lại thả quân lính ra cướp phá dân gian, làm lắm sự nhũng nhiễu. Vì
thế cho nên lòng người mất cả trông cậy.

4. Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh. Bắc Bình Vương
được tin quân nhà Thanh đã sang đóng ở Thăng Long, lập tức hội các
tướng sĩ để bàn việc đem binh ra đánh, các tướng đều xin hãy chính ngôi
tôn, để yên lòng người rồi sẽ khởi binh.
Bắc Bình Vương bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn, ngày 25 tháng mười
một năm mậu thân (1788), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, rồi tự mình
thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh giặc Thanh. Ra đến Nghệ An nghỉ lại 10
ngày để kén lấy thêm binh, cả thảy được 10 vạn quân và hơn 100 con voi.
Vua Quang Trung điểm duyệt quân sĩ, truyền dụ nhủ bảo mọi người
phải cố gắng đánh giặc giúp nước. Đoạn rồi kéo quân ra Bắc, đến ngày 20
tháng chạp thì đến núi Tam Điệp. Bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhiệm đều ra
tạ tội, kể chuyện quân Tàu thế mạnh, sợ đánh không nổi, cho nên phải lui về
giữ chỗ hiểm yếu.
Vua Quang Trung cười mà nói rằng: "Chúng nó sang phen này là
mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định
mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ
chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất
chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không
thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ
Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm
nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng
nữa."
Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, để
đến hôm trừ tịch thì cất quân đi, định ngày mồng 7 tháng giêng thì vào
thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Đoạn rồi, truyền lệnh cho ba quân đến
nghe lệnh điều khiển.
Đại tư mã Sở, Nội Hầu Lân đem tiền quân đi làm tiên phong. Hô hổ
Hầu đem hậu quân đi đốc chiến.
Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết đem hữu quân cùng thủy quân, vượt
qua bể vào sông Lục Đầu. Rồi Tuyết thì kinh lược mặt Hải Dương, tiếp ứng
đường mé Đông; Lộc thì kéo về vùng Lạng Giang, Phượng Nhỡn, Yên Thế để
chặn đường quân Tàu chạy về.
Đại đô đốc Bảo, đô đốc Mưu đem tả quân cùng quân tượng mã đi
đường núi ra đánh phía Tây. Mưu thì xuyên ra huyện Chương Đức (nay là
Chương Mỹ), tiện đường kéo thẳng đến làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì,
đánh quân Điền Châu; Bảo thì thống suất quân tượng mã theo đường huyện
Sơn Lãng ra làng Đại Áng thuộc huyện Thanh Trì tiếp ứng cho mặt tả.
Năm quân được lệnh đều thu xếp đâu đấy, đến hôm 30 khua trống
kéo ra Bắc. Khi quân sang sông Giản Thủy, cánh nghĩa quân của nhà Lê
tan vỡ chạy cả. Vua Quang Trung thân đốc các quân đuổi theo đến huyện
Phú Xuyên bắt sống hết được toán quân Tàu đóng ở đấy, không một người
nào chạy thoát được; vì thế cho nên không có tin báo về, những quân Tàu
đóng ở làng Hà Hồi và làng Ngọc Hồi không biết gì cả. Nửa đêm ngày mồng
3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân vua Quang Trung đến làng Hà Hồi
vây kín đồn giặc, rồi bắc loa lên gọi, các quân dạ rầm cả lên, có hàng muôn
người. Quân canh đồn bấy giờ mới biết, sợ hãi thất thố, đều xin hàng, bởi
thế, lấy được hết cả quân lương và đồ khí giới. Sáng mờ mờ ngày mồng
năm, quân Tây Sơn tiến lên đến làng Ngọc Hồi, quân Tàu bắn súng ra như
mưa. Vua Quang Trung sai người lấy những mảnh ván, ghép ba mảnh lại
làm một, lấy rơm cỏ giấp nước quấn ở ngoài, rồi sai quân kiêu dũng cứ 20
người khiêng một mảnh, mỗi người dắt một con dao nhọn, lại có 20 người
cầm khí giới theo sau. Vua Quang Trung cưỡi voi đi sau đốc chiến, quân An
Nam vào đến gần cửa đồn, bỏ ván xuống đất, rút dao ra, xông vào chém,
quân đi sau cũng kéo ùa cả vào đánh. Quân Tàu địch không nổi, xôn xao
tán loạn, xéo lẫn nhau mà chạy. Quân Nam thừa thế đánh tràn đi, lấy được
các đồn, giết quân Thanh thây nằm ngổn ngang khắp đồng, máu chảy như
tháo nước. Quân các đạo khác cũng đều được toàn thắng. Quan nhà Thanh
là đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long, tả dực Thượng Duy
Thăng đều tử trận cả; quan phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống đóng ở Đống
Đa125 bị quân An Nam vây đánh cũng thắt cổ mà chết.
Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được tin báo, hoảng hốt không kịp thắng yên
ngựa và mặc áo giáo, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân
các trại nghe tin như thế, xôn xao tan rã chạy trốn, tranh nhau sang cầu,
một lát cầu đổ, sa cả xuống sông chết đuối, sông Nhị Hà đầy những thây
người chết.
Vua Chiêu Thống cũng theo Tôn Sĩ Nghị sang sông cùng với bà
Hoàng Thái Hậu và mấy người cận thần chạy sang Tàu.
Đạo quân Vân Nam và Quý Châu đóng ở miền Sơn Tây nghe tin
Tôn Sĩ Nghị đã thua, cũng rút quân chạy về.
Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị
thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long, sai
tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân
Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa
ải về mé bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy tiếng một người
nào!
Vua Quang Trung vào thành Thăng Long, hạ lệnh chiêu an, phàm
những người Tàu trốn tránh ở đâu ra thú tội, đều được cấp cho áo mặc,
lương ăn. Lại bắt được cả ấn tín của Tôn Sĩ Nghị bỏ lại, trong những giấy
má bắt được có tờ mật dụ của vua Càn Long nói rằng: " Việc quân nên từ
đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho
các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm tự quân nhà Lê đem ra
đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ, thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng
người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến, ai là chẳng gắng sức.
Nguyễn Huệ tất phải tháo lui; ta nhân lấy dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo,
rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy nỗi mà nên được
công to, đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước, nửa theo
đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy
đưa thư sang tỏ bảo đường họa phúc xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào
thủy quân ở Mân, Quảng đi đường bể sang đánh mặt Thuận Hóa và Quảng
Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch, thế tất phải
chịu thua. Bấy giờ ta sẽ nhân mà là ơn cho cả hai bên; tự đất Thuận Hóa
Quảng Nam trở vào Nam, thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra
Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai
bên, rồi sẽ có xử trí về sau".
Vua Quang Trung đem tờ mật dụ ấy bảo với Ngô Thì Nhiệm rằng: "
Ta xem tờ chiếu của vua nhà Thanh chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để
lấy nước ta đó thôi. Nay đã bị ta đánh thua một trận, tất là lấy làm xấu hổ,
chắc không chịu ở yên. Hai nước mà đánh nhau thì chỉ khổ dân. Vậy nên
dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự binh đao; việc ấy nhờ nhà người chủ
trương cho mới được".
Ngô Thì Nhiệm vâng lệnh làm thư đại khái nói rằng: "Nước Nam vốn
không dám chống cự với đại quốc, nhưng chỉ vì Tôn Sĩ Nghị làm nhỡ việc
cho nên phải thua. Vậy nay xin tạ tội và xin giảng hòa."
Vua Quang Trung sai sứ đem thư sang Tàu, và lại sai đem những
quân nhà Thanh đã bắt được, để ở một nơi, cấp cho lương thực, đợi ngày
cho về nước. Xếp đặt mọi việc xong rồi, đem quân về Nam, lưu Ngô Văn Sở
và Phan văn Lân ở lại tổng thống các việc quân quốc; còn những việc từ lệnh
giao thiệp với nước Tàu thì ủy thác cho Ngô Thì Nhiệm và Phan Huy Ích cho
được tự tiện mà khu xử, hễ không có việc gì quan hệ thì bất tất phải đi tâu
báo mà làm gì.

