arrow
Trang Nhà arrow Nhạc arrow SÀI GÒN CHỈ VUI KHI CÁC ANH VỀ - Nhạc & lời: Bảo Chương (Ca sĩ Duy Trác)
Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
Trang Nhà
Chủ Trương
Văn
Thơ
Nhạc
Hội Họa - Nhiếp Ảnh
Biên Khảo
Giao Điểm
- - - - - - -
Tác Giả
Tủ Sách
- - - - - - -
Sinh Hoạt
- - - - - - -
Liên Kết
- - - - - - -
Tìm Kiếm
Liên Lạc
Syndicate
Bài Mới Đăng
Đang Xem
We have 27 guests online
SÀI GÒN CHỈ VUI KHI CÁC ANH VỀ - Nhạc & lời: Bảo Chương (Ca sĩ Duy Trác) PDF Print E-mail

                                                

                                                        Ca Sĩ Duy Trác

Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về
Nhạc và lời: Bảo Chương (Ca sĩ Khuất Duy Trác)

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
Sàigòn có vui ? Sài gòn có vui ?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ:
"Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
Sài Gòn chỉ vui khi các anh về" .

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài Gòn tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !

                             

  Khánh Ly trình bày 2 nhạc phẩm của Bảo Chương tức Ca sĩ Duy Trác, sáng tác 1981:

         > Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về (mp3)        > Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về (video)

                                                 > Lời Nguyện Trong Tù (mp3)

                            

                        

                         

                >> Nghe toàn bộ 12 bài trong: TẮM MÁT NGỌN SÔNG ĐÀO

                           

* Vì sáng tác 2 bài hát này và gởi ra hải ngoại, Ca sĩ Duy Trác (bút hiệu Bảo Chương ở trên) đã bị bắt giam 4 năm ở Chí Hòa - Sài Gòn (cùng với "Nhóm Biệt Kích Cầm Bút") và sau đó bị kết án 4 năm. Duy Trác đã từng ở trại tù khắc nghiệt Xuân Phước - Phú Yên, Tuy Hòa. Trại có biệt danh là Trại Trừng Giới A-20, Thung Lũng Tử Thần ...

* Nhóm gọi là "Biệt Kích Cầm Bút" gồm 8 người: Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự, Nguyễn Thị Nhạn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt

* Bút hiệu Hồng Ngọc là của Nhà Văn Nguyễn Đình Toàn, trước 75 là một biên tập viên của đài phát thanh. Ông là người được hàng triệu thính giả của miền Nam ái mộ qua các chương trình “Nhạc Chủ Đề” do ông đề xướng. Năm 1975 ông và gia đình kẹt lại ở trong nước, và chỉ mới đến Mỹ vào cuối thập niên 90, đoàn tụ với người con trai đã vượt biên trước đó hàng chục năm.

* “Tắm mát ngọn sông đào”, một tuyển tập những sáng tác “gửi chui” từ trong nước của nhiều nhà văn miền Nam, do Nhà Xuất bản Lá Bối thu góp và ấn hành tại Paris năm 1981.

* Hoàng Hải Thủy viết: "Thời ấy - những năm đầu thập niên 80 Thành Hồ có mấy câu Phóng Dao tả cảnh những anh Con Bà Cả Đọi đi lãnh đồ:

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Anh ra Bưu điện lãnh đồ em cho
Đồ em vừa nặng vừa to
Anh đã con mắt, anh no cái mồm
…"

                                         

                             Sài Gòn Chỉ Vui …

           (Nguồn:http://hoanghaithuy.wordpress.com/ -  Posted on June 12, 2010 by hoanghaithuy )

                              

                                   Ông bà Duy Trác, Houston, Texas năm 2000

Tôi – CTHàÐông – không giới thiệu nhân vật Duy Trác với quí vị, việc giới thiệu không cần thiết. Mời quí vị đọc Lời Kể của Ca sĩ – Luật sư – Sĩ Quan Biệt Phái – Người Tù Khổ Sai – Người Tị Nạn Duy Trác về những năm tháng trong Tuổi Trẻ và trong Tuổi Già của ông.

