
Kính gửi quí Bác, thành viên và thân hữu Cơ Sở Cỏ Thơm,
Cháu tên là Mai Thư xin thay mặt tất cả anh chị em chúng cháu xin vô cùng cảm tạ lời Phân Ưu và cầu nguyện cho sự ra đi của Bố chúng cháu. Đây là ước nguyện cuối cùng của Bố chúng cháu là được cùng an nghỉ với Mẹ chúng cháu sau khi được biết sự ra đi đột ngột của người Mẹ thân yêu của gia đình.
Gia đình anh em chúng cháu cũng xin cảm tạ Cơ Sở Cỏ Thơm đã giới thiệu quyển sách Luật Pháp Và Văn Học Nghệ Thuật của Bố chúng cháu vào trang tưởng niệm ở Website Cỏ Thơm.
Bố và Mẹ chúng cháu trước khi ra đi đã để lại di chúc cho chúng cháu chỉ làm đám tang của Bố và Mẹ trong phạm vi gia đình rồi sau đó mới gửi thông báo tới quí Bác, họ hàng và bạn bè gần xa. Mãi đến hôm nay (ngày 3 tháng 7, 2025) mới có Cáo Phó trên Hoa Thịnh Đốn Việt Báo. Xin các Bác thông cảm và lượng tình tha thứ!
Tất cả anh em chúng cháu xin đa tạ quí Bác.
Đại diện toàn thể gia đình,
Cháu Mai Thư
*************************************************************************************************************************





*****

TRÍCH TRONG SÁCH “LUẬT PHÁP VÀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT”
LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ khi đi qua Mỹ theo diện nhân đạo HO4 tôi được đoàn tụ với gia đình vào ngày 12 Tháng 12 năm 1990. Từ đó tôi cư ngụ tại Quận Arlington tiểu bang Virginia nơi địa chỉ hiện nay. Chẳng may chỉ khoảng 2 năm sau đi khám bệnh bị phát hiện ung thư bao tử nặng phải đưa đi Bệnh viện Fairfax giải phẫu ngay. Bác sĩ và chuyên viên mổ cắt hết bao tử, chỉ để lại một phần nhỏ dạ dày và kéo ruột non lên khâu thay thế dạ dày. Bác sĩ cho xuất viện và cho biết bệnh nhân chỉ sống được từ 2 đến 3 năm thôi.
Buồn nhỉ! Virginia vẫn được mệnh danh là tiểu bang của những kẻ tình nhân (“Virginia is for Lovers”) vậy mà mình lại phải sớm giã từ hay sao? Thôi thì tới đâu hay tới đó! Cứ nhớ lời đức Phật dạy là đừng nên quằn quại vì chuyện quá khứ! Cũng chớ nên kỳ vọng vào chuyện tương lai! Cứ bình tâm sống ngay trong hiện tại! Và chớ quên quy luật bất biến của kiếp nhân sinh là: “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”. Xin vâng! Vậy thì kể từ đó mỗi buổi bình minh tuy đôi chân phải dạo bước trên những chiếc lá úa vàng nhưng mắt vẫn cứ ung dung ngắm nhìn những bông hoa vừa bừng nở khoe sắc ở vườn bên. Bonjour Tritesse! Buồn ơi ta xin chào mi!