5. Vua Quang Trung Cầu Phong. Vua nhà Thanh nghe tin Tôn
Sĩ Nghị bại binh, nổi giận đùng đùng, lập tức giáng chỉ sai quan nội các là
Phúc Khang An ra thay Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng, đem binh mã
chín tỉnh, sang kinh lý việc An Nam.
Phúc Khang An ra đến Quảng Tây nghe tiếng quân An Nam thế
mạnh trong bụng đã sợ, có ý muốn hòa, bèn sai người đưa thư sang nói việc
lợi hại và bảo phải làm biểu tạ tội để cho yên việc binh đao.
Vua Quang Trung bèn cho người đưa vàng bạc sang đút lót cho
Khang An, rồi sai người cháu là Nguyễn Quang Hiển và quan là Vũ Huy Tấn
đem đồ cống phẩm sang Yên Kinh vào chầu vua nhà Thanh và dâng biểu xin
phong.
Bấy giờ quan ngoài thì có Phúc Khang An đề đạt giúp đỡ, quan trong
thì có các thần là Hòa Thân làm chủ trương, cho nên vua nhà Thanh mới
thuận cho giảng hòa. Hòa Thân được tiền bạc của vua Quang Trung đút lót,
rồi dùng lời nói khéo, điều gì cũng hợp ý vua nhà Thanh. Vua nhà Thanh
bèn sai sứ sang phong cho vua Quang Trung làm An Nam Quốc Vương, và
lại giáng chỉ vời quốc vương vào chầu.
Vua Quang Trung bèn chọn một người hình dung giống mình, tên là
Phạm Công Trị trá làm quốc vương, rồi sai Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân,
Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn đưa sang Yên Kinh, vào chầu Càn Long. Ngoài
những phẩm vật phải đem cống, vua Quang Trung lại đem cống thêm đôi
tượng đực, làm cho các cung trạm ở dọc đường bên Tàu phảI phục dịch đưa
đón thật là vất vả. Quan Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An và quan
Tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh phải đưa Quốc Vương An Nam vào
Kinh.
Sang đến Yên Kinh, vua Càn Long nhà Thanh tưởng là Nguyễn
Quang Trung thật, vời đến chầu ở Nhiệt Hà, cho vào làm lễ ôm gối, như là
tình cha con một nhà, và cho ăn yến với các thân vương. Đến lúc về nước,
vua lại sai thợ vẽ làm một bức ảnh truyền thần để ban cho ân lễ thật là hậu.