Duy Trác. Tôi và Tuổi Già.

Năm 1992 gia đình tôi tới Mỹ, một quốc gia tự do và nhân đạo, với 13 nhân khẩu. Không ngờ, vốn chỉ là một ca sĩ tài tử và đã bị chính quyền Cộng Sản giam cầm và cấm hát suốt 17 năm, tôi vẫn được một Trung Tâm Ca Nhạc tiếng tăm mời sang Paris tổ chức một buổi hội ngộ với thính giả và thu những băng nhạc nghệ thuật.

Ở Paris, nhiều thính giả vào hậu trường chào mừng tôi, buồn vui, mừng tủi. Tôi còn nhớ, và nhớ mãi, những câu chào hỏi, như mâu thuẫn mà rất thật lòng:

“Bác – chú – chẳng thay đổi gì mấy, chỉ già đi thôi.”

Ồ! Tôi đã già đi! Chắc chắn rồi. Nhưng những năm vừa qua tôi đã không có thì giờ nghĩ đến chuyện tôi già. Làm sao có tâm trí nghĩ đến chuyện mình già khi mình không biết ngày nào ra khỏi lao tù để về chung sức với vợ nuôi 6 đứa con, 5 đứa cháu và một bà mẹ già đau yếu. Nhất là nỗi đau bà mẹ tôi bị mất 3 người con và 7 đứa cháu trên biển cả. Nỗi đau quá lớn khiến mẹ tôi đã gục xuống và trở thành phế nhân với nửa người bất động.

Trong đời sống của mỗi con người, ai cũng có 3 giai đoạn: tuổi thơ, tuổi thanh xuân và tuổi già.

Riêng tôi tuổi thơ hầu như không có. Cha mẹ mất sớm, bị những người lớn tuổi trong đại gia đình hành hạ; năm 12 tuổi tôi đã bỏ đi sống một mình.

Tôi nhớ, hồi đó ở vùng kháng chiến Việt Bắc tôi thi vào Trường Sư Phạm; với học bổng mỗi tháng 18 kg gạo, 180 đồng tiền thức ăn, và 1 chai dầu dùng để thắp đèn học đêm. Nghỉ hè, trường không phát học bổng, tôi phải đi hái trà và đạp trà thuê. Cuối ngày lãnh tiền đủ đong được chút gạo, hái rau rừng làm thức ăn. Với đủ mọi hình thức kiếm tiền lương thiện, tôi đã phấn đấu học hành, làm việc với châm ngôn do mình đặt ra: “không hận thù những người đã hành hạ mình và phải cố gắng học cho thành tài.” Cả hai châm ngôn này tôi đã thực hiện đầy đủ và chân thành. Bỏ vùng Việt Bắc, trở về Hà Nội rồi di cư vào Nam, tôi đã cố gắng hoàn tất việc học, trở thành luật sư đồng thời lập gia đình năm 1961.

Ngẫm nghĩ lại, tuổi thơ không có, tuổi thanh xuân cũng không được bao nhiêu. Sau khi gia nhập Luật Sư Ðoàn được 2 năm và lập gia đình được hơn 1 năm, vào năm 1962 tôi được gọi nhập ngũ. Dĩ nhiên, phục vụ đất nước trong thời chiến tranh là nghĩa vụ thiêng liêng của con dân một nước. Nhưng rời bỏ gia đình mới được hơn một tuổi, bỏ lại vợ và con thơ để làm nghĩa vụ người trai trong 13 năm rưỡi rồi tiếp theo là 11 năm tù đày trong các trại tù Cộng Sản; thì hỡi ôi tuổi thanh xuân của tôi đã mất hút tự bao giờ tôi cũng không còn nhớ được nữa. Ra tù và sang đến Mỹ năm 1992 tôi đã ở vào tuổi 56. Các thính giả có bảo là tôi già đi nhiều thì cũng phải thôi. Tiếp tục vật lộn với đời sống để nuôi gia đình nên mối ưu tư về tuổi già, về những chăm sóc cho tuổi già được sống hợp lý, tốt đẹp cũng không phải là điều dễ dàng. André Maurois đã viết:

“Năm, sáu chục năm trời nếm trải những thành công và thất bại, hỏi ai còn có thể giữ được nguyên vẹn những điểm sung mãn thời trẻ? Ði vào hoàng hôn của cuộc đời như đi vào vùng ánh sáng đã điều hòa, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị lóa bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Và như vậy già là một tất yếu của vòng đời, một chuyện đương nhiên khi người ta tính tuổi, cớ sao phải lãng tránh? Có trẻ thì có già, đó là nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau vì già? Trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc.”