Cắt hết bao tử tháng 2 năm 1992, dưỡng bệnh ở nhà chờ… thì được người bạn đồng môn, đồng khóa, đồng tù, đồng đi HO cùng cư ngụ tại Virginia tới thăm, đó là ông Nguyễn Cao Quyền và phu nhân. Ông Quyền gợi ý là những lúc rảnh rỗi thì tôi nên viết về các đề tài pháp lý cho vui mà lại cũng có ích lợi cho mọi người nữa. Tôi do dự vì xúc động và lo sợ không biết có còn đủ sức khoẻ và có đủ tài liệu viết nổi đề tài đó hay không… Tôi cũng chợt nhớ đến những cuốn sách về văn học mà lại có nhiều hình ảnh về pháp lý như tác phẩm “Ngày Cuối Cùng Của Một Tử Tội” (Le Dernier Jour D’un Condamné) của Victor Hugo; “Câu Chuyện Của Hai Thành Phố” (A Tale Of Two Cities) của Charles Dickens và ngay trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du nước mình nữa (Kiều thoạt tiên bị vu oan nên mắc vòng lao lý, mãi sau này lại đóng vai quan tòa ngồi xử kiện Hoạn Thư đấy!) v.v…
Thấy đó là một lời gợi ý rất hay. Tôi đã làm theo hướng của ông bạn tôi. Một loạt bài viết về chủ đề luật pháp quốc tế hay án lệ Pinochet (án lệ từng làm rung chuyển luật pháp quốc tế) đã xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Gió Mới ở Virginia do ông Nguyễn Hữu Bình làm Chủ Nhiệm. Ông Nguyễn Văn Sanh giúp tôi đánh máy các bài viết tay của tôi. Sau đó các bài viết này lan toả ra khắp nơi như ở California: Người Việt, Việt Báo, Việt Nam và Thế Kỷ 21… Đó là cái duyên viết lách ban đầu!
Còn tại Virginia thì cơ duyên đưa đẩy tôi cộng tác viết cho báo Cỏ Thơm là khi gặp Luật Sư Lưu Nguyên Đạt chủ nhiệm sáng lập báo này. Ông mời tôi cộng tác. Bài viết đầu tiên đăng ở Cỏ Thơm số 14 và liên tiếp nhiều năm sau đó. Tới lúc nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung thay thế đảm trách vai trò chủ nhiệm thì bà vẫn tiếp tục mời tôi cộng tác. Lại thêm một cái duyên văn nghệ nữa. Cũng vui thôi! Tất nhiên còn nhiều thân hữu khác đã hỗ trợ tôi trong công việc viết lách như các ông Phạm Văn Tuấn, Trần Tử Thanh và Từ Dương v.v… Tôi luôn ghi nhớ mối thâm tình này.
Lời tiên đoán của y sĩ với bệnh tình của tôi đã không trở thành hiện thực. Thời gian trôi nhanh. Tôi cư ngụ tại địa chỉ hiện nay tính ra đã 26 năm rồi. Sống vui trong gia đình với hiền nội là một người vợ đảm đang đã lo toan cho chồng suốt trong thời gian bị ở tù “cải tạo”. Đồng thời khôn khéo tìm cách cho con cái vượt biên năm 1977 trên một con thuyền đánh cá tới Phi Luật Tân an toàn rồi sau đó được nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Tôi ra khỏi trại tù và qua sau theo diện HO4 để đoàn tụ cùng đại gia đình vào năm 1990. Vui với hiện tại trong cuộc sống ly hương nơi đất khách. Với thân tâm an lạc tôi đã tìm vui bằng ngòi bút của mình và đắm chìm trong kiến thức nghề nghiệp từ thuở xa xưa.
Pháp luật không chỉ giới hạn “trước vành móng ngựa” hay trong chốn “đáo tụng đình” với những ngôn từ nghiêm khắc và khô khan. Luật pháp đã xuất hiện dưới các hình thức đầy vẻ văn chương và nghệ thuật khác nữa như tiểu thuyết hư cấu, truyện thơ, các vở nhạc kịch, bút ký, biên khảo lẫn trong hội họa, điêu khắc và biết bao bộ phim trong lãnh vực điện ảnh nữa…
Tất cả các bài viết của tôi từng được lần lượt phổ biến nói trên nay được Luật sư Ngô Tằng Giao, một ông bạn vong niên, cũng là một đạo hữu, một nhà thơ, gợi ý là nên gom góp lại thành một tác phẩm. Ông bạn còn tiếp tay “edit” hộ các bản thảo rồi “layout” và giới thiệu việc in ấn để hoàn thành cuốn sách này. Âu đó cũng là một cái duyên văn nghệ đáng quý! Tôi rất cảm kích và xin ghi nhớ!