6. Vua Chiêu Thống Nhà Lê bị nhục bên Tàu. Vua Chiêu
Thống theo Tôn Sĩ Nghị vào thành Nam Kinh ở Quảng Tây, được ít lâu thì
vua nhà Thanh sai các thần là Phúc Khang An ra thay Tôn Sĩ Nghị. Khang
An muốn giảng hòa với Tây Sơn, bèn mời vua Chiêu Thống về Quế Lâm.
Bấy giờ những quan cựu thần nhà Lê là: Hoàng thúc Lê Duy Án, Đinh Nhạ
Hành, Đinh Lịnh Dận, Trần Huy Lâm, Lê Doãn, Lê Dĩnh, Phan Khải Đức, Bế
Nguyễn Cung, Bế Nguyễn Doãn, đều lục tục sang theo vua Chiêu Thống, vào
ra mắt Khang An.
Khang An dùng Đinh Nhạ Hành làm chức thủ bị Toàn Châu, Phan
Khải Đức làm chức đô tư Liễu Châu, còn thì tùy tiện an trí mỗi người một
nơi. Duy chỉ có Lê Duy Án, Trần Huy Lâm, Lê Doãn, Lê Dĩnh về Quế Lâm
theo vua nhà Lê.
Đến tháng tư năm kỷ dậu (1789), vua tôi nhà Lê vào thành Quế
Lâm, Khang An nói thác ra bảo với vua Chiêu Thống rằng: Trời đang mùa hè
nắng nóng, sang đánh phương nam không tiện, nên để đến mùa thu mát mẻ
sẻ khởi binh. Vậy nhà vua nên gióng giả dần bọn tướng thuộc đi trước.
Nhưng nhà vua hãy nên gọt đầu thay áo, làm như dáng người Tàu, để khi
về nước, giặc không nhận được mặt. Việc hành binh phải nên biến trá, đợi
khi thành công rồi lại theo tục nước mà ăn mặc. Vua Chiêu Thống không
ngờ là Khang An đánh lừa mình, bèn cùng với các quan cạo đầu gióc tóc và
đổi y phục.
Phúc Khang An bèn làm một tờ biểu tâu với vua nhà Thanh rằng:
"Vua nước Nam là Lê Duy Kỳ không có ý xin viện binh nữa, vua tôi hiện đã
gióc tóc, thay áo, xin yên tâm ở lại nước Tàu. Vậy xin bãi binh đánh An
Nam". Ở trong lại có Hòa Thân tán thành, bởi vậy vua nhà Thanh mới
xuống chỉ bãi binh.
Vua nhà Thanh đã nghe lời bọn Phúc Khang An và Hòa Thân, và đã
phong vương cho vua Quang Trung rồi, lại giáng chỉ triệu vua tôi nhà Lê về
Yên KinhMùa xuân năm canh tuất (1790), vua Chiêu Thống cùng với các
quan tòng vong vào kinh. Vua Càn Long để vua Chiêu Thống, bà Thái Hậu
và Hoàng Tử ở ngõ Hồ Đồng, Tòa Quốc Tử Giám, cửa Tây Định ở Yên Kinh,
ngoài cửa đề chữ "Tây An Nam Dinh". Còn các quan An Nam đi theo, thì
cho ở ngõ Hồ Đồng, cửa Đông Trực, ngoài cửa đề chữ: "Đông An Nam
Dinh".
Vua Chiêu Thống đến Yên Kinh được mấy hôm, thì thấy quan Đô
Thống Nhương Hoàng Kỳ là Kim Giản phụng chỉ vua nhà Thanh ra phong
cho chức Tá Lĩnh, và ban cho áo mão quan tam phẩm. Còn các quan đi theo
thì cấp cho mỗi người ba lạng bạc và một thạch gạo.
Vua Chiêu Thống giận vì bị người Tàu đánh lừa, bèn cùng với bề tôi
là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiển, Lễ Hân, Nguyễn Quốc Đống,
Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê
Tùng, Lê Thức uống máu ăn thề, định sống chết thế nào thì cũng dâng biểu
xin binh cứu viện. Nếu không cho thì xin đất hai tỉnh Tuyên Quang, Thái
Nguyên để phụng thờ tông tự; mà không nữa, thì xin cho về nước vào đất
Gia Định với chúa Nguyễn để đồ việc khôi phục.
Văn biểu làm xong, đến nói lót trước với Kim Giản, Kim Giản không