Trong thời gian tôi theo học tại trường Luật, có một người bạn gửi cho tôi một tấm thiệp Giáng Sinh trên đó có ghi toàn văn bản dịch của bài thơ “TUỔI TRẺ (YOUTH)” của Samuel Ullman. Lời lẽ bài tthơ thật là sâu sắc, đầy tinh thần lạc quan, nó ảnh hưởng sâu sa đến tôi trong mấy chục năm nay.

Mặc dầu bài thơ được sáng tác từ năm 1918, lúc tác giả đã 78 tuổi nhưng ý tưởng thật mới mẻ. Xin trích một vài câu tiêu biểu:

“Không một ai lại già cỗi đi vì những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua vì chúng ta ruồng bỏ lý tưởng của ta. Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da của chúng ta, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say, phấn khởi mới làm tâm hồn chúng ta héo hắt.”

Tướng Douglas Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơ này, ông cho trưng bày bài thơ tại phòng làm việc của ông ở Tokyo khi ông giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Ðội Ðồng Minh đặc trách công vụ giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tạp chí Reader’s Digest ấn bản tiếng Nhật đã phổ biến toàn văn bài thơ bất hủ này bằng Nhật ngữ. Nhân dân Nhật hân hoan đón nhận cái tín hiệu đầy lạc quan, tích cực và năng động của bài thơ không vần này. Cũng từ đó họ đã hăng say dấn thân vào việc tái thiết đất nước, khiến nước Nhật lấy lại được vị thế cường quốc về kinh tế, chính trị cũng như văn hoá như ta thấy ngày nay.

Sau đây là nguyên văn bài thơ:

YOUTH
By Samuel Ullman (1840-1925)

Youth is not a time of life; it is a state of mind;
it is not a matter of rosy cheeks, red lips and
supple knees; it is a matter of the will, a quality of
the imagination, a vigor of the emotions; it is the
freshness of the deep springs of life.

Youth means a temperamental predominance of courage over timidity of the appetite, for adventure over the love of ease. This offen exists in a man of sixty more than a body of twenty. Nobody grows old merely by a number of years. We grow old by deserting our ideals.

Years may wrinkle the skin, but to give up enthusiasm wrinkles the soul. Worry, fear, selfdistrust bows the heart and turns the spirit back to dust.

Sixty or sixteen, there is in every human being’s heart the lure of wonder, the unfailing child-like appetite of what’s next, and the joy of the game of living. In the center of your heart and my heart, there is a wireless station; so long as it receives messages of beauty, hope, cheer, courage and power from men and from the infinite, so long are you young.

When the aerials are down, and your spirit is covered with snows of cynicism and the ice of pessimism, then you are grow old, even at twenty, but as long as your aerials are up, to catch the waves of optimism, there is hope you may die young at eighty.

Năm 1992 tôi tới Mỹ với một tấm thân tàn vì bệnh hoạn, đói khổ, và tù đầy. Nếu không nhờ nền y tế tối tân và siêu việt của quốc gia này, tôi không còn sống tới ngày hôm nay. Từ bệnh cao huyết áp, tiểu đường, nghẽn mạch máu tim, cao mỡ v.v.., tôi đã phải vào bệnh viện 5 lần, thông tim 4 lần, stroke nhẹ 2 lần. Tôi phải liên tục dùng thuốc trong mười mấy năm nay, tốn kém của Nhà Nước bao nhiêu tiền của. Tôi đã cố gắng tập thể dục, ăn uống kiêng cữ, và nhất là tìm một môn luyện tập thân thể theo phương pháp Ðông phương thích hợp với tuổi già. Ðấy là nguồn gốc cái Duyên mà tôi tìm đến với môn Taichi.