Cuốn sách ra đời, tôi xin trân trọng mời quý độc giả nhàn lãm… và chắc nội dung cũng không thể nào tránh khỏi được những chi tiết sơ xuất. Đó là lỗi tại soạn giả cao niên này. Xin quý vị thông cảm và nếu có đôi điều cần góp ý để chỉnh sửa thì thật là vạn hạnh cho soạn giả.
Nguyễn Văn Thành
Virginia, tháng 2 năm 2016 Đón xuân Bính Thân
====
HỒI ỨC VỀ MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG TRONG QUÂN NGŨ

(Hình chụp năm 1951 tại Thành Phố Nam Ðịnh)
Sau khi mãn khóa vào giữa năm 1952 tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh với cấp bậc Thiếu úy, tôi được thuyên chuyển về Ban Pháp Chế Phòng Nhất Ðệ Tam Quân Khu đóng tại Trại Ðồng Khánh Hà Nội. Vào thời điểm đó, tất cả các Nha Phòng Sở cùng Bộ Tham Mưu đều do Quân Ðội Pháp điều hành.
Một số bạn đồng khóa được phân phối về Bộ Tham Mưu cũng khá đông như Phan Huy Lương, Ðặng Ðình Linh, Nguyễn Cao Liệu, Nguyễn Hữu Chương, Ðỗ Thiếu Liệt… Phục vụ một thời gian ngắn, chúng tôi được máy bay của Quân Ðội Pháp chuyển vận vào Nha Trang khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết năm 1954 chia đôi đất nước.
Bộ Tham Mưu Ðệ Tam Quân Khu giải tán, tôi được thuyên chuyển qua Tòa Án Quân Sự Nha Trang, tiếp đến phục vụ Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Biệt Khu Thủ Ðô và Vùng 3 Chiến Thuật đóng tại Trại Lê Văn Duyệt Saigon cũng là Trụ Sở Tòa Tổng Trấn Saigon-Gia Ðịnh, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô cùng nhiều đơn vị khác.
Ðây là một trong những đoạn đường trong quân ngũ đáng ghi nhớ vì đoạn đường này đã để lại cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn liên quan tới cựu sinh viên sĩ quan trừ bị EOR Lê Nguyên Khang cùng nhiều bạn đồng khóa khác.
MỘT SỰ TÌNH CỜ
Vào năm 1965, Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang được cử giữ chức Tổng Trấn Saigon-Gia Ðịnh kiêm nhiệm Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 kiêm Ðại Biểu Chính Phủ miền Ðông và còn có trách nhiệm yểm trợ tiếp tế cho Ðảo Côn Sơn, nơi giam giữ tù nhân nguy hiểm.
Tới nhậm chức, Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang yêu cầu Nha Quân Pháp biệt phái tôi qua Tòa Tổng Trấn với tư cách cố vấn pháp luật nhưng ông vẫn chấp thuận cho tôi tiếp tục công việc tại Tòa Án. Vào thời gian đó, tôi giữ nhiệm vụ Phó Ủy Viên Chính Phủ chuyên điều tra và buộc tội những bị cáo trong các vụ án chính trị, một trong nhiều vụ án sôi nổi nhất là vụ “biến động miền Trung xẩy vào tháng 3 năm 1966” được đăng đường xét xử tại Pháp Ðình Nha Quân Pháp Saigon.
Sở dĩ tôi đề cập vụ án nói trên để nhấn mạnh thành tích lẫy lừng nhất của Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cựu EOR khóa I Nam Ðịnh-Thủ Ðức, đã điều động 5 Tiểu Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ra miền Trung để tái lập an ninh và trật tự tại Ðà Nẵng-Huế. Sự sáo trộn đó làm sói mòn và làm suy yếu ý chí chống Cộng của toàn dân đã bị chặn đứng.