nghe, vua tôi nhà Lê phục xuống đất mà kêu khóc. Kim Giảng bất đắc dĩ
mời vào an ủi, rồi nói rằng: hãy xin về quán nghỉ ngơi, đợi để thương lượng
thế nào, sau sẽ cho biết.
Kim Giản bèn mưu với Hòa Thân phân trí vua tôi An Nam đi ở mỗi
người một nơi, để cho khỏi kêu ca khó chịu.
Đến tháng tư năm Tân Hợi (1791) Hoàng Ích Hiểu phải đày sang I-lê
(thuộc Hồi-bộ ở Tây-vực, phía Tây nước Tàu); Lê Hân đày đi Phụng Thiên
(Mãn Châu); Phạm Như Tùng đày lên Hắc Long Giang (Mãn Châu); Nguyễn
Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Đàm Thận Xưởng, Lê Văn
Trương đày ra bến Trương-gia ở Nhiệt-hà (thuộc tỉnh Trực-lệ). Chỉ để Phạm
Đình Thiện, Đinh Nhạ Hành ở lại hầu hạ vua Lê.
Vua Chiêu Thống nghe chuyện ấy lo lắng chua xót, ruột nóng như
lửa đốt, sáng hôm sau cưỡi ngựa đế nhà Kim Giản, để kêu oan cho mấy
người phải đi đày, gặp Kim Giản vào chầu vua nhà Thanh ở vườn Viên Minh,
vua Chiêu Thống đi vào cửa vườn, bị lính giữ vường ngăn cấm không cho
đi. Bấy giờ có Nguyễn Văn Quyên đi theo hầu vua, thấy lũ lính vô lễ, mới nổi
giận lên mà chửi mắng rằng: "Lũ chó Ngô kia sao chúng bay được làm nhục
đến vua tao!" Rồi lấy gạch ném vào chúng nó. Chúng nó xúm nhau lại
đánh Văn Quyên về thành bệnh mà chết.
Tự đó vua Chiêu Thống trong bụng buồn bã rầu rĩ, không dám nói
đến việc xin binh nữa. Qua tháng năm năm Nhâm Tí (1792) hoàng tử lên
đậu mất. Vua nhân dịp đó phải bệnh một ngày một nặng, đến tháng mười
năm Quý Sửu (1793) thì mất, thọ được 28 tuổi.
Vua nhà Thanh sai theo lễ tước công mà táng ở ngoài cửa Đông
Trực.
Tháng 11 năm Kỷ Mùi (1799) đời vua Gia Khánh thì bà Hoàng Thái
Hậu mất.
Đến năm Nhâm Tuất (1802) nhân khi bên Việt Nam ta vua Thế Tổ
nhà Nguyễn đã thống nhất cả nam bắc, và có sứ ta sang cầu phong, các
quan nhà Lê mới nhân dịp dâng biểu xin đem ma Thái Hậu và Cố Quân về
nước. Vua Gia Khánh cho tất cả những người Việt Nam theo vua Lê sang
Tàu về nước.
Sử chép rằng khi đào đất lên để cải táng mả Cố Quân, thì thấy da
thịt đã tiêu cả, chỉ còn có quả tim không nát, vẫn đỏ như thường. Ai trông
thấy cũng động lòng thương xót. Dẫu chuyện đó thực hư thế nào mặc lòng,
nhưng tưởng đến tình cảnh vua Chiêu Thống lúc bấy giờ, thì ai cũng ái ngại
thay cho ông vua một nước, phải đày đọa đến nỗi như thế, có thể làm được
một bài bi kịch thảm xót muôn đời. Tuy rằng tại vua tôi nhà Lê vụng tính
cho nên bị người ta đánh lừa, nhưng cũng nên tránh vua quan nhà Thanh xử
tệ, bạc đãi một ông vua vong quốc, đem thân đến nương nhờ nước mình.
Ấy cũng là một thời dã man về đời áp chế, khiến cho cái oan khổ của người
ta muôn đời về sau không tiêu thoát đi được.
Khi đem ma bà Thái Hậu và vua Chiêu Thống về đến Việt Nam thì bà
Hoàng Phi trước phải ẩn nấp ở đất Kinh Bắc, nay lên đến Ải quan đón rước,
rồi về đến Thăng Long cũng nhịn ăn mà tự tử.
Ngày 24 tháng 11, rước ma Cố quân, Thái Hậu, Hoàng Phi và Hoàng
tử về táng ở lăng Bàn Thạch ở Thanh Hóa.