Một lần trong một Ðài Phát Thanh VOVN phỏng vấn các vị lãnh đạo TAEKWONDO thế giới, tôi đã hỏi ngắn gọn các vị về môn Taichi, tôi nhận được những lời ngợi khen Taichi nồng nhiệt và có ý kiến rằng môn tập này mang ý nghiã sử dụng nguyên lý âm dương như một võ công. Muốn có được những lợi lạc của phương pháp Taichi thì cần có ý niệm về khí công. Một trong những điều căn bản cần nắm vững là phải biết thư giãn bản thân. Vì Taichi hầu như chỉ được tập luyện qua những động tác chậm cho nên ở bất cứ tuổi nào người ta cũng có thể luyện tập Taichi một cách dễ dàng.

Một lợi điểm phụ thuộc là nhờ Taichi ta có được khả năng tự vệ. Ðấy cũng là quan điểm của võ phái Taekwondo. Các tài liệu khoa học theo tạp chí Science Daily gần đây có nêu 2 lợi điểm nổi bật trong việc tập thể dục theo phương pháp Taichi:

- Một là chữa các dạng viêm khớp

- Hai là gia tăng sức đề kháng nơi những người cao tuổi

( .. .. .. )

Tôi không phải là nhà nghiên cứu mà chỉ là một người già nhiều bệnh đi tìm một môn tập có thể giúp mình giải thoát được phần nào những tật bệnh đã hành hạ mình từ bao năm nay. Do một cơ duyên tình cờ, tôi đã đến với hội TỪ BI PHỤNG SỰ. Hội do Thầy HẰNG TRƯỜNG sáng lập với mục đích phục vụ tha nhân về mặt tinh thần và thể lực. Trụ sở chính của Hội đặt tại California nhưng Thầy HẰNG TRƯỜNG đã huấn luyện được hàng trăm huấn luyện viên hiện sinh sống tại nhiều thành phố lớn có đông người Việt cư ngu ở Mỹ. Hội mở ra các lớp tập mang tên CÀN KHÔN THẬP LINH phối hợp giữa 2 môn Taichi và Yoga. Sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa Taichi và Yoga khiến những bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH trở nên hiệu quả một cách tuyệt hảo. Thế là bao mong ước của tôi về môn Taichi không những đã được đáp ứng mà còn được đáp ứng một cách hoàn mỹ nữa nhờ có thêm Yoga.

Tôi theo tập lớp Càn Khôn Thập Linh này đã được hơn 2 năm và giờ đây những bệnh tật của tôi, không quá lạc quan là đã hết hẳn, nhưng hình như đã nằm yên để cho những ngày sống già của tôi được an bình. Ông Bác sĩ người Mỹ ở bệnh viện Tim khám bệnh thường xuyên cho tôi 3 tháng 1 lần, nay đã hẹn 1 năm nữa tôi mới phải trở lại để khám. Có lần tái khám, ông ấy mỉm cười nói:

“Chẳng lẽ tôi hẹn ông 2 năm mới khám lại thì kỳ quá!”

Bây giờ các bệnh máu cao, mỡ cao, đường cao trong tôi đều đã xuống. Hoạt động của tim cũng điều hòa. Có một điều này nữa, tôi không nói dối đâu. Tất cả các bằng hữu, người quen biết hay các fans âm nhạc khi gặp tôi đều có cùng một nhận xét là tôi trẻ ra nhiều, tôi còn trẻ hơn ngày tôi mới sang Mỹ năm 1992.

Tất cả các bạn già cùng tập Càn Khôn Thập Linh với tôi đều có kết quả như tôi, nhiều hay ít mà thôi. Ngày mới tập, mỗi thế tôi chỉ làm được 5, 7 lần là đã thấy mệt. Nay tôi có thể “múa” được 25 lần vẫn thấy thoải mái. Thấm nhuần và mở rộng các quán tưởng của mỗi thế tập còn khiến người ta thấy yêu đời, yêu người, mở lòng mình ra vũ trụ, ra thế giới bên ngoài, nhân ái với hết thảy mọi loài nữa.