Có thể coi đó là một kỳ tích của chính quyền quân sự trong giai đoạn khó khăn nhất của đất nước để giữ vững sự ổn định hầu tiến hành cuộc chiến tranh hữu hiệu chống cộng.
NHỮNG BUỔI TRƯA ÐƯỢM TÌNH ÐỒNG KHÓA
Theo thường lệ, Tướng Khang đến Tòa Tổng Trấn vào buổi sáng. Sau khi giải quyết xong công việc quan trọng, ông di chuyển tới Sư Ðoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến và Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 đóng ở Biên Hòa. Công việc thường nhật do Ðại Tá Nguyễn Văn Giám, Phó Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô đảm trách với sự phụ tá của Trung Tá Phan Huy Lương, Tham Mưu Trưởng và Trung Tá Nguyễn Hữu Toán trực thuộc Tổng Trấn.
Trước khi làm phiếu trình Tổng Trấn về những vấn đề pháp lý tỷ như có sự tương tranh thẩm quyền giữa Tòa Ðô Chánh hay Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, các vụ bắt giam Pháp Kiều, chủ đồn điền cao su hay trà đã tiếp tế thuốc men và đóng thuế cho V.C., một vài nhân vật thân Cộng, các vụ xuống đường, âm mưu đảo chánh… tôi thường gặp bộ ba EOR Giám, Lương và Toán để tham khảo viết phúc trình để Tổng Trấn quyết định. Cũng may mắn cho tôi, mọi công việc đều trôi chảy trong suốt thời gian Tướng Khang giữ chức Tổng Trấn từ năm 1965 đến cuối năm 1969.
Trừ những ngày bận việc hoặc đi họp, mỗi khi Tướng Khang tới Tòa Tổng Trấn đều gặp nhân viên trong Bộ Tham Mưu của ông như Giám, Lương và Toán, đôi khi cũng có tôi nếu tôi không bận ngồi Tòa. Giải quyết xong công việc, ông thường tập họp anh em chúng tôi tại Văn Phòng của ông để uống trà hay cà phê rồi ông kể nhiều mẩu chuyện vui vui. Ðặc biệt tôi không thấy Tướng Khang gọi cấp bậc của chúng tôi mà chỉ gọi tên như Giám, Lương, Toán hay Thành một cách rất thân tình. Ðôi khi ông đi ra lan can vừa đi vừa nói chuyện với một trong số anh em chúng tôi nhưng tôi chưa bao giờ thấy ông nói chuyện chính trị.
Những cuộc họp mặt như trên hầu như tuần lễ nào cũng có. Ðôi khi Giám hay Toán hoặc Lương thấy tôi đứng ở lan can trụ sở Tòa Án nhìn sang, vẫy tay ra hiệu cho tôi sang chơi. Nếu có EOR nào đến thăm Tướng Khang tỷ như Phó Quốc Trụ, Ðăng Dung biệt hiệu “Dung mù” thì cuộc nói chuyện thật hào hứng vì Dung mù “sổ nho” dễ sợ y như Dung đang cắp sách đi học một thời nào đó với Tướng Khang vậy.
Thực ra, đến Nha Sở hay quân binh chủng nào cũng như trong chính quyền, chúng ta thường gặp những EOR khóa I nắm nhiều vai trò quan trọng như Giám Ðốc, Tổng Giám Ðốc hay Tư Lệnh một số quân binh chủng, Thứ Trưởng và Tổng Trưởng cũng có và cao chót vót là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Phó Tổng Thống dưới thời Ðệ II Cộng Hòa. Chúng tôi thường nói đùa với nhau “quân trường Nam Ðịnh và Thủ Ðức nối dài.”