7. Đức Độ Vua Quang Trung. Vua Quang Trung nhà Nguyễn
Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có
độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học.
Khi ngài ra lấy Bắc hà, những người như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy Ích đều
thật là khác thường.
Ông Nguyễn Thiệp, tự là Khải Chuyên, hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu
là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc huyện La Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La sơn phu tử.
Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc hà, biết tiếng Nguyễn Thiệp,
đã mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và
cũng từ chối không ra. Đến khi ngài đã đăng cực, lại mấy lần cho người đến
mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị
nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao
giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường
theo ý nghĩa của ông đã trình bày.

8. Chính Trị của vua Quang Trung. Vua Quang Trung tuy đã
thụ phong nhà Thanh, nhưng vẫn tự xử theo cách Hoàng Đế, lập bà Ngọc
Hân con vua Hiển Tông nhà Lê làm Bắc Cung Hoàng Hậu, lập con là Quang
Toản làm Thái Tử. Lại lấy thành Nghệ An là đất giữa nước và lại là đất tổ
khi xưa ở đó, mới sai thợ thuyền tải vận đá, gỗ, gạch, ngói, sửa sang đền
đài cung điện, và sai quân các đạo đào lấy đá ong để xây nội thành, gọi là
Phượng Hoàng Trung Đô. Cải thành Thăng Long là Bắc Thành, chia đất Sơn
Nam ra làm hai trấn, gọi là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ.
Mỗi trấn đặt quan trấn thủ và quan hiệp trấn. Mỗi huyện, văn thì
đặt chức phân tri để xét việc kiện cáo, võ thì đặt chức phân suất để coi việc
binh lương.