Qua bài viết này, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Hằng Trường, người đã bỏ bao tâm trí, tình thương người, công sức, bao thời gian, đi đến những vùng rất xa xôi trên đất nước Trung Hoa để tìm tòi, học hỏi mà sáng chế ra những thế tập qua tên gọi của những con vât tượng trưng cho sự nhẫn nại, sự hiền hoà, sự vượt khó v.v… Bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH quả đã mang lại sức khỏe, sự tươi vui … cho những người tìm đến nó, luyện tập nó.

Lời cảm ơn tiếp theo tôi xin gửi đến toàn thể anh chị em Huấn Luyện Viên của hội TỪ BI PHỤNG SỰ, những vị đã chia sẻ với chúng tôi những kiến thức quí báu, đã hy sinh thời giờ, ngay cả tiền bạc để mang lại cho chúng tôi những bài tập bổ ích, những phòng tập thoải mái mát mẻ. Ðể kết thúc bài viết này tôi xin giới thiệu bài thơ vui, rất vui, do một người bạn gửi cho, dành cho những người tuổi Hạc như tôi.

SỬA LẠI GIÂY ÐỜN

Thanh Mai

60 chưa phải là già
60 là tuổi mới qua dậy thì
65 hết tuổi thiếu nhi
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa
90 mới bắt đầu già
Ðêm đêm vẫn cứ mặn mà yêu đương
100 có lệnh Diêm Vương
Cứ ở trên ấy yêu đương thỏa lòng
Bao giờ đạn hết lên nòng
Từ từ nằm xuống là xong một đời

Duy Trác
HOUSTON 7/9/2009

============================

Quí vị vừa đọc bài viết của Duy Trác, Người Ca Sĩ Tài Tử của Sài Gòn thời gian 1965-1970. “Tài Tử ” tôi dùng đây với nghĩa “không chuyên nghiệp.” Ca sĩ Duy Trác không lên sân khấu, không lên TiVi, không lên báo nên trước năm 1975 dù nổi danh, Sài Gòn có ít người biết mặt Ca sĩ Duy Trác.

     

                Băng nhạc TỨ QUÝ Lệ Thu, Duy Trác, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Sài Gòn năm 1972

Tôi ở trong số người trước 1975 không được gặp Ca sĩ Duy Trác lần nào. Do đó tôi không được biết dung nhan ông. Nhưng sau 1975 tôi được nằm phơi rốn với ông 4 mùa lá rụng trong Nhà Tù Chí Hoà. Số là năm 1980 chúng tôi đi tù Cộng Sản lần thứ nhất trở về. Qua ông bạn Dương Hùng Cường, tôi được quen biết Luật sự Ca sĩ Duy Trác và ông Sĩ Quan Không Quân Trần Ngọc Tự. Qui luật các nhà Quân Tử Tầu gọi là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” – nôm na là “cùng bọn thì lọn xọn mí nhau” – làm chúng tôi mấy mạng dân Sài Gòn đi tù CS về tụ lại thành một nhóm gửi những sáng tác – Thơ, Văn, Nhạc, Ảnh – ra nước ngoài.

Người sĩ quan Duy Trác đi tù ngụy quân. Một hôm cùng các ông bạn tù làm khổ sai ven con đường vào Trại Tù, thấy mấy bà vợ tù đi trên đường vào trại thăm chồng, người tù khổ sai Duy Trác hỏi:

- Sài Gòn có gì vui không mấy chị?

Một bà trả lới:

- Sài Gòn chỉ vui khi các anh về.