MỘT CÔNG TÁC BẤT ÐẮC DĨ
Có một buổi sáng, khi tôi đang tiếp mấy Luật Sư đến tham khảo hồ sơ, bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng còi hú của xe quân cảnh thì biết ngay Tướng Khang đến sớm hơn mọi ngày. Ðộ vài phút sau, tôi nhận được điện thoại của Ðại tá Quế, Chánh Văn Phòng của Tướng Khang yêu cầu tôi sang gặp Tổng Trấn gấp. Tôi vội vã đi qua Tòa Tổng Trấn chỉ cách Trụ Sở của Tòa tôi độ chừng hơn 100 thước. Vào văn phòng, tôi chào ông đúng quân cách.
Ông bắt tay tôi rồi nói: “Thành ngồi xuống, tôi có tài liệu này mật và rất quan trọng, yêu cầu cậu nghiên cứu làm phúc trình cho tôi trong thời hạn 3 ngày thì đưa cho tôi.” Tôi chưa rõ tài liệu gì, cứ trả lời đại: “Vâng, Thiếu Tướng yên trí, tôi sẽ cố gắng hoàn tất nhiệm vụ đúng thời hạn.”
Tướng Khang cầm một phong bì khá to, màu vàng có dấu “Mật”. Ông rút ra một xấp tài liệu đưa cho tôi. Liếc mắt nhìn tập hồ sơ mang tiêu đề “Dự thảo Sắc Luật trừng phạt Cần Lao Ác Ôn”. Tôi tá hỏa nhưng cố lấy bình tĩnh lật vài trang nhằm kiếm xem Tòa nào có thẩm quyền xét xử tội phạm “kỳ quái” này đây. Ðó là Tòa Án Quân Sự! Tôi lại càng khiếp đảm hơn.
“Vậy Thiếu Tướng có cần cho ý kiến hay chỉ thị gì không?”, tôi hỏi ông.
“Không, tôi khoán trắng cho Thành, cứ làm theo lương tâm và chức nghiệp. Thật là một công tác bất đắc dĩ. Tôi sẽ thuyết trình đề tài này trong phiên họp sắp tới tại Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia. Nhớ đến gặp tôi vào trưa thứ Năm cùng với phúc trình.”
“Vâng, tôi sẽ hoàn tất vào trưa thứ Năm và hoàn lại Thiếu Tướng Dự Thảo Sắc Luật này.” Nói xong, tôi đứng dậy chào ông rồi về Tòa.
Mang tập hồ sơ mật về với sự hân hoan vì không phải làm theo chỉ thị gì cả, tôi thấy đã đi được nửa đường. Hai ngày sau, tôi hoàn tất phúc trình. Ðại để tôi nhấn mạnh vào hai điểm pháp lý căn bản sau để giết chết những điều khoản dự thảo trong Sắc Luật từ trong trứng nước.
1- Hầu hết các quốc gia trên thế giới không chấp nhận áp dụng luật hình có hiệu lực hồi tố tức về quá khứ (Retroactivity-Ex Post Facto Character) vì liên hệ tới sự tước đoạt quyền tự do và mạng sống của con người một cách độc đoán. Ngoài ra, các quốc gia vừa đề cập, trong đó có Ðệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa, đã áp dụng câu châm ngôn La Tinh sau “Không có luật, không có tội phạm; không có luật không có hình phạt.” (Nulllum crimen sine lege; nulla poena sine lege). Từ năm 1954 đến năm 1965, chưa có một Ðạo Luật nào công bố để trừng phạt “cần lao ác ôn” cả, cho nên không thể truy tố bất cứ một ai về tội phạm đó. Chỉ có các quốc gia độc tài và cộng sản mới áp dụng luật hình có hiệu lực về quá khứ.
Dự thảo Sắc Luật vi phạm trầm trọng những nguyên tắc sơ đẳng của luật hình cần được cứu xét lại.