9. Quan Chế. Quan Chế thời bấy giờ thì không thấy sử chép rõ, nhưng
xem các dã sữ thì thấy có tam cong, tam thiếu, có Đại chủng tể, Đại tư đồ,
Đại tư khấu, Đại tư mã, Đại tư không, Đại tư cối, Đại tư lệ, Thái Úy, Đại tổng
quản, Đại đổng lý, Đại đô đốc, Đại đô hộ, v.v... Lại có Trung thư sảnh,
Trung thư lệnh, Đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Thị trung ngự sử, Lục bộ
thượng thư, Tả hữu đồng nghị, Tả hữu phụng nghị, Thị lang, Tư vụ, Hàn
lâm, v.v....
Về đường quân binh thì đặt ra tiền quân, hậu quân, trung quân, tả
quân, hữu quân, v.v...

10. Việc Đinh Điền. Đinh thì chia ra làm ba hạng: từ 2 tuổi đến 17
tuổi làm hạn "vị cập cách"; từ 18 đến 55 tuổi làm tráng hạng; từ 56 đến 60
tuổi làm lão hạng; từ 61 trở lên làm lão nhiêu.
Ruộng cũng chia ra làm ba hạng: nhất đẳng điền mỗi mẫu phải nộp
150 bát thóc, nhị đẳng điền mỗi mẫu 80 bát, tam đẳng điền mỗi mẫu 50 bát.
Lại thu tiền thập vật, mỗi mẫu một tiền và tiền khoán khố mỗi mẫu 50 đồng.
Ruộng tư điền cũng đánh thuế: nhất đẳng điền mỗi mẫu nộp 40 bát
thóc, nhị đẳng điền mỗi mẫu 30 bát, tam đẳng điền mỗi mẫu 20 bát. Tiền
thập vật cũng theo như ruộng công điền, còn tiền khoán khố thì mỗi mẫu
phải nộp 30 đồng.

11. Việc Học Hành. Đời Tây Sơn việc cai trị thường hay dùng chữ
nôm. Nhà vua muốn rằng người Việt Nam thì phải dùng tiếng Việt Nam, để
gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không
phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tàu. Vậy nên khi thi cử thường bắt
quan ra bài chữ nôm và bắt sĩ tử làm bài bằng chữ nôm. Thời bấy giờ nhiều
người không hiểu rõ cái ý nghĩa sâu xâ ấy, cho là vua Tây Sơn dùng hà chính
mà ức hiếp nhân dân.

12. Việc Làm Chùa Chiền. Vua Quang Trung thấy làng nào cũng
có chùa chiền, mà những người đi tu hành thì ngu dốt, không mấy người đạt
được cái đạo cao sâu của Phật, chỉ mượn tiếng thần thánh mà đánh lừa kẻ
ngu dân, ngài xuống chiếu bắt bỏ những chùa nhỏ ở các làng, đem gỗ gạch
làm ở mỗi phủ mỗi huyện một cái chùa thật to, rất đẹp, rồi chọn lấy những
tăng nhân có học thức, có đạo đức, ở coi chùa thờ Phật. Còn những người
không xứng đáng thì bắt về làm ăn. Ý vua Quang Trung muốn rằng chỗ thờ
Phật phải cho tôn nghiêm, mà những người đi tu hành thì phải là người chân
tu mộ đạo mới được.
Những việc cải cách ấy rất có nghĩa lý, nhưng vì thủa ấy có nhiều sự
chiến tranh, vả nhà Tây Sơn cũng không làm vua được bao lâu, cho nên
thành ra không có công hiệu gì cả.