Cảm khái vì câu trả lời, người tù khổ sai Duy Trác làm bản nhạc “Sài Gòn Chỉ Vui..” Năm 1982, hay 1983, từ Sài Gòn Duy Trác gửi bản nhạc này sang Paris cho ông bạn Trần Tam Tiệp. Bản nhạc được phổ biến ở hải ngoại, nhạc sĩ – tác giả ký tên dzởm là Ve Sầu. Tháng Năm 1984 bọn P 25, hay PA 25 – nghe nói là bọn Công An VC chuyên về Phản Gián – trong một đêm “tó” hết cả nhóm văn nghệ sĩ Sài Gòn Xưa liên lạc với ông Trung Tá Không Quân Trần Tam Tiệp ở Paris. Nhóm này bị bọn Công An Thành Hồ gọi là bọn Biệt Kích Cầm Bút.

Bọn P 25 tó các ông Dương Hùng Cường, Duy Trác, Trần Ngọc Tự trong một đêm. Ba ông, cùng ông Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ, nằm phơi rốn trong Nhà Tù Chí Hoà 4 năm mới được đưa ra toà. Trong 4 năm tù ấy, ông Dương Hùng Cường chết trong đêm trong một sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu. Năm 1986 bọn CS định đưa nhóm Biệt Kích Cầm Bút này ra tòa với tội danh “Gián điệp.” Khi ấy chúng định xử tử hình Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ – Theo Bộ Luật Hình Sự của VC, người bị kết tội gián điệp bị xử án tối đa là Tử Hình, án tối thiểu là 12 năm Tù – bọn VC đinh xuống tay phang một cái án thật nặng để đe dọa những người khác, loại án “Sát nhất nhân, vạn nhân cụ” – Giết một tên làm vạn tên khác sợ – để không còn ai trong nước dám viết bài tố cáo chế độ gửi ra nước ngoài. Nhưng chúng lần chần chưa kịp xử thì nhân dân những quốc gia Ðông Âu vùng lên đập phá gông cùm cộng sản. Tượng Lenin, Tượng Stalin bị kéo ra nằm ở những bãi rác, vợ chồng “Ðồng chí Sô-sét-cu quí mến” bị nhân dân Lỗ dí súng vào đầu bắn bỏ, “Ðồng chí Na-dzi-bu-la vĩ đại” bị nhân dân Ác-ga-nit-tan lôi ra treo cổ lên cột đèn, bọn Ðầu Xỏ Bắc Cộng đái ra máu. Bọn chúng bị bắt buộc phải khặc khừ làm cuộc đổi mới. Trong cáo trạng kết tội nhóm Biệt Kích Cầm Bút, tội danh “Gián điệp” được hủy, thay vào là tội “Tuyên truyền phản cách mạng.” Án tù của tội này tối đa tù 12 năm, tối thiểu tù 2 năm. Ra toà năm 1988, Biệt Kích Duy Trác bị án tù 4 năm, Biệt Kích Trần Ngọc Tự án tù 4 năm.

Biệt Kích Trần Ngọc Tự can tội vác máy hình chụp một lô ảnh Sài Gòn Vỉa Hè những năm 1982, 1983. Trong số có tấm ảnh làm tôi cảm khái là ảnh một thiếu nữ Sài Gòn ngồi trên vỉa hè, sau tấm nylon trên có mấy chồng bát đĩa, cái bàn ủi điện, cái máy sấy tóc, mấy con dao..Nhiếp ảnh gia Biệt Kích Trần Ngọc Tự phụ đề tiếng Việt dưới hình này câu:

“Nhìn Em đi anh..!”

Tính từ ngày bị bắt, hai ông Biệt Kích Cầm Bút – Cầm Máy Hình Duy Trác, Trần Ngọc Tự đã nằm phơi rốn trong tù đúng 4 năm, ra toà bị án tù 4 năm, hai ông giã từ tù ngục Chí Hoà, trở về mái nhà xưa.

o O o

Tôi dịch đại bài Youth:

TRẺ
Tác giả Samuel Ullman – 1840-1925.

Trẻ không phải là một thời của đời sống, mà là một trạng thái tinh thần, Trẻ không phải là má hồng, môi thắm, đầu gối dẻo, mà là một vấn đề của Ý Thức, một kết quả của Tưởng Tượng, là sức mạnh của Cảm Súc, Trẻ là sự tươi mát của Suối Xuân Ðời.