2- Tội danh “cần lao ác ôn” rất mơ hồ, không rõ đó là tội chính trị hay tội hình sự. Nếu là tội chính trị thì không có án tử hình và việc giam giữ cùng thụ án khác với tội hình sự. Trong khi đó, Dự thảo Sắc Luật dự trù hình phạt từ cấm cố, khổ sai đến tử hình và còn có thể tịch thu tài sản. Ngoài ra, các điều khoản không quy định được đầy đủ và rõ ràng các yếu tố luật định cấu thành tội “cần lao ác ôn”.
Ðảng Cần Lao cũng giống như các đảng phái Quốc Gia khác, ngoại trừ Ðảng cộng sản bị cấm bởi Dụ 46, đều được thành lập và hoạt động một cách hợp pháp. Gia nhập các Ðảng phái quốc gia đó không có gì là trái luật cả, nhưng nếu đảng viên nào vi phạm luật hình sự thì sẽ bị đưa ra xét xử trước công lý cũng giống như các công dân khác vậy. Không có sự phân biệt đối xử vì mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
Luật lệ hiện hành dưới thời Ðệ I Cộng Hòa dự liệu đầy đủ các tội phạm hình sự thì tại sao không đưa nghi can tạm cho là “ác ôn” ra tòa án có thẩm quyền mà lại phải ban hành một Sắc Luật không cần thiết như vậy.
Ban hành Sắc Luật này sẽ làm rối loạn xã hội hơn là để duy trì an ninh và trật tự.
Ðúng trưa thứ Năm, tôi trình Tướng Khang hai đề nghị ghi trong phúc trình và hoàn lại dự thảo Sắc Luật. Tôi hồi hộp theo dõi ông đọc hết bản phúc trình, ông gật đầu tỏ vẻ hài lòng nên không phải sửa đổi gì cả. Sau đó, Tướng Khang và tôi thảo luận khá lâu về vấn đề thật tế nhị liên hệ tới những nhà soạn thảo và ủng hộ sự ra đời của Sắc Luật này. Nay kể lại e rằng gây ra sự ngộ nhận đưa tới nhiều phiền hà vô ích.
CHỜ ÐỢI
Tôi nôn nóng chờ đợi kết quả. Thời gian đi chậm quá.
Chừng một tuần lễ sau, tôi được Ðại Tá Giám và Quế cho biết Tướng Khang sẽ đến tòa Tổng Trấn theo như thường lệ và nhắc tôi chuẩn bị gặp ông.
Sau khi chờ ông giải quyết xong công việc, tôi đến văn phòng của ông. Khi đi gần tới Bộ Tham Mưu của Ðại Tá Giám, tôi thấy ông đi ra. Tôi mừng rỡ đến chào ông. Ông đưa tay ra bắt tay tôi khá chặt, vừa rung tay vừa nói: “Tôi khen Thành về các đề nghị trong bản phúc trình.” “Xin cám ơn Thiếu Tướng về lời khen tặng”, tôi đáp lại. Ông buông tay ra và đưa hai tay nắm chặt hai bả vai của tôi, lắc lắc rồi nói: “Cả Ủy Ban đã vỗ tay tán thưởng bài thuyết trình của tôi. Sắc Luật coi như tiêu…”
Tai tôi ù không còn nghe thấy tiếng của ông nữa. Tôi lí nhí nói gì không nhớ nhưng có một điều đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ ràng như mới xẩy ra gần đây. Lúc đó, ngước mắt lên tôi thấy ánh mắt của ông thật thân thương nhìn tôi không chớp. Tôi hoa mắt nhìn đôi mắt của ông như có sương khói. Tôi cảm thấy chỉ có riêng tôi và ông ở trong Trại Lê Văn Duyệt này thôi. Thời gian và không gian như ngưng đọng. Bỗng ông buông hai tay ra, quay ngược lại hướng về văn phòng của ông. Nắm tay trái tôi, ông vừa đi vừa nói: “Vào đây uống trà.”
Bàn tay ấm áp của ông làm tôi liên tưởng tới Phạm Tài Ðiệt phục vụ tại Cục An Ninh Quân Ðội cũng nắm một tay tôi với sự ấm áp như thế truyền khắp tế bào trong tôi với lời hứa sẽ làm sáng tỏ vụ tố tham nhũng lầm vì có người trùng tên và trùng cấp bậc với tôi.