13. Việc Định Đánh Tàu. Trước vua Quang Trung cầu hòa với
nước Tàu và chịu phong là cốt để đợi ngày có đủ sức mà đánh báo thù, cho
nên từ khi trong nước đã dẹp yên rồi, ngày đêm trù tính việc đánh Tàu.
Đình thần ai cũng bàn nên xét số dân đinh cho đích thực để kén lấy lính.
Vua bèn xuống lệnh cho các trấn bắt dân xã làm lại sổ đinh, ai ai cũng phải
biên vào sổ, rồi cấp cho mỗi người một cái thẻ bài, khắc bốn chữ "Thiên HạĐại Tính",
chung quanh ghi tên họ quê quán, và phải điểm chỉ làm tin.
Người nào cũng phải đeo thẻ ấy gọi là tín bài. Ai không có thẻ là dân lậu,
bắt sung vào quân phòng, và bắt tội tổng trưởng, xã trưởng. Nhân có việc
ấy, những kẻ lại dịch hiệp với xã trưởng đi lại làm bậy: thường vào làng vây
bắt hỏi thẻ, làm cho dân gian nhiễu động, nhiều người phải trốn vào rừng
mà ở.
Sổ đinh làm xong rồi cứ ba tên đinh kén lấy một người lính.
Quân thì chia ra làm đạo, cơ, đội. Đạo thì thống các cơ, cơ thì thống
các đội. Cơ đội nào theo về cơ đội ấy, bắt phải diễn tập luôn luôn.
Bấy giờ ở bên Tàu có những giặc Tàu ô, quấy nhiễu ở miền bể bị
quân nhà Thanh đánh đuổi, chạy sang xin phụ thuộc nước ta, vua Quang
Trung cho người tướng Tàu-ô làm chức tổng binh, sai sang quấy nhiễu ở
mặt bể nước Tàu. Lại có người thuộc về đảng Thiên Địa Hội làm giặc ở Tứ
Xuyên, vua cũng thu dùng cho làm tướng.
Công việc xếp đặt đâu vào đấy rồi, đến năm Nhâm Tí (1792) vua
Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam đất
Lưỡng Quảng. Việc ấy tuy không phải là bản ý nhưng muốn mượn chuyện
để thử ý vua nhà Thanh. Không ngờ vua Quang Trung phải bệnh mất, các
quan dìm việc cầu hôn và việc xin trả đất đi, không cho Thanh triều biết.

14. Vua Quang Trung mất. Vua Quang Trung mất năm Nhâm Tí
(1792), làm vua được 4 năm, thọ được 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Võ
Hoàng Đế.
Triều thần bấy giờ là Bùi Đắc Tuyên, Trần Quang Diệu, Vũ Văn
Dũng lập thái tử là Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi làm vua, rồi sai sứ sang
Tàu dâng biểu cáo tang và cầu phong. Trong biểu nói dối rằng khi vua
Quang Trung mất có dặn lại rằng phải đem chôn ở Tây Hồ gần Bắc Thành,
để tỏ cái bụng quyến luyến trông về Thiên triều. Vua nhà Thanh xem biểu
tưởng là thật, khen là trung, đặt tên thụy cho là Trung Thuần, lai ngự chế
một bài thơ sang viếng, sai quan án sát Quảng Tây là Thành Lâm sang tế, và
phongcho Quang Toản làm An Nam Quốc Vương. Trong bài văn tế có câu
rằng:
Chầu ngô Nam cực,
Lòng trung nghĩa hết đạo thờ vua
Chôn đất Tây hồ
Nghĩa thần tử vẫn còn mến chúa
.

15. Vua Cảnh Thịnh (1782-1802). Khi vua Quang Trung mất
thì Thái Tử là Nguyễn Quang Toản mới lên 10 tuổi, triều đình tôn lên làm
vua, đặt niên hiệu là Cảnh Thịnh, sau thành Phú Xuân thất thủ, vua tôi nhà
Tây Sơn chạy ra Bắc hà lại đổi niên hiệu là Bảo Hưng.
Vua Cảnh Thịnh tuy đã lên ngôi nhưng mà việc gì cũng do ở thái sư
là Bùi Đắc Tuyên quyết đoán cả. Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái Hậu,
cho nên uy quyền lại càng hống hách lắm. Các quan văn võ có nhiều người
không phục, bởi vậy cho nên về sau trong Triều phân ra bè đảng; các đại
thần giết hại lẫn nhau. Vả lại lúc bấy giờ có vua Thế Tổ Cao Hoàng nhà
Nguyễn là một bậc có tài trí, quyết chí phục thù, cho nên cơ nghiệp nhà Tây
Sơn không được bao lâu mà đổ nát vậy.

 

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com