Trẻ có nghĩa là sự ngự trị của Can đảm trên tật e ngại vì thèm muốn, ngự trị của Sự Khác Lạ trên tật thích Nhàn nhã. Tình trạng ấy thường đến với người tuổi sáu mươi hơn với người tuổi hai mươi. Không ai già chỉ vì số tuổi. Ta già đi vì ta chối bỏ những Lý tưởng của chúng ta.

Năm tháng có thể làm làn Da ta răn reo, nhưng việc chối bỏ Hứng Khởi làm răn reo Hồn ta.

Lo, sợ, việc tự không tin ở Ta làm Tim ta chùng xuống, làm Thần Thức ta trở về Ðất.

Sáu mươi hay mười sáu tuổi, trong tim của mỗi người có sự mời gọi của Kỳ diệu, có sự mong đợi thơ trẻ muốn biết có gì sắp đến, có niềm Vui của Trò Chơi Sống. Trong trung tâm của tim bạn, tim tôi, có một đài vô tuyến, khi nào nó còn nhận những tin Ðẹp, Hy vọng, Ca ngợi, Can đảm từ Người và Vũ trụ, khi đó ta trẻ.

Khi những cột thu tín hiệu ngả xuống, khi tinh thần bạn bị phủ bằng tuyết khinh nghi, bằng đá bi quan, đó là lúc bạn già dù khi đó bạn hai mươi tuổi, nhưng khi những cột thu tín hiệu của bạn vẫn dương cao, để bắt những âm ba hỷ lạc, bạn có hy vọng bạn chết trẻ năm bạn tám mươi tuổi.

Và đây là Lời Ca bản nhạc Sài Gòn Chỉ Vui của Nhạc sĩ Ve Sầu Duy Trác:

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Ðôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nhẹ hỏi cuộc đời:
“Sài Gòn có vui ? Sài Gòn có vui ?”

Em ngước nhìn tôi, cúi đầu nói nhỏ
“Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ
“Thành phố đớn đau ngày đêm nhắn nhủ:
“Sài Gòn chỉ vui khi các anh về!”

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới

Tôi sẽ về quỳ bên Thánh Giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho Tình Yêu và Cuộc Sống
Ðem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài Gòn, tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !

o O o

Ôi..! Cảm khái cách gì.

Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới!

Không bao giờ Nhạc sĩ Ve Sầu “đòi lại được quê hương đã mất..” Ông có về nhưng ông về rồi ông lại đi. Lần này ông tự nguyện làm Cuộc Lưu Ðày-Biệt Xứ qua một nước lạ ở tân nửa bên kia trái đất. Chuyện “Anh về đòi lại quê hương..” chỉ là chuyện trong mơ.

“Người Tình Dấu Yêu Sài Gòn rồi có bao giờ Vui không?”

“Ới Người Tình ơi..!”

Cảm khái cách gì!

             

Công Tử Hà Đông - Hoàng Hải Thủy (6/2010)

(Tên thật: Dương Trọng Hải Ngày sinh: Sinh năm 1933 tại Hà Đông Bút hiệu khác: Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn … Thân thế: Vào Nam năm 1951, từng trải qua các việc: phóng viên nhật báo Ánh Sáng Sài Gòn, phòng 5 bộ Tổng Tham Mưu quân đội VNCH, phóng viên nhật báo Sài Gòn Mới, thư ký sở viện trợ Mỹ. Năm 1977 bị Công An Việt Cộng bắt nhốt 2 năm (1977-1979) vì tội gửi một số bài thơ, bài viết sầu buồn ra nước ngoài. Tháng 5/1984 bị bắt lần thứ hai cũng vì tội gửi tác phẩm ra nước ngoài. Lần thứ hai này bị đưa ra tòa, bị án tù 6 năm. Năm 1990 trở về Sàigòn, năm 1994 sang Hoa Kỳ tị nạn, định cư ở Virginia.)

 

Trang NhàLiên KếtLiên Lạc Tạp Chí Cỏ ThơmLiên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

Mambo is Free Software released under the GNU/GPL License.

Designed by mambosolutions.com