Vào văn phòng, Tướng Khang bấm chuông ra lệnh cho tùy phái mời bộ ba Giám, Lương và Toán đến mạn đàm. Lại như thường lệ, nói chuyện vui khắp đó đây. Có điều kỳ lạ, ông và tôi kể từ lúc đó cho đến ngày ông rời khỏi chức Tổng Trấn không bao giờ đề cập tới cái dự thảo Sắc Luật đó. Thỉnh thoảng tôi có đến thăm ông tại tư dinh ở kế cận Nha Quân Pháp nhưng vào những tháng gần ngày mất nước, tôi không có dịp gặp ông nữa vì tôi còn lo đối phó với thư đe dọa của Việt cộng. Sự đe dọa này còn nguy hiểm hơn vụ cảnh cáo và hăm dọa tôi của một số người chống đối đưa vụ biến động miền Trung ra Tòa xét xử.
Theo lời khuyên của Giám Ðốc Nha Quân Pháp, tôi đến Cục An Ninh Quân Ðội xin được bảo vệ. Sau khi tham khảo ý kiến của Ðại Tá Nguyễn Xuân Học, Trưởng Phòng Phản Gián, Thiếu Tướng Vũ Ðức Nhuận, cựu EOR khóa I, ra lệnh biệt phái hai Thượng Sĩ thay nhau ở cạnh tôi cho đến ngày quân đội buông súng.
Trớ trêu thay, khi bị bắt vào trại cải tạo, tôi lại gặp những bộ mặt thân thương ân nhân của tôi tại Cục An Ninh Quân Ðội như cựu huấn luyện viên khóa I, thầy Trần Hữu Ðộ, EOR Phạm Tài Ðiệt, Lại Ðức Nhi, Trần Văn Thăng và Nguyễn Xuân Học.
Chúng tôi đều đi theo diện HO định cư tại Hoa Kỳ ngoại trừ Ðại Tá Nguyễn Xuân Học bị đầu độc chết sau khi cơ quan tình báo Cộng Sản khai thác suốt mấy tháng trời tại trại Thanh Xuân, Hà Ðông.
LỜI KẾT
Thú thật với quý anh, tôi cũng có bệnh nan y như Lê Nguyên Khang, Vũ Ðức Nhuận và Nguyễn Ngọc Loan. Tôi và Loan đều nằm ở Bệnh Viện Arlington (Virginia) để chữa trị bệnh ung thư. Các bác sĩ giải phẫu cho tôi 4 lần đều ức đoán tôi sẽ ra đi rất sớm trước các anh vừa đề cập ở trên. Nhờ ơn Trời Phật, tuy không có bao tử, tôi đã sống qua tuổi cổ lai hy được tám năm. Thật là một phép lạ.
Một trong những thú vui của tôi là trồng ớt thật cay, loại ớt hiểm. Chiều chiều nếu không bận việc, tôi ra bao lơn ở nhà già tưới vài chậu ớt rồi nhìn mặt trời lặn với tâm trạng y như mấy vần thơ của thi sĩ Pháp, hình như của Victor Hugo thì phải:
Le vieillard regardant le soleil qui se couche
Et le soleil regardant le vieillard qui se meurt.
Câu thơ được cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch như sau: Già xem Ác lặn Ác xem Già tàn.
Sống trong tình trạng đó, bỗng một hôm, em ruột của tiện nội tôi là Ðào Hữu Tiếu báo tin cho tôi biết anh Hoàng Ðạo Thế Kiệt muốn liên lạc với tôi về Ðại Hội Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị sắp tới. Với giọng nói vui vẻ và thân tình, anh Kiệt ra lệnh cho tôi gửi hình và viết bài.
Tôi thi hành ngay đã gửi hình còn bài viết thì thấy khó quá. Ðầu óc rỗng, biết chọn đề tài gì đây? Trong khi đó, có biết bao nhiêu cây viết tên tuổi như Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Phú Ðức, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Ðức Vinh, Nguyễn Cao Quyền, Hoàng Ðạo Thế Kiệt…
Giữ đúng lời hứa với anh Kiệt, tôi liều viết bài này với tất cả tấm lòng hướng về Ðại Hội sắp tới để ôn lại những kỷ niệm xa xưa cùng quý anh hiện diện ở Thế kỷ 21 này và tưởng nhớ những người bạn đồng khóa đã trở về cát bụi. Chắc chắn bài viết có nhiều khuyết điểm, mong quý anh vui lòng bỏ qua cho.
Nguyễn Văn Thành
Xuân Tân Tỵ tại Virginia 2001
Tiểu sử tác giả nguyễn văn thành

Soạn giả Nguyễn Văn Thành sinh ngày 30 tháng 12 năm 1923 tại Vân Hồ Hà Nội. Động viên theo học Khóa 1 năm 1951 tại Quân Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định. Ra Trường năm 1952 với cấp Thiếu úy, thuyên chuyển về Ban pháp chế Phòng nhất Đệ Tam Quân Khu đóng ở Hà Nội.
Hiệp Định Genève chia đôi đất nước năm 1954, Bộ Tham Mưu Đệ Tam Quân Khu đóng tạm tại Phân Khu Duyên Hải Nha Trang giải tán, soạn giả được thuyên chuyển qua Tòa Án Quân Sự Nha Trang, tiếp đến phục vụ Tòa Án Quân Sự Saigon cho đến ngày mất nước 30 tháng Tư năm 1975.
Chức vụ cuối cùng đã đảm nhiệm trước ngày 30 tháng Tư năm 1975: Theo đề nghị của Nha Quân Pháp và Bộ Quốc Phòng, Tối Cao Pháp Viện đã bổ nhiệm làm Đại Tá Chánh Thẩm Tòa Án Mặt Trận Biệt Khu Thủ Đô và Vùng 3 Chiến Thuật kiêm Cố Vấn pháp luật cạnh Tòa Tổng Trấn Saigon Gia Định.
Bị Việt cộng bắt đưa ra giam ở nhà tù Trại Hoàng Liên Sơn Bắc Việt và các nhà tù khác trong suốt 13 năm cùng 3 năm quản chế. Hết hạn được đi qua Mỹ theo diện nhân đạo HO4 và đoàn tụ với đại gia đình ngày 12 Tháng 12 năm 1990 tại Quận Arlington Virginia nơi địa chỉ hiện nay và kéo dài gần 26 năm nay.
Những lúc rảnh rỗi thường viết về đề tài nói lên sự liên quan giữa ngành Pháp luật với các lãnh vực Văn Học và Nghệ Thuật. Tác phẩm đầu tay xuất bản năm 2016 tại Hoa Kỳ có tiêu đề: “LUẬT PHÁP VÀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT”.
Nguyễn Văn Thành
Xuân Bính Thân tại Virginia 2016



****



*****


BÀI TƯỜNG THUẬT BUỔI RA MẮT SÁCH – Nguyễn Thị Ngọc Dung (trang 161)
https://cothommagazine.com/wp/wp-content/uploads/2023/02/CT75-toanbo.pdf
*********************************************************************************************************************************

PHÁI ĐOÀN CỎ THƠM ĐẾN THĂM CỤ NGUYỄN VĂN THÀNH – THÁNG 2, 2024 (trang 101)
https://cothommagazine.com/wp/wp-content/uploads/2024/09/CoThom104-June2024-ToanTap-COLOR.pdf
————————————————————————————————————————————————



****************
MỜI XEM TOÀN BỘ QUYỂN SÁCH BIÊN KHẢO “LUẬT PHÁP VÀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT”: